Đất nước tràng hạt (kỳ 1)

 Trường ca du ký[1]

Đỗ Quyên[2]

 

☆☆☆

 

MỤC LỤC

 

Vỡ nước

Chương Mở

Chương 1 – Hình Chữ S dải đất nhiều biểu tượng

Chương 2 – Tràng hạt

Chương 3 – Ải Bắc Quan vầng trán trời Nam

Chương 4 – Cà Mau mũi đất Việt “ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm”

Chương 5Hình đất nước như trái tim Nam tiến

Chương 6 – Trường Ca Trường Chinh   

Chương Kết

Khép kết

 

☆☆

 

KÍNH DÂNG TỔ QUỐC VIỆT NAM[3]

 

“Có mối tình nào hơn

Tổ quốc?[4]

(Trần Mai Ninh)

*

“Lần lần tháng trọn ngày qua,

Nỗi gần, nào biết đường xa thế này.”[5]

(Nguyễn Du)

*

“Hình đất nước như trái tim Nam tiến…”[6]

*

“Nếu lịch sử là nỗ lực mô tả những diễn biến cụ thể của thời gian

thì thơ là lịch sử trừu tượng của thời gian,

là phần hồn thiêng của lịch sử.”[7]

(Tô Thùy Yên)

*

“Không phải cầu nguyện trang bị cho chúng ta làm những việc vĩ đại.

Bản thân cầu nguyện là công việc vĩ đại.”

(Oswald Chambers)[8]

 

☆☆                        

  

Vỡ nước

 

Dạ vâng

ly hương bất ly tổ[9]

ta ra đây chắc vẫn phải xưng danh chứ nhỉ

 

– Vẫn chứ không xưng danh ai biết ai là ai

 

– Vậy thì xin cho thơ chào trước cái đã nào

 

Dám thưa các bậc tiên hiền

cao nhân thơ phú gần hiền lại chơi

trường ca giăng giữa trường đời

tiểu sinh họa xướng dòng lời vang ra[10]

 

thơ đưa sắc độ hoa xa

viễn xứ nhân chốn la đà hoàn hương

trường ca ôm hồn quê hương

là lời tao võng ru đường truân chuyên[11]                           

 

thưa vưng xin nói thẳng tưng

bà con chúng bạn vào cùng chứng cho

lời thô tiếng mộc gióng chờ

lòng hoan tâm hỷ thẫn thờ bấy nay

 

mục xưng danh có liền đây

 

Tiểu nhân nghệ danh Trường ca gia

(gọi nôm na là Nhà trường ca

tục danh Nhà chường ca cũng ổn)

cứ theo cụ Tây Đờ-ri-đà[12]

thì đó chính là cái biểu đạt

cho cái được biểu đạt lại là

thảo dân bút danh Đỗ Quyên ạ

 

(Cơm xuân mới nói chuyện cũ tí

đoạn trường chướng ca trước cái này

đề tài đau uất cần biếm hài

có hỗn danh[13] tiểu nhân phải xài)

 

Giờ sang chuyện vị lai tổng thể

giang san Hình Chữ S thân thương

trường ca gia lăn tăn lượng sức

cậy bàn dân chỉ bảo[14] cho tường

 

Lành thay

đa tạ nhiều nhiều

Thiện tai

vâng dạ muôn điều

Xạ thu[15]

 

Chương Mở

 

[Lời nhà trường ca tự vấn cùng nhà Phật]

 

– Bốn phương trắng một màu mây

tái hồi cố quận về đây sống nhà  

 

Lần lần tháng trọn ngày qua

nỗi gần nào biết đường xa thế này

 

Khuôn xanh biết có mà hay

kiếp cánh chuồn phận mỏng dày hồi quy

         

Bốn phương trắng một màu gì?[16]

 

Không đi không về đừng sợ hãi![17]

thả một hơi thiền dài

Hình Chữ S dọc suốt đất nước

Nam Mô A Di Đà

Phật bây giờ và tại đây luôn trăm tay ngàn mắt…

 

– Của ta

Việt

Nam

Tổ

Quốc

 

trăm cẩm tú

ngàn chông gai

trăm nghịch lý

ngàn viễn cảnh[18]

 

Chữ còn

Thơ còn

còn Tình

là còn người còn ta

còn vợ còn con còn cửa còn nhà

dẫu có còn tha hương

có còn ghim lòng một ngày về quê về nước

lạy mồ mẹ mả cha vái hồn cúng vía ông bà

tìm thăm khuôn trời cũ

hố rác nào xưa chứa bài thơ tình Số 1

để ta còn Thơ

như mái chèo đòi sông nước

như lá đòi thu

ngoài cửa sổ hôm nay[19]

 

quê nhà gần xa xa gần đấy

trở lại ơ kìa mây ấy đây[20]

 

– Lành thay

thiện tai

xạ thu

khắc đi khắc thở

chân bước tâm mở

mỗi địa danh bấy hạt tràng lần…

 

[Hai lời hòa thanh]

 

Châu về

thân đậu

con dân

nước non

non nước

xa gần

là đây…[21]

 

[1] Xem thêm/Xt:

* Trường ca du ký: Từng là tên thể loại cho các trường đoạn thơ trong nhiều sử thi Việt Nam, như Nghi lễ Then (“Những khoảng trống trong lòng một di sản”, Tô Ngọc Thanh, nhandan.vn 25/6/2013, & “Kho tàng văn học nghệ thuật quý báu của cha ông”, qdnd.vn 4/2/2016). Liệu sáng tác đang trình dẫn có thể được xem như “trường ca du ký” đầu tiên trong dòng thơ trường ca hiện đại VN?

* Trường ca/thơ dài và tiểu thuyết hiện nay có ranh giới khá mờ, nhưng sự phân biệt cốt tử không là dung lượng mà ở kết cấu (cách tổ chức tác phẩm) và nhất là ở cốt truyện. Trường ca hay thơ dài, dù có tính tự sự, vẫn xoay quanh 1 trung tâm “ảo” của cảm xúc/ý thức. Trong thơ, thời gian có thể gián đoạn, phi tuyến; nhân vật thường có tính tượng trưng; ngôn ngữ có mục đích tự thân, mỗi câu đều có thể mang vài lớp nghĩa, ẩn dụ. Ngược lại, tiểu thuyết là 1 hệ thống thế giới “thực” gồm nhân vật, sự kiện, xung đột hoạt động theo logic nhân quả. Thời gian của truyện theo xu hướng tiến triển; nhân vật phải có động cơ và biến đổi. Ngôn ngữ tiểu thuyết chủ yếu phục vụ việc kể chuyện. Một cách phân biệt đơn giản: Nếu bỏ cốt truyện mà tác phẩm vẫn đứng vững, đó là thơ; nếu không, đó là tiểu thuyết. (Theo Google AI – Kể từ đây, với các chú thích tương tự sẽ không nêu tên nguồn chính này, trừ những trường hợp  cần thiết). 

 

[2] Trân trọng cảm tạ 108 tác giả của những tác phẩm, trích dẫn thơ văn mà Người viết mạn phép “liên văn bản”; và chân thành cáo lỗi các đồng tác giả đó về những gì ra ngoài thiện ý sáng tác, cũng như ở các trích dẫn cần bản quyền. Trong những câu/đoạn lấy cảm hứng, phỏng theo, phóng tác… như thế với thơ, các chữ in nghiêng là bản gốc của tác phẩm nguồn.

[3] Xt: “Kính dâng Tổ quốc Việt Nam” – cụm từ thường được dùng làm lời đề tặng, mở đầu trong các tác phẩm văn học, biên khảo, bài viết, tài liệu, văn bản hoài niệm, nghiên cứu văn hóa, lịch sử VN… để bày tỏ lòng yêu nước, tri ân Tổ quốc, cha mẹ, những người thân yêu; thể hiện niềm tin sắt son vào tương lai tươi sáng cho dân tộc. Đây là cách viết trang trọng, thể hiện sự kính trọng, tình yêu sâu sắc đất nước.

[4] Thơ Trần Mai Ninh (Bài “Tình sông núi, thivien.net); Xt: “Nghề văn là một nghề khó nhọc, ăn vào lúc có, nhả ra là máu (lời Lỗ Tấn), phải có tác phẩm cho xứng đáng với dân tộc mình, đất nước mình.” (Trần Đình Hiến; Bản thảo Cõi sách – Người văn, Lê Huy Hòa, Nxb Văn Học 2026).

[5] Thơ Nguyễn Du (Truyện Kiều, Hồi 16: Kiều ở nhà họ Hoạn; thivien.net) – Các chú thích tương tự về sau cho tác phẩm này sẽ không nêu tên tác giả.

[6] Xt: Ct đầu Chương 5.

[7] Xt: Ct đầu Chương Kết.

[8] O. Chambers (1874-1917): Mục sư người Scotland (Xt: loisusong.net).

[9] Xt: Ly hương bất ly tổ (thành ngữ Hán Việt) – dù rời xa quê hương đi làm ăn, sinh sống nơi xa (ly hương) nhưng vẫn luôn nhớ cội nguồn, giữ truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, tôn trọng tổ tiên, gia hương bản quán (bất ly tổ). Một triết lý sống hướng về nguồn cội của người Việt.

[10] Theo “Kính thưa các bậc tiên hiền,/ Hôm nay đình đám, gần hiền lại chơi./ Trải chiếu ngay giữa sân đời,/ Chèo xin hát giúp, nụ cười câu ca.” (Lời chào chung ở các màn chèo truyền thống).

[11] Theo thơ Vương Anh: “Dân ca hồn của nước non/ Là lời tao võng lăn tròn tiếng ru.” (Bài “Dân ca miền Thanh”). [Xt: Tao võng/dây tao võng là các sợi dây bện bằng đay/cói/sợi tổng hợp dùng để thắt quang gánh, treo hai đầu chiếc võng… Trong văn chương và đời sống, từ này gợi nhắc hình ảnh chiếc võng trưa quen thuộc ở làng quê Việt; & Vương Anh và thi pháp ‘Giọng Mường’” (Thy Lan, vanvn.vn 14/8/2026)].

[12] Jacques Derrida (1930-2004): Triết học gia người Pháp, nhân vật quan trọng hàng đầu của triết học Hậu hiện đại, đã phát triển lý thuyết Giải cấu trúc.

[13] Xt: Ct  Chương hồi 5.1.

[14] Chia sẻ ngoài lề/Csnl: Người viết vô tư diễn đạt vậy thôi, thế mà bạn văn AI tán ra dư lày. Cứ trình báo để Quý bạn đọc tùy hỷ: “Cụm từ “cậy bàn dân chỉ bảo là cách nói nhại, chơi chữ/viết sai lệch của câu gốc quen thuộc là “cậy thần linh chỉ bảo”/”cậy ơn trên chỉ bảo”. Cậy: Dựa dẫm, trông chờ, nhờ vả giúp đỡ của ai đó; Bàn dân: Dân chúng, mọi người, cộng đồng (thường đi liền trong “bàn dân thiên hạ”); Chỉ bảo: Dạy dỗ, chỉ dẫn, khuyên răn điều hay lẽ phải. Khi ghép lại thành “cậy bàn dân chỉ bảo” thì có ý buồn cười/châm biếm là đi nhờ cộng đồng mạng, nhờ đám đông người qua đường hoặc tất cả mọi người xung quanh dạy khôn, hướng dẫn cho mình. Câu này thường xuất hiện trong văn cảnh hưng phấn, đôi khi do người viết nhầm lẫn phát âm/chính tả giữa từ mang tính linh thiêng (thần linh) với từ chỉ số đông (bàn dân), tạo ra sắc thái vừa vui hài vừa ngớ ngẩn đáng yêu.”

[15] Xt: Xạ thu (Sadhu/Sādhu) – phiên âm từ tiếng Pali/Sanskrit, thường dùng ở Phật giáo Nam tông (Thái Lan, Lào, Campuchia); nghĩa là “lành thay”, “tốt thay” – đồng thuận, tán thán công đức. Thiện tai (phiên âm Hán Việt của sādhu) phổ biến với Phật giáo Bắc tông/Đại thừa (VN).

[16] Theo Truyện Kiều – đã Ct. Đoạn 7 câu thơ trên có thể lồng trong âm thanh nền từ vở Chèo Kiều (youtube.com).

[17] Theo ‘Không diệt không sinh đừng sợ hãi”. [Xt: Ý nghĩa triết lý là nếu ta biết thực tập, thấu hiểu thực tại vô sinh bất diệt, nếu ta thấy được đến-đi, tới-lui chỉ là ý niệm, và nếu ta hiện diện vững chãi, bình an, thì ta có thể độ được người sắp chết; giúp họ bớt sợ hãi, đau khổ. Ta có thể giúp chính ta hiểu rằng không có sự chết, nghĩa là không sợ hãi. Chỉ có sự tiếp tục mà thôi. Tìm hiểu nghệ thuật chết sẽ nắm được nghệ thuật sống. Hỏi: Địa chỉ của hạnh phúc ở đâu? Đáp: Đây là địa chỉ: ”Bây giờ và ở đây”. Có đủ thứ bạn đang muốn biết, kể cả mã bưu điện!” (No Death, No Fear: Comforting Wisdom for Life, Thích Nhất Hạnh; Chân Huyền dịch, Nxb Thế Giới 2022)].

 

[18] Xem thêm: Một số bài chọn lọc về hiện tình đất nước

(Để giảm thiểu tối đa “đất đai” của phần Chú thích và nhằm “tập trung chuyên môn” cho phần thân bài là thơ; hầu hết các trích dẫn theo nguồn đều được lọc lược [ … ] nhiều câu/đoạn, các từ phụ và viết tắt khi cần, sao cho bảo toàn tinh thần và nội dung chính. Xin cảm phiền các tác giả cùng Quý độc giả!)

   

* “Động lực và dư địa phát triển của Việt Nam trong “kỷ nguyên mới (Tọa đàm Người Đô Thị, nguoidothi.net.vn 23/2/2026):

Để tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, con đường sáng nhất là chuyển hóa cơ cấu của nền kinh tế. VN đang đứng trước 4 thách thức thường ít được nhắc đến 1 cách toàn diện, thấu đáo. Đầu tiên, về trụ cột quan trọng nhất – KH và CN – vẫn sẽ thiếu sức sống nếu điều hành vĩ mô tiếp tục chú trọng mở rộng tài khóa, tiền tệ để phục vụ các mục tiêu trước mắt. Trục trặc cơ cấu thứ hai là sự phân hóa trong khu vực kinh tế tư nhân: Chính sách không chạm đến lực lượng này còn dẫn đến rủi ro đối với khu vực tiêu dùng, hiện không chỉ đóng góp khoảng 60% GDP mà còn giúp giải quyết việc làm, ổn định KT-XH. Thách thức thứ ba, có tính dài hạn: hàm lượng giá trị gia tăng thấp của doanh nghiệp VN trong xuất khẩu. Sau cùng là cơ cấu phân bổ nguồn lực theo khu vực địa lý [ … ]

Đông Nam Bộ đóng góp rất lớn về ngân sách, thu hút FDI, xuất khẩu, nhưng tỷ lệ đầu tư công vào cơ sở hạ tầng cho vùng thấp hơn rất nhiều so với đồng bằng sông Hồng. “Con gà đẻ trứng vàng” không được nuôi dưỡng mà bị tận thu, tận khai. Để giúp quản trị quốc gia tránh sa đà vào những cuộc đua nước rút, bị thúc ép bởi tình thế hay những mục tiêu ngắn hạn: kể từ năm 1986, chúng ta chưa từng đạt được tốc độ tăng trưởng 2 con số. Thêm nữa, chúng ta theo đuổi mục tiêu này khi thu nhập bình quân đầu người đã gần đạt ngưỡng trung bình cao; một bất lợi cho VN là thực hiện mục tiêu “hóa rồng” khi dân số đang lão hóa; duy trì nhịp độ tăng trưởng khoảng 8%/năm sẽ bớt áp lực hơn đối với ổn định vĩ mô mà vẫn có thể đạt mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045. Điều thế hệ hiện nay phải quan tâm, có trách nhiệm là giảm rủi ro cho thế hệ tương lai từ góc độ quản trị quốc gia. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy cái giá phải trả có thể rất lớn; chẳng hạn Thái Lan … Việc Mỹ cấm vận công nghệ Trung Quốc, quy định ngặt nghèo về chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhằm kiểm soát trung chuyển qua nước thứ 3 khiến chúng ta bị thu hẹp lựa chọn. Bên cạnh những bất lợi, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ TQ chảy vào VN tăng vọt, có thể xây dựng được chuỗi cung ứng và hệ thống sản xuất nội địa mà chúng ta mơ ước nhiều thập niên qua  …

10 năm tới có thể có tính chất quyết định với VN. Thời đại kinh tế số và dữ liệu đã đến. Có vẻ như lần này chúng ta có cơ hội xuất phát cùng nhịp với thế giới. Xây dựng được thế hệ mới có trí tuệ, kỹ năng, khát vọng, bản lĩnh, phù hợp với yêu cầu của thời đại. Còn kịp để bắt đầu lại từ giáo dục vốn đang bị trì níu. Chỉ cần hoàn trả cho giáo dục môi trường tự do, phần còn lại là vấn đề kỹ thuật. Lịch sử ghi nhận giáo dục nước nhà 2 lần cất cánh. Kể từ khi nhà Lý lập Văn miếu, thi hành chế độ khoa cử du nhập từ Trung Hoa vào TK XI. Lần thứ 2 là giáo dục của người Pháp từ thế kỷ XIX. Những người đứng trên lễ đài Quảng trường Ba Đình ngày lập nước VNDCCH đa số được nuôi dưỡng hoặc chịu ảnh hưởng của giáo dục Pháp. Mỗi lần nâng cấp giáo dục là một lần đất nước bước sang kỷ nguyên mới. Dân tộc đang đứng trước cột mốc nâng cấp thứ 3, đòi hỏi quyết tâm chính trị để cởi trói toàn diện cho hệ thống giáo dục quốc dân vì lợi ích quốc gia.” (Vũ Thành Tự Anh, “Vận mệnh của dân tộc có thể được quyết định trong thập niên tới”, nguoidothi.net.vn 25/2/2026)

* “Tổng Bí thư: Không để lãng phí 5-10 năm quyết định của đất nước” (Tô Lâm / Báo QĐND, vnexpress.net 12/4/2026); Nguyễn Thanh Nghị: “Đến năm 2130, Việt Nam thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao (thanhnien.vn 29/7/2026): “Năm 2025, quy mô GDP đứng thứ 32 thế giới, thứ 4 ASEAN và VN nằm trong nhóm 15 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể, chính thức trở thành nước có thu nhập trung bình cao năm 2025. Tuy nhiên, TWĐ nhìn nhận quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước còn chậm. Đổi mới quản trị quốc gia chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển”; * Bảy điểm nghẽn Tổng Bí thư Tô Lâm nêu trước Hội nghị toàn quốc: Căn bệnh không nằm ở bộ máy” (Đinh Hoàng Thắng, boxitvn.blogspot.com 9/7/2026): “Có những thời khắc lịch sử khi những sức ép từ bên trong và bên ngoài cùng hội tụ – những vấn đề từng được xem như các khiếm khuyết riêng lẻ bỗng bộc lộ là giới hạn của cả mô hình phát triển. VN dường như đang tiến đến đúng thời điểm quyết định như vậy: Phải lựa chọn con đường này hay con đường khác? Vấn đề cốt lõi không chỉ là các cơ quan nhà nước được tổ chức như thế nào, mà là những nguyên tắc nào sẽ chi phối việc họ sử dụng quyền lực và chịu trách nhiệm trước xã hội.”

* “Những chi phí tiềm ẩn của kỷ nguyên mới ở Việt Nam”: Kỷ nguyên mới” của VN hứa hẹn tăng trưởng nhanh hơn, cải cách sâu rộng và một kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng đầy tham vọng. Nhưng những chính sách này đang tạo ra những chi phí tiềm ẩn đối với nông dân, người bán hàng rong và các nhóm dễ bị tổn thương khác. Cải cách về thu hồi đất, an toàn thực phẩm, thuế và phạt giao thông có nguy cơ làm suy yếu khả năng phục hồi xã hội, khả năng chi trả và lòng tin của công chúng … Con đường phía trước đòi hỏi sự chuyển đổi sang các quy trình tham vấn mạnh mẽ, trách nhiệm giải trình rõ ràng và các giai đoạn chuyển đổi phản ánh năng lực và mức độ phức tạp của việc thực hiện. Thử thách thực sự của kỷ nguyên mới của VN sẽ không phải là tốc độ tăng trưởng kinh tế, mà là loại xã hội mà đất nước xây dựng được trong quá trình đó.” (Phan Le & Hai Thanh Nguyen/eastasiaforum.org; Ba Sàm dịch, anhbasamdotvet.wordpress.com 22/03/2026); “Kinh tế VN đang chạm mức “to be or not to be”/tồn tại hay không tồn tại, có thể cất cánh hay không theo những con rồng châu Á? Không ai dám trả lời, hoặc sẽ trả lời không. Tại sao, đó là điều chúng ta cần suy nghĩ.” (Nguyễn Xuân Xanh; “Phan Châu Trinh – Việt Nam – và Nhật Bản”, vanviet.info 28/3/2026); “Vì sao ngày càng nhiều doanh nghiệp rời cuộc chơi?” (Hoàng Tư Giang FB & boxitvn.blogspot.com 17/8/2026): Chủ tịch TP.HCM vừa đặt câu hỏi đáng suy nghĩ: Vì sao chỉ trong 7 tháng đã có hơn 38.800 doanh nghiệp của TP rút khỏi thị trường? Nhìn rộng ra cả nước, đây không phải chuyện riêng TP.HCM. Năm 2023 có 172.600 doanh nghiệp rút khỏi thị trường. Năm 2024 198.000. Năm 2025: 227.000. Chỉ 6 tháng đầu năm nay đã có thêm 151.000 doanh nghiệp rút lui. Trong cuộc gặp của Thủ tướng với các doanh nghiệp, Chủ tịch VCCI Hồ Sỹ Hùng cho biết, từ 900 ý kiến của các tập đoàn, doanh nghiệp, hiệp hội, VCCI tổng hợp thành 53 nhóm vướng mắc thuộc 10 lĩnh vực: đầu tiên là “sự bất định của thể chế đang trở thành loại chi phí vô hình nhưng rất lớn”. Có những lúc văn bản cũ đã bị bãi bỏ nhưng văn bản thay thế chưa hiệu lực. Pháp luật thay đổi với tần suất cao trong khi quá trình chuyển tiếp không đủ trơn tru. Doanh nghiệp rơi vào tình thế rất khó. Muốn có 2 triệu doanh nghiệp đến 2030, trước hết sao cho người kinh doanh còn muốn kinh doanh, người thất bại có thể làm lại, và người có tiền còn dám đầu tư.

Quẻ “Trạch Lôi Tùy”: Cần làm gì để đối nội và đối ngoại phải là hai mặt của một đồng tiền?” (S. Young & Nguyễn Thế Hùng, boxitvn.blogspot.com 14/3/2026). * “Tổng Bí thư Tô Lâm đặt nhiều câu hỏi về 16 tỷ USD làm sân bay Long Thành”: “TPO – Tổng Bí thư nêu công trình sân bay Long Thành với vốn đầu tư khoảng 16 tỷ USD, nếu nhìn sang các nước ở Đông Nam Á thì vốn đó là lớn hơn nhiều. Thấy công bố con số của mình người ta rất ngại. Quy mô 16 tỷ USD thì kinh khủng. Tôi hỏi đã vượt trội hơn so với Malaysia, Singapore chưa thì không chứng minh được. Tôi hỏi bao lâu thu hồi được 16 tỷ USD trả lại cho nhà nước thì cũng không trả lời được. Tôi hỏi sân bay Long Thành mỗi năm đóng góp cho tăng trưởng kinh tế quốc gia là bao nhiêu cũng không tính toán được.” – Tổng Bí thư nói.” (tienphong.vn 24/2/2026); “16 tỷ USD và cái bóng dài trên đường băng Long Thành” (Tran NamAnh, boxitvn.blogspot.com 26/2/2026);

* “Giới thiệu sách Kinh tế tư nhân Việt Nam – Động lực quan trọng nhất để dân giàu nước mạnh” (Trần Văn Thọ và đồng sự, vanviet.info 6/8/2026): Năm 2026, VN bước vào năm đầu tiên trên hành trình để trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045, với Nghị quyết 68-NQ/TW của BCT 4/5/2025, được thể chế hoá bằng Nghị quyết 198/2025/QH15 của QH và các văn bản pháp quy của CP, khu vực kinh tế tư nhân (KVKTTN) đã được giao trọng trách. KVKTTN vốn là nơi đông đảo người dân sinh sống, làm việc đã bao năm trời, trải qua bao thăng trầm trong suốt lịch sử đất nước. Chỉ riêng từ 1975 tới nay cũng đã gặp không ít gập ghềnh trên con đường sống của khu vực này. Đã từng có những quy định trong Hiến pháp, trong các văn kiện TW và luật pháp, chính sách nhưng vẫn còn đó bao khúc mắc. Phải tới Nghị quyết 68 sự khẳng định vai trò KVKTTN là một động lực quan trọng nhất mới được xác quyết. Song bên cạnh niềm vui là những băn khoăn với câu hỏi lớn: Vậy Nhà nước và doanh nghiệp cần làm gì để khu vực kinh tế tư nhân thật sự đóng vai trò động lực quan trọng nhất, nhằm đạt mục tiêu VN thịnh vượng trong 2 thập niên tới? Cuốn sách “Kinh tế tư nhân Việt Nam – Động lực quan trọng nhất để dân giàu nước mạnh” được những trí thức hàng đầu và rất tâm huyết, trăn trở với sự phát triển KTTN của VN cùng nhau nghiên cứu, bàn luận, đưa ra vấn đề, nhằm góp phần giải đáp câu hỏi lớn trên: Để KVKTTN thực sự đóng vai trò động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, cần: đổi mới căn bản tư duy, nhận thức về vai trò của KVKTTN và hành vi ứng xử với doanh nghiệp tư nhân trong nước (của Nhà nước và xã hội); đổi mới thể chế ở những lĩnh vực cụ thể cần thiết nhất cho KTTN, có chiến lược, chính sách cụ thể để KVKTTN phát triển nhanh, mạnh và bền vững; và bản thân KVKTTN cần tự đổi mới, nâng tầm, nâng năng lực, liên kết để phát triển.

*Công lao của 80% người dân phải được ghi nhận (Phạm Chi Lan trả lời phỏng vấn của Lưu Quang Định & Quảng Hà về sách mới “Kinh tế tư nhân Việt Nam”, 1thegioi.vn 22/7/2026): Báo cáo “Việt Nam 2035” chọn lựa 3 thế mạnh cho VN: Công nghệ thông tin; Du lịch; và Nông nghiệp. Dù có thời gian không được thừa nhận nhưng tới 80% dân số VN tham gia kinh tế tư nhân. Không thể coi 80% đó là bộ phận phi pháp, không được luật pháp công nhận. 80%, họ vừa tự nuôi sống nhau, vừa đóng góp nuôi xã hội … Vào thời kì chiến tranh Mỹ ném bom miền Bắc, kinh tế của người dân đúng là hậu phương lớn, không chỉ nuôi sống miền Bắc còn là hậu phương phục vụ chiến tranh. Chính những người dân, thợ thủ công bình thường đã đóng góp trực tiếp, rất lớn. Đương nhiên các nhà máy nhà nước được sơ tán an toàn, bảo vệ phòng không tốt, đều có vai trò rất lớn rồi. Còn người dân, các cơ sở thủ công của họ ở khắp nơi, gần như vẫn cắm tại chỗ, duy trì sản xuất hiệu quả. Nhưng ngày đó là kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chỉ kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể được thừa nhận. Kinh tế tư nhân không được thừa nhận dù cho phép tiểu thương, tiểu chủ hoạt động. Bản thân hệ thống tư nhân vẫn hình thành, hoạt động và nó vẫn là đa số so với doanh nghiệp nhà nước. Trong quá trình hợp tác hóa nông nghiệp, nông dân đưa vào hợp tác 95% đất đai, chỉ giữ lại 5%, nhưng phần nuôi sống các gia đình nông dân chủ yếu là 5% đó. Đấy cũng chính là lí do ông Kim Ngọc, từ cuối những năm 1960, đã đưa ra khoán hộ. Ông ấy nhìn thấy rõ mảnh đất 5% hiệu quả hơn rất nhiều so với cái mảnh 95%. Sau 1975, thành phần kinh tế tư nhân vốn đang khá mạnh ở phía Nam dần trở thành quốc doanh, hợp doanh; nông nghiệp thì cũng đưa mô hình hợp tác vào. Cũng may chỉ trong thời gian ngắn thôi, 2-3 năm, dừng dần chủ trương đó để hoạt động nông nghiệp trở lại. Cấu phần kinh tế tư nhân ấy dù chưa được thừa nhận trên pháp lí nhưng nó vẫn tồn tại trên thực tế, và là phần có đông người dân tham gia nhất sách … Một trong những điều trăn trở nhất chúng tôi gửi gắm vào cuốn sách này, cũng là nguyên do đầu tiên làm sách – đó là tại sao bây giờ kinh tế tư nhân được Nghị quyết 68 khẳng định là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.

 

* Lời thở dài của Thủ tướng Võ Văn Kiệt trên bầu trời Cuba”: Trên chuyên cơ trở về Hà Nội sau năm ngày làm việc căng thẳng, TT Võ Văn Kiệt ngồi trầm ngâm khá lâu. Rồi ông thở dài và nói, như một sự chia sẻ: “Tiếc thật, một đất nước được trời ban cho vị thế tuyệt vời: Thiên nhiên ưu đãi, người dân hồn hậu, yêu đời, yêu hòa bình; cơ sở giao thông, giáo dục, y tế hơn ta rất nhiều. Chỉ cần bạn uyển chuyển, điều chỉnh một chút trong điều hành kinh tế và ngoại giao mềm dẻo thì chỉ cần bảy đến mười năm Cuba sẽ trở thành một nước phát triển trong khu vực”. Đó không phải lời xã giao. Đó là cái nhìn của một nhà lãnh đạo từng trực tiếp trải nghiệm những bước ngoặt khó khăn của VN trước và sau Đổi mới chưa phải thành công hiển nhiên mà vẫn là một thử nghiệm đầy rủi ro; khi nhìn Cuba, một quốc gia có nhiều lợi thế hơn VN thời bấy giờ, ông nhận ra khoảng cách không nằm ở điểm xuất phát, mà ở mức độ sẵn sàng thay đổi. Ba thập niên sau, nhìn lại lời nhận xét ấy mới thấy hết tính dự báo của nó. Thế giới đã chứng kiến làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ, sự trỗi dậy của nhiều nền kinh tế từng nghèo khó nhưng dám cải cách sâu rộng. Trong khi đó, Cuba nhiều lần đứng trước cơ hội nhưng các bước đi thường dè dặt không tận dụng được thời kỳ vàng của hội nhập quốc tế. Điều đáng nói không phải là TT Võ Văn Kiệt “nhìn xa trông rộng” hơn người khác, mà là ông đại diện cho một thế hệ lãnh đạo VN đã trực tiếp học được bài học từ thực tiễn: Phát triển không chỉ cần lý tưởng, mà cần sự linh hoạt và dũng khí thay đổi. Lời thở dài trên bầu trời Đại Tây Dương năm ấy không chỉ là suy tư về Cuba. Nó còn là lời nhắc nhở sâu sắc về quy luật khắc nghiệt của phát triển: Cơ hội không chờ đợi quốc gia nào quá lâu.” (Lê Thọ Bình; Theo FB Thang Hoang Nghia 27/2/2026).

 

* Ba thách thức khi hai viện hàn lâm chuyển sang “kênh đảng” (Vương Xuân Tình, boxitvn.blogspot.com 28/3/2026; “Mô hình này quả là có 1 không 2. Ngay ở Trung Quốc có mô hình nhất thể hoá cao độ thì Viện Khoa học TQ và Viện KHXH TQ cũng thuộc Quốc vụ viện/Chính phủ chứ không thuộc về bên đảng. Mình hiểu là có lẽ lãnh đạo bên đảng muốn có sự tham vấn chặt chẽ hơn về các chiến lược, chính sách KHCN và KHXH cho VN trong kỷ nguyên vươn mình, nhưng dường như cách làm này không giống ai, chưa từng có (thậm chí cả ở Liên Xô cũ) và có thể ảnh hưởng đến tính độc lập trong nghiên cứu và có thể là cả vị thế của các nhà nghiên cứu trong môi trường quốc tế. 3 thách thức PGS Vương Xuân Tình ở VIện Hàn lâm KHXH VN nêu ra đều rất hợp lý. (Hoang Vu Linh); “Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam: Phép thử bước ngoặt cho khoa học Việt Nam” (Nguyễn Ngọc Chu, boxitvn.blogspot.com 28/3/2026).

* “Hôm nay trưng bày sa bàn quy hoạch Hà Nội tầm nhìn 100 năm” (vnexpress.net 29/6/2026): “Chiều 29/6, triển lãm “Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm” được khai mạc tại Bảo tàng Hà Nội. Cùng với triển lãm, hội nghị công bố “Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm” và xúc tiến đầu tư năm 2026 cũng được tổ chức. Hội nghị có khoảng 1.200 đại biểu tham gia, trong đó 580-780 là các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong-ngoài nước. Một nội dung của hội nghị là công bố “Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm”. Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị, Hà Nội xây dựng đồ án với tầm nhìn kéo dài tới 100 năm. Về quy mô dân số, dự báo 14-15 triệu người năm 2035, đến 17-19 triệu vào năm 2065. Mô hình Thủ đô “Văn hiến – Văn minh – Hiện đại – Hạnh phúc” lấy con người làm trung tâm, với cấu trúc không gian phát triển theo mô hình “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. Hà Nội tương lai gồm 9 cực phát triển, 9 trung tâm lớn và 9 trục động lực, trong đó lấy sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái – văn hóa chủ đạo. Với tầm nhìn 100 năm, Hà Nội hướng tới trở thành thành phố toàn cầu “Văn hiến – Thông minh – Sáng tạo – Sinh thái”, thuộc nhóm các thủ đô có chất lượng sống và hạnh phúc cao nhất thế giới. Hội nghị này cũng là lần đầu tiên sau một thời gian dài Hà Nội tổ chức Quy hoạch có quy mô lớn như vậy. * “Tái thiết Thượng Hải – Hành trình “đập đi xây lại” đạt 85% mức độ hài lòng của người dân”: Thượng Hải và Hà Nội đều là đô thị lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng CS, đều đối mặt với bài toán tái thiết nội đô với hàng trăm nghìn hộ dân phải di dời. (Lợi Phan Mai FB 23/5/2026): * Dự án Sông Hồng: Người dân mất nhà đất cho một cuộc đại phẫu thần tốc ở thủ đô”, bbc.com 1/6/2026; * “Đề nghị C03 Bộ Công an vào cuộc Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng” (Như Thổ FB 4/6/2026): “Tác giả bài viết là Đại tá Như Phong, cựu Phó TBT Báo CAND, cựu TBT Báo Petrotimes. Có lẽ ông bức xúc vì tình hình thực tế và dư luận quá lo ngại. Tuy nhiên, cũng có những người cho rằng từ cấp đảng cho tới Hội đồng nhân dân Hà Nội đã ‘chăm phần chăm” thông qua nghị quyết đến mấy lần dự án này là dựa trên một số văn bản pháp lý, từ Luật Thủ đô, rồi Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, cho tới nghị quyết quốc hội.” (AnhBaSam).

* “Vụ án Hồ Duy Hải” (vi.wikipedia.org 20/3/2026); “Tròn 18 năm tù: Quá dư điều kiện xem xét lại quyết định giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải” (Lê Đại Anh Kiệt, baotiengdan.com, 21/03/2026); “Nếu luật pháp quên mất con người” (Hoàng Hà, tuoitre.vn 31/3/2026); “Quyết định đầu tiên” (FB Mai Phan Lợi 9/4/2026); “Thơ Nguyễn Đức Tùng – Chín khúc cầu hồn” (vanviet.info 6/3/2026); “Điểm báo: Gen Z và vụ án Nguyễn Sỹ Cương”, diendan.org 19 & 20/8/2026); * “Tự do tôn giáo tại Việt Nam: Một song đề nghịch lý?” (Trần Kiêm Đoàn, boxitvn.blogspot.com 22/3/2026); “Tin về thầy Minh Tuệ” (Mạc Van Trang’s Post 6/4/2026).

 

* Phát biểu vắn tắt về vấn đề tháo gỡ cho sự phát triển của văn học hiện nay (Đề cương phát biểu trong cuộc gặp đồng chí Nguyễn Văn Linh ngày 6 và 7/10/1987) (Nguyễn Đăng Mạnh, vanviet.info 28/5/2026 & FB GS Nguyễn Đăng Mạnh – Một phong cách độc đáo); “Chính sử” xét xử văn chương(Tino Cao, vanviet.info 2/8/2026); “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh: 8 phân đoạn cốt lõi, những “điểm nóng” tranh luận lớn nhất” (Lê Thị Huyền FB anhbasamdotvet.wordpress.com 5/8/2026); Nobel, Bảo Ninh và một phiên tòa không cần chứng cứ (Gã Khờ Nguyễn Quốc Chính, trannhuong.net 9/8/2026); 3 phút tóm tắt vụ án liên quan cuốn sách ‘Chuyện với Thanh’” (thanhnien.vn 17/7/2026); Vụ án sách ‘Chuyện với Thanh’: Bắt ba lãnh đạo Nhà xuất bản Hội Nhà văn & “Chủ tịch Hội Nhà văn Nguyễn Quang Thiều bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng” (BBT News tiếng Việt, bbc.com 16/7 & 30/7/2026); “Nguyễn Quang Thiều trong cách nhìn của hai nhà báo” (anhbasamdotvet.wordpress.com 31/7/2026);

* Inrasara: “Tin nóng Hội Nhà văn: Phương lên Thiều xuống”: Nguyễn Quang Thiều vừa bị bãi nhiệm chức Chủ tịch HNVVN, và Nguyễn Bình Phương – Phó CT 2020-2025 – Phụ trách điều hành hoạt động của Hội trong thời gian chưa kiện toàn chức danh CT. Thiều và Phương cùng thế hệ, tôi quý trọng cả 2, tâm lẫn tài. Nghe tin: 1 xuống 1 lên, không biết nên vui hay buồn nữa. Vui hay buồn cho ai, chả biết luôn. Thôi cứ tạm đăng 2 bài này, rút từ bản thảo Từ sa mạc chữ đến đô thị văn chương – 2017. (anhbasamdotvet.wordpress.com 24/8/2026 & Inra Sara FB 24/8/2026).

* Trương Châu Hữu Danh FB: Nếu phải tìm 1 gương mặt đại diện cho sự đổi mới của văn học VN sau Đổi mới, đó chắc chắn là ông Nguyễn Quang Thiều – mang tư duy nghệ thuật khác biệt: vừa đậm đặc chất quê Bắc Bộ, vừa phóng khoáng, huyền ảo kiểu Mỹ Latinh. Từ nhà thơ cách tân, ông trở thành nhà báo, dịch giả, họa sĩ và từng giữ chiếc ghế Chủ tịch HNVVN. Dù cuộc đời trải qua không ít thăng trầm và biến cố, NQT vẫn là một cái tên không thể không nhắc tới của văn học đương đại – người không ngừng đóng góp, mở đường cho cái mới. Với những gì đã diễn ra, ông phải chịu trách nhiệm người đứng đầu.

* Tạ Duy Anh (Lao Ta’s FB 31/7/2026): Vài lời về ông bạn văn, thủ trưởng cũ Nguyễn Quang Thiều … Về cơ bản chúng tôi khác nhau. Nhưng có vài quan điểm cùng chia sẻ và chỉ cần thế thôi cũng đáng để gắn bó. Ông và tôi đều không chấp nhận đất nước bị chia rẽ thêm lần nào nữa, vì bất cứ lý do gì. Cả ngàn năm chiến tranh, chia rẽ, loạn lạc, cát cứ là đủ khốn khổ lắm rồi. Ông và tôi đều muốn có sự bao dung về văn hóa cũng như tôn trọng quan điểm cá nhân, tôn trọng sự khác biệt. Chúng tôi cùng muốn dùng văn chương để góp phần hòa giải dân tộc. Ông và tôi mong muốn tiếng nói của trí thức nói chung, nhà văn nói riêng được lắng nghe, đặng góp phần làm cho xã hội ngày càng tốt lên. Đó là cơ sở đạo đức chắc chắn nhất cho mong muốn của chúng tôi. Ngoài ra, ngẫm lại thì chúng tôi cũng có vài điều đáng để nhớ về nhau (chủ yếu liên quan đến cái tình của NQT). Những việc ông làm hầu như tôi không biết, không quan tâm, vì thế không bình luận. Nhưng cái tình văn, tình đồng nghiệp, tình người của ông thì luôn rất lớn và còn mãi, chắc chắn không chỉ với riêng tôi. Đời người ai rồi cũng phải về nhà.

* Nguyễn Hồng Lam FB 31/7/2026:

Chiều qua, cả báo chí lẫn mạng XH đều ngập tin Chủ tịch HNVVN Nguyễn Quang Thiều bị cách tất cả chức vụ trong Đảng. Với tôi và nhiều người là rất buồn, nhưng không bất ngờ. Qua những thời sự đã diễn ra từ trước, vụ kỷ luật này là một kết cục được báo trước. Mong rằng, và chắc anh Thiều cũng biết, với kỷ luật cho người có vị trí cao nhất, vụ việc có lẽ sẽ dừng lại ở đó … Tôi không vồ vập với những sáng tạo – cả văn lẫn thơ – mang hơi hướng hiện đại/cách tân mà nhiều người, trong đó có NQT thể hiện khá dày ở giai đoạn sau này. Còn trước đó, trong khuynh hướng cổ điển, tôi tin chắc anh Thiều là một nhà thơ tài năng … Khi anh lên làm CT HNVVN, có không ít điều tôi không thích, thậm chí va chạm với anh khá gay gắt, nhất là trong việc đánh giá cả nể, có phần dễ dãi với cả con người và tác phẩm của các nhà văn. Nhưng quan sát kỹ tôi hiểu: NQT đang cố gắng làm mọi cách để tạo ra sự đoàn kết, đồng thuận cao trong Hội. Anh đã bỏ khá nhiều thời gian để đi thăm hỏi nhiều nhà văn khó khăn, kể cả những nhà văn luôn bày tỏ sự ghét với chính anh, kể cả những nhà văn không còn mấy thiết tha với công tác Hội. Trên trang cá nhân của anh, những nhà văn nhiều thế hệ gặp chuyện không may, hay rời cõi thế, nhà văn NQT đều không quên một cử chỉ ân tình. Tôi vào HNVVN, 2 người giới thiệu là nhà văn Nguyễn Quang Thiều và nhà văn Yên Ba. Người giúp tôi chuyển hồ sơ, hoàn tất giấy tờ là Nguyễn Thúy Hằng. Công việc thủ tục thôi, nhưng tôi cảm kích. Bây giờ, cả 3 người đều rơi vào vòng xoáy sai phạm, phải trả giá rất đắt. Là anh em bạn bè, tôi xót. Tôi buồn cùng nỗi buồn của anh em bè bạn, những người mà dù sao đi nữa, tôi vẫn yêu quý họ. Anh NQT bị kỷ luật vì trách nhiệm người đứng đầu HNV. Còn tư cách nhà văn của cá nhân anh thì vẫn còn nguyên. Hơn thế nữa, anh là nhà văn, nhà thơ tài năng, có nhiều sáng tạo sống trong lòng người đọc. Tôi tin thất bại lần này anh đủ bình tĩnh để đón nhận. Với sáng tạo, con đường của anh vẫn rất dài.

* Trần Nhung (FB 31/7/2026): Nguyễn Quang Thiều là  nhà văn, nhà thơ, dịch giả có tài, tư duy cách tân sáng tạo và quỹ thời gian của ông cũng còn khá dài. Đánh giá về văn thơ cũng như về con người ông có nhiều ý kiến khen chê khác nhau cũng là điều bình thường. Mong rằng ông NQT từ sự việc bị kỷ luật cần rút ra bài học cần thiết cho mình để từ nay yên tâm vào sáng tác văn thơ và dịch thuật thì tôi tin rằng ông sẽ có những tác phẩm có giá trị văn chương đích thực. * Nguyễn Quang Lập: Quen và gần NQT mình biết ông tâm niệm văn nghệ sĩ là tác phẩm, những thứ khác chỉ là phù phiếm. * Chử Văn Long’s Post: Nhìn lại các đời Chủ tịch Hội Nhà văn VN, Nguyễn Quang Thiều là người sống chết với văn chương hơn cả; nhưng may rủi không ngồi được cái ghế chủ tịch trọn nhiệm kỳ.

* Đỗ Thành ĐồngCu’s (FB 31/7/2026): Tôi, bằng cảm xúc của người cầm bút, bằng lương tri của Phật giáo, xin mạo muội đôi dòng về ông.

  1. Với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, người quản lý nằm trong giai đoạn thay đổi chóng mặt về bộ máy quản lý hành chính, về hủy bỏ hoặc hạn chế cơ chế “bao cấp” đối với các hội. Gánh nặng kinh tế để duy trì và phát triển là vô cùng phức tạp. Từ đó, những sai lầm trong công tác điều hành, ký duyệt hay buông lỏng quản lý là điều khó tránh. Trong đó có những điều mà tôi đã mạnh dạn nói ra trong các hội nghị liên quan HNV và những bài viết trên trang cá nhân, khiến tôi có cảm giác ông không thiện cảm với mình … Nhưng hơn ai hết, tôi tin những người yêu mến văn học đều hiểu rằng, bản chất của NQT không nằm ở những toan tính chính trị tiêu cực hay tư tưởng quay lưng lại với lịch sử dân tộc. Đó chỉ là câu chuyện của những giới hạn về năng lực quản trị, là cái giá phải trả khi một người con của “làng Chùa” gánh trên vai những trọng trách hành chính quá nặng nề.
  2. Cái “cây” nghệ thuật của NQT đã cắm rễ quá sâu vào mảnh đất văn học VN đương đại qua những tập thơ như “Sông Đáy” hay “Sự mất ngủ của lửa”. Những trang viết đậm đà hơi thở đồng bằng Bắc Bộ, những câu thơ đầy triết lý nhân văn và tình yêu đau đáu với làng quê mới chính là thứ thẻ căn cước bất tử giúp ông định vị danh tiếng của mình trong lòng độc giả có thẩm mỹ cao. Quyền lực có thể bị tước bỏ, nhưng vị thế của một nhà thơ mở đường cho thơ hiện đại VN thì không một quyết định hành chính nào có thể xóa nhòa. Gạt đi những ồn ào của sự cố quan trường, công chúng nhìn thấy ở ông hình ảnh của một nghệ sĩ đích thực, người luôn sống trọn vẹn với tinh thần “cầm, kỳ, thi, họa”. Sự trân trọng của người hâm mộ dành cho ông không đến từ chiếc ghế Chủ tịch HNV, mà đến từ sự tài hoa toát ra từ từng nét cọ phóng túng, từng câu chữ tự do và khoáng đạt. Khép lại một chương “quan lộ” đầy giông bão, NQT giờ đây được trả về đúng với thế giới của ông, thế giới của nghệ thuật thuần túy, của những trang giấy trắng và những sắc màu hội họa. Những sai lầm sẽ được soi xét bằng lý trí và luật lệ, nhưng tình yêu, lòng trân trọng của bạn đọc dành cho tâm hồn nghệ sĩ tài hoa mang tên Nguyễn Quang Thiều thì vẫn vẹn nguyên…

* “Ai mới là “phản động” trong cuộc công kích nhắm vào “giáo dục khai phóng”?” (FB Tino Cao 22/6/2026): Trong đáp án đề thi tốt nghiệp PTTH môn Ngữ văn 2026 của Bộ GD-ĐT, cụm từ Giáo dục khai phóng được dùng như gợi ý chấm bài cho câu hỏi về điều kiện hình thành những “Steve Jobs của VN”, tức những cá nhân có khả năng sáng tạo nhờ môi trường giáo dục rộng mở. Chỉ sau vài ngày, cụm từ ấy bị kéo bật khỏi phạm vi khảo thí, trở thành tâm điểm của cuộc tranh luận công kích chụp mũ; vấn đề giáo dục nhanh chóng bị nâng quan điểm lịch sử, áp đặt độc quyền diễn giải chân lý. Đặt bên cạnh những tranh cãi gần đây (quanh tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, tọa đàm Trương Vĩnh Ký của Cà phê Thứ Bảy, sách Chuyện với Thanh của Nguyễn Thành Nam, cùng việc đề thi môn Lịch sử dùng cách diễn đạt khác thay cụm “ngụy quân, ngụy quyền”, sự việc này cho thấy làn sóng bảo thủ đang nổi lên với mức độ ngày càng gay gắt trong đời sống công cộng VN. Những nỗ lực nhìn nhận lại văn chương, lịch sử và giáo dục bằng một tinh thần tự do, hiện đại hơn đang gặp sức ép từ các tiếng nói cực đoan muốn giữ nguyên những khuôn diễn giải quen thuộc; đi kèm sức ép ấy là các cáo buộc lập trường “diễn biến hòa bình”, nguy cơ “xét lại”, “lệch chuẩn”. Thực chất làn sóng đấu tố xung quanh cụm từ “giáo dục khai phóng” chính là xu hướng chính trị hóa 1 khái niệm sư phạm. Điều nghịch lý là xã hội VN đang đặt ra những kỳ vọng to lớn về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Những mục tiêu vĩ mô ấy đòi hỏi thế hệ có khả năng tư duy độc lập, đối diện với bất định và vượt khuôn mẫu xơ cứng, vốn được quan niệm là phẩm chất nền móng của tinh thần khai phóng. Tất nhiên, việc vận dụng tinh thần ấy cần lộ trình đối thoại nghiêm túc trên nền tảng lịch sử, thể chế chính trị, văn hóa bản địa.

 

* “Vì sao Việt Nam nghiêng về phía Trung Quốc” (Nguyễn Khắc Giang, Trúc Lam dịch, baotiengdan.com 24/4/2026; “Why Vietnam Is Swinging in China’s Direction, carnegieendowment.org 24/4/2026); * “Một cú đánh đẹp!” (Lê Huyền Ái Mỹ, vanviet.info 27/4/2026): Ba cơ thủ pool của VN là Dương Quốc Hoàng, Nguyễn Anh Tuấn và Lê Quang Trung đã quyết định rút khỏi giải đấu Peri Laili Cup 2026 (được tổ chức ở đảo Hải Nam, TQ từ ngày 26 đến 30-4) vì giải đã sử dụng logo đường lưỡi bò – vi phạm nghiêm trọng tới chủ quyền lãnh thổ của VN. 3 năm trước, tại giải giao hữu cũng do TQ tổ chức, cơ thủ Trần Quyết Chiến cùng đồng đội cũng phát hiện cái lưỡi bò được lồng ghép khi phát sóng giải đấu, anh đã quyết định dừng ngay trận đấu. Xin cảm ơn và dành sự tôn kính những cơ thủ VN, họ đã đặt chủ quyền đất nước, danh dự của Tổ quốc lên trên mọi cuộc thi thố. Hành động đó diễn ra ngay trong dịp giỗ Quốc Tổ lại càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Hành động ấy không chỉ mang tính biểu trưng. Nó là thái độ, là tiếng nói công dân – trăm triệu như 1 – về hành vi gian xảo, không chỉ của nhà tổ chức giải đấu thể thao, nơi vốn đề cao tinh thần “fair play” trên mọi khía cạnh … Có vinh quang nào bằng vinh quang của đất nước – trong đó ý nghĩa lớn nhất là bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của mình – dưới mọi hình thức … xin cảm ơn hành động cao đẹp của những “người lính” trên đấu trường billiards Peri Laili Cup 2026! Các anh đã ra cú Follow shot lên bộ mặt tham lam, gian xảo của những kẻ ôm giấc mộng bành trướng. *Các cơ thủ Việt Nam đồng loạt bỏ giải billiards Trung Quốc,” (vnexpress.net 26/4/2026): “Trong ngày ra quân trưa 26/4, Hoàng “Sao” phát hiện CBSA sử dụng logo bản đồ TQ có đường đứt đoạn và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Điều này xâm phạm chủ quyền của VN đối với 2 quần đảo, cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của VN đối với các vùng biển được xác định theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Vì thế, anh quyết định bỏ giải đấu. Anh Tuấn và Quang Trung cũng làm điều tương tự khi đang trong trận đấu với các cơ thủ chủ nhà Trung Quốc. Trên trang chủ Peri Vietnam Tea, CLB quản lý Anh Tuấn và Quang Trung xác nhận sự việc. “Tuy tất cả đã bỏ nhiều công sức, nhưng đây là vấn đề cực kì nhức nhối, không thể nhượng bộ. Hoàng Sa Trường Sa là của VN”, thông cáo nhấn mạnh. Đường lưỡi bò” hay còn gọi là “đường đứt đoạn” do TQ tự vạch ra đòi chủ quyền với gần như toàn bộ diện tích Biển Đông, bất chấp sự phản đối từ cộng đồng quốc tế. Tòa Trọng tài thường trực (PCA – Permanent Court of Arbitration) năm 2016 đã bác bỏ yêu sách của TQ, tuyên bố nước này không có cơ sở pháp lý để đòi quyền lịch sử với các nguồn tài nguyên bên trong “đường đứt đoạn”.

 

* “Bài báo “Triệu người vui, triệu người buồn” của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt bị gỡ như thế nào?” (Phạm Phú Thép, baotiengdan.com 24/4/2026): Đại sứ Nguyễn Hồng Thạch kể, năm 2005, khi đang làm Phó TBT Báo Quốc Tế của Bộ Ngoại giao, anh rất muốn làm một bài phỏng vấn với ông Võ Văn Kiệt về các vấn đề kinh tế, vì năm 2005 là năm kỷ niệm 10 năm bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Mười năm VN hội nhập thế giới. Dự tính bài phỏng vấn của ông Kiệt sẽ là bài “đinh” số Tết của báo Quốc Tế. Khi ra Hà Nội, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt cho thư ký báo giờ, địa chỉ để anh Thạch đến, khu biệt thự trung ương số 10 Đặng Thai Mai. Toàn bộ câu hỏi phỏng vấn là về đề tài hội nhập kinh tế. Về nhà rã băng, dựng thành bài rồi gửi vào TP.HCM cho cụ duyệt. Đến khi cụ gửi trả lại bài thì anh Thạch giật mình là toàn bộ nội dung bài viết về thông điệp hòa giải dân tộc. Tên bài phỏng vấn mới là “Những đòi hỏi của thời cuộc” tuy nhiên người ta chỉ nhớ câu ”triệu người vui, triệu người buồn”. Cụ Võ Văn Kiệt viết, “lịch sử cũng như cuộc sống, cái đúng cái sai, nói một lần người ta hiểu, nói hai, ba lần người ta im lặng, nhắc lại quá mức cần thiết thì sẽ gây ta phản cảm. Trong khi đó theo tôi, chúng ta vẫn còn biết bao nhiêu điều cần nói, biết bao nhiêu việc cần làm.” Khi báo mới in xong “tay báo” có bài phỏng vấn thì anh Thạch đã cầm bản in thử đến nhà bà chị rất nổi tiếng ở đường Lê Trọng Tấn và quen biết rộng các lãnh đạo khoe. Đang nói chuyện thì chị có người khách đến chơi. Vợ chồng chị bảo anh Thạch lên gác chờ chị. Khi người khách về thì anh Thạch xuống tầng. Chị thông báo, người khách đó bảo, phải gỡ bài báo này. Ông ấy đã gọi điện yêu cầu TBT Nguyễn Văn Vĩnh gỡ bài báo đó. Sau khi biết bị bóc bài, ông Kiệt rất bực và viết thư gửi một số nơi, yêu cầu giải thích. Chắc cụ cũng đoán được ở đâu ra lệnh bóc bài. Đến tháng 3/2005, “vị khách quyền lực ở nhà bà chị anh Thạch” mới gọi điện cho TBT Nguyễn Văn Vĩnh bảo đăng bài phỏng vấn. Và cuối cùng bài được đăng trong số báo ngày 30/4 năm ấy. [Xt: Một số bài nhân 30/4 năm nay; Chương hồi 5.6].  

 

[19] Theo trường ca “Đống chữ” của cùng người viết (Tuyển tập trường ca Lòng hải lý, Nxb Hội Nhà văn & Công ty Hà Thế 2011; trieuxuan.vn).

[20] Theo thơ Nguyễn Bính: “Quê nhà xa lắc, xa lơ đó/ Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay“ (Bài “Hành phương Nam”, thivien.net).

[21] Để vào Chương Mở, mời Quý độc giả dạo đầu bằng âm thanh nền là dân ca Lý Ngựa Ô (youtube.com). [Xt: Trong các bài dân ca Việt, có thể Lý ngựa ô là một trong những bài ca được đông đảo người nghe ưa thích nhất. Nó không chỉ thích hợp với vài tầng lớp, lứa tuổi, mà dường như bài dân ca Nam Bộ này phù hợp với mọi tầng lớp, lứa tuổi. Có giả thuyết, Lý ra đời từ cái nôi là dải đất miền Trung Nam Bộ, chặng đầu tiên con đường thiên di phía Nam của các thế hệ tiền bối. Trong những ngày đầu xa quê hương, những lời ca của cha ông ta thường đau đáu lòng nhớ thương quê nhà tiên tổ. Âm điệu tha thiết, mang nỗi sầu xa xứ, đã bao trùm hầu hết làn điệu dân ca vùng này, trong đó có cả Lý. Táo bạo hơn, có người cho rằng, Lý chịu nhiều ảnh hưởng từ làn điệu dân ca Chăm, vốn cũng chứa đựng nhiều yếu tố buồn, u uất. (Tô Đông Hải, Ngựa trong Dân ca: Lý Ngựa Ô, sites.google.com)].

This entry was posted in Thơ and tagged . Bookmark the permalink.