Tino Cao
Bài tham luận Một ngôn ngữ nhỏ có thể chứa một thế giới lớn đến đâu? – Biểu đạt văn học dưới góc nhìn APEC của nhà văn Nguyễn Khắc Ngân Vi, đăng trên Văn Việt ngày 5 tháng Chín, đặt ra một vấn đề không mới trong văn học so sánh nhưng vẫn rất thời sự đối với người viết Việt Nam. Một tác phẩm viết bằng tiếng Việt phải đi qua những con đường nào để đến với độc giả bên ngoài Việt Nam, và trong quá trình ấy nhà văn phải đối diện ra sao với những mong đợi đã hình thành từ trước về dân tộc, lịch sử và căn tính của mình?
Có một phần trong lập luận của Ngân Vi mà tôi đồng tình. Văn chương khi đi khỏi ngôn ngữ nguyên tác chưa bao giờ lưu hành trong một môi trường hoàn toàn trung tính. Dịch giả, nhà xuất bản, thị trường sách, giải thưởng, hệ thống đại học, truyền thông và những quan niệm đã có về một nền văn hóa đều tham dự vào số phận quốc tế của tác phẩm. Cảnh giác trước việc người viết bắt đầu nhìn quê hương mình bằng những phạm trù mà thị trường bên ngoài đang chờ đợi cũng là một cảnh giác cần thiết. Nếu người ta muốn chiến tranh và người viết lập tức cung cấp sản phẩm văn học chiến tranh, nếu người ta muốn hậu thuộc địa và người viết bắt đầu tổ chức kinh nghiệm của mình theo một bộ từ vựng hậu thuộc địa có sẵn, tôi e rằng lúc ấy tinh thần tự do sáng tác quả thật sẽ bị đe dọa.
Nhưng từ những quan sát có cơ sở ấy, tham luận của Ngân Vi đi tới một số nhận định, mà theo tôi, cần được xem xét lại. Trong phạm vi bài viết này, tôi xin tập trung vào ba vấn đề: cách cô hình dung về “văn học thế giới”, cách sử dụng khái niệm “ngôn ngữ nhỏ”, và sau cùng là mối quan hệ giữa căn tính với quyền đại diện.
- Từ sự bất bình đẳng của lưu hành đến “may mắn”
Ngân Vi đặt câu hỏi liệu văn học thế giới có thực sự gồm những tác phẩm hay nhất, hay gồm những tác phẩm “may mắn vượt qua” được nhiều cánh cửa để đến với độc giả quốc tế; rồi từ đó cô đặt tiếp vấn đề ai có quyền được thế giới đọc, đồng thời hình dung rằng đâu đó có thể tồn tại một nhà văn rất lớn viết bằng một “ngôn ngữ rất nhỏ” mà thế giới sẽ không bao giờ biết tới.
Phần đầu của câu hỏi này có cơ sở trong lí thuyết văn học thế giới hiện đại. David Damrosch, trong What Is World Literature?, đã rời xa quan niệm cũ xem văn học thế giới như một tủ sách tinh hoa gồm những kiệt tác đã được xác lập. Với ông, một tác phẩm tham gia văn học thế giới qua quá trình lưu hành vượt khỏi văn hóa xuất phát và qua những hình thức tiếp nhận mới. Nghĩa là văn học thế giới không có sẵn như một canon bất biến; tác phẩm phải di chuyển, được dịch, được tái ngữ cảnh hóa và được tiếp nhận trong một nền văn hóa khác.
Pascale Casanova, trong La République mondiale des lettres, còn nhấn mạnh mạnh hơn đến sự bất bình đẳng của không gian ấy. Các nền văn học không sở hữu cùng lượng “vốn văn học”; một số trung tâm tích lũy được khả năng xác nhận và phân phối uy tín lớn hơn những nơi khác. Franco Moretti cũng gọi hệ thống văn học thế giới là một hệ thống “một và bất bình đẳng”, trong đó quan hệ giữa trung tâm và ngoại vi chưa bao giờ cân xứng.
Quả thật, trực giác của Ngân Vi hoàn toàn có lí. Một bản thảo tiếng Việt, tiếng Albania, tiếng Basque hay tiếng Iceland không có cùng xác suất tiếp cận thị trường quốc tế như một bản thảo tiếng Anh. Giá trị văn chương chưa đủ sức tự đưa một văn bản qua biên giới. Cần một người dịch, một nhà xuất bản chấp nhận rủi ro, một mạng lưới phát hành, một môi trường phê bình có khả năng tiếp nhận.
Nhưng chữ “may mắn” của Ngân Vi dùng bắt đầu gây vấn đề khi nó được đặt trong một thế đối sánh với “những tác phẩm hay nhất”.
Ở đây có hai quá trình cần phân biệt. Quá trình thứ nhất quyết định tác phẩm có cơ hội xuất hiện trước một cộng đồng độc giả mới hay không. Quá trình thứ hai quyết định đời sống của tác phẩm sau khi nó đã xuất hiện. Những điều kiện của quá trình thứ nhất có thể chịu ảnh hưởng rất mạnh của kinh tế, chính trị, tính ngẫu nhiên, thị hiếu và mạng lưới xuất bản. Quá trình thứ hai phức tạp hơn nhiều. Một cuốn sách có thể được quảng bá rất mạnh rồi biến mất. Một tác phẩm khác có thể xuất hiện trong im lặng, nhiều thập niên sau mới được dịch lại, được nghiên cứu rộng rãi và từng bước xác lập vị trí trong kinh điển.
Lịch sử văn học không bao giờ chỉ dừng lại ở lần lựa chọn đầu tiên của nhà xuất bản hay dịch giả. Các thế hệ độc giả sau tiếp tục thay đổi thứ bậc, khôi phục những tác giả từng bị lãng quên, loại khỏi canon những tên tuổi từng được xem là lớn. Chính lịch sử tiếp nhận tạo ra một quá trình kiểm chứng kéo dài mà không thiết chế nào nắm được quyền quyết định cuối cùng.
Trường hợp Halldór Laxness cũng đáng để suy nghĩ. Ông viết bằng tiếng Iceland, một ngôn ngữ có cộng đồng người sử dụng nhỏ nếu so với Anh, Pháp hay Tây Ban Nha. Independent People đi sâu vào đời sống nông dân Iceland, vào sự nghèo đói, ám ảnh sở hữu đất đai, lòng kiêu hãnh và cái giá mà con người phải trả cho ý niệm độc lập. Tác phẩm không hề xóa bớt đặc điểm Iceland để tìm kiếm một thứ “phổ quát” dễ tiêu thụ. Chính thế giới Iceland rất cụ thể ấy đưa Laxness tới những vấn đề rộng lớn hơn về giá trị, tự do, phẩm giá, sở hữu và sự cô độc của con người. Tác phẩm của ông sau đó được dịch rộng rãi, và giải Nobel năm 1955 ghi nhận chính sức mạnh sử thi đã làm mới nghệ thuật tự sự Iceland.
Trường hợp Laxness vừa xác nhận một phần nhận định của Ngân Vi, vừa cho thấy sự vội vàng của nhận định ấy. Dịch thuật quả thật có vai trò rất lớn trong việc đưa tác phẩm của ông ra ngoài Iceland, nhưng đời sống lâu dài của một tác phẩm khó có thể được giải thích bằng yếu tố “may mắn”. May mắn có thể tạo ra cơ hội xuất hiện, nhưng không đủ để bảo đảm vị trí bền vững của một tác phẩm trong lịch sử văn chương.
- “Ngôn ngữ nhỏ” là một vị thế lưu hành, không phải một định mệnh văn học
Cụm từ “ngôn ngữ nhỏ” của Ngân Vi, theo tôi, cần được xác định cẩn thận hơn.
Nếu “nhỏ” chỉ số lượng người sử dụng, quy mô thị trường sách, mức độ hiện diện trong dịch thuật quốc tế hay vị thế tương đối của ngôn ngữ ấy trong hệ thống xuất bản thế giới, cách nói này có thể chấp nhận. Nhưng chữ “nhỏ” rất dễ gây ngộ nhận khi một mô tả về vị thế xã hội của ngôn ngữ được chuyển sang bình diện văn học. Khi ấy, người ta dễ hình dung một hệ thống trung tâm và ngoại vi như thể đã có sẵn, trong đó các nền văn học ngoại vi đứng bên ngoài và phải tìm những cánh cửa để bước vào trung tâm. Lịch sử văn chương cho thấy quan hệ ấy biến động và phức tạp hơn nhiều.
Ngay khái niệm minor literature của Gilles Deleuze và Félix Guattari cũng không mang nghĩa “văn học viết bằng một ngôn ngữ nhỏ”. Trong nghiên cứu nổi tiếng về Kafka, họ dùng khái niệm ấy để chỉ cách một cộng đồng thiểu số sử dụng một ngôn ngữ lớn và làm cho ngôn ngữ ấy vận động khác đi từ bên trong. Kafka viết bằng tiếng Đức; cái minor nằm ở quan hệ của ông với tiếng Đức và trong khả năng làm xáo trộn những chuẩn mực của ngôn ngữ ấy. Nhắc lại sự phân biệt này để thấy rằng “lớn” và “nhỏ” trong văn học chưa bao giờ chỉ là những đại lượng nhân khẩu học.
Bernardo Atxaga là một trường hợp còn gần hơn với vấn đề Ngân Vi nêu ra. Obabakoak được viết bằng Euskara, tức tiếng Basque, một ngôn ngữ có phạm vi sử dụng rất hạn chế nếu so với tiếng Tây Ban Nha ngay trên cùng lãnh thổ. Thế giới Obaba của Atxaga lại cực kì địa phương. Đó là làng quê, kí ức, chuyện kể, những con người mang dấu vết rất rõ của văn hóa Basque. Tuy vậy, Obabakoak đã được dịch rộng rãi. Tính địa phương không cản đường lưu hành; chính hình thức kể chuyện, sự đan xen giữa kí ức, huyền thoại, hiện thực và suy tư về bản thân việc kể chuyện giúp tác phẩm vượt khỏi phạm vi xuất phát.
Jon Fosse là một trường hợp đặc biệt đáng chú ý. Ông chủ yếu sáng tác bằng Nynorsk, dạng chuẩn viết chỉ được một bộ phận thiểu số người Na Uy sử dụng. Từ chính lựa chọn ngôn ngữ ấy, Fosse tạo nên một văn phong có tiết tấu riêng, dựa nhiều vào sự lặp, khoảng lặng, tiết giảm hành động và độ căng của cú pháp. Xuất phát từ những cộng đồng nhỏ ven biển phía tây Na Uy, tác phẩm của ông vẫn mở tới những kinh nghiệm căn bản của con người như cô độc, tình yêu, đức tin, cái chết và sự bất lực trong giao tiếp. Trường hợp Fosse cho thấy quy mô của cộng đồng sử dụng một ngôn ngữ không quyết định trước khả năng lan tỏa hay chiều kích nhân sinh của tác phẩm viết bằng ngôn ngữ ấy.
Trường hợp Cung Giũ Nguyên cũng xứng đáng được nhắc tới như một đối chứng. Ông là nhà văn Việt Nam sáng tác bằng tiếng Pháp, tức sử dụng một ngôn ngữ có vị thế quốc tế rất lớn, nhưng điều đó không mặc nhiên đưa ông vào trung tâm của văn học Pháp. Le Fils de la baleine hay Le Domaine maudit cho thấy một kinh nghiệm Việt Nam vẫn có thể được biểu đạt trong một ngôn ngữ trung tâm mà không mất đi nguồn gốc văn hóa của nó. Trường hợp này nhắc rằng vị thế của một tác phẩm không thể suy ra chỉ từ quy mô hay uy tín quốc tế của ngôn ngữ được sử dụng. Giữa ngôn ngữ, nơi xuất phát của tác giả, mạng lưới xuất bản và lịch sử tiếp nhận luôn tồn tại những quan hệ phức tạp hơn nhiều.
Những trường hợp ấy cho thấy quan hệ giữa các “ngôn ngữ nhỏ” và những trung tâm văn học chưa bao giờ cố định theo một mô hình bất biến. Lịch sử văn chương nhiều lần chứng kiến những gì từng bị xem là ngoại vi về sau đạt tới tầm phổ quát, thậm chí tạo nên những bút pháp mới và gây ảnh hưởng trở lại đối với chính các trung tâm từng giữ vị thế chi phối. Bản thân những trung tâm ấy cũng luôn dịch chuyển theo thời gian.
Vì vậy, vị thế ngoại vi không phải là một định mệnh bất biến của bất cứ nền văn học nào.
- Căn tính không đối lập với cái phổ quát
Phần đáng tranh luận hơn cả trong tham luận của Ngân Vi nằm ở “quyền không đại diện”. Cô có lí khi phản đối một nghĩa vụ đại diện bị áp đặt lên người viết. Nhà văn Việt Nam không có trách nhiệm biến mỗi cuốn tiểu thuyết thành một báo cáo về Việt Nam. Một nhân vật hèn nhát, ích kỉ hay thất bại chỉ cần chịu trách nhiệm trong logic nghệ thuật của tác phẩm; nhân vật ấy không phải mang trên mình trách nhiệm bảo vệ danh dự của một dân tộc.
Nhưng ở đây cần phân biệt nghĩa vụ đại diện với khả năng đại diện. Nghĩa vụ đại diện là điều có thể bị áp đặt từ bên ngoài lên nhà văn, còn khả năng đại diện lại có thể hình thành từ chính sức sống của tác phẩm trong lịch sử tiếp nhận, dù tác giả chưa từng nhận một nhiệm vụ nào như thế.
Truyện Kiều xưa nay có một khả năng đại diện đặc biệt đối với tiếng Việt và một phần cảm thức văn hóa Việt Nam. Điều đó không có nghĩa Nguyễn Du sáng tác với một chương trình “đại diện cho Việt Nam”. Khả năng đại diện ấy được hình thành bởi tầm vóc nghệ thuật của tác phẩm và bởi hơn hai thế kỉ hiện diện trong ngôn ngữ, kí ức, diễn giải và đời sống văn hóa Việt.
Ismail Kadare là một trường hợp đặc biệt đáng chú ý trong văn học thế giới hiện đại. Ông viết bằng tiếng Albania, một ngôn ngữ có phạm vi lưu hành quốc tế hẹp nếu so với tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Tây Ban Nha. Nhưng con đường của Kadare ra ngoài Albania chưa bao giờ đi qua việc làm cho lịch sử dân tộc mình trở nên dễ tiếp nhận hơn đối với độc giả bên ngoài. Trong The General of the Dead Army, Chronicle in Stone hay The Palace of Dreams, Albania hiện ra qua chiến tranh, kí ức, huyền thoại Balkan, những cơ chế của quyền lực chuyên chế và cảm giác bất an thường trực của con người trước một bộ máy có khả năng xâm nhập vào cả đời sống riêng tư. Những yếu tố ấy gắn chặt với lịch sử Albania, nhưng khi đi vào tiểu thuyết của Kadare, chúng không dừng lại ở chức năng tái hiện một hoàn cảnh địa phương. Chúng trở thành phương tiện để ông đặt ra những câu hỏi lớn và có tính phổ quát của thời đại như bạo lực nhà nước, nỗi sợ hãi, sự phục tùng, sự hủy hoại kí ức và phẩm giá con người trong những chế độ áp bức. Chính khả năng nâng một kinh nghiệm lịch sử cụ thể lên bình diện nhân sinh đã giúp Kadare được tiếp nhận rộng rãi ngoài biên giới ngôn ngữ của mình. Trường hợp ấy cho thấy một nền văn học ở vị thế ngoại vi vẫn có thể đi tới trung tâm của các cuộc tranh luận văn chương lớn khi tác phẩm tạo ra được một hình thức biểu đạt có sức khái quát và một kinh nghiệm con người đủ để vượt ra khỏi hoàn cảnh đã sinh ra nó.
Bernardo Atxaga cũng là một trường hợp đáng chú ý. Ông sáng tác bằng tiếng Basque, và Obabakoak được hình thành từ một môi trường văn hóa gắn chặt với xứ Basque, từ làng xóm, kí ức cộng đồng, truyền thuyết và những hình thức kể chuyện bản địa. Tuy nhiên, tác phẩm không dừng lại ở việc tái hiện một không gian địa phương. Cách Atxaga tổ chức các lớp truyện, để huyền thoại, hồi ức và hiện thực liên tục thâm nhập vào nhau, đã mở rộng ý nghĩa của cuốn tiểu thuyết sang những vấn đề lớn hơn về sự lưu truyền của câu chuyện, quan hệ giữa con người với nơi chốn và cách một cộng đồng kiến tạo ý thức về quá khứ của chính mình. Việc Obabakoak được dịch sang nhiều ngôn ngữ cho thấy một tác phẩm có thể xuất phát từ một môi trường văn hóa rất cụ thể mà vẫn tìm được sự cộng hưởng ở những cộng đồng độc giả thuộc các truyền thống khác.
Ba trường hợp ấy cho thấy vấn đề đặt ra không phải là nhà văn từ một “ngôn ngữ nhỏ” có thể thoát khỏi căn tính đến mức nào. Câu hỏi xác đáng hơn là họ có thể làm gì với chính lịch sử, ngôn ngữ và kinh nghiệm của mình. Khi những chất liệu ấy được tổ chức thành một thế giới nghệ thuật đủ trưởng thành, tác phẩm không cần trung hòa bản sắc để bước ra ngoài. Nó có thể đi rất xa từ chính nơi xuất phát của nó, đồng thời làm cho độc giả ở một nền văn hóa khác phải mở rộng cách hiểu về con người, lịch sử và văn chương. Họ đi ra thế giới từ chính lịch sử và căn tính của mình. Và khi tác phẩm đạt tới một tầm vóc đủ lớn, họ không chỉ bước qua những cánh cửa đã có sẵn, mà còn buộc chính những cánh cửa ấy phải mở rộng hơn.
Có thể nói, cặp đối lập thực sự không nằm giữa “đại diện” và “không đại diện”. Nó nằm giữa căn tính như một kinh nghiệm sống và căn tính như một công thức đã được thị trường đặt trước. Một nhà văn viết về chiến tranh vì chiến tranh nằm trong vùng kinh nghiệm ám ảnh mình hoàn toàn khác với một nhà văn chọn chiến tranh vì biết độc giả quốc tế đang muốn đọc một câu chuyện Việt Nam về chiến tranh. Cảnh báo của Ngân Vi hoàn toàn có cơ sở ở trường hợp thứ hai; nhưng từ đó không thể suy ra rằng khả năng đại diện của văn chương tự thân đã là một điều đáng ngờ.
- Tự do của người viết và đời sống của tác phẩm
Ngân Vi mở đầu và kết thúc tham luận bằng một hình ảnh đẹp. Viết văn, đối với cô, là “khoảnh khắc tu hành một mình”. Trong khoảnh khắc ấy, người viết không nghĩ tới thị trường, quốc gia hay quan hệ quốc tế; nhân vật được quyền phức tạp hơn tư tưởng của tác giả và câu chuyện có quyền đi tới một nơi người viết chưa dự đoán.
Ở bình diện đạo đức sáng tác, tôi đồng ý với quan niệm này. Một tiểu thuyết chỉ huy động nhân vật để chứng minh một kết luận đã có trước rất dễ mất phẩm chất tiểu thuyết. Milan Kundera từng nhiều lần bảo vệ tiểu thuyết như một không gian của bất định và nhiều khả thể; Mikhail Bakhtin nhìn sức sống của tiểu thuyết qua tính đa thanh, nơi các ý thức không hoàn toàn bị tiếng nói tác giả thu phục. Ý của Ngân Vi rằng đời sống phải được phép phức tạp hơn điều người viết muốn chứng minh nằm trong truyền thống ấy và có lẽ là phần thuyết phục nhất của tham luận.
Nhưng “tu hành một mình” chỉ nên được hiểu như một nguyên tắc tự do sáng tạo, chứ khó có thể dùng làm mô hình giải thích bản chất hoạt động văn chương. Không người viết nào thực sự ngồi trước trang giấy với một ý thức nằm ngoài lịch sử. Ngôn ngữ họ dùng đã mang kí ức xã hội; thể loại có lịch sử của thể loại; những điều được xem là riêng tư cũng hình thành qua gia đình, giới tính, giai cấp, giáo dục, tôn giáo, chiến tranh, di cư, truyền thông và vô số kinh nghiệm tập thể.
Tác phẩm cũng bắt đầu một đời sống khác ngay khi rời khỏi bàn viết của tác giả. Ở điểm này chính Ngân Vi đã nhận thấy đúng. Nó gặp dịch giả, nhà xuất bản, thị trường, chính trị, định kiến văn hóa. Nhưng cần bổ sung thêm độc giả, thời gian và khả năng của chính tác phẩm trong việc tạo ra những hình thức tiếp nhận mà tác giả ban đầu không thể kiểm soát được.
David Damrosch có lí khi xem văn học thế giới như một đời sống của tác phẩm trong lưu hành. Nhưng lưu hành không đồng nghĩa với việc một trung tâm văn hóa đơn phương ban phát tư cách “thế giới” cho ngoại vi. Laxness, Kadare, Atxaga hay Fosse cho thấy chiều chuyển động ngược lại. Tác phẩm từ những ngôn ngữ có phạm vi quốc tế hạn chế vẫn có khả năng đưa hình thức, kí ức, nhãn quan và câu hỏi riêng của mình vào không gian chung; đôi lúc chính chúng buộc không gian chung ấy thay đổi.
Thế cho nên, câu hỏi “một ngôn ngữ nhỏ có thể chứa một thế giới lớn đến đâu?” của Ngân Vi có lẽ cần được đặt lại từ căn bản. Khả năng dung chứa một thế giới lớn chưa bao giờ tùy thuộc vào kích thước của cộng đồng ngôn ngữ. Điều bất bình đẳng nằm ở con đường để thế giới ấy được người khác biết tới. Đây là vấn đề của dịch thuật, kinh tế xuất bản và quan hệ giữa các nền văn hóa chứ không phải giới hạn nội tại của ngôn ngữ hay văn chương.
Ngân Vi đúng khi nhắc người viết phải cảnh giác trước những gì thế giới muốn nhìn thấy qua mình. Nhưng lịch sử văn chương cũng cho thấy một khả thể khác đáng tin hơn. Nhà văn không cần lựa chọn giữa căn tính và cái phổ quát, giữa việc thuộc về một dân tộc và tư cách nhà văn thế giới. Cái phổ quát của văn chương nhiều khi xuất hiện chính ở nơi cái riêng được đẩy đến tận cùng, với toàn bộ lịch sử, ngôn ngữ và kinh nghiệm không thể thay thế của nó.
Văn học thế giới không có một cánh cửa duy nhất. Và những nền văn học từng đứng xa các trung tâm cũng không nhất thiết phải học cách giống trung tâm để được bước vào. Ở những tác phẩm đạt tới tầm vóc lớn, nhà văn không chỉ mang thế giới riêng của mình đến với độc giả ở những nền văn hóa khác mà còn làm thay đổi chính cách người ta quan niệm về văn chương thế giới.
Tham khảo:
Bakhtin, Mikhail. The Dialogic Imagination. Four Essays. University of Texas Press, 1981.
Casanova, Pascale. The World Republic of Letters. Harvard University Press, 2004.
Damrosch, David. What Is World Literature?. Princeton University Press, 2003.
Deleuze, Gilles và Félix Guattari. Kafka. Toward a Minor Literature. University of Minnesota Press, 1986.
Moretti, Franco. “Conjectures on World Literature”. New Left Review, số 1, 2000.
Nguyễn Khắc Ngân Vi. “Một ngôn ngữ nhỏ có thể chứa một thế giới lớn đến đâu? – Biểu đạt văn học dưới góc nhìn APEC”. Văn Việt, 5 tháng 9, 2026.