Lê Nguyễn

Tả quân Lê Văn Duyệt (1764-1832)
Từ những thập niên qua, để giải thích về bản án gồm bảy án trảm (chém đầu) và hai án giảo (treo cổ) mà vua Minh Mạng đã tuyên cho cố Tả quân Lê Văn Duyệt vào năm 1835, nhiều cây bút đã viện dẫn điều mà họ gọi là sự bất đồng ngấm ngầm và trầm trọng giữa nhà vua và vị Tả quân khi còn sống. Và để sự giải thích này dễ được đồng tình, chấp nhận, người ta đã vô tình hay hữu ý làm sai lệch nhiều sự thật lịch sử để gò ép chúng theo hướng định sẵn, khiến cho người đọc dễ ngộ nhận về nhiều sự kiện đã được chính sử ghi rõ trên giấy trắng mực đen.
Bài viết này nhằm minh xác nhiều sự kiện đã gây nên ngộ nhận về Tả quân Lê Văn Duyệt khi còn tại chức Tổng trấn Gia Định Thành dưới hai triều Gia Long (1812-1815) và Minh Mạng (1820-1832), dựa chủ yếu vào bộ chánh sử Đại Nam thực lục và bộ Đại Nam liệt truyện do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Vì vậy, mọi trao đổi, nếu có, xin chỉ nên xoay quanh hai bộ sử chính thống này.
I) LÊ VĂN DUYỆT VỚI VIỆC CHỌN NGƯỜI KẾ VỊ VUA GIA LONG
Trong lịch sử triều Nguyễn dưới thời vua Gia Long, có ít nhất hai sự kiện quan trọng liên quan đến đời sống cung đình, một là việc chọn người đứng chủ tế sau khi bà Thừa Thiên Cao hoàng hậu qua đời (1814), và hai là việc chọn người lên ngôi Thái tử, sẽ kế vị vua Gia Long sau này (1816).
Để có cơ sở cho việc tô vẽ về điều được gọi là sự bất đồng trầm trọng giữa vua Minh Mạng và Tả quân Lê Văn Duyệt lúc sinh tiền, một số cây bút đã viết nên nhiều điều không phù hợp với thực tế lịch sử, gắn kết vị Tả quân với Trung quân Nguyễn Văn Thành, trong khi trên thực tế, hầu như không hề có bóng dáng của ông Lê Văn Duyệt trong những sự kiện này!
I.1) VỀ LỄ TANG THỪA THIÊN CAO HOÀNG HẬU
Tháng 7 Âm lịch năm 1806, Thừa Thiên Cao hoàng hậu vốn là con gái Quý Quốc công Tống Phước Khuông, từ Vương hậu, được vua Gia Long lập làm Hoàng hậu . Tháng 2 Âm lịch năm 1814, bà qua đời ở tuổi 54. Ba người con trai đầu của vua Gia Long là hoàng tử Cảnh, hoàng tử Hy và hoàng tử Tuấn đều mất sớm, người thứ tư là hoàng tử Đảm, con của Thuận Thiên Cao hoàng hậu (danh hiệu được tấn phong sau khi vua Gia Long đã thăng hà), được Thừa Thiên Cao hoàng hậu nhận làm con nuôi từ năm 3 tuổi nên vẫn gọi bà là mẹ.
Trong lễ tang, khi bàn định việc cử người làm chủ tự, sử chép như sau: “Bầy tôi có người bàn lấy hoàng tôn Đán (con hoàng tử Cảnh, tức là Mỹ Đường) làm chủ tự. Vua dụ rằng: “Hoàng tử (Đảm) từng làm con của hoàng hậu, đã có giấy tờ, nên sai làm chủ tự, việc lớn của nhà nước không nên câu nệ theo lẽ đích tôn thừa trọng như nhà thường”. Nguyễn Văn Thành cho thế thì văn tế khó gọi. Vua bảo rằng: “Con theo mệnh cha tế mẹ là việc danh chính ngôn thuận, có gì mà không nên”. Bấy giờ, việc bàn mới định. Nguyễn Văn Thành tỏ ý không bằng lòng.” (Đại Nam thực lục, tập I, NXB Giáo Dục 2002, trang 877).
Ở nghi thức này trong lễ tang Thừa Thiên Cao hoàng hậu, không hề thấy sử nhắc đến Lê Văn Duyệt (lúc này ông Duyệt đang là Tổng trấn Gia Định Thành), chỉ đề cập đến thái độ không bằng lòng của Nguyễn Văn Thành. Tuy vậy, vua Gia Long không để tâm đến thái độ của ông Thành, trong lễ ninh lăng (lễ an táng) Thừa Thiên Cao hoàng hậu diễn ra vào tháng 3 Âm lịch năm 1815, nhà vua vẫn cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng hộ sứ, Nguyễn Văn Nhân làm Phó (Đại Nam thực lục tập I, sđd, trang 898) (Tổng hộ sứ là người tổng chỉ huy trong lễ tang)
Đây là điểm chứng tỏ vua Gia Long không phải là người nhỏ nhen hay cố chấp, sự bất đồng ý kiến qua việc chọn người làm chủ tế trong lễ tang Thừa Thiên Cao hoàng hậu không làm nhà vua tỏ ra khó chịu hay thù ghét người khai quốc công thần đối với vương triều của mình.
Thái độ này cũng tiếp tục được thể hiện trong vụ việc liên quan đến bài thơ của con trai ông Nguyễn Văn Thành là Nguyễn Văn Thuyên, truyện sẽ được nhắc đến ở phần sau.
I.2) VỀ VIỆC VUA GIA LONG CHỌN NGÔI THÁI TỬ
Về chuyện này, theo sách Đại Nam liệt truyện, do nhận thấy tuổi đã cao, nhân một buổi chầu vào năm 1816, vua Gia Long hỏi thẳng Nguyễn Văn Thành rằng hiện nay cháu đích tôn của ông (con hoàng tử Cảnh) là hoàng tôn Đán (Mỹ Đường, 1798-1849) còn nhỏ, vậy trong các con trai của ông, nên lập ai làm Thái tử, ông Thành đã tâu rằng theo lẽ là đích tôn thừa trọng (tức nên chọn hoàng tôn Đán), song nếu nhà vua muốn chọn người khác thì biết con chẳng ai bằng cha, ông không có ý kiến thêm .
Quan điểm chọn hoàng tôn Đán của ông Thành không có gì sai, vì lúc ấy vị công tử này cũng đã 18 tuổi, song khi nhà vua tỏ rõ ý định chọn hoàng tử Đảm, lúc ấy đã 26 tuổi, ông Thành không dám nói điều gì trái ý nhà vua.
Chuyện chỉ có thế! Không có một âm mưu hay sự chống báng nào ở đây.
Theo sách Đại Nam thực lục, vào một ngày tháng 3 Âm lịch năm 1816, vua Gia Long triệu tập quần thần ở điện Cần Chánh và dụ rằng sức khỏe ông đã suy yếu nên cần người giữ ngôi Thái tử để lo cho việc nước sau này. Nói xong, ông triệu Thượng thư Lại bộ là Trịnh Hoài Đức đến trước giường ngự và viết câu “Lập hoàng tử Hiệu (tức Đảm) làm hoàng thái tử”. Câu chữ viết xong, nhà vua đưa cho bầy tôi xem và nói: “Ai đồng ý thì ký tên vào”. “Quần thần đều nói: Ý thánh định trước, thực là phúc không cùng của Xã Tắc, bọn thần xin noi theo mệnh lệnh” (Đại Nam thực lục – Tập I, sđd, trang 920).
Như vậy, theo chính sử, trong cả hai sự kiện diễn ra vào năm 1814 và 1816 tại cung đình:
– Khi được hỏi ý kiến, Trung quân Nguyễn Văn Thành có tâu trình quan điểm riêng của mình, song sau khi biết ý vua Gia Long quyết định khác hơn, ông vẫn tuân thủ mà không hề có một phản ứng chống đối nào.
– Riêng về Tả quân Lê Văn Duyệt, ông không hề có sự câu kết nào với Nguyễn Văn Thành về cả hai sự kiện trên và không có một sự can thiệp hay ý kiến nào khác trong các quyết định của vua Gia Long.
Đáng tiếc là từ nhiều năm qua, vẫn có nhiều bài viết cho rằng cả hai ông Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt cùng chống lại việc đưa hoàng tử Đảm lên ngôi Thái tử! Mục đích của người viết nhằm vin vào sự kiện không có thật này để giải thích hay phóng đại điều gọi là sự mâu thuẫn sâu sắc giữa vua Minh Mạng với Tả quân Lê Văn Duyệt, khi vị lão thần còn sanh tiền.
II) TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT VÀ VỤ ÁN NGUYỄN VĂN THUYÊN
Theo sách Đại Nam thực lục, trong một trận đánh vào tháng 11 Âm lịch năm 1800, Nguyễn Văn Thành là chủ tướng, Lê Văn Duyệt là phó tướng, “Thành vốn thích rượu, sắp ra trận thì đem bầu ra tự rót uống, rót một chén đưa cho Duyệt. Duyệt không chịu uống, Thành cố ép, nói: Nay trời lạnh, uống một chén cho mạnh thêm lên!”. Duyệt nói: “Ai yếu nhát mới phải mượn rượu, còn tôi thì trước mắt không thấy có giặc nào mạnh, cần gì đến rượu”. Thành có vẻ xấu hổ, do đó căm Duyệt” (Đại Nam thực lục, tập I, sđd, trang 422) .
Trong mối quan hệ giữa hai khai quốc công thần của vua Gia Long là Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt, có lẽ câu chuyện kể trên là đầu mối của nhiều ngộ nhận về hành động của Tả quân Lê Văn Duyệt đối với sự kiện quan trọng liên quan đến Trung quân Nguyễn Văn Thành và người con là Nguyễn Văn Thuyên.
Thuyên đỗ Cử nhân trong khoa thi Hương năm 1813, vì là con của một đại thần, lại sính chữ nghĩa, nên nhà có nhiều tân khách. Một ngày nọ, Thuyên cho môn hạ là Nguyễn Trương Hiệu đi mời hai người ở Thanh Hóa có tiếng giỏi văn thơ là Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận, mang theo một bài thơ do Thuyên làm, phần cuối có hai câu: “Thử hồi nhược đắc sơn trung tể, Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky”, có nghĩa là “phải chi có được vị tể tướng chốn sơn trung, giúp ta xoay chuyển cơ trời”.
Về điểm này, theo sách Đại Nam liệt truyện, “câu thơ ấy, lời nói có ý bội nghịch, Hiệu đem câu thơ ấy phê với Hình bộ thiêm sự Nguyễn Hữu Nghi, Nghi vốn oán Thành, xin Hiệu đem thơ ấy tố cáo với Lê Văn Duyệt, Duyệt cùng Thành vốn không hòa hợp, đem câu thơ ấy dâng lên vua, vua nghĩ sự trạng chưa rõ giả lại tờ ấy” (Đại Nam liệt truyện – Viện Sử học Việt Nam – NXB Thuận Hóa – Huế 2006 , tập II, quyển 21)
Sách Đại Nam thực lục tập I, sđd, trang 913-914 cũng ghi chép về chuyện này tương tự như trên.
Dựa vào chi tiết ấy, liệu có thể cho rằng việc tâu lên nhà vua bài thơ “phản nghịch” của con trai Trung quân Nguyễn Văn Thành là Nguyễn Văn Thuyên xuất phát từ chủ ý của Tả quân Lê Văn Duyệt muốn hãm hại ông Thành không? Tất nhiên là không, vì ngần ấy chi tiết trong chánh sử không đủ để qui trách cho ông Duyệt.
Người phát hiện ra điều phản nghịch là Nguyễn Trương Hiệu đã đem sự việc báo cho Hình bộ Thiêm sự Nguyễn Hựu Nghi và Nghi sai Hiệu mang bài thơ ấy cáo với Lê Văn Duyệt, liệu ông Duyệt có dám giấu kín bài thơ ấy, không tâu lên vua không? Tất nhiên là không. Làm điều khuất tất này, đầu ông sẽ rơi, vì nếu ông giấu bài thơ đi, vua Gia Long được tâu lên qua các hình thức tố giác khác, sao ông tránh được tội khi quân và che chở tội phạm?
Về phần vua Gia Long, ông cũng chứng tỏ mình không phải là một hôn quân. Khi nhận được bài thơ “phản nghịch” của Nguyễn Văn Thuyên, “vua cho rằng sự trạng chưa được rõ rệt, hãy để đấy mà trả bài thơ ấy về” (Đại Nam thực lục – sđd trang 914). Những chi tiết tiếp sau cho thấy vua Gia Long đã không nhân việc này mà trả đũa Nguyễn Văn Thành qua việc ông bày tỏ ý kiến khác với nhà vua trong chuyện chọn ngôi Thái tử như nhiều lời đồn đoán trong dư luận.
Sau khi nhà vua hoãn lại vụ việc, Nguyễn Trương Hiệu tìm gặp Nguyễn Văn Thuyên đòi hối lộ, Thuyên chi mãi cũng không vừa lòng. Hiệu đợi ông Thành hết buổi chầu, đón đường hỏi tiền tiếp. Vị Trung quân đang bị thất sủng bực quá, lệnh bắt cả Trương Hiệu và Văn Thuyên giao cho ngục quan Quảng Đức giam rồi tâu lên vua Gia Long. Nhà vua giao đình thần xét án, song do nhân chứng quan trọng đang ở Gia Định nên tạm thời tha Văn Thuyên khỏi ngục, chờ nhân chứng từ Gia Định về kinh để đối chất.
Tháng 2 Âm lịch 1816, viên ký lục tỉnh Quảng Trị là Nguyễn Duy Hòa (chánh tam phẩm) vào chầu, dâng sớ hạch tội Nguyễn Văn Thành là con âm mưu làm phản, đã “không biết đến cửa khuyết chịu tội, mà còn áo triều, mũ triều, nghênh ngang đứng ở trên các đình thần, như thế thì còn thể thống triều đình chi nữa” (Đại Nam thực lục – sđd, trang 918). Mỗi lời tâu như thế là thêm một áp lực đè nặng lên tâm trí vua Gia Long!
Tháng 4 Âm lịch 1816, nhà vua giao cho Thượng thư Lễ Bộ Phạm Đăng Hưng tra xét Nguyễn Văn Thuyên nhưng không có kết quả, vì theo lời họ Phạm, Thuyên tỏ ra không phục. Việc tra xét lại được giao qua Tả quân Lê Văn Duyệt và lần này Thuyên chịu phục.
Thuyên tiếp tục bị giam giữ trong hơn một năm nữa và bị xử lăng trì vào tháng 5 Âm lịch 1817, ngay sau cái chết của cha là Nguyễn Văn Thành, tự tử tại nhà. Bị xử lăng trì cùng Thuyên còn có Lê Duy Hoán, con cháu nhà Lê, từng được vua Gia Long phong tước Diên Tự công, sau bị bắt về tội phản nghịch.
Chỉ vì hai câu thơ mà bị vu cho là mưu phản, Thuyên phải trả giá bằng sinh mạng, một phần vì nhiều quan lại trong triều muốn dùng trường hợp của Thuyên để bức hại Nguyễn Văn Thành. Chúng ta không thấy bàn tay ám muội nào của Tả quân Lê Văn Duyệt trong vụ án này cả.
III) TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT CÓ DÍNH LÍU ĐẾN CÁI CHẾT CỦA TRUNG QUÂN NGUYỄN VĂN THÀNH KHÔNG?
Xét về công lao trong cuộc nội chiến với nhà Tây Sơn, Tiền quân (sau là Trung quân) Nguyễn Văn Thành lấn át cả Lê Văn Duyệt, Lê Chất, Trương Tấn Bửu… Ông là võ tướng nhưng lại có một trình độ chữ nghĩa đáng ca ngợi, Lê Văn Duyệt và nhiều người khác không sánh nổi về mặt này. Năm 1811, ông được sung làm Tổng tài, trông coi việc soạn thảo bộ luật chính thức của triều Nguyễn có tên là Hoàng Việt luật lệ, đến năm 1815 thì xong.
Trong quan hệ giữa Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt, chỉ thấy sử đề cập đến câu nói thẳng của ông Duyệt làm mất lòng ông Thành, trong cuộc hành quân vào năm 1800. Những sự kiện quan trọng khác của hoàng tộc triều Nguyễn như chuyện tế tự Thừa Thiên Cao hoàng hậu, chuyện phong Thái tử, ông Duyệt vẫn giữ thái độ bình thường như bao quan lại khác, chỉ có một mình Nguyễn Văn Thành chủ trương theo lẽ “đích tôn thừa trọng”, muốn đưa con hoàng tử Cảnh là Mỹ Đường lên ngôi Thái tử. Vậy mà nhiều bài viết phổ biến trên báo chí hay trên mạng vẫn liên kết hai ông Thành và Duyệt cùng chung một thái độ, một quan điểm, với nhiều mục tiêu khác nhau, song chủ yếu muốn mượn sự kiện không có thật này để giải thích cho điều mà họ gọi là sự bất đồng giữa Tả quân Lê Văn Duyệt và vua Minh Mạng.
Khi vụ án Nguyễn Văn Thuyên nổ ra, trong lúc vua Gia Long vẫn giữ thái độ cân nhắc, bình tĩnh, thì nhiều quan lại lại nóng lòng đẩy sự việc lên cao trào và ngày càng gia tăng áp lực, buộc nhà vua phải hành xử theo ý họ. Và chủ ý của họ là loại bỏ Nguyễn Văn Thành ra khỏi triều đình.
Như đã viết ở trên, một trong những quan lại muốn mượn chuyện Nguyễn Văn Thuyên để truy bức Nguyễn Văn Thành là Ký lục Quảng Trị Nguyễn Duy Hòa. Tháng 2 Âm lịch 1816, trước ngày tế Nam giao, Bộ Lễ tâu rằng Nam giao là đại lễ mà Nguyễn Văn Thành là người có tội nên xin không cho tham dự. Nhà vua không đồng tình với bộ này vì vụ Văn Thuyên chưa rõ ràng, lẽ nào bỏ qua một công thần. Thêm một chi tiết cho thấy vua Gia Long không hề có ác ý muốn nhân vụ Nguyễn Văn Thuyên mà xử tệ Nguyễn Văn Thành. Cũng thêm một lần, chúng ta thấy Tả quân Lê Văn Duyệt không hề “mượn gió bẻ măng”, nhân lúc ông Thành gặp nguy khốn mà ra tay hạ thủ.
Tuy nhiên, bên cạnh áp lực của Nguyễn Duy Hòa, của bộ Lễ, đình thần tiếp tục nêu trường hợp hai cha con Nguyễn Văn Thành lên để thúc đẩy nhà vua giải quyết rốt ráo vụ việc. Tháng 4 Âm lịch 1816, sau khi Phạm Đăng Hưng và Lê Văn Duyệt tra xét và Thuyên nhận tội, vua Gia Long cho giam Thuyên vào ngục. Đình thần xin hạ ngục Nguyễn Văn Thành, song nhà vua vẫn còn lưu tình, ông nói: “Văn Thành vốn là kẻ có tội, nhưng thể thống đối với đại thần, cũng nên có cách xử trí”, bèn sai thu ấn và khiến về ở nhà riêng” (Đại Nam thực lục, tập I, sđd, trang 925)
Đấy là khoảng thời gian có lần Michel Đức Chaigneau, con trai Jean Baptiste Chaigneau (tên Việt là Nguyễn Văn Thắng), nhân tháp tùng vua Gia Long viếng lăng mộ các chúa Nguyễn, đã lên bờ giữa chừng chuyến đi và đến ngôi nhà riêng của Nguyễn Văn Thành ở phường Thợ Đúc, thăm vị công thần bị thất sủng của triều Nguyễn.
Tháng 6 nhuận Âm lịch 1816, vua Gia Long sai đình thần bàn lại án phản nghịch của Nguyễn văn Thuyên và sự liên đới của Nguyễn Văn Thành. Một lần nữa, họ kết tội ông Thành là “che giấu cho con, lấy yêu ngôn tâu bậy, sửa mộ quá phép, tiến cử người xằng, nhiều điều bất pháp như thế, xin xử tội chết”. Vua Gia Long lại ban lệnh bàn lại (Đại Nam thực lục tập I, sđd, trang 930).
Song đến tháng 11 Âm lịch 1816, một sự kiện bất ngờ xảy ra: một hậu duệ của nhà Lê là Lê Duy Hoán, từng được vua Gia Long phong tước Diên Tự Công, bị phát giác mưu phản và bị tống giam!
Hơn nửa năm sau, vào tháng 6 Âm lịch 1817, kết quả điều tra của bộ Hình cho thấy là trong các cuộc hỏi cung, Lê Duy Hoán khai rằng Nguyễn Văn Thuyên từng gửi thư xúi ông ta làm phản. Vua Gia Long vẫn một mực chở che cho ông Thành, vặn lại là Văn Thuyên đã bị bỏ ngục từ lâu, sao lại nói rằng từng gửi thư cho Lê Duy Hoán? Đình thần trả lời rằng việc này xảy ra từ khi Nguyễn Văn Thành còn làm Tổng trấn Bắc Thành.
Lần này nhà vua không còn lý lẽ để bênh vực người Trung quân từng vào sinh ra tử với mình nhiều năm trời, trước đề nghị khẩn thiết của đình thần, ông sai bắt Nguyễn Văn Thành giam lại. Khi lệnh vua chưa kịp thi hành, ông Thành từ một buổi xét hỏi của đình thần trở về nhà, gặp và nói với Tả Thống chế Thị trung là Huỳnh Công Lý rằng: ”Án đã xong rồi, vua bắt bề tôi chết, bầy tôi không chết không phải là trung”. Nói xong, ông đi nằm rồi uống thuốc độc mà chết (Đại Nam thực lục tập I, sđd, trang 949)
Chi tiết này gián tiếp cải chính thông tin khá phổ biến trên báo chí và mạng xã hội cho rằng Trung quân Nguyễn Văn Thành tự sát trong ngục thất.
Đó là cái chết oan khuất của một trung thần, từng lập được công trạng hiển hách trong một thời gian dài. Theo dõi suốt câu chuyện về ông Thành cho đến khi chết được miêu tả rõ trong chính sử, không hề thấy bàn tay của Tả quân Lê Văn Duyệt nhúng vào, vậy mà không ít người dựng chuyện này về ông Duyệt với những tình tiết không có thật.
IV) TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT VỚI VIỆC XỬ TỬ PHÓ TỔNG TRẤN HUỲNH CÔNG LÝ
Câu chuyện này từng được nhiều cây bút mô tả như một sự kiện chấn động để thu hút người đọc: “Lê Văn Duyệt giết chết cha vợ vua Minh Mạng!”.
Nhiều bài viết kể rằng khi quay về Gia Định Thành (1820), nghe bẩm báo lại về nhiều hành vi trái pháp luật của Huỳnh Công Lý, như nhũng lạm công quỹ, nhũng nhiễu dân lành, với thanh thượng phương bảo kiếm trong tay và quyền tiền trảm hậu tấu được vua Minh Mạng ban cho, ông Duyệt ra lệnh chém đầu Lý tức khắc, khi vua Minh Mạng muốn cứu mạng “cha vợ”, gửi lệnh vào kêu giải Lý về kinh thì chuyện đã rồi (!).
Song những gì chính sử ghi chép đã phản bác lại hầu hết những chi tiết thiếu chính xác kể trên.
Cần nhắc lại là sau khi Tả quân Lê Văn Duyệt được gọi về triều vào tháng 6 Âm lịch năm 1815, quyền cai trị Gia Định Thành được tạm thời giao lại cho Phó Tổng trấn Trương Tấn Bửu. Tháng 8 Âm lịch 1818, vua Gia Long lại cử Tả Thống chế Thị trung Huỳnh Công Lý làm Phó Tổng trấn Gia Định Thành.
Vua Gia Long thăng hà vào ngày 19 tháng 12 Âm lịch năm Kỷ Mão, nhằm ngày 3.2.1820 thì chỉ khoảng 4 tháng sau (5 Âm lịch 1820), vua Minh Mạng đã cử Tả quân Lê Văn Duyệt trở lại Gia Định Thành, tiếp tục cương vị Tổng trấn. Hai tháng sau, Tả quân cử Phó Tổng trấn Huỳnh Công Lý mang quân qua Chân Lạp (Campuchia) đánh dẹp cuộc nổi loạn của một nhà sư tên Kế. Song đến tháng 9 Âm lịch cùng năm, một sự kiện quan trọng xảy ra: quan binh và dân chúng Gia Định tố cáo Huỳnh Công Lý 10 điều vi phạm trong thời gian làm việc ở Gia Định Thành, chủ yếu là tham nhũng và nhũng nhiễu dân chúng.
Ngay sau khi tiếp nhận đơn tố giác của nhiều người, Tả quân Lê Văn Duyệt tâu mọi việc về triều. Nhận được bản tấu, vua Minh Mạng đã nói với Nguyễn Văn Nhơn và Nguyễn Đức Xuyên rằng: ”Không ngờ Công Lý quá đến thế, công trạng nó có gì bằng các khanh, duy nhờ Tiên đế cất, ngôi đến Phó Tổng trấn, lộc nước ơn vua, thực không phải bạc, thế mà lại bóc lột tiểu dân, làm con mọt nước. Nay tuy dùng phép buộc tội, nhưng dân đã khốn khổ rồi” (Đại Nam thực lục, tập II, NXB Giáo dục – 2004, trang 93)
Sau đó, nhà vua hội bàn với đình thần, xét thấy nếu triệu Lý về kinh, phải đòi nhân chứng đến, đường sá xa xôi, do đó, tiện hơn cả là tra xét việc làm của Lý tại Gia Định. Bèn cử Thiêm sự bộ Hình là Nguyễn Đình Thịnh vào Gia Định, phối hợp với Tào Hình mà xét hỏi.
Tháng 12 Âm lịch năm Canh Thìn, nhằm đầu năm 1821, trong một buổi hội đình thần, vua Minh Mạng cũng đem trường hợp Huỳnh Công Lý ra để răn đe mọi người. Vụ án này không chỉ dính đến cá nhân họ Huỳnh, mà còn làm liên lụy đến nhiều quan lại khác. Tháng 3 Âm lịch 1821, ba quan chức hàng đầu của trấn Biên Hòa là Trấn thủ Tống Văn Khương, Ký lục Hoàng Công Xuân, Cai bạ Bùi Phụ Đạo từng bắt binh dân trong phạm vi hạt của họ làm việc riêng cho Huỳnh Công Lý nên bị bãi chức cả. Tuy là quan chức cao cấp nhất của một trấn, nhưng so với một Phó Tổng trấn quyền uy bao trùm cả 5 trấn, những viên chức này vẫn là thuộc cấp, không thể không nghe theo lệnh của họ Huỳnh. Song không vì thế mà họ không bị trừng phạt, điều này cho thấy tính khắt khe của luật lệ ngày xưa đối với kẻ làm quan như thế nào!
Tháng 5 Âm lịch 1821, vua Minh Mạng ban ra quyết định tối hậu về những sai phạm của Huỳnh Công Lý:
“Hoàng (Huỳnh) Công Lý trước bị tội tham nhũng, tang vật đến trên hai vạn quan tiền. Sai quan thành Gia Định đòi hỏi. Khi thành án, giao đình thần bàn xét, đáng tội chết, bèn đem giết, tịch thu gia sản đem trả lại cho binh dân” (Đại Nam thực lục, tập II, sđd, trang 134)
Vậy là đã rõ, tiến trình vụ án Huỳnh Công Lý diễn ra như sau:
– Tả quân Lê Văn Duyệt tiếp nhận đơn tố cáo của binh dân và tâu về triều.
– Vua Minh Mạng ra lệnh tống giam Lý tại Gia Định, cử người ở Bộ Hình vào tận Gia Định, phối hợp với bộ máy tại địa phương để tra xét.
– Cuối cùng, khi việc xét hỏi hoàn tất, nhà vua ban lệnh xử tử Huỳnh Công Lý.
– Từ lúc Tả quân Lê Văn Duyệt tâu vụ việc liên quan đến Huỳnh Công Lý về triều (tháng 9 Âm lịch 1820) đến khi vua Minh Mạng ban lệnh xử tử ông này (tháng 5 Âm lịch 1821) là 8 tháng, không hề có chuyện ông Duyệt tiền trảm hậu tấu, mà cũng không hề có chuyện vua Minh Mạng lệnh đưa ông Lý về Huế để bao che!
Thực tế lịch sử này đã phản bác lại mọi thêu dệt về vụ án viên Phó Tổng trấn họ Huỳnh
Ngoài ra, chi tiết Huỳnh Công Lý là “cha vợ vua Minh Mạng” không hề được ghi chép trong Đại Nam thực lục hay Đại Nam liệt truyện, có lẽ chỉ xuất phát từ một “giai thoại” nào đó ngoài chính sử, và ngày nay, những ai nghiên cứu sử trên tình thần nghiêm túc có quyền nghi ngờ đây cũng là yếu tố được áp đặt nhằm gây tạo sự xúc động cho người đọc và giúp củng cố cho điều gọi là “sự bất đồng trầm trọng” giữa vua Minh Mạng và Tả quân Lê Văn Duyệt khi ông còn tại chức.
V) THỰC CHẤT MỐI QUAN HỆ GIỮA VUA MINH MẠNG VÀ TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT CÙNG BẢN ÁN OAN NGHIỆT NĂM 1835
Theo chính sử, vào tháng 12 Âm lịch năm Kỷ Mão, nhằm vào tháng 2 dương lịch năm 1820, biết mình không qua khỏi, vua Gia Long đã triệu tập Hoàng thái tử, các Hoàng tử tước công và hai đại thần Lê Văn Duyệt, Phạm Đăng Hưng vào hầu để nhận di chiếu. Việc họ có mặt trong giờ phút lâm chung của vua Gia Long nói lên tầm quan trọng của họ, nhất là tạo nên uy tín đối với tân quân. Vì thế ngay khi vừa lên ngôi, vua Minh Mạng đã viết thư khen, đóng ấn ngọc tỷ ban cho ông Duyệt, đến tháng 4 Âm lịch 1820 lại cử ông làm Tổng hộ sứ, điều khiển chung lễ an táng vua Gia Long tại lăng Thiên Thọ .
Tháng 5 Âm lịch 1820, nhà vua “lấy Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt lãnh Tổng trấn thành Gia Định (đúng ra phải là Gia Định Thành – LN). Phàm truất thăng quan lại, hưng lợi, trừ hại, tất cả việc thành và việc biên cương đều cho tùy nghi mà làm” (Đại Nam thực lục, tập II, NXB Giáo dục 2004, trang 62). Như vậy, hầu như nhà vua đã giao cho Tả quân trọn quyền đối với mảnh đất Gia Định Thành bao gồm năm trấn, từ Bình Thuận vào đến Hà Tiên.
Trong suốt 12 năm miệt mài lo việc gìn giữ trật tự trị an và phát triển kinh tế một vùng đất rộng lớn, Tả quân Lê Văn Duyệt luôn giữ đạo quân thần, dù được nhà vua dành cho nhiều quyền hạn, song từng chuyển biến nhỏ trong địa hạt của mình, ông đều tâu về triều. Qua lịch sử, chúng ta thấy rằng vua Minh Mạng nhiều lần ban thưởng chẳng những cho bản thân ông Duyệt mà còn cho cả thân phụ và thân mẫu ông nữa.
Tháng 8 Âm lịch năm 1820, nhà vua truy thăng cha ông Duyệt là cố Chưởng cơ Lê Văn Toại (tòng nhị phẩm) lên hàm Thống chế (chánh nhị phẩm). Tám năm sau, tháng 12 Âm lịch Đinh Hợi (1828), một lần nữa, nhà vua truy thăng ông Toại lên chức Đô thống, hàm tòng nhất phẩm, mẹ ông Duyệt là Nguyễn thị được phong Nhất phẩm phu nhân (Đại Nam thực lục, tập II, NXB Giáo Dục 2004, trang 690)
Về phần Tả quân Lê Văn Duyệt, ngoài việc dành cho một quyền hạn rộng rãi trong việc cai trị Gia Định Thành, nhà vua không bỏ sót một lần ân thưởng nào mỗi khi vị công thần và thuộc cấp làm được những điều ích quốc lợi dân. Tháng 4 Âm lịch 1822, nhà vua gửi vào Gia Định Thành cho Tả quân một cái ống điếu bằng pha lê bịt vàng, một chén ngọc liệu màu xuân thanh bịt vàng, một chén ngọc liệu màu mỡ cắt bịt vàng, một cái chậu pha lê, với lời dụ đầy cảm mến.
Tháng 6 Âm lịch 1824, sau khi về kinh bệ kiến, tâu trình một số việc, Tả quân Lê Văn Duyệt quay về Gia Định Thành, vua Minh Mạng cử binh đi theo, và:
“Duyệt đương trên đường, vua sai trung sứ mang một cái ống điếu bằng pha lê màu biếc bịt vàng là đồ thượng phương và dụ bảo rằng: “Từ sau khi khanh bệ từ, lòng trẫm băn khoăn chẳng lúc nào quên, khanh nên giữ gìn khi đi lúc nghỉ, chớ để nắng gió cảm nhiễm mà làm lo cho trẫm”” (Đại Nam thực lục, tập II, sđd, trang 363) .
Sự ưu ái của bậc quân vương đối với một lão thần thật cảm động!
Ngoài những việc như thế, tháng 1 Âm lịch 1824, nhà vua còn gả em gái là trưởng công chúa Ngọc Ngôn cho con thừa tự của Tả quân là Kiêu kỵ Đô úy Lê Văn Yến, vốn là con của Lê Văn Phong, em ruột ông Duyệt, được ông nhận làm con thừa tự. Bản thân Lê Văn Phong lúc ấy cũng đang là Phó Tổng trấn Bắc Thành.
Bên cạnh lòng ưu ái thể hiện qua việc vua Minh Mạng ân thưởng bản thân Tả quân Lê Văn Duyệt và cha mẹ, chúng ta còn thấy cung cách xử sự của nhà vua trước một số vấn đề phát sinh tại Gia Định Thành trong thời gian ông Duyệt giữ chức vụ Tổng trấn.
Cho dù là quan đại thần nhất phẩm triều đình, Tả quân luôn tỏ ra khắt khe, nghiêm cẩn với chính mình. Năm 1825, một viên chức thuộc tào Binh tại Gia Định là Bùi Phụ Đạo lỡ tay đóng triện ngược trong sổ binh dâng về triều, vua Minh Mạng giao cho đình thần nghị xử, cho dù sơ suất đó không có gì là lớn lao. Được tin này, Tả quân cho rằng đó là lỗi mình không trông nom nên dâng biểu xin nhận tội. Vua Minh Mạng đã miễn trách và ban dụ rằng: “…Duyệt là bậc đại thần ở nơi bờ cõi, phàm trong hạt việc lợi thì làm, việc hại thì bỏ, người có tài thì tiến lên, người không tài thì bãi đi, khiến quan lại được xứng chức, nhân dân được yên nghiệp, như thế thì quan to sợ phép, quan nhỏ giữ liêm, ai là không biết khuyên răn, phép làm cho quan lại trong sạch như thế chẳng là đẹp tốt sao? Điều mà trẫm đòi ở Duyệt là ở đó, mà Duyệt làm được xứng chức cũng là ở đó…” (Đại Nam thực lục, tập II – sđd, trang 464)
Câu chuyện nói lên tính khảng khái của người làm quan, sẵn sàng nhận trách nhiệm trước sai sót của thuộc cấp mình.
Tuy là nhà cai trị tài giỏi và công tâm, nhưng không phải là Tả quân Lê Văn Duyệt không có sai lầm hoặc những việc làm trái ý nhà vua. Tháng 8 Âm lịch 1827, người dân Chân Lạp bị đói rất nhiều, ông tự tiện phát chẩn 15 ngàn phương gạo rồi làm sớ tâu lên vua. Nhận được sớ, vua Minh Mạng dụ rằng: “Cứu giúp tai nạn, triều đình cố, là không tiếc của, duy Chân Lạp là nước thuộc phiên, so với dân ta có khác, nếu nước ấy mất mùa đói kém mà phát chẩn thì đợi tâu cũng chưa muộn. Nay tạm cho biên vào sổ tiêu, về sau không được viện làm lệ” (Đại Nam thực lục – tập II – sđd, trang 663)
Tháng 10 Âm lịch năm ấy, Lê Văn Duyệt về kinh, vào chầu, nhà vua triệu lên điện và cho ngồi, nhắc thêm chuyện phát chẩn cho người Chân Lạp: ”Trước đây Chân Lạp kêu đói, khanh tiện nghi phát chẩn, không phải là việc nhỏ đâu. Quyền nghi thông biến ở khanh thì còn được, chứ người khác thì phải cẩn giữ pháp độ”. Lời nói vừa nghiêm cần vừa rộng lượng với bậc công thần! Có lần nhà vua nói riêng với hai quan lại Trần Văn Năng và Tống Phước Lương: “Người ta nói Duyệt tính bướng, nay trẫm xem ra là người trung thuận, cái nghĩa bề trên có sẵn lúc ngày thường…” (Đại Nam thực lục, tập II, sđd, trang 671)
Tháng 6 Âm lịch 1828, một sự kiện làm rúng động Gia Định Thành. Một viên Tham tri Bộ Hộ là Trần Nhật Vĩnh (ngang với Thứ trưởng Bộ Tài chánh ngày nay), trong thời gian được phái đến Gia Định Thành, được ông Duyệt tin dùng. Không ngờ Vĩnh ỷ thế, làm nhiều điều phi pháp như ăn của đút, cướp vợ người, chiếm đoạt tài sản của người. Dân chúng trong vùng sợ bị trả thù nên không dám tố giác.
Chỉ một tháng sau khi Vĩnh được đưa ra Bắc Thành, dân chúng nộp đơn kiện rất nhiều. Tả quân Lê Văn Duyệt thụ lý tất cả các đơn, xin giải Trần Nhật Vĩnh về Gia Định để đối chất, tâu xin vua Minh Mạng phái quan ở kinh về để cùng hội xét. Rồi ông làm tờ tấu nhận tội mình đã tin dùng người làm bậy.
Biết rõ sự việc, vua Minh Mạng cách chức Trần Nhật Vĩnh, bắt trói giải về kinh đợi xét tội. Với Lê Văn Duyệt, nhà vua dụ rằng: “Trước kia khanh nghe lầm tà thuyết của Trần Nhật Vĩnh, nhiều việc sai bậy, những chương sớ tâu lên có nhiều điều không hợp, trẫm nghĩ công lao ngày trước của khanh mà không trách mắng. Nay khanh đã đến lúc bóng dâu buổi chiều, còn biết hối lỗi trước, đem Trần Nhật Vĩnh nghiêm tham trừng trị và tâu xin nhận tội, tình từ thống thiết, trẫm đã hiểu hết lòng khanh. Có lỗi mà biết đổi, thánh nhân còn tha, nữa là trẫm đối với khanh à! Việc khanh xin nghị xử thì gia ân miễn cho. Vậy ban dụ này ân cần chỉ bảo cho được yên lòng…” ( Đại Nam thực lục, tập II, sđd, trang 745)
Những lời nói chí tình ấy cho thấy cách hành xử của vua Minh Mạng thật ưu ái và rộng lượng với người dưới, mặt khác, Tả quân Lê Văn Duyệt cũng rất biết đạo vua tôi. Nếu giữa hai người có những bất đồng trầm trọng thì chỉ với vụ Trần Nhật Vĩnh thôi, nhà vua đã thừa sức xuống tay rồi.
VI) LỜI KẾT – TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT VÀ BẢN ÁN OAN NGHIỆT CUỐI NĂM 1835
Căn cứ vào những chi tiết nêu trên, khó có thể cho rằng mối quan hệ tốt đẹp giữa vua Minh Mạng với Tả quân Lê Văn Duyệt khi còn sống là lý do chính dẫn đến bản án tử năm 1835 dành cho ông. Cũng không thể suy diễn rằng một người có quyền lực tuyệt đối như nhà vua lại chịu dằn lòng, kìm nén nỗi bức xúc, đóng kịch trong cách cư xử tốt đẹp với người dưới, và chỉ đợi đến dịp trả thù (!).
Tháng 7 Âm lịch năm 1832, Tả quân Lê Văn Duyệt qua đời thì ba tháng sau (tháng 10 Âm lịch 1832), sự hiện diện của bộ sậu quan lại mới tại tỉnh Phiên An (Gia Định sau này) đã tạo ra những biến động khôn lường. Bố chánh Bạch Xuân Nguyên lấy cớ có “mật chỉ” của triều đình, tra xét, bắt bớ, giam cầm rất nhiều thủ hạ của cố Tả quân ở thành Phiên An. Tức nước vỡ bờ, khi sự chịu đựng đã đến giới hạn, những người lính này dưới sự chỉ huy của Vệ úy Lê Văn Khôi (*) đã tự bảo vệ mình bằng cách nổi dậy sát hại Bạch Xuân Nguyên và nhiều quan chức khác rồi cố thủ trong thành (tháng 5 Âm lịch 1833).
Và trong cuộc binh biến ấy, chính lòng đố kỵ bị dồn nén nhiều năm (đối với Tả quân) của một số đại thần và sự u mê nhất thời của đấng quân vương đã dẫn đến bản án oan nghiệt năm 1835.
Ngay trước tháng 11 Âm lịch 1833, Tả Phó Đô Ngự sử Viện Đô sát là Phan Bá Đạt và một vài người, trong một bản tấu, đã không lý tới nguyên nhân chính dẫn tới hành động tức nước vỡ bờ của binh lính thành Phiên An là hành động tàn ngược của Bố chánh Bạch Xuân Nguyên, nhằm tra vấn, bắt bớ, giam cầm rất nhiều thủ hạ của cố Tả quân, khiến họ không còn con đường nào khác để tự cứu mình bằng việc chống lại chính quyền tỉnh lúc bấy giờ. Họ đã dựa vào một sự suy diễn không hợp logic, phi thực tế, để bắt tội Tả quân, cho rằng sở dĩ có cuộc nổi dậy là do khi còn tại chức, ông đã sử dụng, dung túng cho bọn nguyên là lũ giặc cướp, kẻ du thủ du thực để đến nỗi xảy ra cớ sự (Đại Nam thực lục, Tập III, NXB Giáo dục 2007, trang 810) .
Khi lên án cố Tả quân Lê Văn Duyệt, với lập luận này, họ đã cố tình phủ nhận một sự kiện lịch sử đã diễn ra cách đó 14 năm:
– Đầu năm 1819, vua Gia Long sai Tả quân Lê Văn Duyệt đi kinh lược hai xứ Thanh Hoa và Nghệ An, vì dân nơi ấy hàng năm thiếu đói, họp nhau làm giặc cướp … (Đại Nam thực lục, tập I, sđd, trang 982). Khi “Lê Văn Duyệt đã đến Nghệ An, tuyên bảo uy đức của triều đình, hỏi thăm nỗi khổ của nhân dân. Bọn giặc cướp nghe tin tan vỡ, hoặc đến cửa quân xin thú, hoặc bị quan quân bắt giết, trong cõi nghiêm hẳn…” (Đại Nam thực lục, tập I, sđd, trang 984). Sau đó, triều đình nghe theo lời tấu của Tả quân, tha thuế cho dân, dừng hẳn công dịch, chiếu ban xuống dân rất vui mừng.
Tháng 6 Âm lịch 1819, hơn 900 giặc cướp ở Thanh Nghệ ra đầu thú, Tả quân Lê Văn Duyệt xin tha tội cho họ và biên bổ họ làm lính. Đó là nguồn gốc xuất phát của thành phần lính “hồi lương” được ông sử dụng tại đất Gia Định trong suốt 12 năm, cho đến ngày ông qua đời. Hành động của ông đáng được ca ngợi, vì một phần vô hiệu hóa được các hoạt động cướp bóc, đem lại trật tự trị an cho địa phương, mặt khác cảm hóa được những kẻ tội phạm, giúp họ đi vào con đường hoàn lương và đóng góp công sức vào xã hội. Suốt 12 năm phục vụ dưới quyền thống lĩnh của ông, những người lính hồi lương này không gây ra những việc tàn hại nào, vậy mà khi họ tham gia vào việc chống lại triều đình do bị bức bách quá đáng, bị dồn vào đường cùng, người ta đã đổ trút hết trách nhiệm lên đầu ông!!
Khác với nhiều ý kiến cho rằng những “bất đồng” với nhau khi Tả quân còn sống đã khiến vua Minh Mạng chọn một quyết định pháp lý bị người đời sau lên án, mình cho rằng quyết định này xuất phát từ sự xàm tấu của những đình thần nuôi lòng đố kỵ mà không làm được gì khi Tả quân còn sống, lúc gặp dịp thì bùng lên. Nhà vua đã không có sự sáng suốt, ít ra như vua cha (Gia Long) khi đứng trước vụ án Nguyễn Văn Thành và con là Nguyễn Văn Thuyên, không chỉ tạo ra hai bản án oan nghiệt đối với Tả quân Lê Văn Duyệt và nguyên Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất, mà còn gây ra vụ thảm sát không tiền khoáng hậu: giết chết cùng một lúc 1831 người sống trong thành Phiên An, không phân biệt binh-dân, bất luận nam phụ lão ấu! Đó là một tội ác kinh tởm trong lịch sử!
Những việc làm trên là một vệt đen trong trang sử triều Minh Mạng, làm lu mờ phần nào một thời khoảng rực rỡ với những công cuộc phát triển kinh tế và đời sống xã hội, những cải cách thể chế làm nền tảng cho các triều vua sau.
Điều đáng mừng là ngay sau khi ông qua đời, con (vua Thiệu Trị) và cháu ông (vua Tự Đức) đã kịp thời chấn chỉnh, đưa ra những quyết định hợp lẽ đời: tha cho những thân tộc của Tả quân, thu dụng họ vào bộ máy chính quyền, cho con cháu sửa sang phần mộ đã bị san phẳng (1848), và cuối cùng là khôi phục hẳn chức hàm cũ của ông là Vọng các công thần Chưởng Tả quân Bình Tây Đại tướng quân, Quận công, cho thờ tại miếu Trung hưng công thần (1868) (Đại Nam thực lục, tập VII, NXB Giáo dục 2006, trang 1104).
Lịch sử đặt ra cho người đời sau nhiều bài học cần được nhìn lại với công tâm và sự sáng suốt.
13.9.2026
(*) Về nhân vật Lê Văn Khôi, học giả Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược (và nhiều cây bút về sau) đã có sự nhầm lẫn khi cụ viết “Ông Duyệt tin dùng làm con nuôi, đổi tên họ là Lê Văn Khôi” (Việt Nam sử lược, NXB Văn Học 2012, trang 492). Trên thực tế, chưa bao giờ Khôi là con nuôi của ông Duyệt, mặt khác, việc đổi tên Nguyễn Hựu Khôi ra Lê Văn Khôi là từ một quyết định của triều đình chứ không phải của ông Duyệt, và vua Minh Mạng đã giải thích vì sao lại chọn họ Lê: “… rõ ràng giặc Khôi như con của Lê Văn Duyệt” ( Đại Nam thực lục, tập III, NXB Giáo dục 2007, trang 637). Có lẽ sự nhầm lẫn của cụ Trần xuất phát từ câu nói có chữ “như” này!