Đỗ Đức Dục và bi kịch của một trí thức dân chủ trong cách mạng

Tino Cao

Đỗ Đức Dục (1915-1993), luật gia, nhà báo, chính khách và nhà nghiên cứu văn học. Ảnh tư liệu: Báo Điện tử Chính phủ.

Trong lịch sử trí thức Việt Nam thế kỉ 20, Đỗ Đức Dục thuộc lớp người bước vào cách mạng từ nền học vấn Pháp, mang theo ý thức dân tộc, tinh thần cải cách cùng niềm tin vào luật pháp và công lí. Ông lựa chọn cộng tác với lực lượng cộng sản trong khuôn khổ một liên minh dân tộc và dành hơn một thập niên tham gia xây dựng nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Con đường ấy kết thúc vào năm 1958, khi ông bị cô lập về chính trị sau cuộc chỉnh huấn trong Đảng Dân chủ. Trường hợp Đỗ Đức Dục cho thấy một nghịch lí của thế hệ trí thức từng gửi khát vọng độc lập vào cuộc cách mạng ấy. Những quan niệm về dân chủ, pháp luật, chuyên môn và sự tham gia thực chất của các lực lượng ngoài cộng sản ngày càng trở nên khó dung hòa với chế độ độc quyền lãnh đạo mà Đảng Lao động Việt Nam xác lập ở miền Bắc từ sau năm 1954.

Đỗ Đức Dục sinh ngày 15 tháng Tám năm 1915 tại làng Xuân Tảo, huyện Từ Liêm, Hà Nội, trong một gia đình nhà nho. Ông học Trường Bưởi rồi tốt nghiệp cử nhân luật tại Đại học Đông Dương năm 1938. Sau khi ra trường, ông chọn báo chí và hoạt động xã hội thay cho con đường quan chức trong bộ máy thuộc địa. Từ năm 1941, ông cộng tác với tuần báo Thanh Nghị, sử dụng các bút danh Trọng Đức, Như Hà và Tảo Hoài để viết về chính trị, pháp luật, xã hội, văn hóa cùng trách nhiệm của giới trí thức trước vận mệnh dân tộc.

Trong những năm cuối Thế chiến thứ hai, Đỗ Đức Dục tham gia Tân Việt Nam hội rồi Đảng Dân chủ Việt Nam. Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ nhiều trọng trách trong chính phủ, Quốc hội, Việt Minh và Đảng Dân chủ, trong đó có chức Thứ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục, Phó Tổng thư ký Đảng Dân chủ, Phó Bí thư Tổng bộ Việt Minh, Ủy viên Ủy ban toàn quốc Mặt trận Liên Việt và Thứ trưởng Bộ Văn hóa; ông cũng phụ trách báo Độc Lập. Với tư cách đại biểu Quốc hội khóa I, ông tham gia quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1946, một kinh nghiệm có ảnh hưởng rõ rệt đến quan niệm của ông về nhà nước, pháp luật và trách nhiệm công dân.

Cuộc chỉnh huấn năm 1958 chấm dứt sự nghiệp chính trị của Đỗ Đức Dục. Từ năm 1960, ông làm việc tại Viện Văn học, tập trung nghiên cứu Balzac, Flaubert, Stendhal, chủ nghĩa hiện thực và quan hệ văn học Đông Tây, rồi trở thành một trong những học giả có đóng góp quan trọng cho nghiên cứu văn học phương Tây tại Việt Nam. Ông qua đời ngày 24 tháng Chín năm 1993. Trong nhiều tiểu sử chính thức, sự nghiệp nghiên cứu của Đỗ Đức Dục được trình bày khá đầy đủ, còn biến cố năm 1958 và quá trình ông bị loại khỏi đời sống chính trị thường chỉ được ghi bằng những công thức ngắn gọn như “chuyển công tác” hoặc “chuyển sang nghiên cứu”. Chính phần bị giản lược ấy lại chứa một trong những chìa khóa quan trọng để hiểu rõ tư tưởng và số phận của ông.

Đỗ Đức Dục qua đời ngày 24 tháng Chín năm 1993, tại Hà Nội, hưởng thọ 78 tuổi.

  1. Căn bản tư tưởng từ nhóm Thanh Nghị

Trong hai khảo cứu công bố tại Pháp, Pierre Brocheux, sử gia Pháp chuyên nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời thuộc địa và Đông Dương thuộc Pháp, xem Thanh Nghị như một tập hợp trí thức trẻ xuất hiện giữa cuộc khủng hoảng sâu sắc của xã hội thuộc địa vào đầu thập niên 1940. Phần lớn họ được đào tạo trong hệ thống giáo dục Pháp, tiếp xúc trực tiếp với luật học, khoa học xã hội, triết học và tư tưởng chính trị phương Tây, nhưng đồng thời cũng chứng kiến sự suy sụp của chính nền cộng hòa Pháp trước chiến tranh và sự phá sản về chính trị của chế độ thuộc địa tại Đông Dương. Trong hoàn cảnh ấy, ý thức dân tộc của Thanh Nghị gắn khá chặt với một chương trình cải tạo xã hội bằng giáo dục, pháp luật, kinh tế và việc xây dựng một bộ máy nhà nước đủ năng lực tổ chức quốc gia. Chủ nghĩa dân tộc của nhóm mang màu sắc duy lí rõ rệt, lấy việc kiến thiết những thiết chế hiện đại làm một trong những điều kiện căn bản của độc lập.

Khảo sát các bài viết của Đỗ Đức Dục trên Thanh Nghị cho thấy quan niệm chính trị của ông nằm trong không gian tư tưởng ấy nhưng có những nét riêng khá rõ. Đỗ Đức Dục không hình dung đời sống quốc gia như một hệ thống có thể bị quy về một học thuyết duy nhất. Trong các bài nghị luận của mình, ông nhiều lần dành chỗ cho sự khác biệt về quan điểm giữa các thành phần tinh hoa trí thức và xem tranh luận công khai như một điều kiện cần thiết của sinh hoạt chính trị. Quan niệm ấy đồng thời đặt giới trí thức vào một vị trí đặc biệt trong tiến trình kiến thiết quốc gia. Trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn và năng lực nhận thức xã hội trao cho họ trách nhiệm hướng dẫn công cuộc cải cách, nhưng quyền hướng dẫn đó chỉ có ý nghĩa khi gắn với trách nhiệm đối với đại bộ phận dân chúng, đặc biệt là nông dân và những tầng lớp nghèo. Dấu vết của tư tưởng Khai sáng và truyền thống cộng hòa Pháp có thể nhận ra khá rõ trong quan niệm này, cùng với một khuynh hướng dân chủ mang tính tinh hoa vốn phổ biến trong nhiều phong trào canh tân châu Á nửa đầu thế kỉ 20.

Hai bài Dư luận chân chính và Một cuốn hắc thư để kết án chế độ thuộc địa của nước Pháp tại Đông Dương đặc biệt quan trọng khi khảo sát tư tưởng chính trị của Đỗ Đức Dục. Ở đây, dư luận được ông nhìn nhận như một bộ phận cấu thành của đời sống công dân, nơi xã hội có quyền xem xét, phê phán và buộc quyền lực phải trả lời trước những vấn đề liên quan đến lợi ích chung. Việc phê phán chế độ thực dân của ông dựa nhiều trên lập luận pháp lí và đạo đức. Chính những nguyên tắc về tự do, pháp quyền và quyền công dân mà nền cộng hòa Pháp tuyên bố lại trở thành cơ sở để ông chất vấn cách thức nước Pháp cai trị Đông Dương. Mâu thuẫn giữa những giá trị được tuyên xưng tại chính quốc với thực tế chính trị ở thuộc địa, theo logic lập luận ấy, đã làm suy giảm tính chính danh của chế độ thuộc địa ngay từ những nguyên tắc mà chế độ này viện dẫn để biện minh cho mình.

Có thể nhận thấy Đỗ Đức Dục dành cho giới trí thức một trách nhiệm chính trị vượt ra ngoài hoạt động chuyên môn. Trí thức, theo quan niệm thể hiện trong các bài viết của ông, phải tham gia vào việc hình thành dư luận, phải phát biểu trước những vấn đề quốc gia và phải sử dụng kiến thức của mình để kiểm soát về mặt lí luận cũng như đạo đức đối với quyền lực. Ông chấp nhận nhu cầu về một chính quyền trung ương có năng lực tổ chức mạnh, nhất là trong hoàn cảnh một quốc gia đang đứng trước yêu cầu tái thiết toàn diện, đồng thời vẫn duy trì những đòi hỏi căn bản về pháp luật, quyền tranh luận và trách nhiệm của người cầm quyền. Một nhà nước mạnh, trong tư tưởng của ông, không đồng nghĩa với quyền lực không bị kiểm soát; hiệu lực của nhà nước phải đi cùng một đời sống công dân trong đó dư luận và giới trí thức có khả năng tham gia vào việc giám sát các quyết định chính trị.

Với những công trình ấy, có thể xác định Đỗ Đức Dục trước hết thuộc dòng trí thức dân tộc dân chủ hình thành trong môi trường thuộc địa Pháp vào nửa đầu thế kỉ 20. Tư tưởng của ông thiên về cải cách xã hội, xây dựng pháp quyền, mở rộng giáo dục và kiến tạo một nhà nước hiện đại có năng lực kiến thiết quốc gia. Ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng hòa Pháp hiện diện khá rõ trong cách ông đề cao luật pháp, dư luận công dân và trách nhiệm của chính quyền; đồng thời, mối quan tâm thường xuyên dành cho nông dân, người nghèo và vấn đề cải tạo cơ cấu xã hội cho thấy ông cũng tiếp nhận những luồng tư tưởng cải cách và tân dân chủ đang lưu hành rộng rãi tại châu Á trong cùng thời kì. Chính sự kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc, ý thức pháp quyền, trách nhiệm xã hội của trí thức và yêu cầu cải cách khiến tư tưởng Đỗ Đức Dục khó có thể quy giản vào một hệ tư tưởng chính trị duy nhất.

  1. Đảng Dân chủ và sự bất cân xứng trong cơ chế liên minh

Việc tham gia Đảng Dân chủ đánh dấu bước chuyển biến quan trọng của Đỗ Đức Dục từ hoạt động nghị luận trí thức sang đời sống chính trị có tổ chức. Đảng Dân chủ được thành lập năm 1944, quy tụ chủ yếu trí thức, tiểu tư sản và một bộ phận nhân sĩ ngoài hàng ngũ cộng sản trong mặt trận Việt Minh. Trên danh nghĩa, đây là một chính đảng riêng, có tổ chức và bộ máy lãnh đạo riêng. Tuy nhiên, những tư liệu về lịch sử tổ chức cho thấy lực lượng cộng sản trên thực tế đã chi phối rất mạnh đối với phương hướng chính trị và nhân sự của đảng này. Một số cán bộ giữ vị trí quan trọng trong Đảng Dân chủ đồng thời có quan hệ tổ chức với Đảng Cộng sản Đông Dương, khiến tính độc lập chính trị của tổ chức này ngay từ đầu chỉ là tương đối.

Trường hợp Hoàng Minh Chính là một chỉ dấu đáng chú ý. Ông tham gia phong trào cộng sản từ trước năm 1945, sau đó hoạt động trong Đảng Dân chủ và từng giữ chức Tổng Thư ký của đảng. Một số tư liệu đương thời và hồi cố cho biết ông được đưa sang hoạt động trong Đảng Dân chủ nhằm tham gia công tác vận động trí thức và các tầng lớp ngoài cộng sản. Các nguồn khác nhau không hoàn toàn thống nhất về thời gian và vị trí cụ thể của ông trong từng giai đoạn, nhưng đều cho thấy mối quan hệ tổ chức rất chặt chẽ giữa Đảng Dân chủ với lực lượng cộng sản.

Sự hiện diện của những nhân vật như Hoàng Minh Chính cho thấy cơ chế liên minh được xây dựng theo một cấu trúc quyền lực bất cân xứng. Lực lượng cộng sản cần sự tham gia của trí thức, nhân sĩ và các tổ chức ngoài đảng để mở rộng nền tảng xã hội của Việt Minh, xây dựng bộ máy chính quyền mới và tạo hình ảnh một mặt trận dân tộc có thành phần rộng rãi hơn phạm vi của riêng Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong cấu trúc tổ chức chính trị ấy, Đảng Dân chủ có chức năng đại diện và huy động xã hội khá rõ, trong khi quyền quyết định những vấn đề chiến lược vẫn chủ yếu tập trung trong bộ phận lãnh đạo cộng sản. Các tài liệu ngoại giao phương Tây đầu thập niên 1950 cũng ghi nhận các tổ chức ngoài cộng sản trong mặt trận Việt Minh hoạt động trong một hệ thống chịu ảnh hưởng rất mạnh từ trung tâm lãnh đạo cộng sản.

Chính tại đây mà xuất hiện mâu thuẫn căn bản giữa quan niệm chính trị của Đỗ Đức Dục và cơ chế quyền lực mà ông tham gia. Từ những bài viết và hoạt động của ông, có thể thấy Đỗ Đức Dục tin vào khả năng cộng tác giữa nhiều lực lượng yêu nước trong một liên minh chung, nhưng sự cộng tác ấy phải dành cho mỗi tổ chức một cá tính chính trị và một tiếng nói riêng. Đảng Dân chủ, theo quan niệm đó, phải có quyền đóng góp ý kiến vào đường lối chung, tham gia tranh luận về chính sách và chuyển những đòi hỏi của giới trí thức cùng các tầng lớp xã hội mà mình đại diện vào quá trình ra quyết định chính trị.

Đỗ Đức Dục không xây dựng một cương lĩnh đối lập nhằm tranh đoạt quyền lãnh đạo với lực lượng cộng sản. Những gì ông theo đuổi gần gũi hơn với quan niệm về liên minh có nội dung thực chất, trong đó các thành viên tham gia bằng tư cách chính trị của chính mình và cùng chịu trách nhiệm đối với các quyết định chung. Với ông, một chính đảng chỉ còn chức năng tập hợp quần chúng, phổ biến chủ trương hoặc hợp thức hóa những quyết định đã được xác lập từ trước sẽ đánh mất phần quan trọng nhất của tư cách chính trị. Yêu cầu của ông nằm ở quyền được góp phần hình thành chính sách, quyền được phát biểu ý kiến khác biệt và quyền đưa những kinh nghiệm xã hội của giới trí thức vào quá trình điều hành quốc gia.

Sự khác biệt giữa hai quan niệm về liên minh ấy ngày càng rõ. Đỗ Đức Dục hình dung liên minh như sự cộng tác giữa những lực lượng cùng theo đuổi mục tiêu dân tộc nhưng vẫn bảo lưu tiếng nói và trách nhiệm riêng. Cơ chế chính trị hình thành sau năm 1945 lại phát triển theo hướng tập trung quyền quyết định vào lực lượng cộng sản, còn các tổ chức đồng minh ngày càng đảm nhiệm nhiều hơn chức năng đại diện xã hội và huy động quần chúng. Sự bất cân xứng ấy không biến Đỗ Đức Dục thành một nhân vật đối lập nhưng tạo nên một mối xung đột chính trị kéo dài giữa niềm tin của ông vào giá trị của tranh luận và sự tham gia thực chất với một hệ thống ngày càng đề cao tính thống nhất tập quyền của lãnh đạo cộng sản.

  1. Pháp luật, chuyên môn và quyền tự chủ của trí thức

Xuất thân từ luật khoa để lại một dấu ấn vững chắc trong tư tưởng chính trị của Đỗ Đức Dục. Việc ông tham gia Ban dự thảo Hiến pháp năm 1946 cho thấy niềm tin vào một nền cộng hòa trong đó quyền lực nhà nước phải được xác lập và kiểm soát bằng pháp luật. Với thế hệ trí thức trưởng thành từ môi trường Thanh Nghị, yêu cầu tập trung quyền lực trong chiến tranh có thể được thừa nhận như một nhu cầu của hoàn cảnh, nhưng quyền lực chính trị vẫn phải chịu sự ràng buộc của hiến pháp, trách nhiệm công và quyền lợi của công dân. Chính từ nền tảng ấy, Đỗ Đức Dục đi đến một quan niệm nhất quán hơn về vai trò của trí thức. Chính trị có quyền xác lập mục tiêu chung của quốc gia, còn tri thức chuyên môn phải được tôn trọng theo những chuẩn mực riêng của từng lĩnh vực.

Quan niệm này được trình bày khá rõ trong tham luận “Quan hệ giữa chính trị và chuyên môn”, được Vũ Đình Hòe thuật lại và về sau được Vũ Thế Khôi phân tích. Đỗ Đức Dục thừa nhận người làm chuyên môn không thể đứng ngoài đời sống chính trị, bởi mọi hoạt động nghề nghiệp cuối cùng đều gắn với lợi ích xã hội. Nhưng ý thức chính trị không đồng nghĩa với việc chuyên môn phải phục tùng những phán đoán hành chính của người không có kiến thức nghề nghiệp. Ông phê phán tình trạng cán bộ nhân danh quyền lực tổ chức để can thiệp trực tiếp vào các lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên sâu, đồng thời chủ trương mở rộng thảo luận, trao trách nhiệm thực chất cho chuyên gia và để quyết định chuyên môn được hình thành từ kiến thức, kinh nghiệm cùng trách nhiệm nghề nghiệp.

Ở đây có thể nhận ra một nguyên tắc quan trọng trong tư tưởng Đỗ Đức Dục. Giá trị của trí thức đối với quốc gia nằm ngay trong khả năng đưa ra những phán đoán mà quyền lực chính trị tự thân không thể thay thế. Nhà luật học phải nói bằng pháp luật, nhà khoa học bằng chứng cứ, người làm nghề bằng tri thức tích lũy từ chính nghề nghiệp của mình. Nếu mọi kết luận đều phải quy thuận một ý kiến có sẵn từ tổ chức chính trị là Đảng Cộng sản, chuyên gia sẽ mất quyền kết luận độc lập, tri thức mất năng lực phản biện và bộ máy nhà nước cũng mất một trong những phương tiện quan trọng nhất để phát hiện sai lầm của chính mình. Dân chủ trong quản lí, theo nghĩa ấy, không chỉ thuộc về thủ tục chính trị; nó còn nằm trong khả năng để người có tri thức được nói điều mà chuyên môn buộc họ phải nói.

Lập trường ấy cũng xuất hiện trong cuộc tranh luận văn nghệ năm 1949. Khi phản đối yêu cầu nhà văn xuất thân tiểu tư sản phải tự cải tạo thành người vô sản trước khi có thể sáng tác một nền văn học mới, Đỗ Đức Dục thực chất đang bảo vệ cùng một nguyên tắc. Sáng tạo văn chương có những quy luật và nguồn kinh nghiệm riêng, không thể được quyết định chỉ bằng thành phần giai cấp của người viết. Nhà văn bước vào tác phẩm bằng kinh nghiệm sống, cá tính và năng lực nghệ thuật của mình; buộc toàn bộ quá trình sáng tạo phải tuân theo một mẫu hình chính trị có sẵn sẽ làm mất chính nguồn lực tạo nên giá trị của văn chương. Một bài nghiên cứu đăng trên Asian and African Studies năm 1983 phê phán quan điểm này từ lập trường Marxist chính thống, nhưng những dẫn liệu được công bố trong chính bài viết ấy cũng xác nhận sự nhất quán của Đỗ Đức Dục trong việc phản đối chủ trương vô sản hóa máy móc đối với hoạt động sáng tạo.

Từ pháp luật đến quản lí chuyên môn, rồi từ chuyên môn đến văn nghệ, Đỗ Đức Dục theo đuổi cùng một câu hỏi về quyền lực và tri thức. Nhà nước cần trí thức bởi tri thức cung cấp cho quốc gia những năng lực mà mệnh lệnh chính trị không thể tự tạo ra. Nhưng trí thức chỉ thực sự có ích khi họ còn giữ được quyền phán đoán theo lương tri và chuẩn mực nghề nghiệp của mình. Một chính quyền có thể huy động chuyên gia bằng chức vụ, tổ chức hay kỉ luật; năng lực suy nghĩ độc lập của họ lại chỉ tồn tại khi quyền lực chấp nhận nghe cả những ý kiến không thuận tai. Trong tư tưởng Đỗ Đức Dục, đó không phải đặc quyền của giới trí thức, mà là một điều kiện để nhà nước có khả năng nhận biết và sửa chữa những sai lầm của chính mình.

  1. Cải cách ruộng đất và sự rạn vỡ của quan niệm liên minh

Cải cách ruộng đất đẩy tư tưởng chính trị của Đỗ Đức Dục vào một thử thách lớn hơn những bất đồng về tổ chức hay chuyên môn trước đó. Vấn đề lúc này liên quan trực tiếp đến cách xác định con người trong một cuộc cách mạng xã hội. Khi tiêu chuẩn giai cấp trở thành căn cứ chủ yếu để tổ chức lại nông thôn, quan niệm về liên minh dân tộc mà ông từng theo đuổi bắt đầu va chạm với một đường lối chính trị đặt đấu tranh giai cấp vào vị trí trung tâm.

Đỗ Đức Dục tán thành việc thay đổi quan hệ sở hữu ruộng đất, và về sau, với tư cách trưởng tiểu ban xét dự án Luật Cải cách ruộng đất tại Quốc hội, ông đã đề nghị thông qua đạo luật này. Bất đồng của ông nằm ở cách phân định các thành phần xã hội và hệ quả chính trị của việc đẩy sự phân định ấy quá xa. Trong một bài đăng trên báo Độc Lập tháng Ba năm 1953, ông đặc biệt lưu ý đến phú nông, một tầng lớp vẫn trực tiếp sản xuất, có tài sản và thuê nhân công ở những mức độ khác nhau nhưng đồng thời gắn chặt với đời sống kinh tế của làng xã. Việc ông lên tiếng bảo vệ phú nông cho thấy một sự dè dặt rõ rệt trước khuynh hướng mở rộng đối tượng đấu tranh từ quan hệ sở hữu sang tư cách chính trị của con người.

Ở đây, sự khác biệt không còn chỉ thuộc về sách lược. Nó đụng tới hai quan niệm khác nhau về công bằng. Đối với Đỗ Đức Dục, cải cách xã hội có thể sửa chữa những quan hệ sở hữu bất công, mở rộng quyền lợi của nông dân và bảo vệ người trực tiếp sản xuất, nhưng mọi phán xét về con người vẫn phải căn cứ vào hành vi, hoàn cảnh và trách nhiệm cụ thể của từng cá nhân. Thành phần kinh tế chỉ nói lên một vị trí trong quan hệ sản xuất; nó không đủ sức thay thế toàn bộ lịch sử của một đời người. Một phú nông vẫn có thể trực tiếp lao động, tham gia kháng chiến và chia sẻ mục tiêu dân tộc với cộng đồng quanh mình. Khi một bảng phân loại kinh tế được nâng thành tiêu chuẩn gần như tuyệt đối để xác định bạn và thù, pháp luật có nguy cơ từ bỏ nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm để nhường chỗ cho những phán quyết dựa trên sự quy loại. Với một trí thức trưởng thành từ luật học, đây chính là điểm mà yêu cầu về công lí va chạm trực tiếp với logic đấu tranh giai cấp.

Những sai lầm trong quá trình thực hiện Cải cách ruộng đất và chiến dịch sửa sai năm 1956 khiến mâu thuẫn ấy mang ý nghĩa phổ quát. Sau khi chính quyền công khai thừa nhận sai lầm, nhiều trí thức bắt đầu đặt lại câu hỏi về quan hệ giữa quyền lực chính trị, pháp luật, chuyên môn và quyền phát biểu. Kinh nghiệm của Cải cách ruộng đất cho thấy một bộ máy quyền lực, khi thiếu những cơ chế kiểm chứng và phản biện hữu hiệu, có thể biến sai lầm về nhận định thành hậu quả đối với sinh mạng, tài sản và danh dự của con người. Yêu cầu dân chủ hóa trong những năm 1956-1957 vì thế gắn trực tiếp với nhu cầu tạo ra những khả năng sửa sai ngay từ bên trong hệ thống chính trị.

Trong bối cảnh ấy, Đỗ Đức Dục gần gũi hơn với những tiếng nói yêu cầu mở rộng dân chủ, chống tả khuynh và thay đổi chính sách đối với trí thức. Thái Kế Toại, nguyên đại tá công an từng làm việc trong bộ phận theo dõi an ninh về văn nghệ và văn hóa, về sau xếp Đỗ Đức Dục cùng Vũ Đình Hòe, Hoàng Văn Đức và một số trí thức khác vào số những người ủng hộ các yêu cầu dân chủ của phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm, phải chịu những hình thức xử lí khác nhau. Tuy vậy, những tài liệu hiện có chỉ cho phép xác định sự gần gũi của ông với tinh thần cải cách và những hệ quả chính trị mà ông phải gánh chịu; chúng không đủ để coi ông là một thành viên thuộc bộ phận tổ chức hay lãnh đạo phong trào này.

  1. Năm 1958 và sự chấm dứt một con đường chính trị

Năm 1958 là bước ngoặt quyết định trong tiểu sử chính trị của Đỗ Đức Dục. Giữa lúc chiến dịch chống Nhân Văn – Giai Phẩm được mở rộng sang giới trí thức và văn nghệ sĩ, Đảng Dân chủ cũng trải qua một đợt chỉnh huấn nhằm xử lí những khuynh hướng bị coi là lệch lạc khỏi đường lối của Đảng Lao động. Theo hồi ức của Vũ Đình Hòe, Đỗ Đức Dục, Vũ Đình Hòe và Hoàng Văn Đức bị quy kết là hữu khuynh, cơ hội, chống cộng sản và có tư tưởng đòi chia sẻ quyền lãnh đạo với Đảng Lao động. Họ phải kiểm điểm, chịu phê phán tập thể, rời khỏi những vị trí chính trị từng nắm giữ và được chuyển sang các công việc nghiên cứu hoặc chuyên môn. Những hồi ức về giai đoạn này cũng cho biết Đỗ Đức Dục và một số đồng sự bị hạ nhiều bậc lương trong một thời gian dài.

Điều quan trọng hơn mức lương hay chức danh là sự thay đổi hoàn toàn vị trí của Đỗ Đức Dục trong hệ thống quyền lực. Trước năm 1958, ông từng là người tham gia xây dựng Hiến pháp 1946, đại biểu Quốc hội, thứ trưởng, nhà báo và một nhân vật lãnh đạo của Đảng Dân chủ. Một tài liệu tình báo CIA Mĩ giữa thập niên 1950 còn ghi nhận ông là phó chủ tịch, đại biểu Quốc hội, từng giữ chức tổng thư kí Đảng Dân chủ và phụ trách báo Độc Lập. Sau cuộc chỉnh huấn, con đường ấy chấm dứt. Ông được chuyển sang nghiên cứu văn học, trong khi Vũ Đình Hòe sang nghiên cứu luật và Hoàng Văn Đức rời khỏi môi trường chính trị để làm công việc chuyên môn khác. Những hồi ức về ba người đều xác nhận rằng từ cuối thập niên 1950, tiếng nói công khai của họ trong đời sống chính trị gần như biến mất.

Trường hợp Đỗ Đức Dục cần được tách khỏi nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm từng bị bắt, truy tố hoặc kết án tù. Tư liệu hiện có không cho thấy ông bị giam giữ hay đưa ra xét xử. Hình thức xử lí dành cho ông diễn ra trong nội bộ bộ máy chính trị: ông bị loại khỏi quá trình quyết định, chấm dứt vai trò trong chính phủ và mất ảnh hưởng trong Đảng Dân chủ. Một số tài liệu về hậu quả của vụ Nhân Văn – Giai Phẩm xếp ông cùng Vũ Đình Hòe và Hoàng Văn Đức vào số những nhân sĩ bị liên lụy và chịu kỉ luật, nhưng không coi họ là thành viên thuộc bộ phận tổ chức cốt lõi của phong trào.

Việc Đỗ Đức Dục từ một chính khách chuyển sang nghiên cứu văn học đánh dấu sự chấm dứt có tính cưỡng bức đối với con đường chính trị mà ông đã theo đuổi từ trước Cách mạng tháng Tám. Lĩnh vực mới phù hợp với học vấn và về sau giúp ông gây dựng một sự nghiệp nghiên cứu có giá trị, nhưng bước ngoặt ấy không xuất phát từ lựa chọn nghề nghiệp tự do. Cuộc chỉnh huấn năm 1958 đã đẩy ông ra khỏi đời sống quyền lực cách mạng. Từ một luật gia từng tham gia thảo luận hiến pháp, hoạch định chính sách và lãnh đạo một chính đảng, Đỗ Đức Dục chỉ còn tiếp tục hoạt động trí thức trong lĩnh vực nghiên cứu văn học.

Có thể xem Đỗ Đức Dục là một nạn nhân chính trị của chính hệ thống mà ông từng tham gia xây dựng. Ông không chuyển sang đối lập công khai, cũng không đoạn tuyệt với cuộc cách mạng. Điều dẫn đến sự loại bỏ ông là việc tiếp tục bảo vệ những quan niệm về pháp luật, vai trò của trí thức và quyền tham gia thực chất vào đời sống chính trị khi không gian dành cho những quan niệm ấy ngày càng bị siết lại. Năm 1958 đánh dấu sự kết thúc của một con đường đã bắt đầu từ thời Thanh Nghị: từ một trí thức muốn góp phần kiến tạo nhà nước bằng tri thức và chính kiến riêng, Đỗ Đức Dục bị đẩy ra khỏi trung tâm quyết định và buộc phải chuyển toàn bộ năng lực học thuật sang một lĩnh vực khác.

  1. Nhận định về Đỗ Đức Dục

Đỗ Đức Dục thuộc khuynh hướng dân tộc dân chủ ôn hòa hình thành trong lớp trí thức Việt Nam trưởng thành dưới chế độ thuộc địa. Ông đề cao một nhà nước trung ương có năng lực, vai trò của luật pháp, chuyên môn, dư luận công dân, trách nhiệm cá nhân và sự tham gia thực chất của nhiều lực lượng trong đời sống chính trị. Những yếu tố ấy tạo nên một hệ quan niệm riêng, đứng bên cạnh dòng Marxist – Leninist đang ngày càng chiếm ưu thế trong bộ máy cách mạng.

Con đường của Đỗ Đức Dục phản ánh một chuyển biến lớn của đời sống chính trị Việt Nam giữa thế kỉ 20. Từ khát vọng độc lập dân tộc và xây dựng một nền cộng hòa có hiến pháp, ông bước vào liên minh cách mạng với niềm tin vào sự cộng tác giữa nhiều thành phần yêu nước. Quá trình tập trung quyền lực sau đó đã làm suy giảm vai trò chính trị của những lực lượng ngoài cộng sản và khép lại không gian mà những trí thức như ông từng hi vọng có thể tham gia bằng chính kiến và năng lực riêng.

Trường hợp Đỗ Đức Dục cho thấy số phận của một khuynh hướng dân tộc dân chủ từng hiện diện rõ trong giai đoạn đầu của nhà nước mới. Qua ông, có thể nhận ra khoảng cách giữa lí tưởng về một liên minh nhiều thành phần với cơ chế quyền lực được xác lập về sau, đồng thời phân biệt rõ ba phạm trù thường bị hòa lẫn trong lịch sử chính trị hiện đại Việt Nam: lòng yêu nước, sự tham gia cách mạng và sự phục tùng tổ chức.

Ở phương diện thể chế, trường hợp Đỗ Đức Dục cho thấy khá rõ quá trình xác lập chế độ độc tài một đảng lãnh đạo ở miền Bắc sau 1954. Trong những năm đầu sau 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương cần đến trí thức, nhân sĩ và các đảng phái ngoài cộng sản để mở rộng mặt trận dân tộc, củng cố chính quyền và tạo cơ sở đại diện cho nhà nước mới. Đến cuối thập niên 1950, khi Đảng Lao động đã kiểm soát vững bộ máy chính trị và hành chính, những đồng minh cũ lần lượt bị cô lập và loại trừ khỏi đời sống chính trị. Chỉnh huấn, kiểm soát tư tưởng, các quy kết hữu khuynh, cơ hội hay chống đảng cùng những biện pháp kỉ luật hành chính trở thành phương tiện hữu hiệu để buộc các tiếng nói khác biệt phải câm lặng. Chính trình tự ấy phơi bày tính tráo trở của chiến lược liên minh cộng sản: tranh thủ sự cộng tác của nhiều thành phần trong thời kì cần tập hợp lực lượng, rồi gạt bỏ họ khi chế độ độc quyền lãnh đạo đã được củng cố. Đỗ Đức Dục là một trường hợp điển hình. Từ một luật gia, đại biểu Quốc hội, thứ trưởng và lãnh đạo Đảng Dân chủ, ông bị cô lập về chính trị sau cuộc chỉnh huấn năm 1958 và chấm dứt từ đó vai trò từng có trong đời sống chính trị quốc gia.

Tài liệu tham khảo:

Brocheux, Pierre. “La Revue Thanh Nghi un groupe d’intellectuels vietnamiens confrontés aux problèmes de leur nation (1941–1945)”. Revue d’histoire moderne et contemporaine, tập 34, số 2, 1987, tr. 317-331.

Brocheux, Pierre. “La revue Thanh Nghi et les questions littéraires (1941-1945)”. Revue française d’histoire d’outre-mer, tập 75, số 280, 1988, tr. 347-356.

Ninh, Kim Ngọc Bảo. A World Transformed: The Politics of Culture in Revolutionary Vietnam, 1945-1965. University of Michigan Press, 2002.

Smith, R. B. “The Work of the Provisional Government of Vietnam, August-December 1945”. Modern Asian Studies, tập 12, số 4, 1978, tr. 571–609.

Tonnesson, Stein. Vietnam 1946: How the War Began. University of California Press, 2009.

Vu, Tuong. Paths to Development in Asia: South Korea, Vietnam, China, and Indonesia. Cambridge University Press, 2010.

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.