Bờ Hồ – Để giết một nơi chốn

Hồ Thanh Bình

Hà Nội có hàng trăm cái hồ, nhưng người Hà Nội chỉ cần nói “ra Bờ Hồ” là ai cũng hiểu.

Không cần nói hồ nào. Không cần gửi định vị. “Bờ Hồ” mặc nhiên là Hồ Gươm, như thể tất cả những hồ khác đều phải có tên riêng, còn nơi này chỉ cần hai chữ ấy là đủ.

Từ ngày đường quanh hồ trở thành phố đi bộ vào cuối tuần, Bờ Hồ dần hình thành một nhịp sống rất riêng. Không ai quy hoạch, chẳng ai đạo diễn, cũng không cần hội thảo để đặt tên, nhưng cứ hết tuần này sang tuần khác, người Hà Nội và du khách tự tạo nên một thứ văn hóa sống động quanh mặt nước xanh ấy.

Nếu Hà Nội có mười hai mùa hoa (như tên một bài hát) thì Bờ Hồ, trong một ngày cuối tuần, cũng có bốn mùa.

Sáng sớm là mùa của những người thức dậy cùng thành phố. Người chạy bộ, người đi bộ, người tập dưỡng sinh, người vung tay đá chân, người vừa đi vừa bàn chuyện thời sự. Có những cụ già tóc bạc bước chậm dưới hàng cây, có những đôi trẻ chạy qua như gió, có người mặc đồ thể thao rất chuyên nghiệp nhưng chủ yếu ra hồ để nói chuyện. Tất cả nhập vào nhau thành một câu lạc bộ khổng lồ, không thẻ hội viên, không ban chủ nhiệm, cũng chẳng ai thu phí.

Nắng lên một chút, Bờ Hồ chuyển sang mùa của những người vừa ngủ nướng dậy. Họ ra ăn sáng, uống cà phê, ngồi bên cửa sổ nhìn xuống phố, thong thả quan sát thiên hạ như thể mình đã dậy từ năm giờ. Thành phố lúc ấy bớt vội, tiếng nói chuyện quyện với mùi cà phê, mùi phở, tiếng chuông xe đạp và tiếng lá cây xào xạc. Người ta ra hồ không hẳn để làm gì. Chỉ để ngồi đó, nhìn người khác sống, thế là đủ.

Buổi chiều là mùa của du khách. Từng đoàn người nối nhau qua cầu Thê Húc, đứng trước Tháp Bút, đền Ngọc Sơn, quay lưng về phía Tháp Rùa để chụp ảnh. Có người lần đầu đến Hà Nội, có người đã đi qua đây không biết bao nhiêu lần vẫn giơ điện thoại lên chụp. Bởi có những nơi ta chụp không phải vì chưa có ảnh, mà vì mỗi lần trở lại, ta đã là một người khác.

Tối đến, Bờ Hồ trẻ hẳn ra. Âm nhạc nổi lên từ một góc phố, trẻ con chạy đuổi nhau, những nhóm bạn ngồi bệt xuống đường cười nói, vài nghệ sĩ đường phố đứng biểu diễn giữa vòng người lạ. Người đánh đàn, người nhảy múa, người bán tò he, người dắt con đi chơi, người chẳng quen ai nhưng vẫn đứng lại vỗ tay. Không sân khấu lớn, không màn hình khổng lồ, không vé mời, vậy mà vui. Niềm vui ở đây đơn giản đến mức đôi khi người ta quên rằng nó quý.

Hồ Gươm sống không chỉ nhờ nước, cây xanh, Tháp Rùa hay những lớp rêu phong. Nó sống nhờ bước chân của người già buổi sớm, ly cà phê muộn của người ngủ nướng, chiếc máy ảnh của khách du lịch, tiếng cười của các bạn trẻ lúc lên đèn. Con người làm cho cảnh vật có linh hồn, còn cảnh vật giữ lại ký ức của con người. Hai thứ ấy dựa vào nhau mà thành Hà Nội.

Vì thế, điều đáng sợ nhất với Hồ Gươm không phải là nó sẽ cũ đi…

Đáng sợ nhất là nếu một ngày nào đó, người ta muốn làm cho nó “mới hơn”, “lớn hơn”, “hoành tráng hơn”, “xứng tầm hơn”. Những từ ngữ nghe rất hay trong các bản thuyết trình, nhưng đôi khi bước ra đời thật lại mang theo kính, thép, bê tông, ánh sáng và những khối kiến trúc khổng lồ. Thành phố có thể được thêm vào rất nhiều thứ hiện đại, nhưng mỗi thứ được dựng lên cũng có thể che khuất một phần ký ức.

Rồi có thể chúng ta sẽ có một Bờ Hồ sáng choang, sang trọng, thẳng thớm, sạch sẽ đến mức chẳng còn chỗ nào cho sự ngẫu nhiên. Không còn những góc cũ kỹ, không còn vẻ lộn xộn dễ thương, không còn cảm giác người ta ra đây chỉ để sống với nhau. Thay vào đó là những công trình rất đáng tự hào, những điểm check-in thật thời thượng và những tấm biển kể rằng: ngày xưa, nơi này từng có một đời sống rất Hà Nội.

Người ta vẫn có thể giữ nguyên tên Hồ Gươm. Vẫn giữ Tháp Rùa giữa hồ. Vẫn bật đèn mỗi tối và khẳng định rằng di sản đã được bảo tồn.

Nhưng giữ được cái xác không có nghĩa là giữ được linh hồn.

Và để giết một nơi chốn, người ta không cần phá nó đi.

Chỉ cần xây quanh nó thật nhiều thứ “xứng tầm”.

This entry was posted in Vấn đề hôm nay and tagged . Bookmark the permalink.