Lê Thọ Bình

Đoàn Huy Giao. Ảnh: Dương Minh Long
Đoàn Huy Giao người “lật đá vá trời”
Từ một chàng trai xứ Quảng làm báo phản chiến, Đoàn Huy Giao bước vào truyền hình, rong ruổi qua những cánh rừng Tây Nguyên, dựng Bảo tàng Đồng Đình và cuối cùng tìm thấy sự “cứu rỗi” trong trường ca. Một đời đi qua nhiều biến động, nhưng những miền ký ức về đất, người và nghệ thuật vẫn âm thầm kết tinh trong ông.
Một thời làm báo phản chiến
Đúng hẹn, tôi chờ ông ở sảnh khách sạn. Cái ôm chặt, ấm áp của ông lập tức xua tan mọi băn khoăn trong tôi. Suốt ngày hôm ấy, chúng tôi ngồi bên nhau, chuyện trò đủ thứ trên đời. Ông khuấy nhẹ ly cà phê đen, rồi chậm rãi kể bằng chất giọng Quảng đặc sệt, rắn rỏi.
Ông tên khai sinh là Nguyễn Trì, vậy cái tên tên Đoàn Huy Giao từ đâu mà có, thưa ông?
– Tôi sinh đầu năm 1946 ở làng Tham Hội, xã Bình Hoàng, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi. Giấy khai sinh ghi tên Nguyễn Trì; những cái tên khác sau này chỉ để tìm cách trốn lính.
Bút danh đầu tiên của tôi là Trình-NH, ký đúng một lần dưới bài thơ Năm Phiên Khúc năm 1966. Còn Đoàn Huy Giao là cái tên tôi tình cờ mượn từ một người lao công hốt rác ở chợ Hàn, lại càng trùng hợp khi mẹ tôi cũng họ Đoàn.
Tôi học chữ từ Cậu. Cậu lấy que tre vạch từng chữ trên nền đất, dạy tôi đánh vần. Nhưng những năm tháng học trò mới thực sự mở ra “hũ nếp” chữ nghĩa trong đời tôi. Tôi từng chép thơ Tế Hanh thành một tập dày cộp để gối đầu giường; từng được thầy Trương Chứng mở tủ sách cho mượn những cuốn quý của nhóm Hàn Thuyên.
Hồng ân lớn nhất là những ngày làm gia sư tại nhà bà Ấm Bốn, con dâu Thượng thư Tạ Tương. Trong căn phòng tối chất đầy sách báo cũ, tôi lần đầu đọc Les Fleurs du mal (Những bông hoa của cái ác) của Baudelaire, rồi “cỏm” về quê những số Tiếng Dân, Nam Phong, An Nam tạp chí. Với một thằng trò nghèo tỉnh lẻ, đó là cả một kho báu.
Ông bỗng trầm ngâm: “Mọi thứ có nghĩa đều có mùi riêng của nó”. Rồi ông nhắc bức tranh Người hát rong của Bùi Xuân Phái, món quà Lưu Quang Vũ tặng. “Mỗi lần ngắm tranh, tôi như thấy mình trong người hát rong ấy: buồn thiu, âm thầm, cô độc, ôm cây đàn lang thang trên những nẻo đường vô danh…”.
Và bất chợt, ông gọi tên người bạn cũ: “Tạ Quảng Giao ơi, tại sao mấy chục năm rồi bọn mình chưa được gặp lại nhau một lần? Vô lý quá!”.
Và rồi ông đến với nghề báo như thế nào?
– Khi bước chân từ miền Ấn Trà ra Đà Nẵng, tôi cùng Đoàn Thạch Biền, Phạm Quang Dương… trong nhóm bạn yêu văn chương bàn với nhau ra một tờ tập san lấy tên là Cửa Ngõ, diễn đàn của người viết trẻ, có giấy phép hẳn hoi của Ủy ban Kiểm duyệt Vùng 1 chiến thuật. Tờ báo chỉ sống được đúng một số, rồi chết, trong cái hả hê chữ nghĩa đầu đời của mấy cô cậu mặt trắng đầu xanh mà tham vọng văn chương thì rất nhiều màu, nhảy nhót theo trào lưu thời thượng của văn nghệ miền Nam những năm 1964-1965.
Tập san Cửa Ngõ số 2 chưa kịp in thì mỗi đứa đi mỗi ngả. Đứa vào trường Sư phạm, ra trường đi dạy học. Đứa bị động viên vào trường Võ bị Thủ Đức, ra mặt trận đâu một thời gian ngắn gì đó, đã được đưa xác về đặt vào quan tài bọc kẽm trong nhà tang lễ Tổng Y viện Duy Tân.
Tôi được một tờ tuần báo ở Đà Nẵng thuê “vỗ bài”, chấm mô rát như con cò một chân đứng bên lề các cuộc thảo luận thời sự chính trị rất sôi nổi của các “đại nhà báo”. Đó là khởi đầu cái gọi là nghề báo mà mùi mực in và bản kẽm cliché dầu thấm vào tôi thành một thứ “siêu phẩm” có mùi chữ nghĩa rất nồng, rất hấp dẫn.
Tờ tiếp theo, cùng một nhóm bạn văn nghệ đã thành danh, số đông xuất thân từ trường Trần Quý Cáp, Hội An. Chúng tôi cho ra một tờ giai phẩm Tương lai hướng về phía những Người Lao Tác, quy tụ nhiều cây bút có thơ văn thường xuyên in trên các tạp chí lớn ở Sài Gòn thời bấy giờ như Lê Đình Phạm Phú, Uyên Hà, Nguyễn Tịnh Đông, Thiếu Khanh, Đynh Trầm Ca… Hoàng Lộc, Đoàn Thạch Biền… do tôi và Nguyễn Tịnh Đông điều hành, thu thập bài vở, biên tập và in ấn.
Tiền in và tiền rượu dầm thuốc bắc Bảo Sanh Tường ở Hội An để bù khú do Lê Đình Phạm Phú cuối tuần mang về. Tờ giai phẩm như một chỗ tụ hội cho các cây bút có nhiều xu hướng xã hội rất khác nhau, nhưng lại có tâm tình bền chặt đùm bọc với nhau trong đời sống thường ngày cũng như trong sáng tác. Chẳng vậy mà Nguyễn Tịnh Đông và tôi mới có thể tồn tại được theo xu hướng chống chiến tranh (không đi lính, làm thơ phản chiến).
Sau năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tôi về nhà làm vườn ở chân núi Sơn Trà.
“Không có Tây Nguyên tôi sẽ chẳng là tôi hôm nay”
Rồi chúng tôi chuyển câu chuyện làm phim tài liệu. Tôi kể cho ông nghe rằng hai ba chục năm trước tôi đã từng rất thích một số phim tài liệu do ông làm được phát trên truyền hình về núi rừng Tây Nguyên.
Ông Giao kể: “Tôi vào làm truyền hình như một câu chuyện bí ẩn. Một chiều nọ đang cuốc vườn thì có một cán bộ phường đến đưa giấy triệu tập tôi đi làm. Tôi được chọn vào làm việc tại Đài Truyền hình Việt Nam (tại Đà Nẵng). Đến mấy năm sau tôi mới biết có một biên bản liên tịch giữa công an, lao động và văn hóa thông tin ký đề xuất cho tôi đi làm. Sau này nhà văn Đoàn Xoa ở Ty Văn hóa Thông tin, nói vui: “Để ông khỏi ở nhà tụ tập anh em văn nghệ nói lung tung”.
Từ một chuyện tình cờ “đi làm để đỡ nói lung tung” ông đã trở thành một đạo diễn nổi tiếng về loạt phim tài liệu để lại dấu ấn rất sâu đậm trong lòng công chúng. Sao ông làm được như thế?
– Ba mươi bảy năm làm truyền hình, với tôi, thực sự là một trường nghề, cũng là một trường đời. Công việc đã đưa tôi đi qua nhiều miền đất nước, gặp gỡ biết bao con người, chứng kiến không ít đổi thay của đời sống. Nhưng trong tất cả những nơi từng đi qua, Tây Nguyên vẫn là miền đất để lại trong tôi dấu ấn sâu đậm và bền bỉ nhất: một vùng đất giàu mơ tưởng, quyến rũ, dữ dội và bí ẩn; đồng thời cũng luôn chất chứa những thách thức đối với sự ổn định xã hội và sự gìn giữ bản sắc văn hóa bản địa.
Những năm 80, 90 của thế kỷ trước, tôi đi ngang dọc trên vùng đất đỏ bazan, qua những cao nguyên mênh mông, những triền núi hun hút và những cánh rừng già còn bạt ngàn. Tôi đã đi từ Bắc Tây Nguyên, từ Kon Tum, Gia Lai, xuống Đắk Lắk, rồi đến cao nguyên Lâm Viên, Lâm Đồng; có khi lại men theo những miền núi phía Tây các tỉnh Nam Trung Bộ. Mỗi nơi đều có một sắc màu, một mùi hương, một nhịp sống riêng. Dường như chỉ cần đặt chân đến, hít thật sâu không khí của núi rừng, tôi đã có thể cảm nhận được hương vị nguyên sơ, nồng nàn của từng tiểu vùng.
Sức hấp dẫn của Tây Nguyên không chỉ nằm ở đất đai trù phú, ở rừng núi và tài nguyên từng dồi dào, đủ sức cuốn hút những dòng người từ khắp nơi tìm đến lập nghiệp, mưu sinh. Điều mê hoặc tôi hơn cả là thứ “men tình” đa sắc tỏa ra từ đời sống văn hóa của các tộc người bản địa, những cộng đồng đã cư trú lâu đời trong không gian thảo mộc và núi rừng.
Càng đi, càng gặp gỡ, càng làm phim, tôi càng bị miền đất ấy cảm hóa. Thiên nhiên và con người Tây Nguyên dần trở thành một phần trong tâm thức. Có lúc, tôi thấy mình như một “đứa con lai” của rừng xanh và đất đỏ, ngẩn ngơ trước vẻ đẹp hoang sơ của núi rừng, trước tiếng cồng chiêng, những mái nhà rông, những mùa rẫy và chiều sâu nhân học của các cộng đồng cư dân bản địa.
Tây Nguyên vì thế đi vào những bộ phim tài liệu của tôi một cách tự nhiên. Tôi làm phim về vùng đất ấy như một người đã trót say, trót nghiện miền sơn nguyên. Mỗi mùa thu, chỉ cần bắt gặp lau trắng hay hoa dã quỳ, loài hoa tôi vẫn quen gọi là cúc quỳ, là trong tôi lại thức dậy mùi ngai ngái thân thuộc của đất trời cao nguyên.
Giờ đây, ngồi nhìn bầu trời thu dường như nóng hơn, tôi vẫn nhớ mồn một những ngày lao lực với hàng chục bộ phim: Người từ đỉnh núi, Vĩnh biệt lúc hoàng hôn, Tâm tình Xu Man, Bát cơm đất đỏ, Trở lại mùa cúc quỳ, Thung lũng lời nguyền, Rơ Ma Klum, Những dòng sông trong rừng, Lá hát… Và đặc biệt là series 36 tập Tây Nguyên – Miền mơ tưởng, một cuộc tổng hợp địa chí bằng hình ảnh về vùng đất được xem như xương sống chiến lược của đất nước.
Nhà văn Nguyên Ngọc, người tôi từng mời đồng hành trong hành trình thực hiện series phim ấy, đã nói ngay ở tập đầu tiên: “Nếu không có Tây Nguyên, có thể mình không thành nhà văn”. Câu nói ấy khiến tôi nghĩ rất nhiều. Còn với tôi, nếu không có may mắn được “ăn nằm” cùng không gian vừa dữ dội vừa huyền ảo của Tây Nguyên, được sống giữa những cánh rừng, những buôn làng và những con người chân chất nơi đây, có lẽ tôi cũng chẳng thể trở thành tôi của hôm nay.
20 năm lật đá vá trời
Đi nhiều, làm nhiều bộ phim về Tây Nguyên, có lẽ ông càng thấm thía giá trị của những lớp trầm tích văn hóa. Và phải chăng chính khát vọng lưu giữ “hồn cốt” của những miền đất đã thôi thúc ông hình thành Bảo tàng Đồng Đình?
– Có lẽ ý thức sưu tập trong tôi đã nhen lên từ rất sớm, dù khi ấy tôi hoàn toàn không biết sau này nó sẽ dẫn mình đi đâu.
Ngày còn học trường làng, mỗi mùa hè, mẹ thường sai tôi lon ton theo các anh nông dân lên núi trước nhà chặt củi dự trữ cho mùa đông. Công việc nặng nhọc đối với một đứa trẻ, nhưng cũng chính trong những chuyến đi ấy, tôi bắt đầu chú ý đến cây cỏ. Thầy Phượng, anh ruột nhà thơ Hà Nguyên Thạch, từng dạy chúng tôi về thế giới vạn vật. Tôi mê những bài học ấy và tập nhặt nhạnh, lưu giữ các loại cây, lá như một trò chơi.
Lớn hơn một chút, sự thích thú ấy chuyển sang những vật dụng cũ bằng sành nằm lẫn trong vườn nhà, ngoài ngõ xóm: những ông táo, ông bình vôi đã sứt mẻ, phần lớn là đồ gốm từ lò Mỹ Thiện, Châu Ổ của quê tôi. Xa hơn nữa, trong ký ức tuổi thơ còn có những mảnh gốm Sa Huỳnh vô tình lộ ra khi người ta đào hầm địa đạo quanh vườn nhà vào cuối thời kháng chiến chống Pháp.
Chỉ đến khi trưởng thành, thực sự bước vào con đường sưu tập và tìm hiểu cổ vật, tôi mới giật mình nhận ra: dưới mỗi vùng đất có thể là dấu chân của biết bao lớp người, bao nền văn hóa từng tồn tại. Trong khảo cổ học, người ta gọi đó là “tầng văn hóa”. Có những địa điểm, chỉ một hố khai quật đã cho thấy ba, bốn lớp văn hóa khác nhau nằm chồng lên nhau.
Chúng im lặng trong lòng đất, nhưng lại mở ra một cuộc đối thoại vô cùng sống động với thời gian. Càng tìm hiểu, tôi càng thấy quá khứ tuy xa về thời gian nhưng lại rất gần trong không gian. Chỉ cần biết lắng nghe, ta có thể lần theo những dấu vết ấy để nối hơi thở của tiền nhân với đời sống hôm nay.
Tôi không phải người buôn đồ cổ. Với tôi, một hiện vật có giá trị trước hết bởi lai lịch và câu chuyện của nó. Mỗi khi gặp một món đồ mang gương mặt riêng của một nền văn hóa, một vùng đất, tôi đều muốn tìm hiểu và gìn giữ.
Tôi nhớ nhất một chiếc đĩa men xanh đắp nổi hình cá chép. Tôi mua nó từ một người nông dân với giá chỉ bằng giá một tô mì Quảng. Anh đào được chiếc đĩa trên vùng đất trồng sắn quanh khu Phật viện Đồng Dương đã bị bình địa. Khi đưa đi giám định, hiện vật được xác định là gốm sứ thời Mạc.
Từ đó, trí tưởng tượng của tôi cứ đi xa. Tôi nghĩ biết đâu, nhiều thế kỷ trước, đã có một người nào đó mang chiếc đĩa này theo mình trong một cuộc hành trình. Hình cá chép hóa rồng vốn là biểu tượng linh thiêng trong văn hóa phương Đông. Cổ vật, đôi khi, không chỉ cho ta một niên đại; nó còn đánh thức khả năng hình dung về những số phận đã khuất.
Ông bỗng ngừng lời. Một khoảng lặng kéo dài. Tôi có cảm giác phía sau câu chuyện về cổ vật là một nỗi niềm khác, nỗi niềm về Bảo tàng Đồng Đình.
Bất chợt, ông đứng dậy. Qua lớp kính trong suốt trên tầng 10 khách sạn, ông chỉ về phía bán đảo Sơn Trà. Xa xa, giữa màu xanh của núi rừng, thấp thoáng nơi ông từng dành gần hai thập niên tâm huyết.
“Lần này sức khỏe không cho phép nên mình không đưa bạn ra thăm bảo tàng được. Lần sau vào, nhất định ta sẽ cùng ra thăm nó” – ông nhìn tôi mỉm cười.
Ông trở lại bàn, nhấp một ngụm trà rồi nói, giọng chùng xuống: “Tôi làm Đồng Đình trên núi Sơn Trà với tâm thế dựng một cái am tiêu sơ, như cái am của Basho. Một nơi để trò chuyện với lịch đại, cái xa, cái gần, để đặt những tầng văn hóa trong sự so sánh, giao hòa với hơi thở của con người hiện đại.
Nhưng ước muốn là một chuyện. Còn quản trị một bảo tàng, lo được tài chính để duy trì nó tồn tại lại là chuyện khác, vượt quá khả năng của một người quá “tài tử” như mình. Gần 20 năm lật đá, vá trời bên sườn núi cho Đồng Đình, cuối cùng tôi phải ngậm ngùi chia tay một địa chỉ không chỉ dành cho thú vui của riêng mình mà còn mong muốn dành cho cộng đồng. Có lẽ, đó là một điều không hợp với tôi…”.
Để kéo ông ra khỏi khoảng trầm mặc ấy, tôi hỏi về những kỷ niệm đáng nhớ nhất trong mấy chục năm sưu tập cổ vật.
Ông cười: “Nhiều, nhiều lắm, sao mà nhớ hết được!”.
Rồi sau một lúc trầm ngâm, ông kể: Năm 1998, khi thực hiện bộ phim Trên cao nguyên M’Nông ở Đắk Nông, ông đã tìm đến nhà một người dân địa phương và mua lại một chiếc trống bịt da voi, gắn với ký ức về Nơ Trang Lơng – thủ lĩnh nổi tiếng của người M’Nông trong thời kỳ chống Pháp.
Trong một chuyến đi khác, ông sưu tầm được chiếc thuyền độc mộc của người Mạ, một hiện vật gợi nhắc đời sống cư dân cổ vùng Cát Tiên. Năm 2008, khi thực hiện series 36 tập Tây Nguyên – Miền mơ tưởng, ông lại bắt gặp những chiếc mặt nạ bí ẩn, áo vỏ cây của người Ba Na trong các lễ hội truyền thống… Sự độc đáo của chúng khiến ông không thể dửng dưng.
Ông nói, mỗi hiện vật được giữ lại không đơn thuần là một món đồ. Đó là một mảnh ký ức, một lát cắt của đời sống, một dấu vết văn hóa. Và chính những dấu vết ấy, khi được đặt cạnh nhau, có thể kể cho chúng ta nghe câu chuyện dài của con người trên những vùng đất mình đang sống.
Cũng cần phải nói thêm: bộ sưu tập của Đoàn Huy Giao không chỉ là cuộc chơi của một người mê cổ vật. Trong đó có những tiêu bản quý, hiếm gặp, như chiếc đĩa gốm men lam đắp nổi hình cá chép tìm thấy ở khu vực Đồng Dương, có niên đại thế kỷ XVI, hay một Kosa Linga bằng bạc được phát hiện tại khu vực kinh thành Trà Kiệu.
Nhưng điều đáng quý nhất, có lẽ không nằm ở sự hiếm lạ của hiện vật. Đó là cách một người làm truyền hình, sau những năm tháng đi qua rừng núi và buôn làng, đã tìm cách giữ lại những gì thời gian có thể cuốn đi. Giữ một chiếc bình, một mảnh gốm, một chiếc mặt nạ… cũng là giữ lại một phần ký ức của đất và người.
Ký ức về những tâm hồn nguyên bản
Đoàn Huy Giao kể: Tôi vốn không có nhiều bạn thân, phần lớn bạn bè cũ cũng đã lưu tán theo thời cuộc. Nếu chỉ tính từ sau tháng 4/1975, người đầu tiên từ phía Bắc vào mà tôi gặp là Lưu Quang Vũ, do Nguyễn Khắc Phục giới thiệu, khi Vũ lần đầu tìm về quê cha ở phía Nam chân núi Ngũ Hành Sơn.
Mỗi lần về Đà Nẵng, Vũ lại ghé cái “am” lợp tôn của tôi dưới chân Sơn Trà, có khi ở lại. Còn tôi ra Hà Nội thì ngủ nhờ trong “chuồng chim” của vợ chồng Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ, uống rượu gạo, ăn thịt chó mua cân lạng rõ ràng ở chợ Hôm trước nhà, mà Vũ dặn bà Quỳnh đi mua phải dẫn tôi theo cho biết Hà Nội.
Những ngày ấy, Vũ và Bùi Vũ Minh thay nhau dẫn tôi đi khắp hang cùng ngõ hẻm Hà thành. Tôi muốn tìm một Hà Nội đã đọc được qua sách vở: Hà Nội ba mươi sáu phố phường còn phảng phất không khí tiền chiến của Tự Lực Văn Đoàn; rồi những nhạc sĩ tiền chiến vẫn còn được yêu mến ở miền Nam.
Có lần, Vũ đưa tôi đến gặp nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Ông ngồi bán nước chè, nhưng dưới gầm bàn vẫn giấu mấy “cút rượu lủi”. Một lần khác, trên bến xe Kim Liên, Vũ chỉ cho tôi thấy Văn Cao đang ngồi trên chiếc chiếu nhỏ, uống rượu suông. Tôi chỉ dám đứng nhìn, không dám bước tới hỏi.
Nhưng với Phùng Quán thì khác. Một hôm, tôi và Vũ đang ngồi uống cà phê bụi trước rạp Trưng Vương, Vũ bất ngờ vỗ vai tôi, chỉ một ông già mặc áo chàm, râu tóc rối tung đang đi tới: “Biết ai không?”. Đó là Phùng Quán.
Tôi từng đọc Lời mẹ dặn của Phùng Quán; những tác phẩm như Ông bình vôi của Phan Khôi, thơ Trần Dần, Con ngựa già của Chúa Trịnh của Phùng Cung… Tôi nói với Phùng Quán rằng những tác phẩm ấy đã có tác động tích cực đến chúng tôi ở miền Nam trước đây.
Có lần Phùng Quán vào Đà Nẵng, tôi đưa ông về cái “am” dưới chân Sơn Trà. Chúng tôi nói chuyện suốt đêm dưới ngọn đèn dầu leo lét. Ngoài trời mưa gió tơi bời, có lúc hai người phải ôm lấy cột nhà vì sợ chiếc lều tôn bị gió cuốn ra biển.
Rồi những năm rong ruổi làm phim tài liệu Tây Nguyên, tôi lại gặp những người bạn khác, những nhân vật trong phim của mình. Họ không nổi tiếng, nhưng mang trong mình một thứ minh triết hồn nhiên của núi rừng.
Như họa sĩ Xu Man, người Ba Na ở Plei Bông, Mang Yang. Nhà nước xây cho anh một ngôi nhà khang trang, anh không chịu ở, lại trở về rừng, dựng căn nhà sàn nhỏ lợp cỏ tranh để ngồi vẽ. Mỗi lần tôi đến, mang theo chai dầu ăn, thùng mì tôm hay chai rượu nội, rồi hai anh em cùng nhấm nháp. Tôi nằm ngay bên bếp, giữa căn “studio” ngổn ngang giấy vẽ, màu nước, còn anh ngồi quạt cho tôi ngủ.
Hay chị Hơ Ben, có tiếng hát trong veo như chim chiền chiện giữa phía Nam cao nguyên An Khê. Chị đưa người chồng, một “cậu ấm” nhạc sĩ hào hoa Hà Thành, về quê, cùng trồng sắn ăn thay cơm. Nhiều lần tôi làm khách, ăn sắn luộc chấm muối đậu phộng trong căn nhà sàn tranh tối tranh sáng, nghe tiếng sông Ba gầm phía ngoài.
Chính những con người ấy đã truyền vào tôi một thứ vốn sống sâu xa. Họ dạy tôi rằng, đôi khi “ngôi nhà” của một con người không phải là nơi họ trú ngụ, mà là núi cao, đại dương, con sông quê, tiếng hát, ký ức và những gì đã ăn sâu vào tiềm thức.
Trường ca và cuộc cứu rỗi nỗi sợ vô hình
Cuối cùng thì rồi chúng tôi cũng quay trở lại câu chuyện văn chương.
Thời gian gần đây, ông chú tâm vào trường ca và gần như chỉ sáng tác trường ca. Vì sao lại có sự chuyển hướng ấy?
– Trường ca đã cứu rỗi mình – sau một hồi trầm ngâm, ông nói. Dường như khi viết trường ca, mình đã cởi bỏ được một điều gì đó, như một “nỗi sợ vô hình” vẫn ám ảnh trong sáng tạo nghệ thuật.
Mình sinh ra ở một làng quê nghèo, nhưng tuổi thơ lại được bao bọc bởi một đất trời rực rỡ. Đó là Núi và Biển.
Mở mắt bước ra hiên nhà, tôi đã thấy trước mặt một dãy núi thấp, cái tên nghe rất lạ và rất gợi: núi Thình Thình. Những ngày chăn bò trên đỉnh núi, tôi thường phóng tầm mắt của một đứa trẻ chưa từng bước khỏi làng, nhìn những cánh buồm trắng của ngư dân ngoài mũi Ba Tâng Gân, lấp lánh giữa đại dương. Ở vùng non nước ấy, một thời Hàn Mặc Tử từng viết tùy bút Chơi giữa mùa trăng.
Chiều xuống, tôi lùa bò về chuồng, nhưng mắt vẫn thả rong lên những đỉnh núi xa phía Tây cánh đồng. Khi ấy, tôi chưa thể hình dung thế giới rộng lớn ngoài kia là gì. Đặc biệt vào những buổi chạng vạng cuối thu sang đông, trong màn sương mù trên những sườn núi xa thường thấp thoáng những đám cháy ma trơi leo lét. Những hình ảnh ấy cứ thế lặng lẽ đi vào ký ức.
Có lẽ đến bây giờ, trong thơ tôi mới hiện lên đậm đặc hình bóng “ngọn núi Mẹ”, của tình yêu, sự sống, vừa cao cả, dữ dội, vừa bao dung, nơi tôi vẫn còn đang dò dẫm bước đi. Bên cạnh nó là một cánh cửa mở ra đại dương, bình yên mà thấu thị. Tôi chưa biết đại dương ấy rồi sẽ đưa điều gì đến với mình, nhưng có lẽ chính từ đó, tôi học cách vượt qua nỗi sợ hãi trong cái bình lặng mà chập chờn âu lo của đời sống chữ nghĩa.
Ngoài phố biển, đèn đường đã bật sáng từ lúc nào. Chúng tôi ăn nhẹ rồi chia tay. Ông nắm chặt tay tôi, cười: “Lần sau gặp nhau, ta trò chuyện lâu hơn nhé!”.
Rời Đà Nẵng, rời những câu chuyện nồng mùi khói bếp Tây Nguyên, mùi mực in của một thời phản chiến và cả những khắc khoải lật đá vá trời bên sườn núi Sơn Trà, tôi trở lại với nhịp sống bận rộn của Hà Nội.
Máy bay cất cánh, thu vào tầm mắt một dải bờ biển Mỹ Khê lấp lánh ánh hoàng hôn rồi chìm dần vào mây trắng. Trong không gian tĩnh lặng trên cao, tôi mở lại bài viết của mình từng đăng trên báo Văn nghệ, những dòng chữ như một sự tổng kết đầy duyên nợ cho cuộc gặp gỡ với người nghệ sĩ xứ Quảng:
“Trường ca của Đoàn Huy Giao là hành trình đi từ bóng tối của sự lãng quên đến ánh sáng của sự tỉnh thức. Với ngôn ngữ thơ giàu tính triết học, vừa bạo liệt vừa bao dung, ông đã dựng nên một vũ trụ mà ở đó, con người chỉ thực sự sống khi biết tựa lưng vào núi, biết khóc trước mẹ và biết cháy hết mình trong tình yêu.”
Những dòng văn ấy, khi đọc lại giữa không trung, dường như càng trở nên rõ nét hơn. Trải qua bao biến thiên của thời cuộc, từ một người làm thơ phản chiến, một gã “quét rác” chữ nghĩa, đến người làm phim tài liệu lăn lộn khắp đại ngàn Tây Nguyên, Đoàn Huy Giao rốt cuộc đã tìm thấy sự cứu rỗi trọn vẹn nhất trong trường ca. Ở nơi ấy, mọi nỗi sợ vô hình đều tan biến, chỉ còn lại ngọn núi Mẹ bao dung, lòng người ấm áp và một tâm hồn tự do tĩnh lặng giữa đất trời.