Đất nước tràng hạt (kỳ 4)

Trường ca du ký

Đỗ Quyên

Chương 5

 Hình đất nước như trái tim Nam tiến

 

 

Hình đất nước như trái tim ta đó!

Hình đất nước như trái tim Nam tiến[1]!

 

Trái tim Việt Nam bao nhiêu tượng hình

Đất nước có bấy nhiêu cách xuống phương Nam

 

Người Việt

Nam tiến

bằng tim.

 

5.1

Sông Hồng & Hà Nội

 

Tràng hạt Việt Nam trên cổ vòng

Hình đất nước như trái tim Nam tiến

 

Trên cổ vòng tràng hạt Việt Nam

Hình Chữ S như trái tim chảy xuống[2]

 

*

 

Vào đất Việt thiên địa sơn thủy hóa sông Hồng

ai con dân chẳng mang trong mình những ngụm nước sông màu máu                           bóng mây cao giữa dòng cũng dáng hình ngựa chiến                                                    khi sông đẩy những bàn chân tiến                                                                                cả lưu vực Hồng Hà sáp nhập[3] Cửu Long Giang                                                     sóng gió sông nước vọng theo                                                                                          bỗng hiện lên chiếc nôi bào thai mẹ Âu Cơ trăm trứng[4]

*

ta ra đi từ châu thổ Sông Hồng

châu thổ Sông Hồng hoàn mỹ hình tam giác nở nang căng phồng đỏ rực

châu thổ Sông Hồng tượng hình nghĩa lý phồn sinh

miền lúa nước huy hoàng

miền trâu nước hùng vĩ

miền chim nước sặc sỡ

miền nhân nước phì nhiêu

miền thủy sinh phi thường

miền lưỡng cư mộng mị

nơi vị thần tình yêu ngự trị

ngôi đền yêu bất tử miên man nhiệt đới miên man gió mùa

thiên đường của những con giống

thiên đường của những hạt giống

thiên đường của Lạc Long Quân và Âu Cơ của Sơn Tinh và Mị Nương của Tiên Dung và Chử Đồng Tử của Khâu Đà La và Man Nương của Triệu Đà và Trình Thị của Mị Châu và Trọng Thủy

thiên đường của ông và bà của cha và mẹ của ta và nàng[5]

 

*

Hình đất nước như trái tim tụ xuống                                                                                                                                  Thủ đô

Hình Chữ S ôm ta như trong cái bình                                                                           một tiếng hoài hương vang vang cả lòng cả đáy                                                           ta yêu Hà Nội như Việt Nam tụ lại[6]                                                                               ta yêu Việt Nam như ta yêu mẹ cha mình[7]                                                                        mẹ cha thuận-thành trong sông[8]                                                                                  bọc giữ ta đầu đời hơi thở                                                                                       cho đến buổi ta di dời hương ly

Không quá xuất sắc                                                                                                     nhưng chường ca gia ta cũng chẳng ngại hồi hương Hà Nội[9]                                        trẻ không được sống mãi với thủ đô[10] thì phen này già sống lại với thủ đô chơi                    cuộc đại di dân[11] non một phần ba triệu nhân                                                                 từ chốn chôn nhau cuống rốn ta nhà thương Đồn Thủy[12]                                             tà tà có lẽ sẽ kéo về tới tận                                                                                               Văn Miếu – Giảng Võ nơi tim óc ta đắm đuối                                                                 nửa cuối của nửa đầu đời                                                                                              ừ nhỉ đời đã trôi

*

Hình đất nước như trái tim rớt xuống

mặt bàn nhậu

tràn thơ

bốn thi sĩ trường ca thứ dữ

(ba phê bình gia thứ thiệt cài răng lược xen kẽ)

phố thị chiều xuân nhà hàng vách tựa gò Đống Đa muốn đổ

Hà Nội ơi thương một lần thêm

 

Kìa bạn ta

giữa những cơn sóng ung thư ác tính di căn nhận chìm

sang sảng giọng

ngậm ngùi lời

đau đáu chữ

“Trường ca Ung thư”[13]

chàng xả cả trăm hàng

(mớ bia cốc lạc rang nồi lẩu nhậu

tự nhìn nhau thao láo một góc bàn)

 

Này

“Vỡ tung ra dưới mũi dao sinh thiết

cùng đoàn quân ung bướu sắp trọc đầu

 

Nữa

“Phải hoá trị rồi tưng bừng xạ trị

không riêng mình ta chấp nhận khổ đau”!

 

Hình đất nước như trái tim khuỵu xuống…

 

“Dải đất buồn đau khổ rất phì nhiêu

xin đừng hỏi vì sao ta phải sống

sống làm người vượt qua bao tuyệt vọng

cho đến ngày ung nhọt vỡ tung ra”!

 

Trường ca Ung thư

Không ung thư trường ca!

 

Hình đất nước như trái tim quặn xuống…

 

“Xin đừng hát những lời vui vẻ quá

xung quanh ta dịch bệnh với đói nghèo

bão nối bão cứ thay nhau vùi dập

dải đất buồn kiếp sống quá gieo neo”![14]

 

Trường ca Ung thư

không ung thư trường ca

 

Trường ca K[15]

(không là Bệnh viện K Hà Nội[16])

Trường ca K

(không là Bệnh viện K thủ đô)

 

*

Những người thơ dưới chân đê

nâng chữ hàng ngàn năm châu thổ[17]

 

Sông Hồng chọn ai là nhà thơ xứ sở

trong các nhà thơ của châu thổ sông Hồng

Sông Hồng trao ai sứ mệnh

độc quyền phát ngôn xứ sở Phồn Sinh[18]?

 

5.2

Điện Biên Phủ              

 

Tràng hạt Việt Nam trên cổ vòng

Hình đất nước như trái tim Nam tiến

 

Trên cổ vòng tràng hạt Việt Nam

Hình Chữ S như trái tim cắm xuống

Điện Biên[19]!

 

*

… Biết rồi thích lắm nói mãi

có chết thêm thằng Tây nào đâu nhể

nói mãi về Điện Biên Phủ đê…

 

… Mùa xuân Điện Biên nổi lên giữa trời cao đất sâu với sắc trắng tinh khôi hoa ban

bung ra rộ tháng Ba 21-26 độ C

trong nắng hoa mở nhất loạt

khắp núi rừng bản làng phố phường

suốt dọc các cung đường hướng trung tâm Điện Biên Phủ rồi tới các xã huyện xa xăm

những cánh hoa trắng pha tím hồng tạo bức tranh xuân vùng cực Tây Tổ quốc

lưng chừng đèo các bản làng thoáng ẩn màn sương

dãy núi trùng điệp nối tiếp nhau tận chân trời mắt trần đâu thấu

bức tranh thiên nhiên hùng tráng nên sử nên thơ

thưởng ngoạn ngập mắt đầy tim

du khách trốn đô thị bon chen

xả stress vô thường

tìm bạn tình đời dốc cuối

 

… Kìa hoa ban tràn trắng nở Pha Đin

đấy một của tứ đại đỉnh đèo Việt Nam hiểm trở

oách hơn nữa

chứng tích lịch sử

vang vọng theo Điện Biên Phủ hoàn cầu

 

Pha Đin tiếng Thái ai ơi

Đin là đất Pha là trời đấy nha

ấy nơi trời đất giao hòa

cao 1.650m dài 32km tới một lần để cả đời thất kinh

 

như từng đợt sóng bủa lên trời

hùng vĩ Pha Đin gì sánh được

lắc đầu tài xế sẫm mồ hôi

bên dốc chon von ngàn thước vực[20]

 

mấy năm trường uýnh Pháp tóe máu

đèo Pha Đin huyết mạch lưu thông

lương thực súng đạn chuyển sang

Điện Biên Phủ ổn từ đầu đến đuôi

 

ức quá không quân Pháp dội bom tung tóe

đá đèo nguyên sơ chảo lửa sôi

mặc bầm mày nhé ê Tây viễn chinh lê dương đã đui lại ngố

chúng tao bám đường ngày đêm

mạch máu giao thông không đứt đoạn nửa ngày

(là chém gió thế thôi chứ cả ngày cũng tout va biên[21])

8 ngàn thanh niên xung phong dân công hỏa tuyến

bảo bọc con đường đèo lịch sử cheo leo

quyết tử cho Tổ quốc (chúng tao) quyết sinh” ê Tây ngố Tây đui

 

Chuyện lãng mạn hi hi tất nhiên có chứ

trăng lên theo ngực sơn nữ

đỉnh Pha Đin

gió luồn theo lọn tóc ai

mắt chiều lả lướt men say[22]

khăn piêu buông mảnh trăng treo nắng cài[23]

không sự sinh thì có mà tim hóa đá

 

hoa ban Điện Biên theo truyền thuyết nàng Ban

sự tích ban trắng kể

có người con gái Thái đẹp tuyệt và thủy chung

(cặp tính từ này hơi hiếm đấy dưng mà xứ Điện Biên từng có)

qua nhiều trắc trở tình duyên

kết cuộc nàng hóa thành cây ban kỳ lạ

sắc hoa trắng bong mà hương thơm ngát tỏa

núi nhấp nhô thành cao một trường tình

hỡi hoa ngập trắng cánh rừng

nhớ rằng tình đẹp là tình gian truân…

 

Trở lại điểm son mùa ban này

lễ hội Hoa Ban 2026 từ ngày

6 tháng Ba đến 12 cũng tháng Ba luôn thể

tại thành phố Điện Biên Phủ (tất nhiên rồi)

này là check-in hoa ban xòe che di tích Tượng đài kéo pháo

này là Hội thi xe đạp thồ lịch sử

trường ca gia ta (thực ra cũng đang đói lúc đó)

ghi danh gia nhập không gian ẩm thực khung cảnh Bếp Hoàng Cầm[24]

triết gia nọ từng phán tình yêu đến từ dạ dày thật chuẩn

chuyện phiếm du xuân xào xào nấu nấu thời chiến tái hiện trong hòa bình

khiến mình dính quyện nên đôi[25]

 

một hoàng hôn đợi hai môi

một bình minh đón hai đời biệt ly

một đêm bếp núc ly kỳ

nghe trong thớ củi mộng gì đi hoang[26]

 

Tùy thời tùy tiết

đêm Điện Biên tháng Ba 14 độ C mát dịu quá mát dịu không chịu nổi[27]

tiếc

gì thì gì nó cứ xìu xìu ển ển biết nàm thao

chính xác tuổi mụ xưa nay hiếm cộng ba

anh già gân còn dư xí quách[28]

(hơn đứt cậu ấm Đờ Cát[29] sinh thời

những 20 xuân chẵn)

tiếc thì tiếc

chàng cũng chẳng đã đừng

thượng cờ trắng

trên nàng hạ thể[30]

một khi cán cờ là cây bút

trường ca du ký diễm tình                          

 

Ôi giá được thầy bầm cho sinh ra thời đó

và Phật tổ ban duyên binh đao làm cận vệ Trung đoàn trưởng Hoàng Cầm

chàng sẽ mách thủ trưởng hỏi ngài bại tướng nhà nòi quý tộc thực dân

“Nếu người làm ra cánh sắt

biết nơi nó sẽ rơi

liệu còn muốn đánh bóng

giấc mơ kim loại?”[31]

 

… Tràng hạt Việt Nam trên cổ vòng

Hình đất nước như trái tim chốt xuống

Điện Biên!

 

5.3     

 Vân Đồn – Chùa Phổ Minh – Nha Trang

 

… Hình đất nước như trái tim hôn xuống

đã xuống rồi

chiều nay

 

Kìa

từng cành cây

trăm tay

mỗi lá mầm

trăm mắt

em đỏ em cười sau kính mát

 

– Ứ

của em là tháp Phổ Minh[32]

 

– Chùa Tháp ừ thì

anh cứ quen tên

xứ Chàm thi hữu rủ thăm

(vẫn chưa thể tới

bởi chưa rành gọi Chăm hay Chàm[33] thỏa ý bạn hiền

mà nhớ lời bà xưa lại thuận miệng kêu Chiêm)

 

Thôi bỏ qua đi cưng

cho anh xin

cái chuyện thạch nhọn thạch kim[34] làm ướt cửa khẩu ái tình

 

Chiều nay

chiều nay áo dài gấm đỏ em đỡ cả trái tim Tổ quốc

 

thì anh lại ra xa

hành trình sắp trước

lần lần tiếp từng nốt bước

niệm châu[35]

thì anh vẫn còn ngoái lại

(bằng tâm không bằng đầu)

tại bởi nơi em

bàn tay

làn da

ánh mắt

lọn tóc

một thân thể đỏ

 

không còn khuôn màu nào khác dù cực tiểu

kể cả sắc mặt trời vàng tranh Van Gogh cuối đời

mà mắt môi anh từng được hứa (thôi chả nói nữa hi hi)

em

ta lại vào xá lỗi Phật đi

 

A Di Đà Phật Nam Mô nhé

hai mình tham ái chậm dịu nhẹ

lùi dần xa hang động lục trần

sắc và thanh và xúc hương vị pháp[36]

 

… Bớ thiện nam tín nữ ơiiiiiiii

ra ngồi đống cửa Chùa Bà Đanh[37] đang vắng như chùa Bà Đanh đi nàoooo…

 

chúng mình ngồi đống cửa chùa

tiểu nâng tay lẫy sư nhìn lặng thinh

cái hôn đẫm ướt nhân sinh

mái cong ngói đọng nghìn nghìn máu tươi

chúng mình gọi Phật tổ ơi

ba pho Tam thế nghe rồi cũng im

thế rồi có một đôi chim

chuyền ngang chuyền dọc rung rinh cửa chùa…[38]

 

xin em tràng hạt lối này

một tay nước mắt một tay tim sầu

xin em đôi búp tay thiền
một bên
tuệ dắt một bên tâm dìu[39]

… Hình Chữ S như trái tim thắt xuống

Em áo gấm dài mãi đỏ

tới chừng máu Nguyên Mông

xanh thẳm các cửa bến dòng sông

Bạch Đằng

Cà Lồ

Chương Dương

Hàm Tử

 

Hào khí Đông A[40] ngời mãi tỏa

Hình Chữ S toàn vẹn Nam phương

tháp nguyên vị bảo tồn thiên kỷ

dáng Việt nữ áo dài gấm đỏ

 

… Hình đất nước như trái tim trải xuống

một ngày mai

 

Chúng mình hai

tuổi trời còn tươi

còn yêu còn đương

xuân còn ngỏ

 

tuổi đạo

thoáng nữa thôi

lại xin Thầy vấn Phật

kiếp này kiếp tiếp

khắc tu khắc ngộ

 

tuổi con mẹ con cha

tuổi con nước con nhà

 

sức mẹ cha có độ

vận quốc gia gặp thời

 

– Yah[41] quyết định vậy đi em thích thế

– Hai chúng ta một Gia Cát Lượng[42]

cưng biết mà

 

Nào nào

mình lẹ tay chân

 

Này báo hiếu song thân

mỗi hơi thở khéo mỗi tiểu sự lành

mỗi phút giây một hiển dương bé ngộ

 

Này từ Ải Bắc Quan đến Mũi Cà Mau

khắc đi khắc tới

từng năm tháng từng ngày giờ

hóng đợi

 

Chúng mình lớn quá rồi

     tính tẩu so dây bao nhiêu cho vừa vặn[43]

mỗi cửa biển to rộng

chúng mình vô hạn định…

 

Thiên Nga bãi hòn

Vân Đồn[44]

Hình Chữ S chậm dần đều cát rải

trên thân thể vẹn nguyên

mỗi địa danh da mịn đậm mầm

em múa

em lướt

hướng Bắc phương trực chỉ[45]

búp tay trỏ trời búp tay chống đất

từng cơn sóng váy hồng tung

châu thân

như áo bào xưa Phó đô tướng bán than

bày binh hải chiến…

 

Nha Trang xuân thì

hoa nở mắt

biển muôn trùng ngát

bãi Hòn Chồng Hòn Tằm[46] tay phải

em với cao xanh tay trái chạm sóng dào

và mặt trời

lặn đều hai đỉnh ngực

tháng Ba

đọng hai núm xuân hồi…

… Em ngắm hoài chi đó hỡi em

đá trơ như đá tháng năm ròng

đêm ngày mắt đá trông Đảo mất[47]

non nước đầy vơi có cũng không[48]

 

… Cửa biển nào trường ca gia ta cũng vẫn

ngồi ngắm

Việt nữ nhân Hình Chữ S cong mình

và lần từng hạt vi mô

từng hạt vĩ mô

cho em và anh trọn kiếp

hành hương Tổ quốc

 

Rồi hai đứa hôn nhau

hai người đồng đạo

hai kẻ con dân

đồng tình thương núi Việt sông Nam

thèm được là hòn đá nhỏ

dưới chân đất nước động lay[49]

 

cùng bên nhau đi

cho đến hôm nay

ta đón nhau về

  xuân cũng đến theo chân[50]

 

… Hình Chữ S như trái tim thẳng xuống

mãi

ngày mai…

 

5.4 

Hoàng Sa & Trường Sa 

 

Tràng hạt Việt Nam trên cổ vòng

Hình đất nước như trái tim Nam tiến

 

Trên cổ vòng tràng hạt Việt Nam

Hình Chữ S như trái tim rỏ xuống

… Hoàng Sa… Trường Sa…[51]

*

Đã bao đời núi với bể kề đôi

ôi Biển Đông

          giọt nước mắt của muôn ngàn thế hệ

nóng hổi như vừa lăn xuống

theo những tảng đá cụt đầu của Trường Sơn uy nghiêm[52]

 

… Giọt Trường Sa khóc đòi giọt Hoàng Sa

giọt Hoàng Sa khóc gọi cả Việt Nam…

 

*

Biển Đông có một tẹo

mà bao người tranh giành

có kẻ ra xí được

đôi giọt nước long lanh

kẻ khác đà bắt chước

ẵm đậm lô khí dầu

thẻ xanh biển sâu cấp

hộ chiếu trời cao cầu

Biển Đông

      bỗng điên![53]

 

*

Cha Nam Mẹ Việt trăm con

đẻ đau trai gái trấn miền trùng dương

Hoàng Sa chị lớn thân thương

long đong phận mới dạt phương quê người

Trường Sa em lớn vững rồi

 

“Chị lo bảo trọng giữ mình

giang san Việt đại gia đình vẫn luôn

ngóng ngày đón chị Hai về lại

Tổ quốc Hình Chữ S vẹn nguyên

em ổn cố sau Gạc Ma[54] đẫm máu

biết mình đau mà phục chiến lâu dài

có vế đối lính đặc công vừa viết

đọc chị nghe cho bớt nỗi sầu ai

Đặc công trấn hải sơn hà định

Trường Sa thủ quốc xã tắc an[55]

 

*

Nếu Tổ quốc một ngày không tiếng sóng[56]

cả dải đất liền và biển

thành người khổng lồ

kêu khát Hoàng Sa – Trường Sa

suốt ngày đêm[57]

 

Tràng hạt Việt Nam trên cổ vòng

Hình Chữ S như trái tim đọng xuống

… Trường Sa… Hoàng Sa…

 

5.5

Miền Trung  

 

Tràng hạt Việt Nam trên cổ vòng

Hình đất nước như trái tim Nam tiến

 

Trên cổ vòng tràng hạt Việt Nam

Hình Chữ S như trái tim trườn xuống

khúc miền Trung

 

Ôi miền Trung

một miền Trung dài hẹp

một miền Trung đất thiếu trời thừa

đất gan gà in dấu

      tình thương[58]

 

Đi dọc miền Trung

mô Phật ạ
mới thấy dải đất này không thể nào hẹp hơn được nữa

lạy Chúa tôi
tưởng có thể một tay vục vào biển cả

amen Thánh Allah
bàn tay kia vươn
qua dãy Trường Sơn[59] chạm trời

 

Tràng hạt Việt Nam trên cổ vòng
bên này đường số Một
đấy cát trắng miên man
(càng đi càng hoà mình vào cát
cái màu trắng cứ hừng lên nhức mắt
nghèo đất mà giàu cát quá chừng)

 

Trên cổ vòng tràng hạt Việt Nam
bên kia đường số Một
đó cánh đồng
lúa liu xiu vàng lụi
đất mặn đất chua đất cằn đất cỗi

Tràng hạt Việt Nam trên cổ vòng

nắng lửa luồn quanh thân mình ràn rạt
hầm hập gió tây
dải đất hẹp nhường này
nắng gió xối vào
rát lắm mạ ơi

Trên cổ vòng tràng hạt Việt Nam
đau thắt miền Trung ruột
Tổ quốc
da thịt nơi nào cũng có mảnh bom găm
đất càng chật bom càng dày nhung nhúc

 

Lạy Chúa tôi

Mô Phật

amen Thánh Allah

đất nghèo khó cho nên giàu ý nghĩa


Hình Chữ S như trái tim quặn xuống

ruột miền Trung…[60]

  

5.5.1   

Huế

 

… Tràng hạt Việt Nam trên cổ vòng

Hình đất nước như trái tim Nam tiến

 

Trên cổ vòng tràng hạt Việt Nam

Hình Chữ S như trái tim đằm xuống

Huế dạ thưa…

 

… Đây là lần thứ tư

ta

rằng thì mà là[61] trường ca gia (hạng ba

cũng rứa với chường ca gia

nếu chấm theo bảng điểm toàn cầu

và kiểu gì cũng ẵm hạng nhì từ quốc gia qua khu vực

dẫu xứ Ca Nà Điên Bắc Mẽo ngụ cư

hay cõi Đông Nam Á Đông Lào[62] quê mạ

chắc như đinh đóng cột với địa chỉ bàn thi Đông Lào vì Đại hội đồng giám khảo Tiểu bộ môn Chường ca Hậu hiện đại khóa này rặt là VIPs bọn ta toa moa[63] từ thuở xứ mình phủ sóng khoảng trời trường ca cổ điển anh hùng ca sử thi truyền thống tự sự hiện thực cách mạng hiện đại lãng mạn à chú ý “mạn không g” như quý văn thi hữu miền trong thường nhắc)

 

Thì vưỡn đang tám về vụ lần thứ tư

trường ca gia hạng hai hay hạng ba là ta

(chường ca gia cũng thế cùng một ta cả)

lỗi hẹn về thăm Huế[64]

 

Lỗi hẹn về thăm Huế

dạ thưa không cái lỗi hẹn nào lơ tơ mơ nên thơ hơn thế

 

đã lần lỡ với Huế mộng mơ

ta ôm ấp một tình xa dịu ngọt

vẻ đẹp Huế chẳng nơi nào có được

nét dịu dàng pha lẫn trầm tư

thơ xa từ những bản trường ca[65]

 

Lần này ta lỗi mọi đàng

tay lần chuỗi hạt đạo tràng lạc chân

 

ba bận trước công bằng mà nói

(mạn phép mà chia sẻ thực nha)

lỗi là tự Huế tam đàng

hổng vô đàng nọ cũng quàng đàng kia

dòng Hương cao dâng đục vàng ngầu đỏ

đỉnh Ngự chìm buồn u dữ hoang vu

biết rồi tội nghiệp lắm ru

dạ thưa xứ Huế bây chừ dạ thưa

 

mô tê răng rứa nghèo mãi theo[66]        

mần ri mần tê cũng đèo heo

bão giông lụt lội quẹo vòng eo[67]

 

Chưa tới Huế chừ như ở Huế

bởi có người tại Huế mình ên

sông Hương núi Ngự mần thinh

ý chừng giận lẫy sẩy tình[68] đâu ta

cảm ơn giường một trắng ga

choàng thân êm ấm la đà sương sông

cảm ơn nguyên cả tư phòng

chở che ai bóng bình phong Ngự Bình

Dziệt kiều Hà Lội[69] phân thân

chưa quen o Huế buồn chân không đàng[70]

 

Bờ ven Bến Me

Đại Nội

rặng cây cổ nào sót lại

ai ca đường lá me bay

chúm hôn đầu ngây ngây

đêm xuân mới giờ này

o nhỏ nào còn ngóng đợi

Nhà thờ Phủ Cam[71] tan cuộc

nữ nam về nơi thầm ước

Chúa một mình rũ trái tim khô

ai ơi Mẹ Maria chỉ bảo đàng lành

trinh nữ giữ nơi vồng ngực

lánh thắp sáng khuya tàn

cho đời không lụi

và ta cầu cho

mỗi góc phố đường Đập Đá[72]

trưa chúa nhật một bé nhí cầm hoa

mọi nóc quê Vỹ Dạ

khói lam chiều được cuộn

                     

Ôi Huế của ta Huế từ xa

thơ vào sẽ nối lại thơ ra

như thi nhân theo về thi quán

Huế lại gần ta[73] giữa nước nhà…

 

… Hình đất nước như trái tim cấy xuống

Huế dạ thưa…

 

5.5.2

Đà Nẵng 

                                                                                      

Tràng hạt Việt Nam trên cổ vòng

Hình đất nước như trái tim Nam tiến

 

Trên cổ vòng tràng hạt Việt Nam

Hình Chữ S như trái tim neo xuống

Đà Nẵng

 

*

 

Hình đất nước như trái tim bay xuống

Đèo Hải Vân[74]

 

Ðồi liễu ngàn mai cảnh hùng quan

chia hai Trung bộ một con đèo

lá dòm mặt nước cây mong lội

biển bọc chân non sóng muốn trèo

mặt đất day ngang đường khuất khúc

sườn non dựng ngược đá cheo leo

vén mây muốn bước lên trên tót

đoái lại vầng trăng lẽo đẽo theo[75]

 

Hình Chữ S như trái tim căng xuống

Hải Vân Quan!

 

*

 

Đến Hội An không hôn

nhớ thơ răn của Chế

thủy triều tình hoài hương

đẩy hồn vương bốn bể

 

không cần viếng thi nhơn

đòi thơ hôn hồi cố

chỉ cần nhìn nhau khóc

một giây góc cao lầu[76]

 

*

 

Hơn nhiều lần một lời xin lỗi

chường ca gia ta quá giang quá vội

thành phố đáng sống

đáng thở đáng niệm châu[77]

ô kê biết rồi nói mãi xứ này còn sở hữu

linh trưởng cụ thể là voọc vá chân nâu quý hiếm vô ngần[78]

mà chẳng thể đến ngó nghiêng chiêm ngưỡng được em voọc nào sất

còn mải tìm thăm tiên chỉ làng văn tíu ta tíu tít hỏi lòng vòng bất thành lại ham tắm biển lẹ vài con sóng vờn để còn leo chóp núi chiêm bái chùa[79] vái tượng đỉnh của top nước Nam cái vèo rồi bám ngay xe ôm vọt phát tới Vọng Hải Đài[80] kịp tối về quán lẩu cá ven biển nhậu theo kiểu nhà hàng tự phục vụ

cứ thế

cứ thế đến Đà Nẵng mà gi gỉ gì gi cái gì cũng muốn thì chẳng được cái gì như muốn

thây kệ

họ Trịnh chịu trách nhiệm

 

*

Đà Nẵng

Hình đất nước như trái tim tỏa xuống…

 

5.5.3  

 Tây Nguyên 

                     

… Ải Bắc Quan vầng trán trời Nam

Hà Nội thủ đô trái tim Tổ quốc

Huế cố đô rốn ruột quê hương

Đà Nẵng cửa mình đất nước[81]

Tây Nguyên tấm lưng trụ cột nước nhà[82]

Cà Mau địa đầu Nam giang san Việt

 

Đấy

Một Việt Nam quốc gia lục địa linh[83]

 

Tràng hạt Việt Nam trên cổ vòng

Hình đất nước như trái tim Nam tiến

 

Trên cổ vòng tràng hạt Việt Nam

Hình Chữ S như trái tim trườn xuống

Tây Nguyên

 

*

 

Lời chém gió vọng vang

“Ai chiếm Tây Nguyên sẽ làm chủ ba nước Đông Dương”

phát từ cánh nhà binh Pháp

có nhẽ bởi khẩu tướng De Lattre de Tassigny nhỉ

 

chứ không a

để Mị nói cho mà nghe[84]

từ thời chiến tranh 1945-1954 cơ

cả Pháp lẫn Việt Minh đều coi Tây Nguyên

khi thì là nóc nhà Đông Dương

lúc lại là cái chìa khóa của nhà Đông Dương

 

minh chứng oách nhất cho lời tướng de Tassigny

sau ngót ba thập niên

ấy là khi

tướng Giáp[85] tái khẳng quyết

theo cung cách sắc như dao cau

nhấn cực mạnh tầm vóc khủng long

nhiều phần bất khả tư nghì[86]

của Tây Nguyên kỳ bí

với cú tổng knockout[87] Xuân 1975

 

đấy là

vị thế địa-chính trị quân sự độc tôn kiểu ngã ba biên giới

chứ không à

để Mị nói cho mà nghe nữa

Tây Nguyên sát nách ngay và luôn Nam Lào và

kề sườn Đông Bắc Campuchia luôn và ngay

(cái í lũ trò trung học dốt nhất cũng rành)

chửa hết

lại còn lợi thế trên cao vút (tầm thạc sĩ địa-chính trị)

địa hình cao nguyên hiểm trở dễ dàng trong 3 nốt nhạc kiểm soát suốt

vùng duyên hải miền Trung và tít xuống tận Nam Bộ

vỡn chửa hết đâu nghe trích luận văn tiến sĩ quân sự này

ấy là phân vùng chiến lược làm chủ Tây Nguyên

nhanh gọn trong 4 nốt nhạc chia cắt các tuyến phòng thủ của đối phương ra

như thái thịt luộc chín

 

Tức là

đánh giá chuẩn không thể chỉnh vị trí tử huyệt[88] sinh đạo

anh Ba[89] cầm tay Bộ chính trị cùng dõi chân anh Văn/tướng Giáp với Quân ủy Trung ương và Tổng hành dinh chỉ hướng các tướng chiến trường quyền gần như tướng quân tại ngoại Hoàng Minh Thảo & Đặng Vũ Hiệp & vân vân

mở Chiến dịch Tây Nguyên mật danh “Chiến dịch 275”

cuối cùng nhất trí cao tột độ chọn

Tây Nguyên làm hướng tung đòn điểm huyệt đối phương

tiến công chiến lược khai hỏa Chiến dịch Xuân 1975

và trận chiến bi tráng

tại Buôn Mê Thuột tử huyệt của tử huyệt

chuyển đổi toàn thể cục diện chiến tranh

đẩy tướng Thiệu (hai tay cầm đũa chỉ huy từ A đến Z) cùng Hội đồng Tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa chỉ đạo các tướng lâm (nguy) trận Phạm Văn Phú & Trần Văn Cẩm & vân vân

trong mật danh “Kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt 1975”[90]

vào thế sạt lở núi tuyết phản ứng dây chuyền

đâm cái rầm vào cột mốc lịch sử Tháng Tư Ngày Ba mươi

cả Chúa lẫn Phật bất ngờ

“mau lẹ quá mau lẹ không chịu nổi!”[91]

hai Ngài phán đồng thời

Hình đất nước như trái tim thốc xuống

Tây Nguyên[92]

 

Túm (gấu quần chị Út Tịch) lại[93]

cờ đỏ mở trận Ban Mê

Thuột[94] ngay một phát ào về Khu Năm[95]

rút quân Quốc lộ 7[96] kinh

hoàng cờ vàng mất trọn toàn miền Nam

sơn hà nhất thống 75

 

*

 

Thi sĩ hành hương Ban Mê

Thuột một cái đã rồi về với thơ

chường ca nên khá lơ mơ

Ban Mê Thuột ấy bây giờ là đây

 

hương hành tiếp xứ Plei

ku không dài lắm về ngay với trường[97]

ca chường cốc dẫu lòng vòng

Pleiku cũng vào trong thơ rồi

 

nay biết rong chơi miền tử địa

làm người duyên phước hướng Chân Như[98]

 

5.6

 Sài Gòn

  

Tràng hạt Việt Nam trên cổ vòng

Hình đất nước như trái tim Nam tiến

 

Trên cổ vòng tràng hạt Việt Nam

Hình Chữ S như trái tim lao xuống

Hòn ngọc Sài Gòn…

 

*

 

… Ải Bắc Quan vầng trán trời Nam

Hà Nội thủ đô trái tim Tổ quốc

Huế cố đô rốn ruột quê hương

Đà Nẵng cửa mình đất nước

Tây Nguyên tấm lưng trụ cột nước nhà

Sài Gòn đầu gối động chuyển sơn hà

Cà Mau địa đầu Nam giang san Việt

 

Đấy

Một Việt Nam quốc gia thất địa linh[99]

 

*

 

Văn chương thi phú dày dày

mần răng thấu nổi đổi thay Sài Gòn

tiếng Việt lắt léo dzòng dzòng

hổng sao kêu hết Sài Gòn bao tên[100]

 

Chân Lạp[101] xa vọng tiếng thuở nay

gió mây xưa vẫn hội nơi nầy

lối sông đường nước thành kim ngọc

bể Đông dầu khí kế liền tay[102]

tượng cổ đông cung đồng đúc biến[103]

mộ thiêng đại tướng đá ghi đây[104]

thăm rồi viếng nữa còn thăm lại

tức cảnh tâm xao bước vắn dài[105]  

 

*

Tràng hạt Việt Nam trên cổ vòng

Hình đất nước như trái tim Nam tiến

 

Trên cổ vòng tràng hạt Việt Nam

Hình Chữ S như trái tim vuốt xuống

Sài Gòn

 

… Tôi 1995 kinh hãi trước Sài Gòn 1952 thuở ấy      

vừa mênh mông thơ mộng lại

   tưng bừng

Sài Gòn ấy khác Sài Gòn nay nhiều lắm

cây cối nhiều đường sạch sẽ vô song

xe cộ ít hơn ngày nay lắm lắm

(nhưng với kẻ vừa mới đến tôi

         vậy quá nhiều rồi

 

và quả thật kẻ nhìn như say đắm cũng là tôi

bất cứ nơi nào người bạn dẫn đi

tôi thầm nghĩ so với Sài Gòn thế này thì

Huế Đà Nẵng Hội An còn

        nhỏ quá

 

người bạn giới thiệu tôi với một trường tư thục

ôi

   được dạy Việt Văn cho một lớp nữ sinh

ôi

    vừa bước vào học trò đứng cả dậy

tôi vội chào và xin phép với các em

(nay chẳng nhớ rõ mình xin phép cái gì)

 

a tôi nói thế này có lẽ

các em tha thứ nhé

tôi vào Nam đây lần thứ nhất

e rằng tôi phát âm theo giọng nói ngoài Trung

các em nghe không rõ

nhưng từ từ rồi các em sẽ chỉ dẫn cho tôi cách phát âm hào hiệp ở trong này

 

ôi

   bỗng tôi nghe cả lớp nữ sinh cười rồ

và đồng thanh ríu rít xanh non

Thầy nói chúng em nghe rất rõ và cảm thấy rất vui tai

các em nói thật hả

dạ thật trăm phần trăm đó ạ

rồi cả lớp chim non lại rũ rượi cười thêm lần nữa

tôi nói tiếp

thế là tốt tôi yên tâm những lời ấy của các em thôi bây giờ chúng ta khởi sự

khởi sự cái gì Thầy

khởi sự chép bài hôm nay ngày tựu trường các em hãy mở quyển tập ra tôi đọc bài

các em viết chính tả có giỏi không

 

Tựu Trường

thơ Huy Cận

 

… Giờ náo nức của một thời trẻ dại                                                                              hỡi ngói nâu hỡi tường trắng cửa gương                                                                       hỡi các em mười lăm tuổi vào trường                                                                            rương nhỏ nhỏ với linh hồn bằng ngọc[106]

rồi bất thình lình cuối năm học tôi vào lớp bỗng dưng tôi giật mình kinh ngạc các em mau lớn quá chừng phần đông cao hơn tôi một nửa cái đầu tôi bật cười đọc thơ Tế Hanh sửa đi đôi chút cho thích hợp

 

… em trông đám dâu

cao hơn đám lúa

như em cao hơn

thầy nửa cái đầu…

 

lại một phen cười ầm lớp xanh non

 

toàn thể Sài Gòn cả Nam Bộ đối với tôi là như thế suốt hơn 40 năm nay tất cả chỉ thân mật vui chơi niềm nở

sau này tôi trải qua trận điên kinh khủng khởi từ đâu khoảng 1965-1970 gì đó

kéo dài tới tận bây giờ còn điên

mà điên nhẹ làm thơ được tuy không thơ mộng bằng nhưng có cái gì như là

thơ của một kẻ lão thành duyệt lịch giang hồ ở nhiều mặt thể chất tinh thần

 

thuở 1963-1965 hình như tôi viết nhiều thơ nhiều sách văn xuôi giảng văn tư tưởng

viết đủ loại tùm lum in chưa được 1/10 thì

những bản thảo

    nhất là bản thơ tiêu tùng tất cả

bởi trận hỏa hoạn oái ăm

tôi khởi sự lang thang bụi đời từ đó

 

và kỳ diệu thay cũng từ đó

càng cảm nhận được rõ ràng hơn về cái tình lạ lùng mà

người Sài Gòn người Nam Bộ đã

dành sẵn từ trước cho tôi…

 

(Bùi Giáng thủ bút 1995[107])

 

… Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi

đi lên đi xuống đã đời du côn[108]

 

rong chơi Chợ Lớn Sài Gòn

đi lên đi xuống du côn đã đời

 

Sài Gòn Chợ Lớn di dân…

 

*

Tràng hạt Việt Nam trên cổ vòng

Hình đất nước như trái tim Nam tiến

 

Trên cổ vòng tràng hạt Việt Nam

Hình Chữ S hai nửa trái tim dâng lên chìm xuống

Sài Gòn

 

Ba mươi tháng Tư 1975 Ngày Việt Nam thống nhất[109]

 

*

Liều thân anh bám be tàu
tưởng là thân đã chìm sâu nghìn trùng
tái hồi Hòn Ngọc Viễn Đông
nỗi buồn chồng chất chất chồng cố hương

mai anh từ giã lên đường
mang theo cục đất sau trường Văn Khoa[110]

 

*

Em,

“Có một nơi trên trái đất ở đó người ta không chết

họ chỉ biến mất”[111]

Thuyền đã nói như thế…

 

nhớ câu này mà anh xem Quán Kỳ Nam[112] thêm lần nữa

(trong khi em vô tìm hiểu kiến trúc Nhà thờ Tân Định thì anh

tới Chúa trong anh

tại rạp Beta Cinemas Trần Quang Khải)

 

Một nỗi buồn nhói lên ngay khoảnh khắc chữ “vượt biên”

vụt xuất hiện trên màn ảnh rộng

ồn ào in nơi bức tường căn hộ Kỳ Nam

nỗi buồn cuộn lên sóng

xô đẩy và vỡ vụn phân cảnh duy nhất trong phim thiên nhiên bao la hiện ra

Kỳ Nam ngồi trước biển

“Ý nghĩa của sự ra đi

biến mất khỏi một đời sống

tức là chết –

không

từ chối nó”

Thuyền đã nói như thế…

 

Ít nói

thường im lặng hoặc nói nửa chừng

(dù Kỳ Nam không khôn

nếu khôn đã không khổ vậy

có khổ mới hóa nên phim chứ bộ)

trong những khoảng lấp lửng ngập ngừng

muôn vàn câu hỏi không lời

ngày này qua ngày khác

Kỳ Nam đúng giờ mở hộp thư

chờ đợi tin tức đứa con rất ngoan

(nghe lời mẹ

ra đi vì mẹ và

không quay về cũng bởi sợ mẹ buồn)

Khang vô tư nói về con chuột trong khu nhà cổ đó

khổ thân chuột nhắt

tự nhiên buộc phải di cư

Kỳ Nam cố ý đáp liền

thà vậy mà còn được sống

bởi đã có lời đáp

cho sự ra đi của con trai

cũng là cho cái giá của chính mình ở lại

“Tôi hỏi thêm một lần câu đã hỏi

chúng tôi đi được không

anh đi được

      chị không –

cái chết có đáng sợ không

điều đáng sợ nhất của con người là sự sợ hãi của chính họ”

Thuyền đã nói như thế…

 

Người đàn bà điềm tĩnh

khi niềm hy vọng cuối không còn

không có gì là lạ

Kỳ Nam không sụp đổ

ngồi trước biển

(khác Nguyễn Mạnh Tuấn đứng trước biển[113])

cầm nén nhang từ tay người con cả trao cho

trời lộng gió biển cuộn sóng

“Tôi nghĩ thế gian không bao giờ thay đổi

tôi nghĩ quê hương của tôi vẫn còn đó”

Thuyền đã nói như thế…

 

Những phân cảnh cuối không còn Kỳ Nam

trong mắt Khang

đó là điểm dừng hình ảnh

Kỳ Nam vĩnh viễn đọng lại

tại cái đêm duy nhất dành riêng cho họ

mà chỉ để

dắt xe

dạo phố

Sài Thành

(Em,

anh thú vị ở cảnh

cặp tình nhân bất chợt

gặp

Bùi Giáng thi nhơn

múa gậy hét thơ

chợ Bà Chiểu lề đường

tảng sáng tinh mơ

Khang ngây người kinh ngạc

cười mỉm chi Kỳ Nam quá quen rồi)

 

Cũng như hình ảnh bao người

vượt biên

vĩnh viễn còn sống với nhân dạng người thân thấy họ lần chót

tấm ảnh đứa con trai

Khang được Kỳ Nam tiết lộ

chụp chỉ vài ngày trước khi nó ra đi…

 

Em,

chúng mình liệu có

còn nhau

cùng đi xem phim Thuyền

thế nào rồi cũng được chuyển thể

anh tin…[114]

 

… Hình đất nước như nửa tim chìm xuống

Biển Đông…

*

Con gái Sài Gòn khi yêu nhau

không bao giờ để người yêu dẫn đến nơi kín đáo

không phải bắt chước quan lớn ngày xưa giữ gìn cái gọi là tiết tháo

chuyện nhỏ thôi

sợ không ai trầm trồ bộ áo váy mới mua[115]

 

nhưng trong những ngày binh lửa mà dan díu

tất nhiên

phương châm trên đổi thay chút xíu

đèn tình soi và có chỉ hướng hẳn hoi                                

xứ sở đổi chủ mới

làm quên đi áo váy

 

đó cuộc tình Ba Mươi Tháng Tư Bảy Lăm

trai tài thiên tả Đức quốc dẫn dắt

gái sắc quý phái xướng ngôn viên truyền hình Sài Thành

thậm tiếc

thậm tiếc

hổng có hậu

hồi kết[116]

 

*

Và bây giờ và tại đây[117]                                                                                               Thành phố Hồ Chí Minh đấy[118]

và tại đây và bây giờ

lành thay

xạ thu

                        thiện tai

 

*

Những hàng me Sài Gòn

 

Me

cái tên mới thô lỗ làm sao chớ

nhưng nếu có những cô Thùy Dương cô Yến Tuyết không đẹp bằng những chị Mén chị Vầu thì cũng có những cây anh đào thanh tùng không đẹp bằng me

me Sài Gòn

 

me

vốn đã đẹp với thân cây đều đặn không cao lỏng khỏng như dầu không lùn tịt như sanh

đẹp với vỏ cây cằn cỗi gợi nhớ những cội tùng già bên chùa cổ trên một sườn non

với rêu xanh non mởn bám trên vỏ sậm đen

đẹp như non bộ dày sương dạn gió

với tàn không thưa không xơ rơ như tàn sầu riêng không dày mịt như măng cụt

vốn nó đã đẹp ở ngoài thiên nhiên rồi mà

trồng trên vỉa hè đá

cạnh những ngôi nhà xi-măng cốt sắt khô nóng buồn

thì nó còn đẹp hơn biết bao

 

ôi những hàng me

giao nhành rợp bóng bầu bạn của người đi bộ về trưa

những hàng me

tò mò dòm vào các cửa sổ tư gia gởi vào đó những lá nhỏ li ti trên tóc cô gái bé

ôi những hàng me

chứa chấp cô Mùa một cô gái quê ít dám léo hánh đến thành phố

chính trên mớ tóc xanh biến màu theo thời tiết của ngươi

mà những khách yêu thiên nhiên tìm dấu chân Mùa hằng năm len lén đến vài lần nơi thành phố

lòng sầu xứ quê của những kẻ lạc loài đô thị được dịu đi vài phần khi nhìn những hàng me ngả màu rồi lại thắm màu

người mến thiên nhiên hồi hộp lắng nghe bước chân Mùa trên xi-măng thành phố

 

ôi những cây me ngủ chiều

gợi nhớ sự nghỉ ngơi của đồng áng

gợi nhớ những nỗi buồn tiền sử loài người

khi chiều xuống họ hãi hùng nhìn cây ngủ chim về mặt trời chun xuống thiên nhai không biết ngày mai sẽ trở lại hay không

 

a ha những cây me rắn mắc sau một trận mưa đánh rơi xuống áo đẹp của ai những hột nước

 

tôi thương Sài Gòn vì những hàng me[119]

tôi thương những hàng me vì Sài Gòn

vì những hàng me tôi thương Sài Gòn

vì Sài Gòn tôi thương những hàng me

 

tôi thương

Sài Gòn

vì những hàng me

tôi thương

những hàng me

vì Sài Gòn

 

5.7  

Miền Tây Nam Bộ

 

Tràng hạt Việt Nam trên cổ vòng

Hình đất nước như trái tim Nam tiến

 

Trên cổ vòng tràng hạt Việt Nam

Hình Chữ S như trái tim lượn xuống

Lục Tỉnh Nam Kỳ

 

*

 

Phong sương mấy độ vùng Nam Bộ

hạt bụi nghiêng mình xuống chín sông

thầy Hai cô Tám tui mình đó

điệu hò ơ khói sóng mênh mông[120]

 

Xa cảng miền Tây

Xa cảng miền Tây

nghe tiếng hoài hoài giờ đụng nhau đây

ta lữ khách giang hồ tam châu tứ hải

người tụ điểm tìm về xứ mới

 

Công ty cổ phần xe khách

mang danh phong vị du hành điệu đà chưởng tân thời

(ngại viết thẳng ra thiên hạ hỉu lộn ta PR kiếm chác lần sau miễn phí

nhón chữ chót thôi nha

Trang)

nữ nhi thu ngân giọng ngọt eo thon chuẩn mực đất dừa gió lộng

gõ máy lẹ tay đáp lời mau miệng

Thủy

Giang Thị Mộng Thủy

hèn chi tiền chạy tưng tưng ngăn kéo dưới tay em như nước dồn chỗ trũng

(nếu bên xứ Mẽo dám có con súng

sáu lẩn trong mớ giấy bạc tùm lum đượm ngấm

máu nước mắt mồ hôi dĩ nhiên không thiếu vi khuẩn vi trùng vi rút các kiểu)

lên xe

duỗi thẳng cẳng (ngắn chân càng dễ thoải)

uống (miễn phí nước chai)

ăn (xôi nếp má Tư Bắc Kỳ di cư đầu hẻm mang theo 20 ngàn/gói rẻ rề[121])

phỡn bụng no nê

thiu thiu xém ngủ thì

cái Thẻ Lên Xe Boarding Pass song ngữ hẳn hoi

thòi ra à há có cớ bày đặt coi giá cả bá tánh cùng đại gia đình mục kích

chướng ca gia cũng biết mần kinh tế như ai

165.000 VNĐ thế ngon rùi

(tương đương nhiều ít đô Ca Na Điên chuyện nhỏ lại ngoáy tay đảo máy

thêm lần lục vấn trợ lý AI mất gì của bọ)

 

Phật độ bữa đó quá phê

lần đầu xe khách miền quê mượt mà

êm như lụa thẳng như là

cái quan[122] nổi giữa bao la sông ngòi[123]

 

xe giường nằm cớ sao hay cháy[124]

lại là khi xa lộ vắng tanh

từ báo mạng đến làng Phây

vấn nạn ấy vẫn leo vào leo ra                                   

cả lò nhà chướng ca ứ sợ

chít là cùng thây kệ cho qua

chường ca gia chuyến dối già

mần răng ông Tạo quay đà vần xoay

 

Hình đất nước như trái tim đậu xuống

Nam Bộ miền Tây

 

*

 

Ta sẽ hành hương về với người

Mỹ Tho Mỹ Thọ Sóc Trăng ơi

Mỹ Thỏ bây giờ là Sóc Trắng

gái mặc đầm ra đứng ngó đời[125]

 

đoàn ta viếng chùa Sà Lôn[126]

nghe ra tiếng vọng hương hồn nước xưa

qua chuông sư thỉnh gọi giờ

qua tay chú điệu thẫn thờ quét trưa

 

Trung Niên Thi Sĩ[127] đề thơ

Sóc Trăng Sóc Trắng bây giờ còn đây

hiên chùa nâu[128] gái mặc đầm

các em ta hót trong lồng nhân duyên

 

Cần Thơ Cần Thở cần lao

muôn đời Gió Việt cần nào cũng phê[129]

 

*

 

Xe giường nằm ngon lành cành đào bon bon

ngồi thẳng lưng mà lật

lướt lướt tệp lịch trình

lãng tử thi nhơn ta (hạng 2 cũng có tí ti tiếng tăm)

hóng

chinh phạt cơ ngơi công tử Bạc Liêu[130] nổi tiếng trứ danh

thì hơi bực cái mình với con chữ “chứ danh”

ủa thời 4.0 sao vẫn còn lỗi của thằng đánh máy[131]

(trời nóng quá

đạo không chấp lãng tử lãng quên)

 

và hên

bên sự hóng chinh phạt với cái hơi bực mình

câu kế tiếp trong tờ lịch trình

… nhà thờ Tắc Sậy là điểm hành hương nổi danh bực nhứt xứ miền Tây…[132]

đọng lại cặp mắt cận lồi cận lõm của kẻ chưa được hạnh tôi tớ Chúa

Nghĩ về Thượng đế là không vâng lời Thượng đế
vì Ngài muốn ta không biết đến Ngài
chính vì thế Ngài không lộ mình cho ta thấy                                                                  Ngài sẽ chẳng cho hơn vì cho hơn là tước mất chính bản thân[133]                                        
như 35 năm trước lần đầu trời Tây Âu con hít gió tâm linh                                                hành hương trong mơ cũng chỉ xém mon men                                                                  thành quốc Vatican[134]                                                                                                     tới nay vẫn là kiếp này nguyện đến                                                                                nợ chưa được trả dù đã biết biện biệt Vatican với Tòa Thánh và                                   hương đạo tỏa thơm xứ Bụt[135]

Lỗi không hẳn tại con mọi đàng

lạy Chúa Giêsu

vẫn cứ xin tha tội

(nếu dư bảo lưu cho các lỗi về sau

đoạn trường chường ca gia hành hương của con sự bất cập nhiều như châu chấu

Đức Thích ca phát buồn phán cho quyền tùy duyên đấy ạ)

 

Hên không bằng may

nếu như chân dung Ngài ấy

không giông giống thủ lãnh khởi nghĩa Nguyễn Thái Học

chưa chắc lúc lia dòng chữ đó con nhớ cái rụp

rằng chừng ngày này năm tới

hành lễ tuyên chân phước Cha Diệp[136]

 

dạ hên thật là may

cũng gương mặt chữ điền

vị này phúc hậu vị kia cương nghị

cũng vầng trán vuông vuông dưới bộ tóc ngăn ngắn chỉn chu

cũng áo chẽn và cùng hàng ria mép

kiểu truyền thống nam nhi chi chí[137] nước Nam con đầu thế kỷ trước

lại cũng cặp lông mày đàn ông chuẩn men

thế kỷ nào cũng rứa

 

Lạy Chúa tôi

thì cũng phải thôi

lúc quỳ dưới tượng Cha

đầu cúi tay khum

hạt tràng nơi ngực hốt nhiên động đậy

kẻ trường ca gia quèn là con niệm cầu dôi ra

vài nhời tới lãnh tụ tiền bối cách mệnh gia

Pháp thực dân tuyên xử chém đầu rơi nơi pháp trường núi đồi Yên Bái

16 năm trước khi đầu cha Diệp bị chẻ làm hai

sình lầy ao cá Bạc Liêu

lính phát xít Nhật lưỡi lê Thiên Hoàng[138]

Bạc Liêu ao cá sình lầy

phát xít Nhật lính Thiên Hoàng lưỡi lê

 

Lạy Chúa từ bi

xin cho linh hồn Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp

được đời đời ngơi nghỉ

và soi sáng linh hồn đó là ánh dương thiên thu[139]

 

*

Lòng như bát ngát mây xanh

thân như sương tụ trên nhành Tây Nam[140]

đàn chim Việt quanh cành Nam

có con quyên nhỏ lạc bầy đông mai

hoàn hương chớp lóe mưa bay

càng về càng thấy dặm dài nỗi không[141]

sầu ngao ngán lánh vong hương

chùa Miên[142] chân nản vào nương tức thì

ô kìa ai đó mỉm chi[143]

Phật nằm[144] đầu tựa tay cười với ai

ô kìa Phật đó chứ ai

Phật nằm đầu tựa tay vì chúng sinh

 

*

 

Tràng hạt Việt Nam trên cổ vòng

Hình đất nước như trái tim Nam tiến

 

Trên cổ vòng tràng hạt Việt Nam

Hình Chữ S như trái tim ấp xuống

đây, Nam Bộ Miền Tây…

[1] Xt: Nam tiến/ 南進:

Đó là quá trình mở rộng lãnh thổ, di cư về phía Nam của người Việt trong lịch sử, chủ yếu trong các TK 11 – 19, kéo dài từ vùng Thanh-Nghệ đến tận mũi Cà Mau. Một hành trình không chỉ di cư đơn thuần mà còn lập chủ quyền, hệ thống chính quyền, tạo đơn vị hành chính mới qua làng/xã/tỉnh và cảng thị, gấp 3 lần diện tích quốc gia ban đầu. Các đặc điểm chính của Nam tiến: Quá trình lâu dài (hàng nghìn năm) bắt nguồn từ áp lực di cư do phương Bắc và nhu cầu mở mang bờ cõi của các chúa Nguyễn; Giúp lãnh thổ VN mở rộng đáng kể, hình thành nên hình thể đất nước trải dài Hình Chữ S như ngày nay; Tạo sự giao thoa, hòa nhập văn hóa giữa người Việt với các cộng đồng bản địa (Chăm Pa, Phù Nam). Ý nghĩa phụ: Còn dùng để chỉ các đơn vị quân đội chi viện miền Nam trong kháng chiến (như Đoàn quân Nam tiến chống Pháp năm 1945-1946).

Nam tiến là phần quan trọng nhất của công cuộc mở rộng lãnh thổ của dân tộc Việt về phương nam trong lịch sử VN và phát triển lãnh thổ từ thời điểm độc lập ban đầu cho đến hình dạng lãnh thổ hiện nay. Bên cạnh việc bang giao với các triều đại Trung Quốc, Nam tiến được xem là 1 trong 2 nội dung trọng yếu của lịch sử VN. Thời kỳ đầu mới giành độc lập tự chủ, lãnh thổ Đại Việt chỉ gồm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, các đồng bằng nhỏ ven biển Bắc Trung Bộ với đèo Ngang là cực nam đất nước. Sau các cuộc chiến tranh với Chăm Pa, nước Đại Việt dần bắt đầu mở rộng lãnh thổ. Đến năm 1611, người Việt đã định cư đến vùng Phú Yên hiện nay. Cuộc Nam tiến của nước Việt đã chinh phạt hoàn toàn Chăm Pa, chiếm lĩnh phần lớn Chân Lạp, và sáp nhập toàn bộ vùng Tây Nguyên. Sự mở rộng lãnh thổ dưới thời Minh Mạng là nỗ lực đẩy mạnh bành trướng sang phía Tây, nhưng vấp phải phản ứng quyết liệt với nước Xiêm La (Thái Lan) và chỉ dừng hẳn khi thực dân Pháp xâm lược, đô hộ VN 1858-1884.

Công cuộc mở rộng lãnh thổ của dân tộc Việt về phía Nam đã diễn ra trong nhiều thế kỷ, nhưng mãi cho đến TK 20 thì khái niệm “Nam tiến” bắt đầu được đưa ra bởi giới nghiên cứu VN, như Lâm Hoài Nam (Báo Thủ đô 1959); Tùng Phong (Nxb Đồng Nai 1965); Nguyễn Ðăng Thục (Sài Gòn 1969). [vi.wikipedia.org]

 

[2] Csnl: Với cách nhìn nghệ thuật chủ quan của mình, sáng tác trường ca du ký “Đất nước tràng hạt” có thể sử dụng tới 84 động từ tương đương với từ “chảy”, tức là 84 kịch bản cho cặp câu thơ “Hình đất nước/Hình Chữ S như trái tim chảy xuống”. Bản thảo đầu tiên này (12/8/2026) dùng chừng 30 kịch bản – tức là 30 cách xuống phương Nam của dân tộc ta; và tác giả nghĩ rằng sẽ không tận dụng các kịch bản còn lại ở những bản thảo có thể có sau này. Như phần Phụ lục/Tư liệu riêng của tác phẩm, Quý độc giả nào quan tâm và với lưu ý bản quyền, mời liên lạc với chúng tôi để có Danh sách liệt kê 84 cách điệu Nam tiến khả dĩ của người Việt.

[3] Xt: “Sáp nhập hay sát nhập là đúng chính tả? – Sáp nhập là một động từ mượn từ tiếng Hán, “sáp” (插 – Hán Việt) nghĩa là cắm, gắn, chen vào, nhập vào – tức là để sát lại, nhập lại; và “nhập” có nghĩa từ ngoài đi/đưa vào. Vì vậy, sáp nhập mang ý nghĩa là nhập chung lại, gộp lại với nhau thành một. Từ này đồng nghĩa với gộp lại, hợp nhất, kết hợp, trộn lại, liên kết. Còn “sát nhập” chỉ là cách nói trại/biến âm của “sáp nhập”; từ “sát” không mang nghĩa phù hợp trong ngữ cảnh trên. (fptshop.com.vn 2025).

[4] Theo thơ Nguyễn Hữu Quý (“Sông Hồng, vanvn.vn 29/3/2026).

[5] Trường đoạn trên là sáp nhập nguyên văn của 2 trường đoạn từ 2 tác phẩm trường ca của Nguyễn Linh Khiếu: Phồn sinh (trang 539, Nxb Hội Nhà văn 2018) và Hoa linh thảo (tr.243, Nxb Hội Nhà văn  2021).

[6] Xt: “Hà Nội do dân tứ phương lập lên. Người Hà Nội gốc có lẽ chỉ là mấy anh đánh cá ở sông Tô Lịch. Mà Tô Lịch chỉ còn là một phế tích. Chẳng có ai sống ở Hà Nội được đến 10 đời. Vì thế muốn hiểu tính cách người Hà Nội, ta phải tìm hiểu tính cách chung của người VN, rồi nghiên cứu cá tính người thành thị thì mới ra tính cách người Hà Nội. Tất nhiên người Hà Nội có nét hào hoa phong nhã, nhưng đấy không phải tận gốc mà là tinh hoa của nhiều vùng đất tạo nên. Dân Hà Nội là dân tứ chiếng. Vì thế, ở Hà Nội tuyệt nhiên không có chuyện cục bộ địa phương.” (Nhà văn Tô Hoài với phố phường Hà Nội”, Trần Đăng Khoa, vanvn.vn 10/7/2026).

[7] Theo thơ Văn Cao: “Cuộc đời ôm tôi như trong cái bình/ Một tiếng vang vang cả lòng cả đáy”; “Tôi yêu Hải Phòng như Việt Nam nhỏ lại/ Tôi yêu Việt Nam như tôi biết yêu tôi”. (Trường ca “Những người trên cửa biển”, thivien.net).

[8] Xt: Hà Nội, theo chiết tự tiếng Hán, nghĩa là thành phía trong sông/vùng đất giữa các dòng sông. Thành phố Hà Nội có 9 con sông ngang qua. sông Hồng và sông Đáy là 2 sông chính, rồi đến sông Đuống, sông Cầu, sông Đà, sông Cà Lồ, sông Tích, sông Tô Lịch và sông Nhuệ.

[9] Cảm hứng từ “Nếu không quá xuất sắc, đừng ở lại Hà Nội! (Anh Sói Voni, vietnambusinessinsider.vn 21/5/2026).

[10] Xt: Sống mãi với thủ đô – tên tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng.

[11] Xt: Về dự án xây dựng Trục đại lộ Sông Hồng

“Siêu dự án trục đại lộ sông Hồng: Cuộc tái thiết lớn nhất của Hà Nội hiện đại” (vietnamnet.vn 13/5/2026); “Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng: Chúng ta có đang lãng phí nguồn lực?” (Nguyễn Ngọc Chu, baotiengdan.com 24/5/206); “Tiếng làng ven sông trước ngày đổi thay” – kỳ cuối”, Lợi Phan Mai FB  2/6/2026);Hà Nội giải tỏa: người dân mất nhà đất được tái định cư thế nào?(bbc.com 15/6/2026); * “Trước khi phá dỡ hãy đếm giá trị(Trần Trung Chính, nguoidothi.net.vn 17/8/2026); *Những điều kiện cần và đủ cho Hà Nội tầm nhìn 100 năm” (Hoàng Kiền, baovannghe.vn 15/6/2026): Trong quy hoạch tổng thể tầm nhìn 100 năm, với Hà Nội – Thủ đô 1000 năm văn hiến, vấn đề không phải phát triển hay không, mà phát triển đến đâu dừng ở đâu. Hà Nội cần được tổ chức thành 3 lớp không gian: Vùng lõi di sản (Phố cổ, Hồ Gươm, Hoàng thành Thăng Long…) phải bảo vệ nghiêm ngặt: giữ cấu trúc đô thị, mật độ, tỷ lệ kiến trúc, nhịp sống; phát triển ở đây là nâng chất lượng sống, không xây mới; Vùng chuyển tiếp: cải tạo có kiểm soát, đặc biệt với các khu tập thể cũ, khu phố Pháp xuống cấp; Vùng phát triển mới (Tây Hồ Tây, Đông Anh, Hòa Lạc…) là nơi tập trung cao tầng, hạ tầng hiện đại, đô thị thông minh giải tỏa áp lực cho trung tâm. Nguyên tắc cốt lõi: Quy hoạch cơ bản có tầm nhìn xuyên thế kỷ phát triển bền vững lâu dài trên nền tảng bản sắc Thủ đô nghìn năm văn hiến.

* TS. Tô Văn Trường trả lời phỏng vấn của hãng tin Bloomberg về dự án xây dựng Trục Đại lộ Sông Hồng”, boxitvn.blogspot.com 14/6/2026:

 – Đánh giá ý tưởng, định hướng sông Hồng là “trục xương sống”? Trong lịch sử hơn ngàn năm Thăng Long – Hà Nội, sông Hồng chính là yếu tố địa lý quyết định hình thành đô thị. Nhưng trong nhiều thập kỷ qua, dòng sông chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ phòng chống lũ, hành lang an toàn. Cho nên việc lần đầu tiên coi  sông Hồng là “trục xương sống” của  Thủ đô đã có ý nghĩa chuyển đổi tư duy mang tính lịch sử: từ coi sông là ranh giới kiểm soát, sang coi sông là tài sản chiến lược khai thác, phát huy giá trị. Đây là ý tưởng chiến lược đặc biệt quan trọng. Trong lịch sử phát triển đô thị thế giới, những thành phố lớn, bền vững thường hình thành quanh các dòng sông lớn. Sông Hồng chính là yếu tố địa lý tạo nên Thăng Long – Hà Nội nghìn năm trước. Việc lấy sông Hồng là “trục xương sống” đô thị cũng thể hiện sự chuyển đổi từ tư duy phát triển hướng tâm sang mô hình đô thị hướng thủy hiện đại. Nếu được triển khai đúng hướng, đây không chỉ là dự án hạ tầng mà còn là cuộc tái cấu trúc không gian phát triển Thủ đô trong TK XXI, tạo động lực mới cho kinh tế, văn hóa, giao thông, du lịch, chống  biến đổi khí hậu. Quan trọng hơn, đây là quy hoạch cho cả TK XXI đang tới. Nếu thành công, Hà Nội sẽ chuyển từ mô hình “quay lưng ra sông” sang mô hình “phát triển cùng dòng sông”, phù hợp với xu thế của nhiều đô thị tiên tiến trên thế giới; Và sẽ là cuộc tái cấu trúc không gian đô thị lớn nhất kể từ khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính năm 2008. Thành phố sẽ chuyển từ mô hình phát triển lệch tâm về phía Tây sang cấu trúc đa cực lấy sông Hồng làm trục kết nối trung tâm. Điều này giúp phân bổ lại dân cư, nguồn lực đầu tư, giảm áp lực lên khu nội đô lịch sử. Và Hà Nội sẽ có cơ hội hình thành hành lang xanh quy mô lớn. Xa hơn, trục sông Hồng có thể trở thành không gian biểu tượng mới của Hà Nội, tương tự vai trò sông Seine với Paris hay sông Thames với London; tạo  bản sắc riêng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của Thủ đô.

– Một dự án rất tham vọng sẽ có thách thức lớn nhất về kỹ thuật và nguồn lực? Thách thức lớn nhất không là kỹ thuật xây dựng mà là quản trị phát triển. Sông Hồng liên quan đồng thời đến đê điều, thủy lợi, giao thông, môi trường, đất đai, văn hóa, dân cư. Nếu thiếu cơ chế điều phối thống nhất sẽ rất khó hình thành chiến lược phát triển dài hạn, đồng bộ. Sông Hồng còn là hệ thống sông có chế độ thủy văn phức tạp; vì vậy mọi quyết định quy hoạch đều phải trên các nghiên cứu mô hình thủy lực, thủy văn, địa mạo hiện đại. Về nguồn lực, đây là dự án có quy mô hàng chục tỷ USD, kéo dài nhiều thập kỷ, đòi hỏi cơ chế huy động vốn đa dạng (ngân sách, đầu tư tư nhân, nguồn lực quốc tế).

– Dự án nên được triển khai theo từng giai đoạn để tránh rủi ro và lãng phí nguồn lực? Hà Nội không nên triển khai đồng loạt trên toàn tuyến mà nên lựa chọn một số phân khu có điều kiện thuận lợi, ít tác động nhất để thí điểm. Có thể triển khai theo 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Hoàn thiện cơ sở dữ liệu, quy hoạch, giải quyết pháp lý, dân cư và đê điều; đồng thời xây dựng dự án thí điểm, ưu tiên các điểm nhấn cảnh quan, sinh thái. Giai đoạn 2: Đầu tư hạ tầng khung (giao thông, không gian công cộng, công viên, các tuyến kết nối 2 bờ sông. Giai đoạn 3: Phát triển các trung tâm dịch vụ, tài chính, đổi mới sáng tạo, các khu đô thị chất lượng cao.

– Tiếng nói cộng đồng dân cư nên được đưa vào quy hoạch và triển khai? Người dân phải được tham gia ngay từ giai đoạn lập quy hoạch chứ không chỉ khi dự án đã hoàn tất. Chính quyền thành phố cần công khai, minh bạch cho dân biết và bàn về quy hoạch, vị trí công trình hạ tầng, các khu dự kiến di dời, các khu được tái thiết (tồn tại) để tạo đồng thuận xã hội.

– Người phản biện độc lập sẽ đặt ra 3 câu hỏi khó nhất nào về quy hoạch? 1. Sau 50-100 năm điều gì sẽ khiến Hà Nội khác biệt với các đô thị lớn khác ở châu Á? 2. Trong các kịch bản biến đổi khí hậu cực đoan nhất đến cuối TK này, liệu cấu trúc phát triển ven sông hiện nay còn an toàn, bền vững? 3. Sau khi dự án hoàn thành, dân Hà Nội sẽ có thêm điều gì ngoài các khu đô thị mới, giá trị bất động sản gia tăng? Chất lượng sống, không gian công cộng, môi trường, bản sắc văn hóa có thực sự cải thiện? Và có lẽ câu hỏi quan trọng nhất: Liệu thế hệ con cháu sau 100 năm nữa có coi đây là quyết định đúng, đáng tự hào? Bởi giá trị thực sự của dự án mang tầm thế kỷ không đo bằng quy mô đầu tư hay tốc độ tăng trưởng trước mắt, mà bằng những lợi ích lâu dài cho con người – đó là môi trường và bản sắc của Thủ đô. (Tô Văn Trường/Bloomberg).

[12] Bệnh viện Đồn Thủy: Sau thành Quân y viện 108 (Xt: Ảnh Hà Nội Xưa FB 10/5/2019).

[13]Trường ca Ung thư: Thi phẩm đang viết của Nguyễn Việt Chiến. [Xt: Tin nhắn tác giả gửi Người viết 8/3/2026; “Ba nhà thơ bị ung thư cười tươi với trường ca ung thư”, danviet.vn 7/3/2026): “Sáng 6/3, ba anh em chúng tôi đang bị ung thư hành hạ gặp nhau trong cuộc thơ. Cả 3 nhà thơ cười rất tươi khi tôi báo tin: Trích đoạn chương I của Trường ca Ung thư (một trường ca đang được viết với cái nhìn của một người đang bị ung thư ác tính di căn), với gần 100 câu thơ in ở tựa đề “Tự sự với mưa buồn” trên báo Văn Nghệ #10 ngày 7/3 tuần này. Tại cuộc toạ đàm “Phẩm giá của thơ ca” vừa được tổ chức trong Ngày thơ VN tại Hạ Long, tham luận của nhà nghiên cứu Trần Văn Toàn nhắc đến việc rất ấn tượng với trường ca ung thư của tôi; ‘như là trường ca đầu tiên về đề tài này ở VN, còn trên thế giới đã có 4 nhà thơ viết trường ca về ung thư’”].

[14] Thơ Nguyễn Việt Chiến: Các câu ở 4 khổ thơ trên là trích từ trường đoạn “Tự sự với mưa buồn”. (Ct trên).

[15] Trường ca K: Tên gọi gọn (theo từ khoa học/trong ngành y viết tắt của bệnh ung thư); gợi ý của Người viết với tác giả về tên thi phẩm “Trường ca Ung thu”. [Csnl: Nhớ, “Ca ca” là cách gọi ý hàm tiếu từng nổi tiếng một thời của Xuân Diệu về thể loại trường ca; Và từ đó Người viết chế thành “Trường-ca-ca” được dùng làm tên nhân vật trữ tình hoặc chủ thể hoặc chính tác phẩm là sáng tác trường ca gần đây nhất của mình (“Quần-đảo-tráo-tên”, vanchuongviet.org 21/10/2024). Nhớ nữa: “Trường-Ca Ca” (vanchuongviet.org 5/7/2011); Dị-Nghị-Luận | Đồng-Chân-Dung, Nxb Hội Nhà văn & Thaihabooks 2018) – tiểu luận khá khủng của Đặng Thân từng “ca” tập trường ca Lòng hải lý cũng của Người viết từ 15 năm trước, thế mà bị “vô thức quên”?! Vậy, xin giăng đây (và trong bản thảo cập nhật “Quần-đảo-tráo-tên”) nhời xin lỗi nhớn].

[16] Xt: Bệnh viện K (Bệnh viện Ung bướu Trung ương) – cơ sở y tế nổi tiếng của VN tại số 43 phố Quán Sứ, Hoàn Kiếm, Hà Nội, nơi khám/điều trị chuyên sâu cho tất cả người bệnh ung bướu trong và ngoài nước, được thành lập vào năm 1969 với tiền thân là Viện Curie Đông Dương (Institut Curie de L’Indochine) ra đời tại HN năm 1923. Hiện nay Bệnh viện K Hà Nội có 3 cơ sở khang trang, sạch sẽ và nhiều trang thiết bị hiện đại sánh ngang tầm với các quốc gia trong khu vực. Cơ sở 2 (cơ sở Tam Hiệp) Hoàng Mai, HN; Cơ sở 3 (cơ sở Tân Triều) Thanh Trì, HN là cơ sở lớn và hiện đại nhất.

[17] Theo thơ Phan Thanh Bình: “những cái cổ dưới chân đê/ mang vác hàng ngàn năm châu thổ” (Bài Những cái cổ“, vanchuongviet.org 20/7/2026).

[18] Theo thơ Nguyễn Linh Khiếu (Trường ca “Hoa linh thảo” – đã Ct).

[19] Xt: Điện Biên Phủ – thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Điện Biên (vùng Tây Bắc Bộ VN), nơi từng nổi danh thế giới với Chiến dịch Điện Biên Phủ (hay Trận Điện Biên Phủ/ tiếng Pháp: Bataille de Dien Biên Phu) kết thúc ngày 7/5/1954 đã đặt dấu chấm hết cho sự đô hộ thực dân của người Pháp tại Đông Dương (Hiệp định Genève được ký kết, Pháp trao trả độc lập cho 3 nước Đông Dương); và mở đầu cho sự sụp đổ Chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn cầu. Trong Chiến tranh Đông Dương lần I, đó là trận chiến lớn nhất diễn ra tại lòng chảo Mường Thanh (châu Điện Biên, tỉnh Lai Châu cũ) giữa Quân đội Nhân dân Việt Nam (có Cố vấn quân sự và viện trợ của Trung Quốc) và Quân đội Liên hiệp Pháp, gồm các đội quân Viễn chinh Pháp, Lê dương Pháp và Quân đội Quốc gia Việt Nam (có can thiệp không công khai của Hoa Kỳ). [Google AI]

[20] Thơ Quang Dũng [Bài “Pha Đin”; Xt: Hoàng Kim Ngọc (Sơn La), “Pha Đin – Biểu tượng của đất trời, lịch sử và thi ca Việt Nam”, vanvn.vn 14/7/2026].

[21] Tout va bien (tiếng Pháp): Mọi thứ ổn thỏa.

[22] Thơ Bùi Nguyên Lượng (Bài “Trên đỉnh Pha Đin ta hát, vanvn.vn 14/7/2026).

[23] Thơ Kiều Duy Khánh (Bài “Phía ngoài cơn mưa, vanvn.vn 14/7/2026).

[24] Xt: “Bếp Hoàng Cầm” – chiếc bếp dã chiến huyền thoại giúp bộ đội Việt Minh nấu ăn mà không bị máy bay Pháp phát hiện từ trên không. Người sáng tạo ra có tên thật là Đỗ Văn Cầm (1920–2013), quê tại Nam Định. Ông là Tiểu đội trưởng nuôi quân thuộc Đội điều trị 8, Đại đoàn 308, đã sáng chế ra loại bếp dã chiến không khói này vào năm 1951. Một người hoàn toàn khác, cùng tên là Thượng tướng Hoàng Cầm (1920–2013), nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312), người đã trực tiếp chỉ huy đánh chiếm cứ điểm đồi Him Lam mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ (Xt: Ct. dưới đây về Sự kiện De Castries).

[25] Phóng tác theo thông tin, tư liệu từ “Hoa ban phủ trắng các tuyến đường ở Điện Biên (Mai Phương, vnexpress.net 9/3/2026); Tứ đại đỉnh đèo ở Việt Nam và những điều chưa biết” (Thiên Long, danviet.vn 31/5/2026); “Pha Đin – Biểu tượng của đất trời, lịch sử và thi ca Việt Nam (Hoàng Kim Ngọc – Sơn La, vanvn.vn 14/7/2026).

[26] Thơ Bùi Giáng (Bài Logos, thivien.net).

[27] Theo thơ Olga Berggoltz; Bằng Việt dịch: “Dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi” (Bài “Mùa lá rụng”, thivien.net).

[28]  Xt: Xí quách (“trư cốt” tiếng Quảng Đông) nghĩa là xương heo. Nghĩa đen: Phần xương hầm lấy nước dùng, thường còn dính chút thịt, gân/tủy. Đây là món ăn vặt, mồi nhậu, thành phần trong các món hủ tiếu, lẩu rất phổ biến tại Sài Gòn và miền Nam, nổi tiếng với độ ngọt thanh và tủy béo ngậy. Nghĩa bóng: Trong tiếng lóng, “xí quách” thường được dùng như “hết xí quách” chỉ tình trạng kiệt sức, rã rời, cạn kiệt năng lượng hoặc chỉ máy móc hoặc người (chủ yếu là đàn ông) đã già yếu, hao mòn, hết còn khả năng hoạt động, hết làm “chức phận giới tính”.

[29]  Xt: Về sự kiện Tướng De Castries/ Đờ Cát (1902-1991) đầu hàng ngày 7/5/1954 – sự thật lịch sử là quân Pháp không sử dụng cờ trắng tại hầm chỉ huy vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 7/5 đó, khi tổ xung kích của Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật thuộc QĐNDVN tiến vào bắt sống Tướng De Castries (đang ở tuổi 52) cùng toàn bộ Bộ tham mưu. Khi Trung đoàn trưởng Hoàng Cầm hỏi: “Các ông từng rải truyền đơn, thách tướng Giáp đánh Điện Biên Phủ, bây giờ các ông nghĩ sao?”. De Castries lúng túng rồi nhún vai: “Đấy là chuyện của Hà Nội.” [Google AI & “Trận cuối cùng bắt sống tướng De Castries”, Nguyễn Hữu Tài, Đại tá nguyên Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 trong chiến dịch Điện Biên Phủ, nhandan.vn 6/5/2024].

[30]  Xt: Hạ thể – từ Hán-Việt thường có 2 nghĩa: Trong sinh lý học/giải phẫu là từ chỉ phần dưới cơ thể, đôi khi được dùng như từ đồng nghĩa với hạ bộ/bộ phận sinh dục; Trong văn học/Phật giáo từ chỉ thế giới con người, cõi trần gian, hoặc kiếp sau (ví dụ: đọa lạc hạ thể, hạ thế làm người).

[31] Motto của Tây Phong cho triển lãm sắp đặt bởi Thu Trần & Tây Phong “Chiến tranh và Hòa bình” (Bảo tàng Hà Nội 2/3/2026), được hình thành từ các mảnh xác máy bay và vỏ bom do Bảo tàng Hà Nội lưu giữ 1951-1972.

[32]  Xt: Chùa Phổ Minh/ Phổ Minh tự; tên khác là Chùa Tháp, ở thôn Tức Mạc, Nam Định, tỉnh Ninh Bình; 34km tính từ trung tâm Ninh Bình tới chùa. Tháp Phổ Minh là ngôi chùa tháp cổ kính nhất ở VN. Đó là di tích lịch sử quan trọng gắn với thời đại nhà Trần, được xây dựng năm 1305, tháp cao 14 tầng (19,5m). Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đền Trần và chùa Phổ Minh được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Chùa Phổ Minh được in trên mặt tiền mệnh giá 100₫ của VN. (“Chùa Phổ Minh – ngôi chùa tháp lớn nhất và còn nguyên vẹn nhất ở Việt Nam”, tapchinghiencuuphathoc.vn 9/10/2025).

[33]  Xt: “Chăm hay Chàm đúng?” (Inrasara, vanviet.info 12/3/2026).

[34] Giai thoại “Thạch Kim, Thạch Nhọn” (Xt: Hoa Lê, qdnd.vn 4/5/2025) từ bài thơ “Gửi em, cô thanh niên xung phong” của Phạm Tiến Duật.

[35] Niệm châu/ Phật châu/ Tràng hạt (Đã Ct đầu Chương 2).

[36] Lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp): Danh từ Phật học nói về những thứ khiến tâm con người bị cuốn theo và sinh ra bám chấp.

[37] Xt: Chùa Bà Đanh/ Bảo Sơn tự – ngôi chùa cổ kính nổi tiếng với nguồn gốc của câu ví von dân gian “Vắng như chùa Bà Đanh” – đó là bởi, với diện tích 10ha, chùa ở nơi xa vắng, khó tiếp cận. Ngày xưa chùa thuộc vùng xa dân cư, ba mặt là sông, rừng rậm chắn, lối đi độc đạo, lại có nhiều thú dữ khiến người dân sợ hãi. Cách duy nhất đến chùa là chèo thuyền qua sông Đáy, điều này gây bất tiện cho khách hành hương. Vì thế, chùa rất ít người viếng thăm. Chùa tọa lạc tại thôn Đanh Xá – Ninh Bình; nằm cạnh núi Ngọc thơ mộng, cách trung tâm Phủ Lý 7km. Lễ hội chùa Bà Đanh hằng năm với các ngày 9-11/2 AL. Năm 1994, chùa Bà Đanh được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia. Chùa này là minh chứng phát triển, bảo tồn di sản văn hóa VN qua nhiều thế kỷ. Theo truyền thuyết, chùa thờ Nữ thần linh thiêng điều mưa khiển gió thuận hòa, giúp dân trừ lũ lụt, mùa màng bội thu; nên được gọi là chùa Đức Bà làng Đanh, gọi tắt chùa Bà Đanh như ngày nay. Ngoài tượng Phật, tượng Đạo giáo như Thái thượng lão quân, Nam Tào, Bắc Đẩu, Tam phủ, Tứ phủ, nét đặc biệt trong chùa là pho tượng tín ngưỡng dân gian Pháp Vũ trong tứ pháp – Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Phong. (“Vì sao chùa Bà Đanh lại vắng?”, vnexpress.net 4/7/2026).

[38] Theo “Chùm thơ Lục khúc tâm tình của Đỗ Quyên”, vanvn.vn 26/3/2024.

[39] Theo thơ Du Tử Lê: “Xin em hái nụ hoa này/ Bằng tay nước mắt, bằng tay sương mù/ […] Xin em đôi cánh tay mềm/ Một bên nắng… dắt, một bên mưa… dìu.’ (Bài “Trầm ca tháng Giêng”, thivien.net).

[40] Xt: “Hào khí Đông A” – Sức mạnh vô hình của nước Việt thời nhà Trần” (lsvn.vn 5/1/2021); “Vị vua duy nhất của Đại Việt tử trận trên chiến trường là ai?” (danviet.vn 11/3/2026).

[41] Yah: Từ cảm thán biểu thị đồng ý, xác nhận.

[42] Xt: “Ba chúng ta là một Gia Cát Lượng”; theo tục ngữ Trung Hoa “Ba anh thợ giày (phó may) hợp thành một Gia Cát Lượng” (Tam cá xú bì tượng, tái cá Gia Cát Lượng).

[43] Theo Chúng mình lớn rồi tính tẩu so dây” – ca từ trong bài ca “Chín bậc tình yêucủa An Thuyên. (Xt: “Tính tẩu so dây” là ẩn dụ đẹp về tình yêu đôi lứa, tượng trưng cho thời điểm trai gái trưởng thành tìm đến nhau, hòa nhịp con tim của các dân tộc thiểu số Tày, Thái miền núi phía Bắc. Hình ảnh này thường có trong các bài thơ, bài ca về Tây Bắc. “Tính tẩu”/đàn tính là loại nhạc cụ dân tộc truyền thống có bầu đàn làm bằng quả bầu khô; đó là vật bất ly thân trong đời sống văn hóa, tâm linh, tình cảm của người Tày, Thái. “So dây” là chỉnh lại dây đàn cho đúng âm chuẩn, hòa hợp trước lúc biểu diễn).

[44] Xt: Vân Đồn – Đặc khu thuộc tỉnh Quảng Ninh, vùng biển trong vịnh Bắc Bộ, nổi tiếng với vịnh Bái Tử Long, hơn 600 hòn đảo (như Cái Bầu, Quan Lạn) và thương cảng cổ sầm uất. Đây là khu kinh tế trọng điểm và du lịch biển đảo hoang sơ, chùa tâm linh, hải sản đặc biệt. Cách TP Hạ Long 100km, di tích thương cảng Vân Đồn còn lại vừa mang dấu ấn nhà Trần về chiến công chống nhà Nguyên lại vừa có dấu ấn giao thương, buôn bán. Trận Vân Đồn năm 1288 trên sông Mang gắn liền tên tuổi danh tướng Trần Khánh Dư đánh bại đoàn thuyền lương quân Nguyên. Là thương cảng đầu tiên của Đại Việt, thương cảng Vân Đồn được hình thành từ thời Lý (1149), đến thời Trần phát triển tới hưng thịnh trong giao thương với Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Nam Dương về gốm sứ, tơ lụa, hương liệu, sản vật địa phương.

[45] Âm thanh nền cho trường đoạn này là áng thiên cổ hùng văn Đại Việt “Nam quốc sơn hà/ Sông núi nước Nam” (Thơ Lý Thường Kiệt; Giọng đọc Trần Thiện Tùng; thivien.net & youtube.com).

[46] Xt: Bãi Hòn Tằm – được bình chọn là bãi biển Nha Trang đẹp nhất, cách trung tâm TP Nha Trang phía Đông Nam 7km; vẻ đẹp thô sơ, xung quanh nước biển trong vắt cùng bãi cát trắng tinh khôi. Bãi Dương – Hòn Chồng cách trung tâm về phía Bắc 1,5km, tuy hơi nhỏ cũng được xem là bãi biển đẹp ngay trong khu vực Nha Trang. Biển êm ả, sóng vỗ nhẹ, làn nước trong xanh, ấm áp. Gắn liền với địa danh nổi tiếng Hòn Chồng, nơi có nhiều tầng đá xếp chồng lên nhau sẽ cho Quý độc giả tập thơ du ký này những hình ảnh check-in siêu “xịn sò”. (“Biển Nha Trang: 11 bãi biển hoang sơ và đẹp nhất bạn nên đến”, motogo.vn 13/01/2026).

[47] Gạc Ma – Trường Sa hu hu hu hu…

[48] Theo thơ Nguyễn Khuyến (Bài “Ông phỗng đá”, thivien.net).

[49] Theo 2 câu thơ “Anh thèm được là hòn đá nhỏ/ Nằm yên dưới chân đất nước” (Thanh Tâm Tuyền?)

[50] Theo thơ Tố Hữu (“Bài ca mùa xuân 1961”, thivien.net).

 

[51] Xt: Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Những so sánh cần biết:

(Thông tin, kiến thức cũ; Quý bạn đọc đã biết mà có thể chưa hệ thống. Vả lại, nhắc thêm một lần là thêm một lần thương đảo quê hương nhớ biển Tổ quốc).

– Về lịch sử khám phá và quản lý quốc gia: Hoàng Sa được ghi chép và xác lập chủ quyền của VN sớm hơn Trường Sa (dù về địa chất tự nhiên, cả 2 quần đảo đều từ san hô hình thành đồng thời qua hàng triệu năm. Các cột mốc lịch sử chính: TK 17 (thời các chúa Nguyễn) nhà nước VN đã thành lập “Đội Hoàng Sa” để khai thác sản vật, đo đạc thủy trình tại khu Bãi Cát Vàng (gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa); TK 19 (nhà Nguyễn) triều đình bắt đầu tách bạch rõ ràng 2 quần đảo. Năm 1816 Vua Gia Long chính thức cử thủy quân ra khảo sát, cắm mốc Hoàng Sa. Đến năm 1838, vua Minh Mạng cho vẽ bản đồ “Đại Nam nhất thống toàn đồ”, ghi nhận cả 2 quần đảo thuộc lãnh thổ VN.

– Về tổng diện tích phần đất nổi: Quần đảo Hoàng Sa lớn hơn quần đảo Trường Sa. Hoàng Sa có diện tích phần nổi 10 km2, trải trên vùng biển rộng 15.000 km2 gồm hơn 30 đảo, đá, cồn san hô, bãi cạn. Còn Trường Sa có diện tích phần nổi chỉ 3 km2. Tuy nhiên, vùng biển bao quanh Trường Sa lại rộng lớn gấp 10 lần Hoàng Sa và gồm hơn 100 đảo, đá, bãi san hô. Đảo lớn nhất trong quần đảo Hoàng Sa là đảo Phú Lâm (cách đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, hơn 120 hải lý/220 km về phía Đông, và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc hơn 140 hải lý. Và một trong những đảo có diện tích lớn nhất quần đảo Trường Sa là đảo Trường Sa Lớn (trung tâm hành chính huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa).

– Về ý nghĩa địa chính trị – quân sự – hàng hải – kinh tế:

* Quần đảo Hoàng Sa chỉ gồm các đảo nhỏ giữa Biển Đông, có thời không được các nước trong khu vực chú ý, không có cư dân sinh sống thường xuyên, chỉ có người Việt ra khai thác theo mùa các tài nguyên như phân chim, tổ yến, san hô, đánh cá trong hàng thế kỷ. Cùng với quần đảo Trường Sa, quần đảo này có vị trí trọng yếu bậc nhất tại Biển Đông, mang ý nghĩa chiến lược sống còn về kiểm soát hàng hải quốc tế, an ninh phòng thủ, khai thác tài nguyên với các quốc gia trong khu vực. Hoàng Sa nằm án ngữ các tuyến đường biển quốc tế tấp nập bậc nhất thế giới, nơi lưu chuyển lượng lớn hàng hóa và năng lượng toàn cầu (đặc biệt là dầu mỏ từ Trung Đông đi qua eo biển Malacca đến Đông Bắc Á). Tiền đồn quân sự và phòng thủ chiến lược: Đây là một “bàn đạp” chiến đấu, phòng thủ hoàn hảo. Các đảo và bãi san hô tại Hoàng Sa đóng vai trò là “tàu sân bay không chìm”: Hình thành lớp lá chắn bảo vệ sườn phía Đông cho đất liền. Cho phép thiết lập các hệ thống radar, căn cứ tên lửa, sân bay để mở rộng tầm kiểm soát không phận, hải phận ra toàn Biển Đông, Theo Công ước UNCLOS, sở hữu Hoàng Sa là cơ sở pháp lý quan trọng để một quốc gia thiết lập đường cơ sở, mở rộng vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp và vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn. Điều này gắn với quyền khai thác độc quyền các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú như dầu khí, khoáng sản, hệ sinh thái thủy sản. Thềm san hô Hoàng Sa là khu vực có hệ sinh thái biển vô cùng trù phú, nổi tiếng với nhiều loại hải sản giá trị kinh tế, dinh dưỡng cao như tôm hùm, hải sâm, rùa biển, ốc giá trị cao, các cá rạn, cá ngừ.

* Quần đảo Trường Sa nằm giữa Biển Đông về phía Đông Nam của VN (cách Cam Ranh khoảng 243 hải lý) án ngữ đường hàng hải quốc tế nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Đương và Đại Tây Dương, giữa châu Âu, châu Phi, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản với các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á. Đó là tuyến đường huyết mạch, lưu lượng tàu thuyền tấp nập hàng thứ 2 trên thế giới (chỉ sau Địa Trung Hải). Hiện nay trên các đảo, bãi san hô đã có các công trình kiên cố, nhà ở; một số đảo đã có đèn biển, luồng vào, trên luồng có thiết bị phao dẫn luồng, phao buộc tàu tạo thuận lợi cho tàu thuyền tránh giông bão. Trên thềm san hô Trường Sa có nhiều loại hải sản quý (hải sâm, rùa biển, cá ngừ, tôm hùm, rong biển, các loại ốc giá trị dinh dưỡng cao). Với vị trí ở giữa Biển Đông, quần đảo Trường Sa có thế mạnh về dịch vụ hàng hải, nghề cá đối với tàu thuyền đi lại, đánh bắt hải sản. Đồng thời là địa điểm du lịch hấp dẫn trong-ngoài nước. Trong một vài thập niên tới, với tốc độ phát triển kinh tế cao của các nước trong khu vực, khối lượng hàng hóa vận chuyển qua Biển Đông sẽ tăng 2-3 lần. Sự liên kết giữa các đảo, cụm đảo, tuyến đảo của quần đảo Trường Sa tạo nên lá chắn quan trọng phía trước vùng biển, dải bờ biển Nam Trung Bộ và Nam Bộ, bảo vệ sườn phía Đông VN, tạo thành hệ thống cứ điểm tiền tiêu để ngăn chặn, đẩy lùi các hoạt động lấn chiếm của tàu thuyền nước ngoài. Vì thế từ lâu quần đảo Trường Sa luôn được các nhà quân sự, khoa học, chính trị coi trọng. Sau khi xâm lược VN và đánh giá cao vị trí chiến lược của Trường Sa, người Pháp đã tổ chức khảo sát, đo đạc, biên vẽ bản đồ vùng Biển Đông và Trường Sa. Trước khi tiến hành chiến tranh Thái Bình Dương, Nhật đã chiếm Trường Sa và Hoàng Sa làm bàn đạp đánh chiếm Đông Dương, Singapore, Nam Dương. Sau Hiệp định Genève năm 1954, Mỹ can thiệp, đưa quân vào miền Nam VN và đã ủng hộ, tạo điều kiện cho chính quyền VNCH đóng giữ đảo Trường Sa. Nhiều nhà quân sự thế giới cho rằng ai làm chủ Trường Sa sẽ làm chủ Biển Đông.

[“Những điều cần biết về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Khánh Hòa FB; “Chứng tích về chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam qua các tư liệu địa chí tại Thư viện tỉnh Nghệ An và một số phát hiện mới”, vuthuvien.bvhttdl.gov.vn 24/03/2020; Sách của Lê Thái Dũng, Nxb Hồng Đức 2020; thuvientinh.quangngai.gov.vn 23/12/2022].

 

[52] Trích dẫn nguyên văn thơ Hoàng Trần Cương (Bài “Miền Trung” – đã Ct).

[53] Theo thơ Trung Dũng Kqđ [Bài “Biển đảo (Biển Đông – Bỗng điên!)”], vanviet.info 6/5/2026.

[54] Cảm hứng từ “Cuộc chiến giữa thời bình” (Nguyễn Anh Sơn, vanviet.info 9/62026): Một bài ký xúc động và hóm hỉnh của Đại tá – phi công Nguyễn Anh Sơn, kể về nhiệm vụ cảm tử cứu hộ, tiếp tế cho bộ đội Hải quân ngay sau sự kiện bi hùng bảo vệ đảo Gạc Ma – Trường Sa 14/3/1988; & “Gặp gỡ sau 33 năm: Nhiệm vụ cảm tử” (Mai Thanh Hải, thanhnien.vn 16/3/2021): Những cán bộ, chiến sĩ tham gia trận chiến đấu ngày 14/3/1988 bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc trên Biển Đông, đến giờ vẫn nhớ: 2 ngày sau đó, chiều 16/3/1988, máy bay vận tải An-26 của không quân VN lao qua đội hình tàu chiến đấu Trung Quốc đang vây quanh đảo Sinh Tồn, thả hàng tiếp tế cho bộ đội đảo. Nhờ đó, hàng chục thương binh đang phẫu thuật đã được cứu sống nhờ những chai huyết thanh, thuốc y tế thả xuống. Người chỉ huy tổ bay, lái chính chuyến bay hôm ấy là Đại úy Nguyễn Anh Sơn, Phó phi đội trưởng chính trị Phi đội 2, Trung đoàn Không quân 918, Quân chủng Phòng không – Không quân. Phi công Nguyễn Anh Sơn nghỉ hưu năm 2016 với quân hàm đại tá.

[55] Câu đối của Tô Thanh Tùng (Theo bộ đội đặc công ra Trường Sa”, vannghequandoi.com.vn 11/3/2026).

[56] Thơ Lê Văn Cường (Bài “Nếu Tổ quốc một ngày không tiếng sóng”, vannghemoi.com.vn 9/10/2023).

[57] Theo thơ Văn Cao (Trường ca “Những người trên cửa biển” – đã Ct).

[58] Theo thơ Đoàn Xuân Hòa (Bài Một khúc Miền Trung”, baovannghe.vn 16/5/2026).

[59] Xt: Dãy Trường Sơn – dãy núi dài nhất VN (1.100 km) chạy dọc miền Trung; có đỉnh cao nhất là đỉnh Ngọc Linh (nằm giữa Quảng Nam và Kon Tum) ở độ cao 2.598 m.

 

[60] Trường đoạn trên được phóng tác từ thơ Phạm Đình Ân (Bài “Đi dọc miền Trung”, thivien.net).

[61] Xt: Ct Chương hồi 2.3.

[62] Xt: Đông Lào – từ lóng/biệt danh phổ biến trên mạng xã hội VN, chỉ “nước Việt Nam”. Cụm từ này có nguồn gốc từ vị trí địa lý, ám chỉ VN ở phía Đông của nước Lào. Thường được dùng với ý hài hước, mỉa mai, tránh chú ý từ các thuật toán quét từ khóa; nó bắt đầu xuất hiện phổ biến từ các fanpage quân sự/thời sự trên FB (như Comrade Commissar) khi bình luận vấn đề nóng hổi trong nước với  ẩn ý, đôi khi liên quan chính sách ngoại giao, tình hình thời sự đặc thù, và thường mang tính châm biếm, đánh lạc hướng.

[63] Đã Ct Chương hồi 1.3.

[64] Trữ tình ngoại đề: 1 lần lỡ với văn hữu liền anh họ Tô, 1 lần văn hữu liền em họ Hồ (2 VIP đều là liền ông; lánh viết trọn danh tính bút hiệu tránh oan bắt quành người sang mần bạn; thực ra thừa bởi xự Huệ hổng ai mà Người viết quen biết lại hổng sang cả). À còn 2 lần lỡ hẹn kia, đang tìm cách diễn ngôn sao cho sang cả hơn.

[65] Xt: Theo ca từ của bài caHuế tình yêu của tôi” (Trương Tuyết Mai phổ nhạc từ bài thơ cùng tên của Đỗ Thị Thanh Bình, youtube.com).

[66] Xt: Chưa khảo AI đã xưng: “Nói cho nó vuông, TP Huế không phải là một địa phương nghèo đói của VN, của miền Nam, dù kinh tế phát triển chậm hơn các đô thị lớn như Đà Nẵng, TP.HCM. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều tại đây rất thấp, chỉ còn 3,45% (với hộ nghèo chiếm 1,4%) và thành phố “Thần kinh” (Kinh đô thần bí) đang hướng tới không còn hộ nghèo vào năm 2030. Nhưng 2 từ “Huế nghèo” như đã ám vào Cố đô từ lâu; do quy mô kinh tế nhỏ; do khí hậu lại khắc nghiệt, đỏng đảnh; và nhất là do lối sống từ tốn, khoan thai, trọng văn hóa hơn chạy theo thương mại ăn xổi của các mệ được tiếng là con vua cháu chúa. Ba nguyên nhân kinh tế và tự nhiên: 1- Khí hậu khắc nghiệt: Huế mưa nhiều, bão lũ thường xuyên, đất đai ít màu mỡ, gây khó khăn cho nông nghiệp, làm hư hại cơ sở hạ tầng; 2- Thiếu công nghiệp lớn: Đây là tỉnh thành xưa nay hạn chế phát triển các khu sản xuất, nhà máy khổng lồ, khu công nghiệp nặng để bảo vệ cảnh quan di sản, môi trường đô thị; Quy mô kinh tế nhỏ: So với các đầu tàu như Đà Nẵng, TP.HCM, nguồn thu ngân sách, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Huế thấp hơn đáng kể; 3- Đặc điểm văn hóa, lối sống: Với phong thái chầm chậm, hoài niệm, người Huế chuộng sự bình yên, kín đáo, nếp sống thanh nhã, ít khi phô trương tài sản, ồn ào làm ăn lớn. Nặng về truyền thống: Áp lực gìn giữ hình ảnh vùng đất Thần kinh khiến việc làm kinh tế đôi khi diễn ra dè dặt hơn so với các nơi khác. Tuy thế gần đây nổi lên các thế mạnh kinh tế của Huế: du lịch di sản, công nghệ thông tin.

* Csnl: Nhân cơ hội văn chương pha văn hóa tại đây, “Đất nước tràng hạt” xin xướng ra đề nghị: Nâng cấp Tâm hồn người xự Huệ thành 1 di sản văn hóa phi vật thể Việt! Tại sao không? Why not? Pourquoi pas? Thử tìm khắp trăm tỉnh/thành/xứ/vùng trên dải đất Hình Chữ S xem, hỏi có nơi nào mang bản sắc độc tôn và bền bỉ như rứa? Ra nước ngoài sinh sống, dân gộc xự Huệ cũng như ri như rứa. [Lại cái bạn AI mau mắn vào cuộc, phác qua dàn ý ngõ hầu góp Hồ sơ đệ đơn Ngay & Luôn tới Liên hợp quốc: “Đặc trưng của Tâm hồn người xự Huệ là chi? Là sự Kín đáo và Ý tứ: Người Huế thường sống hướng nội, giữ kẽ, trọng gia phong, nền nếp truyền thống gia phong; Là nét Đẹp nhẹ dịu, thâm trầm: Lời ăn tiếng nói nhỏ nhẹ, từ tốn, mang đậm chất thơ, sự tế vi trong xử sự hàng ngày. Là Tình tứ sâu sắc, Thủy chung: Đời sống nội tâm phong phú, giàu lòng trắc ẩn, gắn bó, nặng lòng với những giá trị hoài cổ, quê hương. Cái độc đáo nữa: xự Huệ có biểu tượng “tính cách người con gái Huế” sang đẹp trong giọng điệu, cách xưng hô, ứng xử đặc trưng của vùng đất; và còn chất chứa tiềm năng… ghen ở người nữ Huế hi hi. Phụ nữ Huế có câu cửa miệng là “Ghen thâm trầm” đi cùng hình ảnh ớt Huế cay nồng. Còn giai Huế thì…he he. Khoan noái…”]

 

[67] Xt: 2 văn liệu về Huế:

* “Người khách mới đến Huế tưởng như bước chân vào bức tranh cảnh. Cái phong cảnh Huế sở dĩ đẹp là thứ nhất bởi con sông Hương Giang. Con sông xinh thay… như cô con gái tươi cười… Nước trong như vắt, dòng phẳng như tờ, ít khi có tí sóng gợn trên mặt, đi thuyền trên sông như đi trong hồ vậy. Huế không có con sông Hương thì tưởng cái đẹp của xứ Huế giảm mất nửa phần. Nhưng đã có sông Hương lại có núi Ngự nữa, cái cảnh mới thực là toàn xinh… Sông ấy núi ấy thực là vẽ nên phong cảnh xứ Huế”. Vui hay buồn là do lòng người ngắm. Nhưng có điều này khách quan. “Cô con gái” ấy không phải quanh năm suốt tháng lúc nào cũng hiền hòa, mà đều đều bỗng trở nên thật hung dữ: “Hương hành cơn lụt mỗi năm…”. (Lời ca khúc “Tiếng sông Hương” của Phạm Đình Chương: “Trời hành cơn lụt mỗi năm…”) Cũng hồi đầu TK 19, giữa lúc “Hương” lại đang “hành” người Huế, Nguyễn Văn Siêu ngồi uống trà trên núi nghĩ tới cảnh dưới sông: “Bất tri thử ngoại Hương giang thủy/ Trướng đắc thu lai đệ kỷ kiều?” (Không biết ngoài ấy nước sông Hương giờ thế nào/ Thu đến đã dâng ngập mấy chiếc cầu rồi?) Năm 2025, vừa rồi, ga Huế đã điều 2 đoàn xe lửa chở đá đến đỗ trên cầu Bạch Hổ để cầu khỏi trôi mất! “Cái khí vị của phong cảnh Huế không phải là khí vị hùng tráng, mà là cái khí vị mỹ diệu; cảnh Huế xinh đẹp mà không phải là hùng cường, đáng yêu mà không phải là đáng sợ, có thi vị mà không phải là có khí tượng”. Như vừa nhắc trên, cảnh Huế cũng có lúc đáng sợ. Nhưng quả thực nói chung là như lời này. Ðất mà cảnh như thế thì có nên làm kinh đô hay không? Huế làm kinh đô của nước VN độc lập và toàn vẹn lãnh thổ chỉ được 6 thập kỷ. (Năm 1862 triều Nguyễn ký hòa ước Nhâm Tuất với Pháp nhượng chủ quyền 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ và đảo Côn Lôn). [Thu Tứ, “Văn xuôi quê hương (1)”, chimvie7.free.fr – trích và luận theo Phạm Quỳnh (“Mười ngày ở Huế“, 4/1918, Nam Phong Tạp Chí #10, in trong Du ký Việt Nam, Nxb Trẻ 2007)].

* “Cuối tháng Mười ta, xứ Huế mưa than lê thê buồn. Mới vừa lụt khắp kinh thành. Nước mới rút. Ngang chân tường nhà tôi vẫn còn ngấn bùn. Tôi đi vào buồng mẹ, mùi khăm khẳm của bùn sông Hương lảng vảng. Đấy là cái mùi của chợ đọng dưới đáy sông, đôi ba năm được dịp trào lên mặt phố, đôi ba năm bốc cao giữa lưng chừng, vón lại, bị mặt trời thiêu thành luồng khí mang màu cầu vồng. Hôm lụt, nước dâng lên nhanh chóng mặt. Em trai kê cái giường to lên chiếc sập lim. Chiếc sập này dài hai mét hai, rộng một mét tám, đủ để kê cái giường của mẹ lên. Em trai nhấc bổng cha lên đặt nằm xuống giường đã được kê cao. Cha tôi mới ốm nặng […] Mẹ tôi leo lên giường, đưa lên theo cái bếp ga du lịch và thùng mì tôm để bên cạnh mép giường. Phía buồng bên kia, thằng cu con em trai mới lên 5 tuổi chổng mông trên chiếc bàn rộng làm giường ngủ đang lấy que chọc nước […] cười ré lên thích thú. Cha tôi không hiểu nghĩ ngợi gì, lẩm bẩm: Trong nước có khí. Trong khí có nước.”; “Lễ viếng ở Huế kéo dài ít cũng 5 ngày. Khi đó cả họ tộc đang ngồi ở ngôi nhà cha mẹ tôi tại Vĩ Dạ ôn lại bao chuyện. Ba tôi đang nằm lặng lẽ trong quan. Chú ruột tôi kể ngọn ngành câu chuyện của dòng tộc Võ Công của tôi. Chúng tôi dòng con trưởng, sinh ra lớn lên ở Hà Nội […] Bấy giờ tôi mới hiểu rõ, gia tộc tôi đã từng có mộ kết vàng, kết son, kết thạch, kết thủy. Và tôi hình dung mộ ba tôi sau này sẽ kết khí.” (Võ Thị Xuân Hà); “Hình như mỗi gia tộc đất Thần kinh – dù vương hầu khanh tướng hay sa cơ mạt vận – tất thảy đều có nỗi niềm không giống bất cứ nơi nào trên đất nước mình. Nhiều người xứ Huế thường quay đầu về núi, về với quá khứ, dĩ vãng dù có thể chẳng mấy vàng son. Kể cả những người đầy Nhân đầy Trí.” (Đỗ Quang Hạnh). [Võ Thị Xuân Hà, Vàng son thạch thuỷ khí, vannghequandoi.com.vn 21/7/2026].

 

[68] Lái từ của “Giận lẫy sẩy cùi”. (Xt: Thành ngữ chỉ sự bốc đồng, giận dỗi vô cớ đến mức tự làm hỏng việc, tự làm mất đi quyền lợi của chính mình. Giận lẫy: Giận hờn, làm cao, không thèm nhận một vật/việc gì đó với hy vọng người khác sẽ phải dỗ dành, năn nỉ. Sẩy cùi: Kết quả là đối phương không thèm dỗ, khiến người giận mất luôn thứ đáng lẽ thuộc về mình, hỏng việc lớn vì sự bốc đồng).

[69] “Dziệt kiều” và “Hà Lội”: Cách viết/nói cố ý chệch (biến âm, nói ngọng) với ý vui hài/tự trào của “Việt kiều” và “Hà Nội”.

[70] Theo ca dao “Học trò trong Quảng ra thi/ Thấy cô gái Huế chân đi không đành”.

[71] Xt: Nhà thờ Phủ Cam; tên gọi chính thức theo tước hiệu tôn giáo của nhà thờ là Nhà thờ chính tòa Trái Tim Cực Sạch Đức Mẹ. Đó là nhà thờ chính tòa của Tổng Giáo phận Huế, tọa lạc đồi Phước Quả, số 1 Đoàn Hữu Trưng, TP Huế. Công trình mang dấu ấn lịch sử lâu đời 400 năm, và nổi bật với phong cách kiến trúc hiện đại do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế (1963) bố cục hình thánh giá, đường nét mạnh mẽ kết hợp phong cách Tây phương và tinh thần Á Đông. Đấy là địa điểm sinh hoạt tôn giáo lớn, là chốn thăm viếng nổi tiếng tại cố đô.

[72] Xt: Đập Đá – con đập chắn nước lâu đời bằng đá nằm ngay giữa TP Huế, bắc qua một nhánh sông Hương (khu nối sông Như Ý liền đường Lê Lợi với đường Nguyễn Sinh Cung, phường Vỹ Dạ). Vị trí – đặc điểm: Trung tâm thành Huế, kết nối khu vực phố xá với vùng đất Vỹ Dạ mộng mơ; được xây dựng từ đầu TK 20, tồn tại như phần quen thuộc của dân cố đô. Vai trò: Vừa là đập ngăn nước vừa là lối đi lại, khi mùa mưa lũ về nước sông dâng cao thường tràn qua mặt đập tạo nên quang cảnh rất đặc trưng. Ý nghĩa văn hóa: Trong thi ca, địa danh này gắn với nhiều bài hát/thơ nổi tiếng, như câu hát “Chiều mưa trên Đập Đá, áo em bay nhòa sương trắng”. Điểm tham quan: Là nơi hóng mát quen thuộc, ngắm cảnh sông nước bình yên mang đậm dấu ấn du lịch Huế.

Trữ tình ngoại đề: Hai tiếng “Đập Đá” từng là ”giấy mời”/“vé” của Người viết vào xem các phim hay/hiếm ở Câu lạc bộ Thống Nhất (sát Hồ Gươm) “thời Bom đạn – Bao cấp”. Chả là dạo đó, như “địa chỉ đỏ” văn hóa văn nghệ được cưng chiều số dách, hàng tháng CLB này chiếu phim chủ yếu miễn phí cho Hội viên là người miền Nam tập kết làm về văn hóa văn nghệ, và cũng thường một số bán vé cho dân chúng. Suốt 6-7 năm (cho đến sau 1975 một chút?), khi còn là học sinh rồi sinh viên, Người viết thường đi theo 1 bạn giai (giai thẳng hẳn hoi à nha!) tên Qu. (hổng phải Quyên đâu nhá!) con nhà văn hóa văn nghệ tập kết nòi (ba giảng viên Mỹ học Mác-xít, má cán bộ tổ chức nhân sự văn hóa; quê thôn Vỹ huyền thoại). Bọn này thường chờ khi phim chiếu được non mươi phút thì đến cửa/cổng (cửa hay cổng tùy với phím “nội bộ” hay phim đại trà) năn nỉ mấy o mấy dượng mấy ảnh mấy chỉ soát vé; hỏi mi quê mô, đáp dạ Đập Đạ Huệ! Đoạn tam chân tứ cẳng lưng cúi đầu ngỏng dọt thẳng nơi có sẵn đứa bạn khác xếp đá giữ chỗ! (Là bãi sân khấu ngoài trời; còn với các buổi chiếu trong phòng rạp, có mà Đập Trời Huệ chừ mô răng rứa cũng hổng mấy lọt!)

[73] Theo thơ Tố Hữu (Bài Quê mẹ; thivien.net).

[74] Xt: Đèo Hải Vân [còn gọi là đèo Ải Vân (vì trên đỉnh đèo xưa kia có cửa ải), hay đèo Mây (vì đỉnh đèo thường có mây che phủ)] – di tích lịch sử nổi tiếng, là ranh giới tự nhiên giữa TP Huế (phía Bắc) và TP Đà Nẵng (phía Nam). Ngày nay, trên đỉnh đèo Hải Vân vẫn còn dấu vết cửa ải tên là Hải Vân Quan (海雲關), xây từ thời nhà Trần; cửa trông về phủ Thừa Thiên đề 3 chữ “Hải Vân Quan”, cửa trông xuống Quảng Nam đề “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”. Với nhà Nguyễn, Hải Vân Quan là thành lũy quân sự quan trọng trên con đường thiên lý Bắc-Nam. Năm Minh Mạng thứ 17, khi đúc cửu đỉnh – công trình biểu tượng sự trường tồn, thống nhất – cùng với 33 địa điểm là các danh lam thắng cảnh khắp Đại Việt, nhà vua đã cho thể hiện cảnh “Đệ nhất hùng quan” giao thoa giữa mây trời và biển cả này. Về ranh giới khí hậu: Đây là bức tường chắn gió tự nhiên. Đèo ngăn chặn gió mùa Đông Bắc lạnh giá từ phía Bắc thổi xuống, tạo ra sự khác biệt rõ rệt về thời tiết giữa hai bên: phía bắc đèo thường lạnh và mưa nhiều, còn phía nam đèo ấm áp hơn. Về du lịch, Đèo Hải Vân là cung đường ven biển ngoạn mục hàng đầu thế giới; dài 20km cắt ngang dãy Bạch Mã (là 1 phần của dãy Trường Sơn chạy ra sát biển) trên quốc lộ số 1. Biểu tượng ấy đã đi vào âm nhạc qua câu mở đầu bài ca “Tàu anh qua núi” của nhạc sĩ Phan Lạc Hoa – “Đi dọc Việt Nam theo bánh con tàu quay, qua đèo Hải Vân mây bay đỉnh núi” – gắn Hải Vân với vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của hành trình xuyên đất nước Hình Chữ S. Trên độ cao 500m so với mực nước biển, nơi đây thu hút du khách nhờ các khúc cua tay áo đầy thử thách và view ngắm trọn biển trời tuyệt đẹp. Xe máy là lựa chọn phổ biến nhất để trải nghiệm sự tự do, nhưng đòi hỏi bạn đọc tập thơ du ký này phải có tay lái vững, vì đường đèo có nhiều đoạn xuống dốc, cua gấp. Nếu đi ôtô, bạn có thể chọn đi qua hầm Hải Vân để rút ngắn thời gian hoặc đi trên đèo nếu muốn ngắm cảnh. Nên xem dự báo trước khi lên đèo để tránh những ngày có sương mù dày đặc hoặc mưa lớn khiến đường trơn trượt. Về an ninh – quốc phòng: Trong 2 cuộc chiến tranh kháng Pháp & Mỹ, đèo Hải Vân là nơi liên tiếp diễn ra những trận đánh lớn. Cuối năm 2014, có dự án gây đe dọa nghiêm trọng đã xảy ra trên đèo Hải Vân. Tỉnh Thừa Thiên – Huế khi đó đã cấp phép cho 1 nhà thầu của Trung Quốc xây khu du lịch nghỉ qua đêm trên đèo Hải Vân. Ngay lập tức, phía TP Đà Nẵng đã phản đối vì khu du lịch đó nằm trong vị trí yết hầu của Đà Nẵng. Nếu có xung đột xảy ra, VN sẽ mất quyền kiểm soát hoàn toàn vùng trời và vùng biển của Đà Nẵng, và đất nước sẽ bị chia đôi.Ngay lập tức, tỉnh Thừa Thiên – Huế đã hủy bỏ dự án, cho tháo bỏ các hạng mục công trình của khu du lịch. (vi.wikipedia.org; “Hàng không mẫu hạm Mỹ và Vinhomes Hải Vân Bay”, baotiengdan.com 6/8/2026; Chân đèo Hải Vân bị cạo trọc: Vì sao Gen Z lên tiếng về dự án của Vingroup?“, bbc.com 14/8/2026).

[75] Theo toàn bộ bài thơ Lên đèo Hải Vân(Huỳnh Mẫn Ðạt, thivien.net). Xt: “Lên đèo Hải Vân” một bài thơ hay thế kỷ 19” (Phạm Trọng Thanh, nhandan.vn 1/10/2008).

[76] Theo thơ Chế Lan Viên: “Yêu ở đâu thì yêu/ Về Hội An xin chớ/ Hôn một lần ở đó/ Một đời vang thủy triều [….] Không cần gặp Thiên Tào/ Đòi một đời hạnh phúc/ Chỉ cần cùng nhau khóc/ Một giờ trong cao lầu” (Bài “Hôn một lần ở Hội An”). Xt: “Nỗi đau của Chế Lan Viên” (Khổng Ðức, vanchuongviet.org 17/6/2007).

[77] Xt: Đà Nẵng có 4 ngôi chùa nổi tiếng, linh thiêng nhất vùng miền, mang nét kiến trúc, cảnh quan đặc biệt: Chùa Linh Ứng Bãi Bụt, Chùa Pháp Lâm, Chùa Nam Sơn và Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn. Các địa điểm này đều gần trung tâm, dễ dàng di chuyển.

[78] Xt: “Ulrike chúc mừng Đà Nẵng sở hữu cánh rừng tuyệt vời tọa lạc ngay trong thành phố, và chia sẻ, ‘Sau 4 năm nghiên cứu tại đây, tôi càng cảm phục tiến sĩ Benjamin Rawson, Giám đốc bảo tồn thuộc Tổ chức WWF tại VN. Ông ấy đã có 1 đánh giá đầy đủ và không thể ngắn gọn hơn: Sơn Trà là nơi chốn độc đáo trên thế giới và có sức hút kỳ lạ. Mà theo tôi, yếu tố hàng đầu để tạo được sức hút lan tỏa ấy chính là đàn voọc. Tôi từng đi khắp Đông Dương, không nơi nào có đàn voọc đủ 5 màu, thậm chí đến 7 màu, tươi sáng như ở Sơn Trà. Cánh rừng hoa lá phong nhiêu đẹp như bức tranh này có đủ thức ăn 4 mùa cho chúng, lại được hưởng khí hậu biển-đất liền tốt lành. Đúng là một sinh cảnh trong mơ, một thiên đường.” (Vĩnh Quyền, “Như một lời xin lỗi”, vanviet.info 6/6/2026).

[79] Xt: Chùa Linh Ứng (Bãi Bụt) – nằm trên sườn núi bán đảo Sơn Trà, ngôi chùa tựa lưng núi, hướng mặt biển Đông; nổi tiếng nhất với tượng Phật Quan Thế Âm cao 67m – bức tượng cao nhất VN hiện nay. Cách trung tâm thành phố khoảng 10km, nơi đây có tầm nhìn bao quát toàn cảnh biển Đà Nẵng, không gian thanh tịnh, kiến trúc uy phong, đồ sộ.

[80] Xt: Vọng Hải Đài tại Đà Nẵng – cách trung tâm 10km phía Đông Nam, đài ngắm cảnh biển nằm trên đỉnh núi Thủy Sơn (ngọn núi đẹp, lớn nhất trong cụm danh thắng Ngũ Hành Sơn nổi tiếng) ở sườn phía Đông của đỉnh Hạ Thai; chu vi đài là 7m. Vọng Hải Đài này được xây dựng từ thời xưa, là nơi dừng chân ngắm cảnh, du khách có thể phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh bãi biển Non Nước, Biển Đông và không gian thành phố phía xa. Tọa lạc ngay sát đó, cùng trong khuôn viên trên núi Thủy Sơn, là Chùa Linh Ứng Non Nước được xây dựng từ thời vua Gia Long.

 

[81] Csnl: Về Đà Nẵng – như một cách ví von lần đầu tiên (có thể nhạy cảm về hiện sinh phồn thực?), ở đây Đà Nẵng được ví như cửa-mình-hình-hài-chữ-S-Việt-Nam. [Xt: Cẩn tắc vô áy náy, Người viết thuận tay ngay & luôn hỏi đồng chí AI và đã nhận được sự đồng tình rất là “khẩu khí AI”: “Đúng vậy! Về nghĩa bóng và văn học, Đà Nẵng có thể được xem là “cửa mình” của đất nước. Điều đó gắn liền với vị trí chiến lược, cửa ngõ giao thương và nhất là với ý nghĩa từ nguyên đặc biệt của địa danh này. Về ngôn ngữ, tên gọi Đà Nẵng là từ tiếng Chăm cổ “Da Nak”, nghĩa là cửa sông lớn/bến cảng. Còn tên gọi khác được đặt cho Đà Nẵng là Cửa Hàn, cửa của sông Hàn. Về vị trí, địa danh này thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, điểm trung chuyển huyết mạch trên trục Bắc-Nam và là cửa ngõ ra Biển Đông của toàn vùng Tây Nguyên cũng như các nước lân bang (Lào, Campuchia, Thái Lan). Trước đây, mọi người thường quen với 4 hình ảnh thân thuộc về Đà Nẵng: 1. “Cửa ngõ đất nước hướng đại dương”, được dùng trong báo chí, quy hoạch để chỉ vị trí chiến lược của Đà Nẵng ở miền Trung và trên hành lang kinh tế Đông-Tây; 2. “Khúc ruột miền Trung”: Cách gọi văn chương phổ biến, chỉ dải đất hẹp nơi Đà Nẵng tọa lạc, thể hiện kết nối liền mạch của non sông; 3. “Thành phố đầu biển cuối sông”: Danh xưng dân gian ví von vẻ đẹp của Đà Nẵng; 4.”Thiên hạ đệ nhất hùng quan”: Danh xưng lịch sử liên quan với đèo Hải Vân – cửa ngõ tự nhiên phía Bắc Đà Nẵng. Xin tạm hết!”]

Wow! Tài thật, tài đến thế là cùng; hoan hô chí hữu AI! Tưởng cũng nên nhắc lại, về lịch sử chiến tranh, Đà Nẵng có ý nghĩa sinh tử định mệnh của VN với 2 lần bị Pháp rồi Mỹ đổ quân tấn công hải cảng rồi chiếm đóng đất nước này. Về thời sự sát sườn, quần đảo Hoàng Sa đau thương – về hành chính, tức là về chủ quyền lãnh thổ – đang là huyện đảo trực thuộc TP Đà Nẵng chứ bộ!

 

[82] Csnl: Về Tây Nguyên, khi đưa hình ảnh này tư vấn chiến hữu AI, hên sao chúng tôi cũng nhận được đồng thuận: “Việc so sánh Tây Nguyên là “tấm lưng trụ cột” (hay phên dậu chiến lược) của VN là hoàn toàn chính xác. [Xt: Vị trí này được khẳng định qua nhiều mặt trọng yếu. Về địa chính trị – quốc phòng: Tây Nguyên từng được ví như “mái nhà” bán đảo Đông Dương và toàn thể quốc gia VN thống nhất. Đây là cao nguyên chiến lược án ngữ toàn bộ biên giới phía Tây của Tổ quốc, tiếp giáp với tam giác VN – Lào – Campuchia, đóng vai trò mấu chốt bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc phòng. Về 4 vị trí quan yếu quân sự tại Tây Nguyên: 1. TP Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) là vùng  “chiến lược của chiến lược”, trung tâm của Tây Nguyên, trấn giữ các trục đường huyết mạch, điểm kết nối chiến trường giúp kiểm soát sườn phía Tây; 2. Thị xã An Khê (Gia Lai) nằm trên Đường 19 nối TP Pleiku với duyên hải Nam Trung Bộ (Bình Định), tạo thành cửa ngõ cơ động trọng yếu; 3. Ngã ba Pleiku (Gia Lai) là giao điểm của các tuyến đường chiến lược, đặc biệt là đường mòn Hồ Chí Minh và Đường 14, cũng là điểm chốt chặn khống chế toàn bộ khu Bắc Tây Nguyên; 4. Thị xã Đăk Tô (Kon Tum) ở phía bắc Tây Nguyên, án ngữ cửa ngõ giao lưu với các tỉnh Nam Lào và Đông Bắc Campuchia. Về an ninh môi trường: Tây Nguyên chính là “tháp nước” khổng lồ cung cấp nguồn sinh thủy, tưới tiêu cho toàn bộ vùng hạ lưu, gồm cả đồng bằng Sông Cửu Long và khu vực Đông Nam Bộ. Về kinh tế nông nghiệp: Nơi đây có hàng triệu hécta đất đỏ bazan trù phú, là thủ phủ của các loại cây công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn của cả nước như cà phê, hồ tiêu, cao su và bơ.” Quá đỉnh! Khen AI khác chi khen phò mã tốt áo. (À sực nhớ câu này từ phim bộ Tàu vô tình nghe được ở một tiệm ăn Việt phố Tàu Tây Toronto: “Mọi người đàn ông cũng có thể làm phò mã”)].

[83] Xt: “Việt Nam ngũ địa linh hiện sinh” (Chương hồi 4.1).

[84] Xt:Để Mị nói cho mà nghe” – tên và ca từ bài hát nhạc Pop âm hưởng dân gian Việt quen thuộc do Hoàng Thùy Linh sáng tác, thể hiện. Lời ca khúc lấy cảm hứng theo nhân vật Mị từ truyện ngắn được dựng thành phim từng nổi tiếng “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài mang thông điệp nữ quyền, khuyến khích giới trẻ sống hết mình, tự do theo đuổi hạnh phúc. Câu thoại “Để Mị nói cho mà nghe” cũng trở thành lời nói cửa miệng nổi sóng mạng xã hội; thể hiện phong độ tự tin, thách thức đáng yêu dễ thương, thường để bắt đầu lời khuyên, câu chuyện thú vị, bật mí sự thật bất ngờ.

[85] Xt: Võ Nguyên Giáp (tên thân mật Anh Văn) – với vai trò Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy TW, Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh QĐNDVN, Võ Nguyên Giáp là kiến trúc sư trưởng chỉ đạo chiến lược, vạch kế hoạch, điều hành sắc bén 2 chiến dịch bước ngoặt là Chiến dịch Tây Nguyên và Chiến dịch Xuân 1975. Dấu ấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp được thể hiện rõ nét qua các điểm sau. 1. Trong Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3/1975: Với tầm nhìn chiến lược, từ năm 1973 ông trực tiếp chỉ đạo thành lập Tổ Trung tâm để xây dựng kế hoạch thống nhất đất nước. Chính vị Đại tướng phê chuẩn chọn Tây Nguyên làm chiến trường đột phá chiến lược, như là nơi hiểm yếu nhưng sơ hở nhất của đối phương. Võ  Đại tướng cũng góp phần quan trọng chỉ đạo chiến dịch nghi binh tài tình, điều chuyển lực lượng đối phương, giăng bẫy khiến Quân lực VNCH phán đoán sai hướng tiến công của Quân GPMNVN, tạo điều kiện trận đánh then chốt Buôn Ma Thuột diễn ra nhanh gọn. 2. Trong Chiến dịch Xuân 1975: Chớp thời cơ vàng: Ngay khi làm chủ hoàn toàn Tây Nguyên, Đại tướng đã phân tích sự chấn động chí mạng của quân đội VNCH và “đề nghị Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.” Với tư tưởng “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ”, Tướng Giáp nổi tiếng với chiến lệnh Lúc này, thời gian là lực lượng, là sức mạnh. Bài toán thời gian không dừng lại ở đáp số tính bằng tháng mà phải tính bằng ngày!” Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã truyền luồng sinh khí “Quyết chiến quyết thắng”, chủ trương các đơn vị tổ phải đánh sâu, chia cắt chiến lược, thành lập “Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn” (sau mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh”)”. [Google AI]

[86] Xt: Bất khả tư nghì (hay bất khả tư nghị) – thuật ngữ gốc từ tiếng Phạn được dùng ở triết học Phật giáo, nghĩa là “không thể nghĩ bàn (không thể dùng tư duy, suy nghĩ, lời nói để luận bàn, diễn tả). Trong Phật giáo, Đạo học để chỉ cảnh giới siêu việt, trạng thái tuyệt đối, sự vi diệu của vũ trụ vượt tầm hiểu biết, kinh nghiệm của người bình thường; nó đòi hỏi người thực hành phải trực tiếp trải nghiệm, đạt giác ngộ mới thấu hiểu trọn vẹn. Trong đời sống hàng ngày chỉ sự kỳ diệu, khó tin, vượt sức tưởng tượng, logic, dự tính của con người. Trong toán học cổ đại, Bất khả tư nghì (Asankhyeya) là tên gọi của đơn vị đếm số cực kỳ lớn ở hệ thống số cổ (trong các bộ kinh Phật), biểu thị con số khổng lồ không thể đong đếm, tính toán.

[87] Xt: Knockout (viết tắt KO) – thường được hiểu là việc đánh bại, loại bỏ hoàn toàn; tùy ngữ cảnh mang các ý nghĩa cụ thể. Trong thể thao võ thuật, chỉ việc võ sĩ đo ván, hạ gục đối thủ khiến họ không thể đứng dậy tiếp tục thi đấu theo thời gian quy định. Trong các giải đấu (Knockout stage) đó là hình thức thi đấu loại trực tiếp; đội/người thua sẽ bị loại lập tức khỏi giải, người thắng vào tiếp vòng trong. Trong tuyển dụng (Knockout questions) là những câu hỏi sàng lọc ban đầu; nếu ứng viên không đạt ở các câu hỏi đó, họ sẽ bị loại ngay.

[88] Xt: Tử huyệt (từ Hán Việt: “tử” là chết, “huyệt” – vị trí/lỗ huyệt) mang ý nghĩa chính là điểm yếu chí mạng, huyệt đạo nguy hiểm trên cơ thể. Thuật ngữ này đã được mở ra ở nhiều lĩnh vực khác. 1- Trong y học cổ truyền và võ thuật: Là những huyệt đạo trọng yếu trên cơ thể (Đông y quan niệm có khoảng 36 tử huyệt;nếu bị tác động lực mạnh, châm cứu sai cách vào các điểm này, nạn nhân dễ bị ngất xỉu, tổn thương lớn, thậm chí tử vong như với huyệt Thái dương, Phong phủ, Nhân trung; 2- Trong các môn võ thuật phương Đông, nếu bị tác động bởi lực mạnh, bấm hoặc đả kích các tử huyệt, như huyệt Bách Hội đỉnh đầu, Đản Trung trước ngực, thì có thể gây nguy kịch tính mạng); 3- Trong cuộc sống và tâm lý học: Là điểm yếu nhất về tâm lý, cảm xúc của một người; đó là vùng nhạy cảm mà nếu bị người khác vô tình/cố ý chạm đến (như tự ti, sợ hãi, tổn thương quá khứ), họ sẽ dễ mất bình tĩnh, nổi giận, suy sụp; 4- Trong kinh doanh, đàm phán và chiến lược: Là điểm mấu chốt, quyết định thành bại; 5- Trong đàm phán, tử huyệt của đối tác là nhu cầu hoặc rào cản lớn nhất mà khi nắm bắt được, bạn có thể giải quyết vấn đề, đạt được thỏa thuận; 6- Trong hệ thống, quy trình hoặc sản phẩm: “Tử huyệt” chỉ lỗ hổng, khiếm khuyết cốt lõi nhất; nếu không khắc phục được thì toàn bộ hệ thống sẽ đổ vỡ.

 

[89] Xt: Lê Duẩn (tên thân mật Anh Ba) – trong cương vị Bí thư thứ nhất/Tổng Bí thư, nhà chiến lược hàng đầu, ông là người có vai trò định hướng xương cốt và đưa các quyết định bước ngoặt, chuyển hóa thời cơ chiến lược, dẫn đến thành công với Chiến dịch Mùa Xuân 1975. Chớp thời cơ lịch sử: Bí thư thứ nhất Lê Duẩn là người sớm nhận định chính xác sức suy yếu của Hoa Kỳ và VNCH, từ đó cùng Bộ Chính trị quyết định chủ trương “Chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976”. Quyết định chọn Tây Nguyên là hướng đột phá: BTTN Lê Duẩn là người trực tiếp chỉ đạo và cùng Quân ủy Trung ương khởi thảo kế hoạch. Ông phê duyệt quyết định táo bạo chọn Tây Nguyên (cụ thể là Buôn Ma Thuột) làm điểm khai mở cho cuộc Tổng tiến công, tạo đòn điểm huyệt làm sụp rã hoàn toàn hệ thống phòng thủ còn vững vàng của Quân lực VNCH. Trong Chiến dịch mùa Xuân 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh: Điều chỉnh chiến lược thần tốc: Ngay sau chiến thắng Tây Nguyên và Huế – Đà Nẵng, trước sự tan rã của đối phương, Lê Duẩn đã quyết định thay đổi kế hoạch, hạ quyết tâm thực hiện tư tưởng “thần tốc, táo bạo, bất ngờ để giải phóng Sài Gòn ngay trước mùa mưa năm 1975”. Đặt tên cho chiến dịch lịch sử: Ngày 14/4/1975, Bí thư thứ nhất đã thay mặt Bộ Chính trị ký bức điện lịch sử chấp thuận đề nghị “lấy chiến dịch giải phóng Sài Gòn mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh”. Lãnh đạo toàn diện: Từ hậu phương miền Bắc, ông luôn theo sát diễn biến chiến trường, chỉ đạo công tác ngoại giao, đấu tranh chính trị và bảo vệ hậu phương, tạo sức mạnh tổng hợp cho đại thắng. Tựu trung, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn là “người đứng đầu hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân, trực tiếp đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đi đến thắng lợi cuối cùng”. (Google AI).

[90] Xt: Vào đầu năm 1975, Tổng thống, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu cùng Hội đồng Tướng lãnh VNCH đã hoạch định và thực thi “Kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt 1975” tập trung vào chiến lược phòng thủ, cố gắng giữ vững các vùng lãnh thổ cốt lõi, ngăn chặn các đợt tiến công của đối phương trong bối cảnh bị cắt giảm viện trợ. Tháng 8/1974, Hội đồng An ninh Quốc gia VNCH đã thông qua kế hoạch; thay vì các hoạt động phản công lớn, mục tiêu chính là co cụm, phòng thủ chắc và tiếp tục bình định các vùng lõm. Nhưng kế hoạch bị phá sản nhanh chóng do sức ép quân sự quá lớn từ đầu năm 1975 (bắt đầu bằng Chiến dịch Tây Nguyên của đối phương). Sai lầm chiến lược là, trước áp lực dồn dập, Tướng Thiệu đã đơn phương ra lệnh triệt thoái Quân đoàn 2 khỏi Tây Nguyên vào tháng 3/1975. Cuộc rút quân trở nên hỗn loạn, gây sụp đổ toàn bộ hệ thống phòng thủ, dẫn tới các cuộc triệt thoái liên tiếp. Kết cục sang tháng 4/1975 tình hình quân sự hoàn toàn vượt khỏi tầm kiểm soát. Ngày 21/4/1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức Tổng thống và rời VN vài ngày sau. Các tài tài liệu chính sử, hồi ký và phân tích từ phía VNCH đều cho rằng, thảm họa của chiến trường Tây Nguyên bắt nguồn từ lệnh tái phối trí đột ngột khiến quân đội mất thế chủ động và tạo ra sự hoảng loạn không thể kiểm soát, kéo theo hiệu ứng domino sụp đổ toàn bộ các mặt trận vào mùa Xuân 1975. Trong đó, cuốn sách Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa (Nguyễn Kỳ Phong chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Anh The Final Collapse, 1983) của Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng QLVNCH đã cung cấp cái nhìn, phân tích sâu sắc từ góc độ giới lãnh đạo quân sự cấp cao về bối cảnh, diễn biến, nguyên nhân sụp đổ của chính quyền/quân lực VNCH trong giai đoạn cuối. Đó là 1 trong những hồi ký, tài liệu lịch sử quan trọng giúp đối chiếu, nghiên cứu biến cố 4/1975. (Google AI).

 

[91] Theo thơ Olga Berggoltz – đã Ct.

[92] Trường đoạn trên được phóng tác theo “Chiến dịch Tây Nguyên & “Chiến dịch Mùa Xuân 1975” (vi.wikipedia.org).

[93] Xt: Cụm từ “túm lại” không liên quan trực tiếp đến gốc tích của “chị Út Tịch”. Đây là cấu trúc rút gọn khẩu ngữ phổ biến trong tiếng Việt, mang nghĩa là “tóm lại”, “nói tóm lại”,”kết luận lại”. Về phần chị Út Tịch – nữ Anh hùng LLVTNDVN (nguyên mẫu trong truyện Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi) từng nổi tiếng với câu nói khẳng định chí chiến đấu “Con cái lai quần cũng đánh” (“lai quần” là phần gấu quần). Đôi khi 2 khái niệm này bị người dùng kết hợp nói lái vui vui trong văn cảnh thường ngày. (Google AI).

[94] Xt: Về Ban Mê Thuột/ Buôn Ma Thuột

Thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Đắk Lắk, được mệnh danh “thủ phủ cà phê” và là đô thị trung tâm lớn nhất vùng Tây Nguyên. Nơi đây nổi tiếng với đất đỏ bazan trứ danh, nền văn hóa bản địa lâu đời, thiên nhiên vô cùng hoang sơ, hùng vĩ. Nằm ở vị trí chiến lược giữa cao nguyên Đắk Lắk (độ cao 500m so với mực nước biển). Khí hậu có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô; khí hậu cao nguyên mang lại tiết trời mát mẻ dễ chịu, hòa quyện với chút nắng gió đặc trưng. Cà phê Ban Mê Thuột đã trở thành thương hiệu nổi tiếng toàn cầu nhờ chất lượng vượt trội từ vùng đất đỏ bazan màu mỡ. Đây là trung tâm sản xuất, xuất khẩu cà phê lớn nhất của VN. Văn hóa bản địa là Văn hóa Ê-đê (tên gọi của thành phố bắt nguồn từ tiếng Ê-đê: “Buôn Ama Thuột” – tức là làng của cha Y Thuột). Đây là vùng đất cao nguyên rất hào hiệp và bao dung của suốt dòng lịch sử Nam tiến – thời kỳ khi những nhóm người Việt bắt đầu đặt chân và định cư tại vùng đất Nam Bộ từ khoảng cuối TK XVI đến đầu TK XVII. Phần lớn họ là những lưu dân từ Thuận Hóa, Quảng Nam và vùng Ngũ Quảng, đi về phương Nam để tránh chiến tranh, tìm đất sinh sống và khai khẩn. Nơi đây là vùng đất tụ cho những dòng người lập nghiệp đến từ khắp mọi miền đất nước. Thành phố hiện nay vẫn giữ được nét văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cùng kiến trúc nhà dài độc đáo.

Cảnh thiên nhiên hùng tráng với các khu rừng nguyên sinh; xung quanh thành phố là hệ thống các ngọn thác lớn đầy tráng lệ như Dray Nur, Dray Sap, Gia Long; tham quan Bảo tàng Thế giới Cà phê với kiến trúc hiện đại kết hợp nhà dài, các khu du lịch sinh thái đặc sắc. Như là đại diện duy nhất của VN, Buôn Ma Thuột xếp thứ 4  trong danh sách “15 điểm đến ẩm thực tuyệt vời nhất thế giới năm 2026” do tạp chí National Geographic bình chọn vào ngày 19/5/2026. VN hiện là quốc gia sản xuất cà phê lớn thứ 2 thế giới sau Brazil; và Buôn Ma Thuột cung cấp 40% lượng cà phê xuất khẩu của VN tới 70 quốc gia/vùng lãnh thổ, đồng thời là vùng sản xuất robusta lớn nhất thế giới. Cập nhật tin vui theo hướng khác: Trước đây đó vẫn là vùng đất Cà (dân địa phương gọi gần gũi thay cho Cà phê); nhưng năm nay, người trồng sầu riêng trên cao nguyên vui vì 2/3 đất đồn điền cà phê đã chuyển sang trồng sầu riêng từ 5-7 năm trước nay được mùa sai trái. Buôn Ma Thuột cũng đang chuẩn bị cho lễ hội Sầu Riêng tại giữa thành phố. Đây là lần đầu tiên sầu riêng trở thành sức mạnh kinh tế vượt trội hơn cả “át chủ bài” cà phê hàng trăm năm qua trong hàng nông phẩm cao nguyên Đắk Lắk – Buôn Ma Thuột. (“Báo Mỹ gọi tên Buôn Ma Thuột trong top điểm đến ẩm thực hàng đầu thế giới”, vnexpress.net 30/5/2026; “Nghe sầu riêng chín tới”, Trần Kiêm Đoàn, vanviet.info 10/8/2026).

 

[95] Xt: Khu Năm/ Quân khu 5 – Vùng chiến lược trọng điểm của Quân GPMNVN 1965-1975 (QĐNDVN) gồm Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Về địa lý chiến lược, khu này có nhiều tương đồng Vùng 2 Chiến thuật (sau thành Quân khu 2) của Quân lực VNCH nơi gồm các tỉnh Cao nguyên Trung phần và duyên hải miền Trung. Quân khu 5 của QĐNDVN hiện nay trải dài từ đèo Hải Vân đến cực nam Ninh Thuận; hiện nay là 5 tỉnh/thành phố: Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai (mới sáp nhập thêm Bình Định); Đắk Lắk (thêm Phú Yên), Khánh Hòa (thêm Ninh Thuận); bao trùm khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

[96] Xt: Trận chiến Buôn Ma Thuột do Quân GPMNVN chủ động tiến tấn công (từ ngày 10/3 diễn ra chớp nhoáng trong hơn 32 giờ) có giá trị quyết định, chuyển đổi hoàn toàn cục diện chiến trường, đẩy quân lực VNCH vào thế sụp đổ dây chuyền, dẫn đến kết thúc chiến tranh vào 30/4/1975; “Cuộc triệt thoái khỏi Cao nguyên là một thất bại chiến lược về phương diện quân sự. 75% lực lượng của Quân đoàn 2, gồm sư đoàn 23, biệt động quân, thiết kỵ, pháo binh, truyền tin và công binh bị hao tổn chỉ trong 10 ngày. Kế hoạch tái chiếm Ban Mê Thuột cũng bị thất bại vì Quân đoàn không còn quân. Cộng sản chiếm được Kon Tum và Pleiku không tốn 1 viên đạn”. (Cao Văn Viên – Sđd); Loạt bài “50 năm sau Sổ tay viết lại” vừa tái hiện cận cảnh kinh hoàng của thảm họa rút quân này. (“Kỳ 2: Con Đường Tử Thần”, Đinh Từ Thức, damau.org 26/3/2025).

[97] Xt: Chế theo thơ Bút Tre rất đỗi quen thuộc: “Anh đi công tác Pờ-Lây (Plei)/ Cu (Ku) dài dằng dặc biết ngày nào vê (về)/ Khi ra anh đến Ban Mê/ Thuột một cái đã rồi về với em“. (Xt: Bút Tre – Tiếng thơ độc đáo miền Đất Tổ”, Thăng Long, Báo Văn Nghệ baovannghe.vn 23/7/2024).

[98] Theo thơ thư pháp Thích Nhất Hạnh: “Chẳng biết rong chơi miền tịnh độ/ Làm người một kiếp cũng như không” (Sách Dấu ấn Phật giáo trong thơ đương đại Việt Nam, Nxb Hội Nhà văn 2025; Hoàng Kim Ngọc, tapchinghiencuuphathoc.vn 22/5/2025). [Xt: Chân Như – khái niệm cốt lõi của triết học Phật giáo, để chỉ bản thể chân thật, tuyệt đối, vĩnh cửu của vạn vật. Nó là thực tại tối hậu vượt mọi ngôn ngữ, khái niệm, phân biệt (nhị nguyên) của thế gian. Chân: Chân thật, vĩnh cửu, không hư vọng, không biến đổi; Như: Như thị, nguyên bản y như thế, không sai lệch. Bản chất của Chân Như, Bất biến và Tùy duyên: Chân Như ở trạng thái tĩnh tại là tuyệt đối, bất biến; nhưng nó cũng “tùy duyên” biến hiện thành các hiện tượng, sự vật đa dạng trong vũ trụ mà vẫn giữ nguyên bản tánh chân thật. Đồng nhất với Phật tính: Chân Như chính là bản tâm thanh tịnh, vô thủy vô chung; có các tên gọi tương đương ở các nghĩa khác nhau, như Phật tính, Pháp thân, Như Lai tạng].

[99] Xt: “Một Việt Nam quốc gia ngũ địa linh” (Chương hồi 4.1) và “Một Việt Nam quốc gia lục địa linh” (Chương hồi 5.5.3).

 

[100] Xt: Về tên gọi “Sài Gòn”

* Sài Gòn là một địa danh tại miền Nam VN. Trong lịch sử hơn 300 năm, địa danh này được dùng cho nhiều đơn vị hành chính khác nhau; kể từ năm 2025 được chính thức để chỉ phường Sài Gòn, trung tâm hành chính của Thành phố Hồ Chí Minh (tên chính thức từ 1976). Với diện tích 3km2 và dân số 47.000 người, phường này được xem là trái tim của thành phố, nơi tập trung nhiều công trình mang tính biểu tượng như Phố đi bộ Nguyễn Huệ, Nhà hát Thành phố, Trụ sở UBND, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Trung tâm và bờ sông Sài Gòn. Biệt danh (biệt hiệu, tên dân gian, tên gọi đùa): Sài Thành; Hòn ngọc Viễn Đông; Paris phương Đông/ Đông phương Ba Lê; Thành đô; Kinh đô sông nước; Anh Hai Nam Bộ; Thành phố; Thành phố mang tên Bác; Thủ phủ công nghiệp mới; Đầu tàu quốc gia; Thủ phủ dầu khí; Nồi lẩu văn hóa Việt; Thành phố đổi/mất tên; Thành phố không có bờ… Từ lâu, người Hoa gọi Sài Gòn là Tây Cống/ 西貢. Vào TK 18 Sài Gòn từng được dùng để chỉ vùng Chợ Lớn chỉ với diện tích 1 km² nơi có đông người Hoa sinh sống; về phạm vi địa lý gần tương ứng với khu Chợ Lớn hiện nay. [Google AI]. Và với sáng tác này, Sài Gòn thêm nick nữa: Đầu gối động chuyển sơn hà.

* Tên “Sài Gòn” có lịch sử dài lâu theo sự hình thành, phát triển của xứ sở Nam Bộ. Có nhiều giả thuyết về xuất xứ tên của địa danh này. Từ đầu TK 20, người Pháp đã nỗ lực tìm hiểu nguồn gốc từ “Sài Gòn” – thành phố mà họ muốn cải biến thành “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Nhưng cái tên dung dị thân quen ấy ngay cả người Việt cũng đều không rõ nghĩa. Sau cả hàng trăm năm, nhiều thế hệ học giả vẫn chưa đồng quan điểm nguồn gốc tên gọi này. Qua rất nhiều nghiên cứu, từ “Sài Gòn” có 3 cách lý giải được đánh giá cao nhất: Thị trấn giữa rừng; Vùng đất ăn nên làm ra; Cống phẩm của phía Tây – trong đó giả thuyết phổ biến cho rằng “Sài Gòn” là cách đọc chệch của tên gọi “Prey Nokor” (tiếng Khmer: ព្រៃនគរ) là “Thành phố trong rừng”. Tên gọi này được chính thức hóa khi chúa Nguyễn Ánh cho xây thành Gia Định vào cuối TK 18. Trải hơn 300 năm quản lý hành chính, kể từ khi Nguyễn Hữu Cảnh thiết lập phủ Gia Định năm 1698, vùng đất này đã mang nhiều tên gọi như Sài Gòn; Chợ Lớn; Gia Định; Bến Nghé; Phan Yên; Phiên An. Trong đó, Sài Gòn là tên gọi phổ biến, lâu bền nhất, không chỉ về hành chính mà còn trong đời sống, văn hóa, xã hội. Năm 1975 giang sơn về một mối sau khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản chính quyền, hợp nhất “Đô thành Sài Gòn” và tỉnh “Gia Định” thành thành phố “Sài Gòn – Gia Định”. Đến 1976, Việt Nam tái thống nhất và Quốc hội Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đổi tên “Sài Gòn – Gia Định” thành “Thành phố Hồ Chí Minh”, theo tên Chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Kể từ đó, “Sài Gòn” không còn là tên gọi hành chính chính thức; tuy thế vẫn được dùng rộng rãi trong ngôn ngữ đời thường, văn học nghệ thuật, du lịch… như là phần tâm thức người dân Việt trong-ngoài nước và không ít người nước ngoài. Về ý tưởng đổi tên “Thành phố Sài Gòn” thành “Thành phố Hồ Chí Minh”: Tại cuộc họp Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Hà Nội ngày 25/8/1946, phái đoàn Nam Bộ đề xuất ý tưởng đó của Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp và được 57 đại biểu tán thành. Nhóm đại biểu đã gửi kiến nghị tới Quốc hội; Báo Cứu Quốc mau mắn đăng dòng tít: “Thành phố Sài Gòn từ nay sẽ đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh”. Thế nhưng khi đó đề xuất chưa được thông qua. [vi.wikipedia.org; Ba lý giải về tên gọi Sài Gòn”, vnexpress.net 1/5/2016; “Ngày Sài Gòn – Gia Định mang tên TP.HCM, Huỳnh Tấn Mẫm, 24h.com.vn 2/7/2026].

 

[101] Xt: Ý thơ từ ngạn ngữ “Phú quý Chân Lạp” để nói về Sài Gòn. Chân Lạp vốn là nước cũ, nay là vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Nhà nước Chân Lạp xưa từng kiểm soát toàn bộ phía Nam bán đảo Đông Dương, trong đó phần Thủy Chân Lạp tương đương Tây Nam Bộ và Đông Nam Bộ của VN bây giờ. Vương quốc Chân Lạp là tiền thân của đất nước Campuchia hiện đại và từng được chia thành 2 phần có đặc điểm địa lý khác nhau: 1. Lục Chân Lạp là vùng đất cao nhiều núi rừng, nằm ở khu vực trung lưu sông Mê Kông, ngày nay chủ yếu thuộc Campuchia và một phần Lào. 2. Thủy Chân Lạp là miền sông nước, sình lầy, đồng bằng châu thổ ở hạ lưu sông Mê Kông; hiện nay bao gồm cả vùng Sài Gòn và Nam Bộ, cùng 1 phần miền nam Campuchia. Từ TK 17, nhà Nguyễn xác lập chủ quyền trong quá trình khai hoang lập ấp của người Việt, dần sáp nhập vùng Thủy Chân Lạp vào lãnh thổ Đại Việt, sau trở thành khu vực Nam Bộ của VN. [vi.wikipedia.org].

[102] Xt: Vùng biển Đông thuộc thềm lục địa phía Nam VN (ngoài khơi cách TP.HCM trong khoảng 60km-370km về phía Đông Nam) có trữ lượng khí đốt rất lớn. Các mỏ khí này đóng vai trò cung cấp nhiên liệu chính cho khu vực Đông Nam Bộ. Các vùng khai thác khí đốt chính là Bể Cửu Long và Bể Nam Côn Sơn nằm ngoài khơi vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu và khu vực lân cận. Các mỏ tiêu biểu: Mỏ Bạch Hổ, Sư Tử Trắng, Hải Thạch – Mộc Tinh, Lan Tây và Lan Đỏ. Hệ thống dẫn khí được đưa vào bờ qua các hệ thống đường ống ngầm lớn như Đường ống khí Nam Côn Sơn để cung cấp cho các nhà máy điện và khu công nghiệp. (Chả thế 1 trong 10 nick của TP.HCM là “Thủ phủ dầu khí” chứ bộ)!

[103] Xt: Ý nói tượng giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) dắt tay hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh từng được người Pháp dựng năm 1903 trước Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, nhưng đã bị dỡ bỏ từ năm 1945. Bức tượng bằng đồng này ghi dấu sự kiện Bá Đa Lộc đưa Hoàng tử Cảnh sang Pháp cầu viện năm 1787.

[104] Xt: Ý nói mồ phần Thượng công Duyệt. Lê Văn Duyệt (1764-1832) – Tả Quân, danh tướng, nhà chính trị kiệt xuất thời nhà Nguyễn. Phò tá Nguyễn Ánh từ thuở thiếu thời, ông lập nhiều công trạng hiển hách, được tôn vinh trong “Ngũ hổ tướng”; nổi bật với 2 nhiệm kỳ Tổng trấn Gia Định có công lớn mở mang, bảo vệ, phát triển vùng Nam Bộ. Các dấu ấn quan trọng: 1. Sự nghiệp quân sự: Phò tá Nguyễn Ánh giành lại thành Gia Định, thống nhất đất nước. Ông là võ tướng hàng đầu, nổi danh ở các trận đánh quân Tây Sơn; 2. Trị quốc tại Gia Định: Ở chức Tổng trấn ông đưa vùng đất này thành trung tâm phồn thịnh bậc nhất đất nước nhờ các chính sách mở cửa giao thương, khoan dung, thiết lập an ninh, và ngoại giao khôn khéo với các nước lân bang; 3. Ảnh hưởng dân gian: Ông được dân Nam Bộ tôn kính gọi là “Ông Lớn Thượng”/”Đức Thượng công” nhờ thanh liêm, thương dân, công minh. Mộ phần, đền thờ ông hiện nay là quần thể Lăng Ông (Bà Chiểu) – tên chính thức là Lăng Ông Tả quân Lê Văn Duyệt – tại số 1 đường Vũ Tùng, Bình Thạnh, TP.HCM và đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2022. 4. Tín ngưỡng: Ông có tình yêu lớn lao với “đạo” nghệ thuật hát bội, thường gây dựng các buổi diễn.

[105] Phóng tác thơ Huỳnh Thúc Kháng (Bài “Quá Sài Gòn cảm tác/ Cảm tác khi qua Sài Gòn”- đã Ct).

[106] Xt:Tựu trường(Thơ Huy Cận, tập “Lửa thiêng” – 1940; thivien.net. Tác giả còn có bài khác trùng tên, trong tập “Hai bàn tay em” – 1967).

[107] Trường đoạn trên được co rút phỏng theo toàn bộ bài thơ “Tôi kinh hãi trước Sài Gòn thuở ấy – 1952” của Bùi Giáng (“Sài Gòn hồi mới vào trong di cảo Bùi Giáng”, Phạm Công Luận, cuoituan.tuoitre.vn 13/5/2026).

[108] Thơ Bùi Giáng (“Độc đáo di cảo Bùi Giáng, vnexpress.net 17/6/2006).

 

[109] Xt:

– “Ngày Việt Nam thống nhất 30/4/1975”:

Sự kiện này đánh dấu mốc lịch sử cực kỳ quan trọng ít nhất ở 2 kết quả: Kết thúc chiến tranh Đông Dương lần II (1954-1975) và giang sơn thu về một mối. Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, đây là lần đầu tiên 2 miền Nam-Bắc của VN được thống nhất trọn vẹn dưới một thể chế nhà nước độc lập, hoàn toàn và toàn vẹn lãnh thổ sau nhiều thập kỷ chia cắt. So sánh với các cột mốc quy tụ/chia cắt lãnh thổ lớn trong lịch sử VN bao gồm: Thời kỳ Bắc thuộc và phong kiến: Đất nước trải qua ít nhất 2 lần bị chia cắt (Đàng Trong – Đàng Ngoài thời Trịnh – Nguyễn phân tranh (1627-1777); và vĩ tuyến 17 chia cắt theo Hiệp định Genève năm 1954). Trong ý nghĩa bao quát và khách quan nhất, sự kiện 30/4/1975 đã hoàn thành quá trình nhất thống sơn hà, khép lại hoàn toàn sự chia cắt 2 miền Nam-Bắc sau 21 năm kể từ Hiệp định Genève.

Chiến tranh Đông Dương lần II (thường được biết đến rộng rãi là Chiến tranh Việt Nam). Đó là cuộc xung đột quân sự khốc liệt diễn ra trong các năm 1954-1975. Đây là cuộc chiến ủy nhiệm mang tính bước ngoặt của Chiến tranh Lạnh, diễn ra chủ yếu tại VN và lan rộng ra toàn Đông Dương (Lào, Campuchia). Phe Cộng sản: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc VN), Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam VN, được hỗ trợ bởi khối Xã hội Chủ nghĩa (đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc); Phe Tư bản: Việt Nam Cộng hòa (Nam VN), được hậu thuẫn trực tiếp bởi Hoa Kỳ và các đồng minh chống cộng (Hàn Quốc, Úc, New Zealand, Thái Lan, Philippines). Bối cảnh và Nguyên nhân: Sau khi Hiệp định Genève VN bị chia cắt thành 2 miền Nam-Bắc qua vĩ tuyến 17. Mục tiêu của Bắc VN là “giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước”, trong khi Mỹ hỗ trợ miền Nam VN nhằm “ngăn chặn làn sóng cộng sản bành trướng ở Đông Nam Á”. Bốn giai đoạn chính của cuộc chiến: 1. Giai đoạn Cố vấn (1954-1964): Mỹ viện trợ cho chính quyền VNCH, chiến tranh du kích diễn ra chủ yếu ở nông thôn miền Nam; 2. Chiến tranh Cục bộ (1965-1968): Mỹ đưa quân viễn chinh vào tham chiến trực tiếp. Đây là giai đoạn leo thang khốc liệt nhất, nổi bật với sự kiện Tết Mậu Thân 1968 làm thay đổi cục diện chính trị; 3. Việt Nam hóa chiến tranh (1969-1973): quân Mỹ bắt đầu được rút dần về nước, chuyển giao trách nhiệm chiến đấu hoàn toàn lại cho QLVNCH; 4. Kết thúc chiến tranh (1973-1975): Hiệp định Paris được ký kết năm 1973 buộc Mỹ phải rút hết quân. Cuộc chiến kết thúc hoàn toàn vào ngày 30/4/1975 sau Chiến dịch Hồ Chí Minh, đánh dấu sự thống nhất 2 miền Nam-Bắc VN. Hậu quả: Cuộc chiến để lại tàn phá nặng nề về người và của cho các nước Đông Dương. Hàng triệu quân nhân, dân thường đã thiệt mạng, cùng với đó là di chứng chất độc da cam, bom mìn còn kéo dài nhiều thập kỷ. [Google AI]

 

Một số bài nhân 30/4 năm nay:

* “Thời và người (Nguyễn Thông, vanviet.info 26/4/2026: “Vậy nên tôi rất nể phục, trân trọng những nơi những cấp đã dám bày mấy tấm pano, khẩu hiệu với nội dung “Kỷ niệm ngày thống nhất đất nước 30/4”. Chỉ chừng ấy thôi đã quá đầy đủ, đạt cả lý lẫn tình.” * “Cho ngày 30 tháng 4: Chuyện bây giờ mới kể” (Ngô Thảo, Báo Tiền Phong 30/4/2021; vanchuongthanhphohochiminh.vn 28/4/2026): “Vấn đề thống nhất sẽ còn nhiều khó khăn là vì thế. Một cái gì thật là của VN, thật là của văn học, mà sao những người viết cứ né tránh mãi!”; “Bao giờ nước mắt có thể “lay lòng gỗ đá” (Huy Đức, FB 25/4/2020 & phantichkinhte123.com 30/4/2026); “Những ngày cuối tháng Tư” (Nguyễn Xuân Thọ, baotiengdan.com 29/4/2026): “Ngày 26/4/2026 bạn hữu ở Paris rủ tôi sang giới thiệu cuốn “Xuyên qua mọi chiến tuyến”. U80 lái xe vượt 1.000km cả đi lẫn về khá mệt mỏi. Nhưng rất bõ công. Chúng tôi được làm quen với nhiều bạn bè mới, tuy mới nhưng rất tâm đắc. Cử tọa là những người từ 2 miền, từng phục vụ, lớn lên từ 2 chế độ. Không ai tranh luận về hòa giải, hòa hợp. Đối với hàng triệu người Việt, chuyện đó là đương nhiên, đã xảy ra từ lâu, không cần đao to, búa lớn, tuyên truyền”; * Lịch sử không thuộc về một phía, mà thuộc về nỗi đau của cả dân tộc” (Hoàng Dũng, sbs.com.au 30/4/2026): “Nếu chỉ giữ lại niềm tự hào chiến thắng, lịch sử sẽ trở nên một chiều. Nếu chỉ giữ lại nỗi đau mất mát, xã hội sẽ bị mắc kẹt trong quá khứ. Điều cần thiết là một cách nhìn bao dung hơn, nơi cả hai phía đều được thừa nhận như một phần của câu chuyện chung.”

* Đã đến lúc cần một chính sách nhân đạo đối với thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa (Xuân Phong, diendanthongtin.org 28/7/2026):

“Hơn nửa thế kỷ sau ngày chiến tranh kết thúc, VN đã đi chặng đường dài trong khôi phục đất nước, hội nhập quốc tế, cải thiện đời sống nhân dân. Nhưng thời gian tự nó không chữa lành mọi vết thương … Trong số ấy có các thương phế binh thuộc quân lực VNCH. Hầu hết nay đã ở tuổi rất cao; nhiều người bị khuyết tật nặng, mất sức lao động, bệnh tật kéo dài, sống khó khăn. Số người còn lại không nhiều, tiếp tục giảm theo thời gian. Vì vậy, câu hỏi cần đặt ra là Nhà nước hôm nay sẽ ứng xử ra sao trước những công dân già yếu đang mang trên thân thể hậu quả cuộc chiến đã lùi xa hơn 50 năm. Một chính sách trợ giúp nhân đạo đối với họ không đòi hỏi phải viết lại lịch sử. Điều cần thiết là nên có cơ chế an sinh phù hợp, dựa theo tuổi tác, thương tật, bệnh tật, hoàn cảnh sống. Nếu được thiết kế thận trọng, minh bạch, đúng pháp luật, đó sẽ là bước đi vừa nhân đạo, vừa thiết thực, vừa có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc đối với tiến trình hòa giải, hòa hợp…

Đây không phải là sự lẫn lộn giữa lịch sử và nhân đạo. Lịch sử cần được nghiên cứu trung thực, với đầy đủ bối cảnh, nguyên nhân, trách nhiệm của các bên. Nhưng chính vì không phủ nhận lịch sử nên chúng ta càng phải nhận thấy một sự thật khác: nhiều cá nhân bị cuốn vào chiến tranh trong hoàn cảnh họ không thể tự lựa chọn hoàn toàn. Sau nửa thế kỷ, việc trợ giúp những người còn sống không làm thay đổi kết luận về quá khứ; nó chỉ cho thấy năng lực đạo lý, sự tự tin của Nhà nước hiện tại … Trở ngại thường được nêu ra là hệ thống pháp luật hiện hành không xếp thương phế binh VNCH vào diện người có công với cách mạng. Nhận định đó đúng, nhưng không đồng nghĩa với việc Nhà nước không có cơ sở pháp lý để trợ giúp họ … Tiêu chí thụ hưởng phải đơn giản, thống nhất, không mang tính ban ơn. Người được trợ giúp là công dân tiếp cận chính sách XH, không phải người xin sự khoan dung. Cách dùng từ trong văn bản, trong quá trình thực hiện cần tôn trọng phẩm giá cá nhân, tránh gợi lại tâm thế thắng–thua. Chính ngôn ngữ hành chính cũng là một thước đo hòa hợp dân tộc … Sự tham gia rộng rãi giúp giải tỏa lo ngại rằng chính sách nhân đạo sẽ làm giảm giá trị chế độ người có công. Trên thực tế 2 chính sách bảo vệ 2 giá trị khác nhau: một bên là sự ghi nhận công lao theo pháp luật; bên kia là bảo vệ phẩm giá, mức sống tối thiểu. Thực hiện tốt chính sách thứ hai không hề làm suy yếu chính sách thứ nhất … Đối với hàng triệu người Việt ở nước ngoài có gia đình gắn với miền Nam trước 1975, cách Nhà nước ứng xử với những thương phế binh còn lại sẽ là tín hiệu mạnh hơn nhiều diễn văn. Nó cho thấy đất nước có thực sự sẵn sàng vượt tâm thế phân cách, xây dựng cộng đồng tương lai hay chưa. Chính sách nhân đạo cũng có giá trị giáo dục thế hệ trẻ; giúp người trẻ hiểu yêu nước không đồng nghĩa với kéo dài hận thù; tôn trọng những người hy sinh cho phía mình không buộc phải thờ ơ nỗi đau của người phía khác; và sức mạnh quốc gia không chỉ thể hiện ở khả năng chiến thắng, mà còn ở khả năng chữa lành sau chiến thắng. Trong truyền thống Việt, “nghĩa tử là nghĩa tận”, “đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”; Nguyễn Trãi từng nói “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”. Những nguyên tắc đạo lý ấy chỉ thực sự sống động khi được chuyển thành cách ứng xử với những trường hợp cụ thể. Những thương phế binh VNCH còn sống nay đều đã bước vào đoạn cuối đời. Họ không còn là lực lượng chính trị, càng không thể là thách thức với chế độ. Họ chỉ còn là những con người già yếu đang mang thương tích lịch sử …

Có thể có ý kiến cho rằng, đất nước còn nhiều khó khăn, không nên thiết lập thêm chương trình riêng. Đây là băn khoăn cần được tôn trọng. Bởi vậy, chính sách đề xuất phải dựa trên khảo sát nhu cầu, không tạo đặc quyền, không làm giảm nguồn lực dành cho người có công, các nhóm bảo trợ xã hội khác. Nhưng công bằng không có nghĩa đối xử giống nhau với mọi hoàn cảnh; công bằng đòi hỏi nhận diện đúng những tổn thương đặc thù, dành sự trợ giúp tương xứng. Cũng có ý kiến lo ngại bước đi như vậy có thể bị diễn giải thành sự thay đổi quan điểm lịch sử. Nỗi lo ấy chỉ xuất hiện khi chúng ta tiếp tục đồng nhất nhân đạo với công nhận chính trị. Một Nhà nước vững mạnh hoàn toàn có thể nói rõ: cách đánh giá lịch sử không thay đổi, chế độ người có công không thay đổi, nhưng mọi công dân già yếu và khuyết tật đều xứng đáng được bảo vệ. Chính sự rạch ròi ấy sẽ làm cho quyết định trở nên thuyết phục.

Vì vậy, đã đến lúc các cơ quan thẩm quyền cần chủ động nghiên cứu, thí điểm cơ chế trợ giúp nhân đạo dành cho họ và những gia đình đang trực tiếp chăm sóc họ. Cơ chế ấy cần nằm trong hệ thống an sinh XH dựa trên nhu cầu thực tế, được thực hiện minh bạch … Hơn 50 năm sau chiến tranh, hòa giải không còn có thể chỉ được đo bằng số người trở về thăm quê hương, lượng kiều hối, số dự án đầu tư. Thước đo khó hơn, nhưng chân thực hơn, là cách chúng ta đối xử với những người không còn gì để đóng góp ngoài chính số phận đau đớn của họ. Chăm lo cho những con người ấy không phải là nhượng bộ quá khứ. Đó là cách quốc gia tự tin khẳng định rằng tương lai chung lớn hơn mọi chia rẽ đã qua. Nếu được thực hiện khi những người liên quan vẫn còn sống, chính sách như vậy có thể chỉ là khoản chi khiêm tốn trong ngân sách quốc gia. Nhưng trong lịch sử hòa giải và hòa hợp dân tộc, đó sẽ là bước tiến lớn về chủ nghĩa nhân đạo.

[Tác giả Xuân Phong là bút hiệu của một nữ nhà báo ở Hà Nội, công tác tại Báo Tin tức, thuộc TTXVN, từng nổi bật với các tác phẩm ký chân dung lịch sử và tản văn giàu cảm xúc].

* Westminster long trọng tổ chức Lễ Tưởng Niệm Tháng Tư Đen lần thứ 51(Theo Lâm Hoài Thạch, nguoi-viet.com 30/4/2026): Ông Nguyễn Kim Bình, Phó CT Cộng Đồng VN Nam California phát biểu: Sau 51 năm có khoảng 2/3 người dân trong nước và hải ngoại được sinh ra sau 30/4/1975. Ở hải ngoại, những người ly hương 1975 đương nhiên họ phải tưởng niệm, vì đó biến cố lớn và buồn trong đời của họ. Còn những người sinh sau 1975 ở hải ngoại thì họ sẽ nghĩ khác. Đó là trong tương lai, họ muốn đất nước mình sẽ được thay đổi, chớ không chỉ làm lễ tưởng niệm 30/4 hằng năm mà thôi; và mong rằng, người trẻ trong nước cùng suy nghĩ như người trẻ hải ngoại.

* “30 tháng Tư trước sự công bằng của lịch sử” (Theo Trần Kiêm Đoàn, vanviet.info 15/4/2026): Nếu phải tìm một cách đánh giá công bằng cho ngày 30/4, có lẽ ta phải chấp nhận rằng công bằng ấy chưa đến, và có thể còn rất lâu mới đến. Nhưng điều đó không có nghĩa là vô vọng. Và có lẽ ngày nào đó, khi thời gian thế kỷ trôi qua, người Việt sẽ không còn nhìn ngày 30/4 bằng những cảm xúc đối nghịch, mà bằng một cái nhìn trầm tĩnh hơn: Như một chặng đường đã đi qua, tuy đầy mất mát nhưng cũng không thiếu những hạt giống của hy vọng nảy mầm. Đến lúc ấy, dấu ấn 30/4 sẽ là đóa hoa chào mừng và nén hương tưởng niệm có thể sẽ được đặt cạnh nhau, trên cùng một bàn thờ ký ức. Không cần thiết phải để hòa tan khác biệt, mà để nhắc rằng, trong tận cùng của mọi khác biệt, vẫn còn một điều chung: chúng ta là người VN bản xứ hay gốc gác VN của một cộng đồng dân tộc toàn cầu có 200 quốc gia với hàng trăm hoặc hàng nghìn nhóm chủng tộc. Và tháng Tư năm nay, tôi hy vọng nhưng vẫn chưa buông được nén nhang tưởng niệm bên cạnh bó hoa chúc mừng“;

* “Tháng Tư và câu chuyện ký ức” (Theo Tino Cao, vanviet.info 7/4/2026):

Việc một bộ phận người Việt hải ngoại tiếp tục phê phán chính quyền trong nước có thể được hiểu như cách giữ lại phần ý nghĩa đời sống bị đứt gãy sau biến cố 1975. Việc tiếp tục chống cộng, nhắc đến tháng Tư đen, gắn bó với lá cờ vàng ba sọc đỏ, với nhiều người, không chỉ là lựa chọn lập trường mà còn là cách giữ kí ức về chính mình không bị phai nhạt. Chính vậy, những gì từ bên ngoài có thể bị xem là cực đoan, cố chấp, lạc hậu, từ bên trong nhiều khi là phương thức sinh tồn tinh thần. Không phải ngẫu nhiên, trong cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt thế hệ ra đi từ những ngày cuối tháng 4/1975, các biểu tượng chính trị thường mang cường độ tình cảm mạnh hơn rất nhiều so với những tranh luận chính trị thông thường. Thêm điểm quan trọng: Chấn thương của người Việt ra đi sau 1975 không chỉ là chấn thương của chiến bại mà còn là chấn thương của lưu đày. Trong nhiều thập niên, một phần cộng đồng lưu vong đã hình dung VN gần như chỉ qua lăng kính của mất mát, phản bội, áp bức. Cách nhìn ấy có nền tảng lịch sử, nhưng nếu không được điều chỉnh, nó dễ xóa mờ đi những thực tại khác đang hình thành trong xã hội VN. Một đất nước sau chiến tranh, sau cấm vận, sau Đổi Mới, với những biến đổi kinh tế, xã hội, văn hóa, thế hệ và tâm lý rất lớn, không thể được hiểu chỉ bằng những phạm trù được cố định từ 1975. Vấn đề không phải là phủ nhận các khuyết tật của nhà nước VN hay tô hồng hiện thực trong nước. Vấn đề là phải thừa nhận rằng hiện thực đã thay đổi, và việc tiếp cận một hiện thực thay đổi đòi hỏi một khung nhận thức mới, rộng hơn, linh hoạt hơn và bớt bị thống trị hoàn toàn bởi kí ức đau thương. Sau 51 năm, có lẽ điều cần thiết nhất không phải là buộc mọi phía phải đồng thuận với nhau, càng không phải là yêu cầu kí ức phải nhường chỗ cho quên lãng. Điều cần hơn là một cách nhìn trưởng thành hơn về bản chất của bất đồng này. Thái độ phê phán sâu sắc và dai dẳng của một bộ phận người Việt hải ngoại đối với chính quyền Việt Nam không thể bị bác bỏ bằng vài công thức giản đơn như “ảo tưởng”, “lỗi thời” hay “thù hằn vô căn cứ”. Đằng sau nó là một lịch sử mất mát có thật, một cấu trúc kí ức tập thể được duy trì qua nhiều thập niên, một nhu cầu bảo vệ căn tính trong đời sống lưu vong, và một nỗ lực không phải lúc nào cũng thành công nhằm giữ cho đau thương của mình không bị lịch sử xóa mất. Nhưng đồng thời, cũng phải nhìn nhận rằng bất kì cộng đồng nào nếu chỉ sống bằng kí ức bị tổn thương mà không dần dần phát triển những khả năng tự phản tư, phản biện mới, thì rất dễ tự nhốt mình trong quá khứ mịt mù và vô nghĩa. Đó là giới hạn mà một bộ phận cộng đồng người Việt hải ngoại cũng đang phải đối diện. Vì vậy, một cách tiếp cận công tâm, tỉnh táo và khách quan đòi hỏi phải tránh cả hai thái cực, không rơi vào cái bẫy của cực đoan. Một bên là thái độ phủi bỏ, xem mọi phê phán như biểu hiện của cố chấp và hận thù. Bên kia là thái độ tuyệt đối hóa kí ức, xem nó như chân lý cuối cùng miễn nhiễm với mọi chất vấn. Giữa hai cực ấy là một không gian khó kiến tạo nhưng giữ được sự trung thực: nơi nỗi đau được thừa nhận mà không bị thần thánh hóa, biến chuyển của hiện thực được nhìn nhận mà không bị xem như phản bội quá khứ, và kí ức được gìn giữ mà không trở thành nhà tù. Chính trong không gian ấy, câu chuyện tháng Tư của người Việt hải ngoại mới có thể được hiểu đúng hơn, không như một tàn dư đơn giản của lịch sử mà là biểu hiện của một cộng đồng vẫn đang thương lượng với mất mát, với căn tính, thời gian và một quê hương họ chưa bao giờ thôi mang theo trong mình.

* Thiêng liêng lời thề lịch sử trong lễ chào cờ trên đảo Trường Sa ngày 30/4(Theo Tho Duy Vũ, vannghequandoi.com.vn 30/4/2026): Trong hành trình đến với Trường Sa và nhà Giàn DK1/15 của đoàn công tác Tổng cục Chính trị do Thượng tướng Đỗ Xuân Tụng, Ủy viên BCHTWĐ, Ủy viên QUTW, Phó Chủ nhiệm TCCT làm trưởng đoàn, con tàu KN491 vượt biển vào dịp 30/4/2026. Buổi lễ chào cờ và duyệt đội hình đội ngũ của đoàn công tác đã diễn ra trang nghiêm trên Quần đảo Trường Sa. Không gian mênh mông nơi trùng khơi ấy, mỗi thành viên đều đắm chìm trong suy tưởng về hành trình Giải phóng Trường Sa vào những năm 1970 của thế kỷ trước. Và trong dòng chảy lịch sử ấy có cả dấu mốc về sự kiện Gạc Ma nơi 64 cán bộ chiến sĩ Hải quân đã hy sinh để bảo vệ chủ quyền biển đảo trong năm 1988. Và cũng là một cách rất trực tiếp để khẳng định chủ quyền giữa biển khơi.

* Món nợ đạo lý chưa trả của nước Mỹ và nỗi đau nửa thế kỷ của người Việt hải ngoại” (C. Paine nghiencuuquocte.org on 4/4/2026) & “Bài viết cố gắng dựng lên một bức tranh cực kỳ bi thảm về số phận người miền Nam và Việt kiều: nạn nhân bị Mỹ lợi dụng, rồi bỏ rơi, suốt nửa thế kỷ chỉ sống trong nỗi đau tha hương và tổn thương văn hóa. Tuy nhiên, khi mổ xẻ kỹ bài viết, chúng tôi thấy luận điểm chính của bài gần như sụp đổ.” (Ba Sàm, anhbasamdotvet.wordpress.com 5/4/2026).

* Khi ngoại giao gặp trí tưởng tượng chính trị” (Tino Cao, baotiengdan.com 23/6/2026): “Tấm ảnh Hùng Cao bắt tay Tô Lâm ngày 22/6 ở Hà Nội đang chiếm sóng FB. Cái bắt tay ấy có gì lạ đâu nhỉ … Một quan chức Mỹ đến VN trong tư cách quyền bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ thì bắt tay lãnh đạo nước chủ nhà là chuyện ngoại giao thường tình. Nhưng tấm ảnh ấy vẫn cứ phải gây xôn xao vì nó bị người ta gom quá nhiều thứ vào một khung hình: Chiến tranh cũ, thân phận tị nạn, quan hệ Việt-Mỹ, tính toán của 2 nhà nước, và cả thói quen phán xét chính trị rất ồn ào của người Việt 2 bên bờ Thái Bình Dương. Với báo chí trong nước, tấm ảnh ấy được mô tả như hình ảnh đẹp của quan hệ Việt-Mỹ. Một người Mỹ gốc Việt rời quê hương sau 1975 nay trở lại Hà Nội trong vai trò một viên chức cao cấp của Hải quân Mỹ, được lãnh đạo cao nhất của VN tiếp đón. Lối bình luận ấy rất thuận tai với câu chuyện hòa giải: Quá khứ khép lại, hợp tác mở ra, VN được coi trọng, người Việt ở nước ngoài vẫn có thể trở về và đóng góp cho quê hương … Với một phần dư luận có lập trường chống cộng quyết liệt ở hải ngoại, tấm ảnh lại được bình luận theo hướng ngược lại. Họ không thấy Hà Nội thắng trong khoảnh khắc ấy. Họ thấy Hà Nội phải tiếp một người thuộc thế giới tị nạn sau 1975, nay trở lại bằng tư cách đại diện cho nhà nước Mỹ. Hùng Cao, trong cách nhìn đó, không phải một Việt kiều hồi hương mềm lòng mà là người của phía bại trận phải di tản và lưu vong, nay quay về đứng trước một lãnh đạo cộng sản là Tô Lâm, nhìn thẳng vào mắt ông ta trong một tư thế khác. Với những người không ưa MAGA, hoặc vốn nghi ngờ cách Hùng Cao dùng căn cước tị nạn trong chính trị Mỹ, tấm ảnh lại có mùi vị khác. Hùng Cao không phải một viên chức chính trị nhạt màu. Ông là một gương mặt MAGA đúng nghĩa: Ứng viên Cộng Hòa được Trump tích cực hậu thuẫn, xây dựng hình ảnh quanh lý lịch quân đội và tị nạn, đồng thời đánh rất đúng vào các mạch cảm xúc quen thuộc của cử tri bảo thủ … Chính vì vậy, hình ảnh Hùng Cao bắt tay Tô Lâm khiến nhiều người nhớ đến tiêu chuẩn kép trong cộng đồng người Việt lưu vong ở Mỹ. Nếu một chính khách Dân Chủ gốc Việt đứng trong khung hình ấy, chắc những chữ như “thân cộng,” “quên tháng Tư,” “phụ bạc người tị nạn” sẽ tuôn ra xối xả. Nhưng vì người bắt tay là một MAGA chính hiệu, nhiều MAGA Việt bỗng trở nên điềm tĩnh và bắt đầu nói chuyện ngoại giao, lợi ích quốc gia, bàn cờ Thái Bình Dương. Tấm ảnh ấy nên được đặt đúng chỗ của nó. Động tác ngoại giao trong chuyến công vụ, giữa lúc VN và HK có nhiều lý do để nói chuyện về an ninh hàng hải, hợp tác quốc phòng, cứu trợ nhân đạo, rà phá bom mìn, tìm kiếm hài cốt quân nhân Mỹ mất tích, khắc phục hậu quả chất độc da cam, và giữ thế cân bằng chiến lược trước TQ. Trong khung cảnh ấy, Hà Nội không tiếp Hùng Cao như một biểu tượng MAGA hay một người hùng lưu vong đã quá thì. Hà Nội tiếp một chức danh của Hoa Kỳ … Giới chức gặp gỡ giới chức. Phía sau cái bắt tay kia là lợi ích của mỗi bên, và cả hai đều có việc cần đến nhau. Chỉ vậy thôi.”

* Bạo lực nội tại Á châu và cái bẫy tự gỡ tội của chủ nghĩa ngoại lệ (Tino Cao FB, 17/6/2026): Vấn đề sâu hơn là chủ nghĩa ngoại lệ Mĩ rất giỏi thứ diễn ngôn tự vấn. Nó không nhất thiết phải luôn vỗ ngực rằng nước Mĩ đúng. Nhiều khi nó nói rằng nước Mĩ có sai, có tội, có trả giá, có đau đớn, nhưng chính cách tự phê phán ấy lại chứng minh nước Mĩ khác các đế quốc khác. Đây là cái bẫy tinh vi nhất. Mỹ Lai trở thành vết thương lương tâm của người Mĩ nhiều hơn nấm mồ của dân làng VN. Chiến tranh VN trở thành chấn thương của cựu binh Mĩ nhiều hơn thảm họa của người Việt, Lào, Campuchia. Người tị nạn VN trở thành bằng chứng cho lòng rộng lượng của Mĩ nhiều hơn bằng chứng về một cuộc chiến làm tan nát một đất nước. Khi Snepp viết về cuộc di tản và tái định cư bằng giọng nhấn vào nghĩa vụ và lòng trắc ẩn, ông thực hành đúng cái diễn ngôn ấy. Nước Mĩ giữ quyền kể cả tội lỗi của mình theo cách sau cùng vẫn cứu được hình ảnh của mình. * “Đọc Xuyên qua mọi chiến tuyến của Nguyễn Xuân Thọ” (Nxb Khoa học-Công nghệ-Truyền thông 2025; “lúc đầu tác giả định chọn tựa đề là câu nói của Manfred Hinrich: “Thực ra kẻ thù cũng là người”. Câu nói “quá nhạy cảm”, nên tác giả chỉ trích dẫn ở trang đầu”; theo NNG, diendan.org 6/4/2026);

* “Ông Việt Cộng gốc Đức” (Nguyễn Xuân Thọ, vietluan.com.au & vanviet.info 21/6/2026): “Ngày 30/4 Stephan là một nhân chứng rất đặc biệt trong sự kiện đó, khác hẳn mọi phóng viên chiến trường, vì anh là phóng viên trá hình và không được trả tiền. Anh khác hẳn những người lính miền Bắc, vì anh đến từ phương Tây tư bản, anh khác hẳn những người bên kia vì anh yêu Việt Cộng. Cuối cùng Stephan khẳng định: “Từ khi bước chân đến VN, tớ đã cảm thấy một dân tộc khao khát hòa bình. Cuộc chiến tranh tàn bạo nhất thế kỷ 20 kết thúc êm như một điều thần kỳ chính vì ý nguyện của tất cả những người trong cuộc. Cả dân tộc đã nhận ra rằng đến lúc phải thôi bắn giết! Điều thần kỳ này không phải do đám chính trị làm nên, không hề vì thắng lợi của cách mạng, chẳng phải vì bọn cường quốc đánh cờ trên lưng VN, chẳng phải vì ai bán đứng ai cả.” Đây quả là một nhận định mới về 30/4 mà tôi chưa được nghe từ người VN nào. Kết luận lạ tai của Stephan về kết cục chiến tranh khiến tôi trầm ngâm: “Cậu nghĩ sao về ý nguyện của dân tộc này, khi chính cậu, chỉ vài tháng sau đó đã bất hạnh về những đau khổ mà người Việt phải chịu đựng, về những cơ hội bị vứt đi sau chiến tranh?”; “Thọ ạ, đó chính là bi kịch của mỗi dân tộc. Người ta có thể tạo ra cái kết đẹp của một cuộc chiến để rồi lao vào một khởi đầu xấu cho nền hòa bình”.

* “Lời chào trước khi hai cha con rời Việt Nam(Nguyễn Đình Minh Trị, Tam Nguyen FB 21/8/2026); Gửi anh Nguyễn Đình Minh Trị(FB Vân Vân 22/8/2026 & anhbasamdotvet.wordpress.com 23/8/2026):

“Chỉ còn vài ngày nữa, 2 cha con tôi sẽ rời VN. Ngay sau khi về đến Houston, Tâm sẽ trở lại trường để tiếp tục việc học […] Hai cha con rời VN với rất nhiều cảm xúc … Tâm sẽ mang theo những vết thương mà người cha như tôi chỉ ước mình có thể gánh thay cho con. Nhưng giữa những ngày khó khăn nhất, chúng tôi cũng đã nhìn thấy tình người. Đó là những người chưa từng quen biết nhưng vẫn gửi lời động viên. Đó là những người phụ nữ đã khóc khi đọc câu chuyện của Tâm. Đó là những người đã âm thầm cầu nguyện, lên tiếng và nhắc Tâm rằng cháu không hề đơn độc. Đó còn là những cán bộ, luật sư, bạn bè và các cơ quan đã lắng nghe, hướng dẫn và giúp đỡ 2 cha con trong những lúc chúng tôi gần như kiệt sức. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên những tấm lòng ấy … Đến thời điểm này, vụ việc đã được các cơ quan chức năng tiếp nhận, xử lý theo pháp luật … Cha con tôi sẽ kiên nhẫn chờ đợi phán quyết công bằng, dựa trên sự thật, chứng cứ, quy định của pháp luật.

Nếu thật sự thương Tâm, xin mọi người hãy tiếp tục quan tâm một cách bình tĩnh, có trách nhiệm, tôn trọng pháp luật … Thời gian, chứng cứ, quá trình xét xử sẽ trả lời tất cả. Một số người trên mạng nói rằng vì tôi là “đại gia”, có tiền, có quan hệ nên mới có thể đưa vụ việc đi đến ngày hôm nay. Tôi xin khẳng định rằng tôi không dùng bất kỳ đồng tiền nào để mua chuộc, tác động, làm thay đổi quá trình giải quyết vụ án … Đây không phải là cuộc chiến chống lại VN. Đây cũng không phải là cuộc đấu xem gia đình nào có nhiều tiền, quyền lực, quan hệ hơn. Đây chỉ là hành trình của người cha đồng hành cùng con gái mình để tìm kiếm sự thật, sự công bằng, công lý theo pháp luật. Bởi đối với tôi, VN vẫn luôn là quê hương.

Ba tôi là Đại tá Nguyễn Đình Tuyên, từng là Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng [QLVNCH] trước năm 1975. 3 năm trước khi ba tôi qua đời, tôi đã mời ông trở lại Hà Nội tham dự sự kiện ký kết hợp đồng dự án vệ tinh VINASAT của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VN và Lockheed Martin vào năm 2007, để ông tận mắt nhìn thấy phần công việc, sự đóng góp của con trai mình … Sau chuyến đi ấy, ba tôi rất vui … Với người đã đi qua chiến tranh, phải rời quê hương, sống phần đời còn lại ở đất nước khác, niềm vui ấy có ý nghĩa vô cùng lớn. Có lẽ trong khoảnh khắc đó, ba tôi hiểu rằng dù lịch sử đã đưa gia đình đi rất xa, sợi dây nối chúng tôi với quê hương chưa bao giờ bị cắt đứt. Khi 7 anh em chúng tôi nhập quốc tịch HK, ba tôi không muốn bất kỳ người con nào bỏ tên VN để đổi sang tên Mỹ. Ông muốn tất cả chúng tôi vẫn giữ nguyên tên mà cha mẹ đã đặt từ khi chào đời. Ba tôi hiểu rằng quốc tịch có thể thay đổi, nơi sinh sống có thể thay đổi và cuộc đời có thể đưa con người đi qua nhiều bờ đại dương. Nhưng cái tên Việt Nam chính là lời nhắc nhở mỗi ngày về nguồn cội của mình. Trong mỗi cái tên mà cha mẹ Việt Nam đặt cho con đều có một ước mơ, một lời cầu chúc, một phần tình yêu của gia đình. Giữ lại tên Việt không chỉ là giữ vài chữ trên giấy tờ. Đó là giữ lại tiếng gọi của cha mẹ, ký ức của tổ tiên và nơi mình đã bắt đầu. Đến thế hệ các con tôi cũng vậy. Các con tôi đều mang những cái tên Việt Nam. Sau khi trở thành công dân HK, không cháu nào bỏ tên Việt để đổi sang một cái tên Mỹ. Quỳnh Tâm cũng mang một cái tên rất Việt Nam. “Tâm” là trái tim, là lòng nhân hậu, cũng là lương tâm con người. Khi đặt tên con là Tâm, cha mẹ nào cũng mong con lớn lên biết yêu thương, sống tử tế, giữ được điều ngay thẳng trong lòng. Có lẽ hành trình mà 2 cha con tôi đang đi qua cuối cùng cũng trở về với 1 chữ “Tâm”. Đó là cái tâm khi chúng ta đối xử với 1 người đang bị tổn thương. Là lương tâm khi đứng trước sự thật. Là trách nhiệm của người thực thi pháp luật. Là sự tử tế của những người chưa từng quen biết nhưng vẫn dang tay giúp đỡ. Và trên hết, đó là trái tim của người cha chỉ mong con gái mình được bình an, được đối xử công bằng …

Tôi may mắn rời VN năm 1975 … Bạn của ba tôi làm việc tại Đại sứ quán HK đã cho người đến đón cả gia đình tại nhà, đưa chúng tôi vào khu DAO ở phi trường Tân Sơn Nhất. Gia đình tôi không phải vượt biên bằng đường biển, không phải chịu những cảnh đau thương rất nhiều thuyền nhân đã trải qua … Tôi hiểu những nỗi đau ấy có thể kéo dài suốt đời người … Mỗi người Việt ở hải ngoại có hoàn cảnh, ký ức và con đường riêng. Không ai có quyền bắt người khác phải quên đi nỗi đau của mình. Tôi cũng không bao giờ phán xét những người đã chọn con đường khác với tôi. Tôi đã chọn trở về VN, mang theo kiến thức, kinh nghiệm, khả năng để đóng góp cho đất nước nơi tôi sinh ra. Có những người bạn của tôi lại chọn ở lại hải ngoại, tiếp tục lên tiếng và đấu tranh cho những giá trị mà họ tin rằng sẽ mang đến một tương lai tốt đẹp hơn cho VN. Tôi không cho rằng con đường mình chọn cao quý hơn, đúng đắn hơn hay yêu nước hơn con đường khác. Chúng ta có thể khác nhau về cách nhìn lịch sử, quan điểm chính trị, cách thể hiện tình yêu dành cho quê hương. Có người chọn trở về để xây dựng. Có người chọn đứng từ bên ngoài để đấu tranh, lên tiếng. 2 con đường có thể khác nhau, nhưng sâu thẳm trong lòng, chúng ta vẫn có thể cùng hướng đến 1 ước mong: người VN được sống trong tự do, bình an, hạnh phúc; đất nước VN ngày càng phát triển, giàu mạnh; và dù sống ở bất cứ nơi đâu, chúng ta vẫn có thể tự hào nói rằng mình là người VN. Tình yêu quê hương không thuộc độc quyền của bất kỳ cá nhân, tổ chức hay quan điểm chính trị nào. Không ai có quyền nói rằng chỉ có con đường của mình mới là yêu nước. Chúng ta không cần phải quên quá khứ mới có thể bước về phía trước. Nhưng chúng ta cũng không nên biến nỗi đau của thế hệ mình thành lòng thù hận truyền lại cho con cháu. Điều chúng ta nên trao lại cho các con là sự thật, lòng tự trọng, tình yêu quê hương, sự tử tế và khát vọng góp phần làm cho VN phát triển, giàu mạnh và thịnh vượng hơn …Tôi đã dành gần 20 năm làm việc, đóng góp tại VN. Dù đang sống bên kia đại dương, nơi tôi sinh ra vẫn là quê hương của tôi. Tôi luôn dạy các con rằng nguồn gốc của mình không phải là điều để trốn tránh mà là điều cần trân trọng.

Tôi tin rằng sau khi những tổn thương dần được chữa lành, Tâm sẽ còn quay trở lại VN. Cháu sẽ trở lại không phải với sự thù hận, mà với mong muốn đóng góp theo cách của thế hệ mình, giống như tôi đã từng trở về, đóng góp theo cách của thế hệ tôi. Tâm đến VN lần này với mong muốn hiểu thêm về quê hương nơi mình sinh ra. Cháu rời đi với những vết thương mà người cha như tôi ước gì có thể mang thay cho con. Nhưng tôi không muốn những gì đã xảy ra khiến Tâm mất niềm tin vào cả 1 đất nước hay hàng triệu người VN tốt bụng đã yêu thương, động viên và đứng bên cạnh cháu. 1 hành động sai trái của 1 cá nhân không thể đại diện cho cả 1 dân tộc. 1 vụ việc đau lòng cũng không thể xóa đi tình yêu của chúng tôi đối với quê hương. Điều tôi mong muốn cuối cùng không chỉ là công lý cho Tâm. Tôi mong câu chuyện của con gái mình có thể giúp những người từng bị tổn thương có thêm can đảm để lên tiếng, để không 1 người nào phải chịu đau đớn trong im lặng, để mọi người đều được đối xử bình đẳng trước pháp luật.

Tôi cũng mong người VN, dù đang sống trong nước hay ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới, dù đã chọn những con đường khác nhau, vẫn có thể nhìn nhau bằng sự cảm thông, đối xử với nhau bằng tình người, cùng gìn giữ niềm tự hào về nguồn cội. Hộ chiếu của chúng ta có thể mang những màu sắc khác nhau. Chúng ta có thể nói những ngôn ngữ khác nhau, sống ở 2 bên bờ đại dương. Nhưng khi nghe hai tiếng “Việt Nam”, trong trái tim mỗi người vẫn có 1 nơi rất riêng để nhớ về. Đó là quê hương. Xin cảm ơn Việt Nam. Xin cảm ơn bạn bè và tất cả những người đã ở bên cha con tôi trong những ngày khó khăn nhất.

Hai cha con tôi xin chào tạm biệt. Và hẹn một ngày trở lại.

Nguyễn Thị Quỳnh Tâm & Nguyễn Đình Minh Trị.”

* “Hai cha con anh Trị và Quỳnh Tâm đã về đến Houston(Lê Quốc Vinh FB 23/8/2026 & anhbasamdotvet.wordpress.com 24/8/2026):

“Như Tâm đã nhiều lần khẳng định, Tâm không muốn cuộc đấu tranh này chỉ dừng lại ở việc đòi công lý cho riêng mình. Tâm mong chuyện của mình có thể giúp những phụ nữ VN từng rơi vào hoàn cảnh tương tự, đặc biệt những người nghèo, không tiền bạc, không quan hệ, đang bị đe dọa, sợ hãi, phải im lặng vì xấu hổ, có thêm can đảm đứng lên, nói sự thật, đòi hỏi công lý cho chính mình. Có lẽ từ câu chuyện của Tâm, VN cũng nên bắt đầu 1 cuộc đối thoại mạnh mẽ hơn về xâm hại tình dục, về quyền được lên tiếng của nạn nhân, về sự đồng thuận trong các mối quan hệ. Có người có thể nghĩ đến tinh thần “Me Too Vietnam” phù hợp với văn hóa, pháp luật VN. Nhưng điều quan trọng không là tạo ra 1 phong trào hay để mạng xã hội thay thế tòa án, càng không phải để kết tội bất kỳ ai khi pháp luật chưa có phán quyết. Điều quan trọng là để phụ nữ biết họ không cần phải im lặng vì sợ hãi, xấu hổ; rằng khi có sự việc xảy ra, họ có quyền lên tiếng, tìm kiếm sự bảo vệ, yêu cầu pháp luật bảo vệ. Tôi cũng mong rằng từ câu chuyện của Tâm, chúng ta có thể nói nhiều hơn về điều tưởng như rất đơn giản: không 1 người phụ nữ nào phải chứng minh rằng mình hoàn hảo thì mới xứng đáng được bảo vệ. Người phụ nữ có thể đi chơi, có thể uống rượu, có thể có những lựa chọn trong cuộc sống mà người khác không đồng tình. Nhưng những điều đó không có nghĩa là người khác có quyền xâm phạm cơ thể của cô ấy. Tôi nghĩ đây là điều xã hội cần nói với những người phụ nữ từng rơi vào hoàn cảnh giống Tâm: nếu 1 ngày điều không may xảy ra với bạn, đừng nghĩ rằng đó là lỗi của mình. Đừng để sự xấu hổ, những lời phán xét hay hoàn cảnh của người đã gây tổn thương khiến bạn phải im lặng. Hãy lên tiếng. Hãy tìm kiếm sự giúp đỡ. Hãy lưu giữ chứng cứ. Hãy tìm đến những người mà mình tin tưởng và những cơ quan có trách nhiệm bảo vệ mình.

Tôi hiểu Tâm có điều may mắn mà rất nhiều phụ nữ khác không có. Khi cháu lên tiếng, cháu có gia đình đứng bên cạnh. Cháu có những người bạn của gia đình sẵn sàng giúp đỡ. Cháu có điều kiện để tìm luật sư, tìm đến các cơ quan chức năng và đưa tiếng nói của mình ra công chúng. Nhưng công lý không nên phụ thuộc vào những điều đó. Một cô gái nghèo, không có người cha “có tiếng nói”, không quen biết ai, không có luật sư giỏi hay những người bạn làm truyền thông cũng phải có quyền được lắng nghe, được pháp luật bảo vệ như con gái tôi. Có lẽ đó mới là điều lớn nhất mà tôi mong câu chuyện của Tâm có thể để lại. Tôi không mong Tâm trở thành biểu tượng. Tôi chỉ mong con gái mình có thể trở lại trường, tiếp tục việc học, chữa lành những tổn thương, sống cuộc đời mà cháu đáng lẽ phải được sống. Nếu từ sự can đảm của Tâm, 1 người phụ nữ khác có thêm can đảm để lên tiếng; nếu 1 người cha, người mẹ nào đó biết cách đứng bên cạnh con mình khi con gặp biến cố; nếu 1 người đàn ông trẻ hiểu rõ hơn rằng sự đồng thuận, tôn trọng là giới hạn không thể vượt qua; nếu 1 người từng có ý định im lặng vì sợ hãi nhận ra rằng mình vẫn có quyền tìm kiếm công lý, thì những đau đớn mà Tâm đã phải trải qua ít nhất cũng để lại điều có ý nghĩa xã hội. Cha con tôi đã trở về nhà, nhưng hành trình tìm kiếm công lý vẫn chưa kết thúc. Những ồn ào rồi sẽ qua. Điều còn lại phải là sự thật, công lý; hy vọng sau câu chuyện của Tâm, sẽ có thêm nhiều phụ nữ không còn phải sợ hãi khi đứng lên bảo vệ chính mình. – Minh Trị”.

 

[110] Theo thơ Nguyễn Hàn Chung (Bài “Tạm biệt Sài Gòn, thekymoi.media 3/7/2026).

Xt: Về Văn khoa Sài Gòn

* Trong ký ức và lịch sử văn hóa miền Nam, Đại học Văn khoa Sài Gòn từng được xem là biểu tượng với 3 giá trị nổi bật sau: 1- Tinh thần giáo dục khai phóng: Trường có chính sách tự do ghi danh (chỉ cần bằng tú tài toàn phần, không qua thi tuyển), mở rộng cửa cho mọi tầng lớp. Đây là biểu tượng của nền giáo dục đại chúng, nơi nuôi dưỡng tư duy độc lập và tự do học thuật;  2- Cái nôi của văn chương và tình yêu nghệ thuật: Nơi đây hội tụ nhiều triết gia, nhà văn, học giả lớn, là bối cảnh sản sinh ra một thời kỳ rực rỡ của văn học, triết học và âm nhạc miền Nam; 3- Biểu tượng của phong trào đấu tranh sinh viên: Vào thập niên 1960-1970, Văn khoa là điểm xuất phát của nhiều phong trào tranh đấu yêu nước, biểu tình rầm rộ, đòi hòa bình, dân chủ của thanh niên, trí thức đô thành.

* Là thành viên Viện Đại học Sài Gòn, trường Đại học Văn khoa Sài Gòn là 1 trong những trung tâm giáo dục, văn hóa nổi bật nhất miền Nam trước 1975. Sau 1975, trường được sáp nhập và hiện nay là trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM, tọa lạc số 10-12 Đinh Tiên Hoàng, Q. 1, TP.HCM, hiện có hơn 20.000 người học, với hàng trăm học viên nước ngoài, và trở thành trung tâm đào tạo nhân lực ngành khoa học xã hội và nhân văn lớn nhất ở phía Nam. Với cơ sở khai sinh trường ở góc đường Nguyễn Trung Trực và đường Gia Long (nay là đường Lý Tự Trọng) nơi diễn ra lễ khai giảng đầu tiên năm 1957, kể từ năm 1964 Đại học Văn khoa dời về đường Cường Để (đường Đinh Tiên Hoàng ngày nay) trong khuôn viên thành Cộng Hòa cũ. Tại đây các nam thanh nữ tú Văn khoa được sống trong khung trời mơ mộng với ngôi trường cổ kính và những con đường rợp bóng cổ thụ. Sát bên trường Văn khoa là Thảo Cầm Viên như khu rừng thu nhỏ giữa lòng thành phố và ngôi trường trung học Trưng Vương với những nữ sinh duyên dáng mỗi buổi tan trường. “Hỡi người tình Văn khoa, bóng người trên hè phố; Lá đổ để đưa đường, hỡi người tình Trưng Vương” là những câu hát trong bài “Con đường tình ta đi” của nhạc sĩ Phạm Duy vốn trở nên quen thuộc với sinh viên Văn khoa thời đó.

* Khu “tam giác sắt” ở trung tâm Sài Gòn: Đại học Văn khoa là 1 trong những trung tâm phong trào đấu tranh của sinh viên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn trước 1975. Ngày 1/5/1957, sinh viên Văn khoa xuống đường cùng hàng nghìn công nhân đưa yêu sách 39 điều của Tổng liên đoàn lao động, với điều cuối cùng đòi thống nhất đất nước bằng cách hòa bình. Cùng năm, Ban Cán sự học sinh, sinh viên do Hồ Hảo Hớn lãnh đạo cử đại diện lên Nha Học chính, đòi mở thêm trường công, thực hiện chuyển ngữ ở đại học. Tiếp đó, phong trào đòi dùng tiếng Việt ở bậc đại học ra đời, lan rộng ra các trường đại học ở miền Nam. Trước khi Mỹ đổ quân vào miền Nam VN, không khí chính trị ở đô thành Sài Gòn nóng dần ở các đại học. Các giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Tôn Thất Dương Kỵ, Nguyễn Văn Kiết, Nghiêm Thẩm đứng ra cảnh báo tình hình nghiêm trọng của đất nước, giúp sinh viên thêm động lực hoạt động chống chiến tranh, đòi hòa bình, thống nhất. Ở ngay trung tâm Sài Gòn đã hình thành khu “tam giác sắt”, như căn cứ địa do sinh viên làm chủ, trong đó Đại học Văn khoa là chủ chốt. Giữa năm 1968, nhà chức trách Sài Gòn bao vây trụ sở Tổng hội sinh viên Sài Gòn ở số 4 đường Duy Tân và tuyên bố xóa sổ trụ sở. Suốt những năm tháng ấy, hầu như ngày nào cũng có biểu tình, đấu tranh ở khu này và khu quảng trường trước Hạ viện cho đến tháng 4/1975. Cùng với phong trào đấu tranh chống quân sự hóa học đường, sinh viên Văn khoa còn quyết liệt chống đàn áp học sinh, sinh viên. Ngoài ra, họ đã cùng hàng nghìn sinh viên Sài Gòn đã thức trắng đêm 24/4/1970 tại khuôn viên Đại học Khoa học Sài Gòn truy điệu các Việt kiều ở Campuchia bị chính quyền Lon Nol khủng bố, tàn sát.

(Google AI; “Trường đại học được hình thành từ thời Pháp ở Sài Gòn, vnexpress.net 4/9/2017).

 

[111] Các chữ in nghiêng trong trường đoạn này là trích tiểu thuyết Nguyễn Đức Tùng (“Thuyền”, Nxb Phụ Nữ 2025). Xt: Đó là cuốn tiểu thuyết đang nổi bật như là cuốn truyện văn học đầu tiên được xuất bản chính thức trong nước có đề tài xung quanh vấn đề thuyền nhân VN. Qua cấu trúc khác lạ với rất nhiều chương hồi ngắn dài bất định, liên kết không tuyến tính, cuốn tiểu thuyết tái hiện hành trình vượt biên đầy sinh tử của người Việt trong thập niên 1980. Tác phẩm kết hợp nhẹ nhàng nhiều loại hình nghệ thuật, nhiều kỹ thuật văn xuôi (kể chuyện, hồi ức, trần thuật thực tại) giàu chất thơ phác họa hành trình hiện thực lẫn nội tâm sâu rộng. Các ghi nhận chính: 1. Về nội dung, tác phẩm như là bức tranh ký ức về những chuyến hải trình vượt biển tìm đường sống, nơi con người phải đối mặt với ranh giới sinh tử, bão tố và nhất là hải tặc. Không chỉ kể lại sự kiện, cuốn sách đi sâu vào thế giới nội tâm, ám ảnh và những vết thương tinh thần “hậu vượt biên” của người tị nạn; 2. Về hình thức nghệ thuật: Cuốn tiểu thuyết gồm 55 chương, mỗi chương như một tùy bút riêng biệt, kết hợp chất văn xuôi và thơ ca tạo nên nhịp điệu chậm rãi, giàu suy tưởng; 3. Sự đón nhận: Cuốn truyện gây tiếng vang lớn ngay khi ra mắt vào tháng 6/2025 như là “hiện tượng văn học đương đại”, đã được in nối bản chỉ sau 8 ngày phát hành. Trong năm qua có tới hơn 50 bài phê bình, nhận định, thảo luận giá trị, đa chiều với 4 buổi ra mắt sách dọc ngang trong ngoài Hình Chữ S: Hà Nội – Huế – Sài Gòn/TP.HCM – Quận Cam/California (“Tiểu thuyết Thuyền tái hiện hành trình sinh tử của người di tản thập niên 1980”, phunuvietnam.vn 13/6/2025; “Những đường ray trí nhớ và sự bất khả giải của phận người“, Bùi Vĩnh Phúc vanviet.info 12/8/2026).

[112] Xt:Quán Kỳ Nam” (tên quốc tế: Ky Nam Inn): Bộ phim điện ảnh VN của đạo diễn Leon Quang Lê, công chiếu cuối năm 2025. Tác phẩm xoay quanh mối tình ý nhị, nhiều giằng xé nhưng bị kìm hãm giữa Kỳ Nam (nữ trung niên, gốc Hà Nội di cư 1954, góa chồng) và Khang (dịch giả trẻ, gốc Bắc vừa mới vô Sài Gòn sinh sống) tại bối cảnh Sài Gòn những năm 1980. Khang (Liên Bỉnh Phát thủ vai) được giao công việc thực hiện bản dịch tiếng Việt mới cho kiệt tác Hoàng tử bé (Le Petit Prince) của Antoine de Saint-Exupéry, dẫu trước đó đã có bản chuyển ngữ cực nổi tiếng và rất tài hoa của Bùi Giáng thi nhân. Phim đặc biệt gây chú ý nhờ tính thẩm mỹ xuất sắc, kỹ thuật quay bằng phim nhựa 35mm; đó là 1 trong những điểm nhấn lớn nhất, đưa lại khung hình nghệ thuật hoài cổ, mộc mạc, chân thực. Phim cũng đánh dấu sự trở lại của nữ diễn viên danh tiếng Đỗ Thị Hải Yến sau chục năm xa màn ảnh rộng.

[113] Xt: Đứng trước biển: Tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, xuất bản năm 1982; từng gây tiếng vang lớn trong văn học và dư luận xã hội. Tác phẩm mang đậm không khí thời hậu chiến, mô tả chính xác bức tranh hiện thực Sài Gòn/TP.HCM trước thềm đổi mới. Cuốn sách khắc họa cuộc tranh đấu cam go trước các mặt xấu, tham nhũng, quan liêu và bảo vệ những cải tiến tiến bộ trong nền kinh tế, sản xuất ở miền Nam.

[114] Cả trường đoạn trên được phóng tác theo tản văn Nguyễn Hồng Anh (FB Nguyen Hong Anh 22/12/2025).

[115] Theo bài thơ “Tạm biệt Sài Gòn – đã Ct.

[116] Xt: Về “Bản báo cáo thành tích” – một bộ phim 30/4 rất đặc biệt

Vào “giờ thứ 23” của Ngày mốc lịch sử 30/4/1975, hôm 27/4/1975 nhà quay phim 27 tuổi Stephan Koester được một tổ chức cánh tả chống chiến tranh VN từ Tây Đức giao nhiệm vụ bí mật đột nhập vào Sài Gòn, 3 ngày trước khi chế độ VNCH sụp đổ, để ghi lại hình ảnh biến cố lớn lao này. Và Sài Gòn đón chàng trai đến từ “thiên đường Âu châu” Stephan bằng mối tình thơ mộng của Xuân, một cô gái Việt con nhà tư sản hoàng tộc, và lại từ bên kia chiến tuyến. Ấp ủ giấc mơ về cuộc cách mạng tận gốc XHCN ở VN, Stephan – vốn tự nhận mình là người cộng sản – đã hân hoan đón chào những chàng chiến sĩ Việt Cộng, thần tượng của anh, vào tiếp quản thành phố. Cha mẹ Xuân là chủ hãng bào chế, đang chờ con gái đi chụp hình làm visa để cùng nhau di tản ra nước ngoài. Tình yêu sét đánh đã khiến nàng bỏ lại ý đồ đó. Rồi Stephan bỗng nhận ra những thực tế khác xa lý tưởng khiến anh ngỡ ngàng. Sau 65 ngày, Stephan buộc phải rời VN, bỏ lại người vợ chưa cưới và hy vọng về Đức sẽ thu xếp đưa nàng sang! “Bản báo cáo thành tích” mà các đồng chí của Stephan ở Tây Đức yêu cầu anh phải làm là một bài học đắt giá. Bộ phim được chính Stephan Köster sản xuất mãi đến tận năm 1983, chứ không phải sau biến cố 30/4/1975 một khoảng thời gian ngắn như dự tính. Như thế, thực chất “tác phẩm binh lửa” này là để tặng người tình cũ, và để giãi bày sự cay đắng của tác giả về lý tưởng cách mạng dở dang, một cuộc tình bất thành. “Bản báo cáo thành tích” đã được đài truyền hình Đức ZDF phát sóng, trình chiếu tại Liên hoan phim Berlin Biennale 1983. Ban giám khảo Liên hoan phim đã đánh giá: “Đây là bước ngoặt trong việc lên kịch bản phim tài liệu, kết hợp các yếu tố tự sự, chất thơ và kể chuyện qua câu chuyện tình hiếm có.” Stephan dùng phần lớn của phim như một lời xin lỗi âu yếm gửi Xuân, kể về Xuân, người yêu của anh trong thời khắc lịch sử đó. Dù bị đánh mất tình yêu, Stephan không đổ lỗi chính quyền VN đã bắt anh về nước, cũng không đổ lỗi cho Xuân về những nôn nóng, giận hờn, mà anh tự cho mình là kẻ phản bội. (Ông Việt Cộng gốc Đức”, Nguyễn Xuân Thọ, vietluan.com.au & vanviet.info 21/6/2026; Phim “Bản báo cáo thành tích -Stephan Koester, youtube.com 21/4/2018; “Mối tình 30/4/75 giữa chàng cộng sản Tây Đức và nàng xướng ngôn viên đài truyền hình VNCH”, Hiếu Bá Linh, danlambaovn.blogspot.com 1/5/2019).

 

[117] “Bây giờ và tại đây”: Sống trong giây phút hiện tại; là cốt lõi của tỉnh thức trong giáo lý nhà Phật. Đó là thực hành buông bỏ quá khứ và lo âu tương lai, cảm nhận trọn vẹn sự sống ngay giây phút này.

 

[118] Xem thêm: Thành phố Hồ Chí Minh (còn được gọi bằng tên lịch sử là Sài Gòn)

* Thành phố lớn nhất VN về quy mô (dân số, kinh tế, thương mại, giải trí, hội nhập quốc tế), cùng thủ đô Hà Nội là 1 trong 2 trung tâm chính trị, văn hóa, giáo dục quan trọng nhất VN. Với 14 triệu dân TP.HCM hiện là địa phương duy nhất của VN có dân số trên 10 triệu người. Thời VNCH, Đô thành Sài Gòn (không tính tỉnh Gia Định) có diện tích 76km², dân số 3,0-3,5 triệu người (đầu 1975). Từ sau 4/1975 “Sài Gòn” rộng lên rất nhiều, nhất là từ 2025 sau khi sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, diện tích so với trước 2025 tăng hơn 3 lần với 6.772km².

* Với cuộc Đổi mới lần hai (2025): Sau cuộc Đổi mới 40 năm trước, TP.HCM đứng trước cơ hội cải cách thể chế để gia tăng nguồn lực, tạo động lực phát triển cho siêu đô thị lớn thuộc nhóm đầu của khu vực Đông Nam Á (đứng thứ 4 sau Bangkok, Jakarta và Manila). Sau năm 2010, khoảng cách giữa tốc độ phát triển của TP.HCM và khuôn khổ pháp lý ngày càng lớn. PGS.TS Trần Hoàng Ngân, đại biểu Quốc hội cho biết: “Việc TP.HCM giải quyết 1 dự án “treo” suốt 25 năm chỉ trong 3 tháng không chỉ thể hiện ý thức chính trị mà còn cho thấy sự thay đổi lớn hơn trong cách vận hành. Thành phố không cần xin thêm tiền từ ngân sách. Cái cần là 1 thể chế đủ mạnh để huy động nguồn lực xã hội cho phát triển – điều đã theo đuổi suốt nhiều thập kỷ. Quy mô kinh tế, dân số và đô thị hóa tăng nhanh trong khi nhiều quy định pháp luật không còn phù hợp. Một nền kinh tế chiếm gần 1/4 GDP cả nước không thể tiếp tục vận hành bằng cơ chế quản lý như các địa phương thông thường”. Là nơi hội tụ dòng vốn, dòng tri thức, dòng lao động, dòng sáng tạo; là nơi hàng triệu người từ khắp VN đến học tập, lao động, lập nghiệp, cống hiến; năm 2025, TP.HCM tiếp tục dẫn đầu cả nước về thu ngân sách nhà nước, vượt mốc 800.000 tỷ đồng; hiện có GRDP 123 tỷ USD (3,03 triệu tỷ đồng), đóng góp hơn 1/3 thu ngân sách cả nước; GRDP bình quân đầu người khoảng $9.200, gấp 1,7 lần mức trung bình toàn quốc.

* Các nhiều thăng trầm trong 50 năm qua: Trong nửa thế kỷ kể từ khi mang tên TP.HCM, đô thị lớn nhất VN đã trải qua nhiều thăng trầm. Về nốt thăng, TP.HCM ngày nay là đầu tàu kinh tế đất nước, trung tâm của hầu hết lãnh vực. Như các thời trước, đây cũng là nơi hội tụ của con người từ mọi miền: sinh viên tới học tập, mọi lớp người dân tới kiếm việc làm, kinh doanh. Hàng chục khu đô thị mới đã mọc lên ở 3 phía Đông – Nam – Tây. Nhiều nơi từng là đầm lầy, vùng nông nghiệp (Thủ Thiêm, Phú Mỹ Hưng, một phần TP Thủ Đức) đã trở thành các trung tâm kinh doanh, khu dân cư hiện đại. Hệ thống hạ tầng cũng thay đổi mạnh; nếu như SG trước đây chủ yếu phụ thuộc vào xe máy, xe bus, đường bộ thì TP.HCM nay đã có tuyến metro đầu tiên đi vào hoạt động sau gần 20 năm thi công, cùng mạng lưới đường cao tốc, đường vành đai và các dự án giao thông quy mô lớn đang tiếp tục triển khai. “Những năm gần đây, TP.HCM có nhiều thay đổi theo hướng tốt, đặc biệt là xây dựng kiến trúc hiện đại; dịch vụ, thương mại phục vụ đời sống người dân. Đó là nhờ nền kinh tế thị trường được khôi phục. Thành tựu ấy gắn liền với chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân. Ví dụ rõ ràng là những khu đô thị mới hiện đại văn minh không thua nước ngoài như Phú Mỹ Hưng, Vinhomes; hệ thống trường học tư thục và quốc tế; hệ thống siêu thị; hệ thống xe bus công cộng đã có bước ngoặt đáng khen với sự chuyển đổi căn bản từ xe bus quốc doanh sang xe bus tư nhân như Phương Trang, Vinbus; hệ thống xe công nghệ tuyệt vời, hữu hiệu hơn ở nhiều nước khác. Tôi tin là với truyền thống năng động, cởi mở của người Sài Gòn và đường lối kinh tế mới của nhà nước VN, thành phố này sẽ phát triển mạnh mẽ.” (Hoàng Thuỵ Hưng). Và, bên cạnh đó còn có những nốt trầm. Ngay những năm sau 1975, thành phố đối mặt với nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung và tình trạng khan hiếm hàng hóa. Nửa cuối thập niên 1970, các chiến dịch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh đã khiến nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh tư nhân, đặc biệt là cộng đồng doanh nhân người Hoa vốn giữ vai trò quan yếu trong thương mại của Chợ Lớn, bị quốc hữu hóa, buộc phải ngừng hoạt động. Nhiều gia đình đô thành bị đẩy đi vùng kinh tế mới. Hàng chục ngàn người bỏ xứ ra đi. Cùng với căng thẳng trong quan hệ Việt-Trung và làn sóng nạn kiều, người Hoa rời VN vào cuối những năm 1970 đã làm hoạt động kinh tế bị rối loạn, sụp đổ phần chính.

* “Sài Gòn – một melting post của VN, nếu nước Mỹ vẫn được gọi là một “melting-pot của thế giới”; và sức sống thực sự của SG nằm trong cái đặc điểm này, được thể hiện ngay từ diện mạo kiến trúc bên ngoài. SG là nơi hội tụ của rất nhiều phong cách kiến trúc khác nhau; có thể tìm thấy ở đây, những tòa nhà dinh thự mang bản sắc kiến trúc Đông Dương do người Pháp xây dựng từ cuối TK 19 đầu TK 20 như Nhà thờ Đức Bà, UBND thành phố, Bảo tàng Cách mạng, các trường Marie-Curie, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Quý Đôn, Lê Hồng Phong; những khu chùa cổ rất đặc trưng của người Hoa, người Ấn, những công trình kiến trúc do các kiến trúc sư người Việt thiết kế những năm 60-70 vừa hiện đại vừa rất Á Đông như đã kể trên, cho đến những công trình, nhà ở có kiến trúc hiện đại mới xây sau này… Đi sâu vào đời sống muôn mặt SG, càng thấy rõ tính chất “melting pot” đó – thành phố dung nạp tất cả, thâu nhận tất cả mọi nguồn nhân lực đến từ mọi nơi trên đất nước, tạo cơ hội bằng nhau cho tất cả mọi người. Rất nhiều con người gốc gác từ nơi khác, đã đến kiếm sống, lập nghiệp và thành danh trong nhiều lĩnh vực khác nhau tại SG, đặc biệt là trong lĩnh vực VHNT. Sau năm 1975 đến nay cũng vậy. Sức sống SG được tạo nên còn bởi vì không một nơi nào khác ở VN có một khu vực kinh tế tư nhân mạnh mẽ, một cơ chế xã hội hóa được thực thi nhanh chóng nhất, hiệu quả nhất như ở đây. Người SG từ lâu đã quen với việc chung sống hòa bình giữa những người tạm gọi là khác xứ, khác quê. Do vậy có tính cách cởi mở, không bảo thủ, dễ hòa đồng, bình dân, hào phóng, rộng rãi. Không bao giờ phân biệt người tại chỗ với người nhập cư, người thành phố với “người nhà quê”. (Song Chi).

* “Sự tử tế, sẵn lòng chia sẻ, làm từ thiện: Người Sài Gòn gần như luôn luôn đi đầu trong mọi phong trào xã hội từ thiện – từ 1 trường hợp thương tâm cần giúp đỡ được đưa lên báo, 1 sinh viên cần được tiếp sức đến trường, cho đến lũ lụt ở miền Trung, thiên tai ở đâu đó, hay phong trào ký tên vì công lý… Bên dưới cái vẻ bề ngoài như vô tình không ai để ý đến ai của người SG – rất dễ làm chạnh lòng những người nhập cư mới đến, người SG bao giờ cũng mau mắn, sẵn lòng chia xẻ nỗi đau của người khác. Còn nhớ giai đoạn đại dịch COVID-19 ra ở VN, SG bị dịch nặng nhất, chết nhiều nhất. Hình ảnh những tiếng xe cấp cứu trong đêm, những dãy dài xe chở thi hài đậu bên ngoài khu Bình Hưng Hòa chờ hỏa táng trong giai đoạn cao điểm nhiều người chết, những đứa trẻ mồ côi sớm vì cha mẹ, ông bà đều qua đời trong mùa dịch… đã trở thành nỗi ám ảnh của người dân thành phố một thời gian dài. Nhưng giữa những ngày u ám tang thương đó, tình cảm đùm bọc giúp đỡ của người SG đối với nhau là điểm sáng đẹp như những đốm lửa trong đêm thắp lên hy vọng cho mọi người. Có ai đếm được bao nhiêu ngàn tỷ, chục ngàn tỷ VNĐ người dân bỏ ra cứu trợ, giúp đỡ người khác, đến từ những người không phải là giàu có cho đến doanh nhân, người trong và ngoài nước, trong những ngày tháng đó? Vô số cá nhân, tổ chức miệt mài làm từ thiện bằng nhiều cách khác nhau, từ sáng kiến ATM gạo, nấu những suất cơm, bánh mì, bánh bao miễn phí, cho quà, tiền mặt, hỗ trợ oxy miễn phí cho người bệnh hoặc tổ chức mai táng miễn phí cho người xấu số qua đời vì COVID-19… Thậm chí có những người vì hoạt động từ thiện mà bị lây nhiễm Covid rồi qua đời như anh Vũ Quốc Cường, chủ quán cơm chay xã hội Cường “béo”, người dành cả đời làm từ thiện; Sơ Maria Trần Ngọc Thảo Linh, nữ tu thuộc Hội dòng Mến Thánh Giá Tân Việt, qua đời ở tuổi 32 trong thời gian giúp bệnh nhân COVID-19 tại bệnh viện dã chiến; ca sĩ, diễn viên và nhà hoạt động xã hội Phi Nhung.” (Song Chi).

* Câu chuyện quê gốc ở Sài Gòn: “Sài Gòn luôn là trạm trung chuyển lớn cho phần đất Trung và Nam Bộ, là ga tàu đưa con người tứ xứ từ các địa danh nghèo khổ, quê mùa, mộc mạc lên đến nấc thang quốc tế, hoàn vũ. Người miền Trung đến Sài Gòn để được chuyển hóa. Họ mang bản sắc cá tánh và nhân cách địa phương đến đô thị để va chạm và sinh tồn vốn đòi hỏi họ phải thay đổi. Anh chàng Hà Tĩnh đi mô cũng ngậm điếu thuốc vấn trên môi nay phải giấu đi khi ra khỏi nhà vì sợ mấy cô Sài Gòn thanh lịch che miệng nhìn cười. Nỗi ấm ức đầy mặc cảm của dân miền xa khi sánh vai với dân đô thị làm cho họ vươn lên bằng ý chí khát sống, háo thắng như một bản năng. Người Sài Gòn nhận xét rất bén về dân nhập cư. Hãy nói cho họ biết về quê quán của ngươi là họ sẽ biết gần hết về con người của bạn. Từ sau cuối TK 17 có lẽ ngoại trừ vụ tàn sát người gốc Hoa ở Chợ Lớn năm 1782 bởi lính của Tây Sơn Nguyễn Nhạc, hay những năm sau 1975, dân Sài Gòn, so với các địa phương khác, ít bị những chấn thương lịch sử lớn. Có lẽ vì thế mà dân ở đây chấp nhận và dung hòa nhiều sắc dân rất khác biệt nhau về sinh sống. Dân Sài Gòn không căm thù, giết nhau vì khác biệt gốc gác. Quá lắm thì họ chỉ ghẹo dân Nghệ An một cách vô hại, dí dỏm, ‘Thằng xứ Nghệ ăng coong cá gỗ kìa,’ hay dân Hà Nội 54, ‘Ê thằng Bắc kỳ rau muống kia!’ Tuy nhiên, nếu bạn hỏi, từ góc độ địa lý, dân di cư miền nào xưa nay năng động nhất ở Sài Gòn, thì có lẽ họ sẽ nói là dân Quảng Nam, và sau 1954, dân di cư Hà Nội, Hải Phòng. Cho đến khoảng 10 năm trở lại đây, ví dụ, dân gốc Quảng Nam kiểm soát gần hết năm lãnh vực sinh hoạt, công quyền và kinh tế Sài Gòn: báo chí, công an, quán bia, bê thui, dệt may. Thời chiến tranh Quốc-Cộng, phần lớn các cán bộ Việt Cộng nằm vùng là người Quảng Nam. Cho đến ngày nay vẫn thế, dân gốc Quảng Nam vẫn là thành phần năng nổ nhất ở Sài Gòn, từ các nhóm bất đồng chính kiến đến văn chương, nghệ thuật. Trong khi dân Hải Phòng dù năng động, hay dân gốc Hà Nội văn hay chữ tốt cũng bị dân gốc Quảng Nam gạt ra lề. Hỏi một nhà báo về lãnh đạo truyền thông ở Sài Gòn thì hầu hết là dân gốc Quảng Nam. Ngay cả dân gốc Thanh-Nghệ-Tĩnh cũng chỉ vươn lên ở lãnh vực khoa bảng, chính trị lãnh đạo, hay đại gia tư bản thân hữu, nhưng nhìn chung, về bình diện dân sự quần chúng, người Quảng Nam vẫn làm chủ tình hình”. (Nguyễn Hữu Liêm). Quảng Nam cũng là tỉnh có nhiều liệt sĩ, tử sĩ  nhất VN trong chiến tranh: chưa kể phía VNCH, liệt sĩ QĐNDVN với 65.000 người hi sinh trong 3 cuộc chiến tranh, và hơn 30.000 thương binh; Huyện có nhiều liệt sĩ nhất cả nước là cũng huyện Điện Bàn, Quảng Nam, với hơn 19.800 liệt sĩ (số liệu năm 2012).

* Vì sao cái tên Sài Gòn vẫn còn đó? Nửa thế kỷ sau khi mất tên với tư cách là một đơn vị hành chính, cái tên Sài Gòn vẫn chưa biến mất khỏi đời sống. Theo nhiều nhà nghiên cứu, “điều này xuất phát từ việc Sài Gòn không chỉ là một địa danh hành chính mà đã trở thành một biểu tượng văn hóa, lịch sử, tâm lý xã hội. Cái tên Sài Gòn khó mà gạch bỏ đi được và nó cũng chẳng có tội lỗi gì mà gạch bỏ. Cho nên người dân và ngay cả chính quyền người ta dùng từ Sài Gòn cũng là bình thường.” (Hoàng Dũng) Điều khiến thành phố này nổi bật trong nửa đầu thế kỷ 20 là một đời sống đô thị sôi động, một nền giáo dục phát triển và bầu không khí cởi mở hiếm có. Tinh thần tự do, khai phóng, cấp tiến còn thể hiện từ trong nếp nghĩ, cách sống. “Sài Gòn, thủ đô của một VNCH sụp đổ, được thay tên bằng TP.HCM cũng đã tròn 50 năm. Nếu có điều gì để nói về Sài Gòn cũ với các thế hệ sau, tôi chỉ muốn nói rằng, đó là ‘miền đất của tự do’ và cũng là nơi tạo nguồn cảm hứng cho cái mới xuất hiện.” (Nguyễn Viện)

* Trưng bày bộ sách dịp 50 năm Sài Gòn – Gia Định mang tên TP.HCM: Loạt ấn phẩm do Nxb Trẻ phát hành, triển lãm tại đường sách Nguyễn Văn Bình. Nổi bật trong số đó là 2 bộ 3 tác phẩm bìa cứng. Một bộ là Sài Gòn năm xưa Sài Gòn tạp pín lù – Sài Gòn dưới mắt tôi của học giả Vương Hồng Sển. Tác phẩm mang phong cách kể chuyện thong thả đặc trưng của tác giả, một số thông tin về đời sống người xưa khó tìm thấy ở tài liệu phổ biến. Nhà văn Sơn Nam có bộ 3 cuốn biên khảo chuyên về miền Nam và Sài Gòn – Gia Định, gồm: Lịch sử khẩn hoang miền Nam; Giới thiệu Sài Gòn xưa – Ấn tượng 300 năm – Tiếp cận với đồng bằng sông Cửu Long; Đất Gia Định xưa – Bến Nghé xưa – Người Sài Gòn.

* Có một khía cạnh tinh thần mà TP.HCM dường như cũng chưa được ứng xử công bằng. Ví dụ nhỏ: có rất nhiều bài ca, bài thơ, tác phẩm văn học, hội họa, phim tài liệu nói về Hà Nội, Huế… nhưng chả có mấy tác phẩm như vậy về SG. Ở mảng du lịch, với du khách muốn khám phá SG/TP.HCM thế nào cũng sẽ chịu “chính trị” nặng nề. Kiến trúc kết hợp thiên nhiên ở đây chỉ có “nhõn” Thảo Cầm Viên Sài Gòn. Hà Nội, Huế hay Hội An còn có những nét độc đáo hơn nhiều.

[Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 50 năm TP Sài Gòn- Gia Định mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (Tô Lâm, danviet.vn 2/7/2026); “TP.HCM trước cuộc Đổi mới lần hai, vnexpress.net 3/7/2026); “Nửa thế kỷ đổi thay của TP HCM qua ảnh” (vnexpress.net 29/6/2026); “Văn chương mang dòng chảy khát vọng của TP.HCM” (Trịnh Bích Ngân, znews.vn 3/7/2026); “Trưng bày bộ sách ‘Từ Sài Gòn – Gia Định đến TP HCM’(vnexpress.net 1/7/2026);Sài Gòn 50 năm đổi tên: Những gì đã mất và những gì trường tồn” (bbc.com 30/6/2026); “Sài Gòn: chiến tranh, hòa bình và ước mơ của tôi (Bùi Văn Phú, bbc.com  4/7/2026 ; 50 năm Sài Gòn đổi tên”, Song Chi, thekymoi.media 3/7/2026; “50 năm đổi tên: Bản sắc của Sài Gòn là tự do (Nguyễn Viện, bbc.com 1/7/2026); “Khi địa lý là định mệnh: Ký ức Sài Gòn nơi chiếc đồng hồ chợ Bến Thành” (Nguyễn Hữu Liêm, bbc.com  1/7/2026);Vì sao cái tên Sài Gòn vẫn tồn tại sau 50 năm? (bbc.com 2/7/2026); “Sài Gòn hay Thành phố Hồ Chí Minh: Thế hệ trẻ sử dụng tên nào?” (bbc.com 3/7/2026); “Ký ức Sài Gòn – Kỳ 1” (Loạt bài của Song Thao, thekymoi.media từ 23/5/2026); “Chợ Lớn – Nơi kẻ lưu vong dựng lên phồn hoa – Tùy bút 1) (Loạt bài của Nguyễn Đông A, thekymoi.media từ 1/7//2026); “Người Sài Gòn – Tánh khí của đất trời sông nước, thekymoi.media 27/7/2026; “Dưới chân Sài Gòn là một vùng ký ức”, 2/8/2026; Công giáo Sài Gòn – Tùy bút 6 về Sài Gòn”, 17/8/2026; “Sài Gòn hồi mới vào trong di cảo Bùi Giáng”, Phạm Luận, cuoituan.tuoitre.vn 13/5/2026)].

 

 

 

 

[119] Trường đoạn trên là phóng tác theo tạp bút Bình Nguyên Lộc (Sách “Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc”). Xt: Sách in lần đầu, đúng 658 bản, Nxb Thịnh Ký, Sài Gòn 1966. Ở đây phóng tác theo trích lược của Thu Tứ từ bài nguồn “Những hàng me Sài Gòn” được Bình tiên sinh viết năm 1952 (“Văn xuôi quê hương – 1”, Tập san Chim Việt Cành Nam #98, chimvie7.free.fr 1/3/2026). Bonus: “Những hàng me Sài Gòn bây giờ có bao nhiêu gốc đủ già để biết người xưa? Sực nhớ khoảng giữa năm 2015, đang “lang thang trên hè phố” TP.HCM, chợt thấy một người đứng bán thớt. Những cái thớt gỗ gì mà trắng trẻo lạ mắt. Hỏi, gỗ me. Cây me từng đứng trên con đường nào? Mua một cái. Cất, 10 năm chưa nhìn lại, không biết bây giờ còn trắng không” (Thu Tứ – 2025).

[120] Theo thơ Sơn Nam (Bài “Hương rừng Cà Mau”, thivien.net) với 2 câu kết: “Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”.

[121] Xt:

* Về xôi nếp 20.000 VNĐ/gói  – ở TP.HCM nhiều năm qua đó là lựa chọn ăn sáng bình dân thân thuộc với gánh hàng rong, tiệm vỉa hè, chợ để cư dân, du khách (nhất là khách “Vịt kiều lủng” lại là gốc Bắc) có bữa điểm tâm no đủ, nhanh lẹ, hợp khẩu. Xôi thường được gói bằng lá chuối/sen, với nhiều loại từ xôi mặn đến xôi ngọt, từ xôi thịt tới xôi lạc mang phong vị “Nam Bắc đề huề”. (“Gói xôi 15.000 đồng hút khách hơn 45 năm ở ‘chợ nhà giàu’ Sài Gòn”, ngoisao.vnexpress.net 31/5/2023; “Gánh xôi trong hẻm nhỏ TP HCM, bán gần 20 kg nếp mỗi ngày“, vietnammoi.vn 16/11/2019).

* Về “Nam Bắc đề huề” (nói chệch “đều huề”) – thành ngữ chỉ sự giao thoa, hội nhập, chung sống hòa hợp giữa văn hóa, ẩm thực, con người đến từ 2 đầu Bắc-Nam VN (vốn có không ít đặc trưng “chỏi nhau” nay tụ hợp trên cùng vùng đất, nhất là tại các khu dân cư đa dạng (như Sài Gòn/miền Nam). Khái niệm này đặc biệt gắn liền lịch sử giao lưu xã hội: 1. Sự kết hợp văn hóa chính trị, ngôn ngữ, phong tục, ẩm thực (như cách dùng cặp từ bát/chén, thìa/muỗng, lính thủy đánh bộ/thủy quân lục chiến, Nhà Trắng/Tòa Bạch ốc, sân bay/phi trường, tham quan/thăm viếng, nhất trí/đồng lòng, đăng ký/ghi danh, vân vân và vân vi) tạo nên nếp sống hòa đồng; 2. Sự trù phú, đoàn tụ: Ở nghĩa gốc Hán, “đề huề” còn là đông đủ, sung túc, sum vầy. Về lịch sử và từ nguyên, đó là từ “Pháp-Việt đề huề (法越提携/ Collaboration franco-annamite” chỉ sự “Hợp tác Pháp Quốc – An Nam”. Đó là chính sách của chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương trong Thế Chiến I (1914-1918) đối phó phong trào đối kháng của người Việt với mục đích chính kêu gọi sự hợp tác Pháp-Việt bảo đảm ổn định chính trị, huy động sức người sức của VN phục vụ chiến tranh đế quốc. Một số cá nhân, tổ chức chính trị thân Pháp tuyên truyền ủng hộ chủ trương này. Báo “Nam Phong” của Phạm Quỳnh đưa ra khẩu hiệu “Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc”. Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi Quang Chiêu cũng hoạt động theo tinh thần đó. Thực dân Pháp cử người sang Trung Quốc vận động Phan Bội Châu ủng hộ chủ trương nói trên. Tương kế tựu kế, ông Giải Phan Sào Nam của chúng ta viết ngay bài “Pháp Việt đề huề chính kiến thư” yêu cầu phía Pháp trả lại chủ quyền cho bên VN, thực tâm giúp đất nước VN tiến bộ, người VN văn minh. Toàn quyền A. Sarraut tức thì bác bỏ yêu cầu. Về sau, được hỏi lý do viết bài đó, Phan tiên sanh giả nhời thế vầy: “Đề huề chi mà đề huề/ Oán thù ta hãy còn sâu/ Trồng tre nên gậy, gặp đâu đánh què.” [Google AI & vtudien.com]. Wow, oách quá ạ, bái lạy Cụ! Thảo dân tiện dân hậu bối cúi xin nối tí ti ạ: “He he he nhất Cụ Sào/ Nam ta tài thế thảo nào Pháp kinh!” À, Quý bạn đọc có biết không nào: Đại danh sĩ, nhà cách mạng kiệt xuất đầu TK 20 của nước Nam ta (có thân phụ Phan Văn Phổ và thân mẫu Nguyễn Thị Nhàn) vốn sở hữu tên thật (tên khai sinh/tên húy) là Phan Văn San cơ; dưng mờ ngặt nỗi chữ San của Cụ lại trùng với tên húy của vua Duy Tân (Vĩnh San) nên phải đổi thành Phan Bội Châu. Sâu và thú là ở 2 chữ “Bội Châu” (佩珠) tiên sinh lấy từ câu thơ cổ “Thành trung nga mi nữ châu bội hà san san”; nghĩa là: “Trong thành có người con gái đẹp, đồ trang sức bằng ngọc bội lấp lánh sao mà rực rỡ đến thế”); mà sắc và vị là ở tên hiệu Sào Nam (巢南) được Sào Nam Tử (một bút danh của Cụ) chọn từ câu cổ thi Trung Hoa “Việt điểu sào nam chi”, nghĩa là “Chim Việt làm tổ cành Nam.

[122] Xt: Cái quan – thường được hiểu ở 2 nghĩa: 1. Đường cái quan (Đường quan lộ, đường thiên lý) là các tuyến giao thông huyết mạch, lớn nhất thời phong kiến, chạy dài nối liền các vùng miền toàn quốc. Tên gọi này nổi tiếng qua các tài liệu lịch sử, tác phẩm văn học, âm nhạc, như trường ca của Phạm Duy “Con đường Cái quan”. Ngày nay, đây chính là hệ thống Quốc lộ 1A; 2. Nắp quan tài: Trong thành ngữ quen thuộc Cái quan định luận; “cái” nghĩa là đậy lại, “quan” – quan tài. Câu này mang triết lý nhân sinh: phải đến khi người ta nhắm mắt xuôi tay, quan tài đậy nắp thì cuộc đời, công tội của họ mới được đánh giá, kết luận trọn vẹn.

[123] Xt: Lịch sử sông nước Nam Bộ qua triển lãm(vnexpress.net 22/6/2026): Ngày 17/6, tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM (phường Sài Gòn) khai mạc chuyên đề “Chúng tôi, những dòng sông Nam Bộ”, trưng bày hiện vật từ 2.500 năm, cho thấy góc nhìn lịch sử miền Nam từ sông nước. Triển lãm là 1 phần dự án “Sống cùng dòng sông” do Đại sứ quán Pháp & Viện Pháp tại VN tổ chức cùng các bảo tàng trong TP.HCM. Ba chủ đề của triển lãm: Sông nước như dấu ấn tạo bản sắc văn hóa đất phương Nam; Vai trò và công năng của mạng lưới thủy lộ trong đời sống kinh tế-xã hội; Những thách thức, triển vọng của các dòng chảy trước sự phát triển, biến đổi môi trường hiện nay. Bao gồm 80 hiện vật, tác phẩm hội họa, hình ảnh, tư liệu: mô hình tàu thuyền, nông cụ, sản vật sông nước miền Nam, nhiều loại ngư cụ… qua các nền văn hóa lâu đời gắn với sông nước Nam Bộ: Đồng Nai, Giồng Cá Vồ, Sa Huỳnh cách đây hơn 2.000 năm. Ví dụ: Những chì lưới là vật dụng đánh cá bằng đất nung thuộc nền văn hóa Óc Eo, khoảng TK 4-6 sau CN; Chum cổ bằng đất nung để an táng thuộc di tích Giồng Cá Vồ (Cần Giờ); Mộ chum là loại hình mai táng mà người chết được đặt thi thể/di cốt vào trong chum, đường kính 40-70 cm; Gần 15 cổ vật di tích Giồng Cá Vồ: các loại trang sức như vòng tay, khuyên tai, chuỗi hạt; Các tượng như thiên hậu, thánh mẫu, nữ thần hộ mệnh chế tác đầu TK 20 cho thấy khát vọng cuộc sống bình yên, thịnh vượng giữa môi trường sông nước; Những vật trang sức bằng kim loại, mã não thuộc văn hóa Óc Eo khắc họa hình tượng rùa thần Kurma (thần tích nổi tiếng của văn hóa Ấn Độ cổ đại).

[124] Xt: “Xe khách giường nằm: Vì sao dễ cháy, chết nhiều người” (vietnamnet.vn 25/5/2016); “Xe giường nằm chở 33 người bốc cháy trên cao tốc Bắc – Nam” (dantri.com.vn 25/5/2026); “Cháy xe khách giường nằm, 7 người chết” (vnexpress.net 21/7/2026).

[125] Theo thơ Bùi Giáng: “Tôi sẽ ra đi bỏ lại đời/ Mỹ Tho Mỹ Thọ Sóc Trăng ơi/ Mỹ Thỏ muôn đời là Sóc Trắng/ Gái mặc quần ra đứng ngó trời” (Bài Tôi sẽ, thivien.net).

[126] Xt: Chùa Sà Lôn/ Chùa Chén Kiểu – ngôi cổ tự nổi tiếng thuộc hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer; tọa lạc tại Đại Tâm, Sóc Trăng, TP Cần Thơ. “Sà Lôn” là cách đọc phiên âm tiếng Việt từ tên gốc Khmer Sro Loun; còn tên “chùa Chén Kiểu” là từ việc trùng tu chánh điện vào năm 1969, do thiếu vật liệu, các vị sư quyên góp chén, đĩa, tô kiểu từ người dân để ốp lên tường, cột. Chùa mang kiến trúc có một không hai: Các mảnh vỡ của chén, đĩa được sắp xếp tỉ mỉ thành những hoa văn tinh xảo, tạo nên lớp áo kiến trúc lấp lánh mang rõ dấu ấn văn hóa Khmer rạng rỡ một thuở. Khuôn viên chùa hiện còn lưu giữ 2 chiếc giường độc đáo bằng gỗ quý từng thuộc sở hữu của gia đình Công tử Bạc Liêu.

[127] Xt: Trung Niên Thi Sĩ – bút danh/danh xưng quen thuộc nhất của cố nhà thơ, dịch giả, học giả lỗi lạc Bùi Giáng (1926-1998). Ông thường tự gọi mình danh xưng này, thể hiện trạng thái tâm hồn vượt thoát mọi quy luật tuổi tác, giữ cái ngây thơ, tươi mới vĩnh cửu. Ý nghĩa của danh xưng: Sự chín muồi nhưng bất biến. Trong quan niệm của ông, trung niên là tuổi quá chín chắn, viên mãn, tự tại nhất đời người. Thay cho sợ già nua, họ Bùi tự nhận mình ở độ tuổi này để ngụ ý sự tự do vĩnh viễn, không bị ràng buộc bởi thời gian hay các giáo điều trần tục. Bên cạnh Trung Niên Thi Sĩ, Bùi quân còn tự nhận nhiều bút danh độc đáo khác như Bùi Bàn Dúi, Bùi Văn Bốn, hay Thi sĩ đười ươi. Các danh xưng này toát ra cốt cách phiêu lãng, ngông nghênh nhưng rất dung dị, uyên bác của đấng bậc tiên sinh trong văn học VN.

[128] Phật từ đạo hữu AI thì bình thế nầy: “”Hiên chùa nâu” gợi lên hình ảnh hiên nhà của ngôi chùa quê thanh tịnh, nơi gắn liền với mái ngói rêu phong và tà áo nâu sồng giản dị của người Phật tử hay các bà, các mẹ đi lễ chùa. Ý nghĩa hình ảnh “hiên chùa nâu”: Không gian tâm linh, à khoảng hiên thanh vắng, nơi che nắng che mưa, đón những làn gió mát và tiếng chuông mõ tịch mịch mỗi sớm chiều. Màu áo nâu sồng: Biểu trưng cho sự mộc mạc, buông xả, từ bỏ chốn hồng trần náo nhiệt để tìm về sự bình yên trong tâm hồn”.

[129] Theo thơ Bùi Giáng: “Tôi gọi Cần Thơ là Cần Thở/ Cần Thở muôn đời là Gió Việt đêm nay” (Bài “Trường giang lục tỉnh”). Xt: “Đọc thơ: “Một hôm gầu guộc gầm ghì”, Nguyễn Hưng Quốc, voatiengviet.com 2/3/2010.      

[130] Xt: Nhà Công tử Bạc Liêu – dinh thự bề thế, sang trọng bậc nhất Nam Kỳ lục tỉnh xưa, gắn liền với giai thoại ăn chơi nức tiếng của ông Trần Trinh Huy (Công tử Bạc Liêu). Tòa nhà  được thiết kế mang đậm kiến trúc Tây phương sang trọng; và nay là điểm thăm viếng lịch sử – văn hóa nổi tiếng tại miền Tây. Địa chỉ: Số 13 đường Điện Biên Phủ, TP Bạc Liêu (ngay cạnh bờ sông Bạc Liêu). Lịch sử và Kiến trúc: Được xây dựng từ năm 1917-1919, do kiến trúc sư người Pháp thiết kế. Hầu hết vật liệu, nội thất đều từ Pháp đưa qua. Người trực tiếp xây dựng là ông Trần Trinh Trạch (Hội đồng Trạch), cha của Công tử Bạc Liêu. Ngôi nhà thuộc sở hữu của gia đình họ Trần, trong đó chủ nhân nổi bật là ông Trần Trinh Huy (1900-1974) – người nức tiếng với lối sống vương giả, phóng túng (thời nay kêu là chém gió), những giai thoại tiêu tiền như nước. Được xem là biểu tượng thịnh vượng của giới điền chủ Nam Bộ các thập niên 30-40 thế kỷ trước, nơi đây lưu giữ nhiều cổ vật quý giá, tái hiện không gian sống xa hoa của tầng lớp trên trong xã hội Nam Kỳ với phong cách hào phóng một thời.

[131] Xt: “Lỗi của thằng đánh máy” – câu nói cửa miệng quen thuộc dùng để đổ lỗi, thoái thác trách nhiệm cho nhân viên đánh máy (hoặc bộ phận soạn thảo văn bản) với các sai sót về câu chữ, số liệu, chức danh trên các văn bản, giấy tờ, hợp đồng quan trọng. Bối cảnh sử dụng phổ biến: Chữa cháy truyền thông: Thường được các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng để giải vây nhanh chóng khi bị công chúng phát hiện thông tin sai lệch, phát ngôn thiếu chuẩn mực; Sai sót hành chính: Dùng để bao biện cho lỗi đánh máy sai địa chỉ, sai họ tên, hoặc ngày tháng trên các văn bản pháp luật, hành chính. Châm biếm: Trong đời sống, cụm từ này mang sắc thái mỉa mai, hài biếm những người (nhất là quan chức) không dám đối diện, chịu trách nhiệm cho quyết định, lời nói, sự bất cẩn của chính mình.

 

[132] Xt: Khu nhà thờ Tắc Sậy/ Nhà thờ Cha Diệp

* Trung tâm hành hương Công giáo nổi tiếng hàng đầu miền Tây Nam Bộ, tọa lạc trên Quốc lộ 1A, thuộc Ấp 2, xã Phong Thạnh, Bạc Liêu, tỉnh Cà Mau; thu hút hàng ngàn du khách mỗi ngày nhờ kiến trúc độc đáo và sự linh thiêng gắn liền với cố linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp. Tên gọi: bắt nguồn từ con đường nhỏ tắt qua khu nhà thờ, nằm giữa vùng lau sậy; theo cách phát âm của dân Nam Bộ, địa danh dần được gọi thành “Tắc Sậy”. Một thế kỷ trước, nơi đây chỉ là xứ rừng đước mắm, lau sậy hoang vu, dân cư thưa thớt, giao thông cách trở. Nhà nguyện đầu tiên được dựng đơn sơ bằng cây rừng, lợp lá bên bờ sông thuộc Giá Rai cũ. Chữ ký đầu tiên trong sổ rửa tội tại họ đạo ghi nhận ngày 10/6/1925, được xem là mốc khởi đầu của cộng đoàn Công giáo tại đây. Đến tháng 8/1926, họ đạo Tắc Sậy được lập ra với cha sở đầu tiên là linh mục Phaolô Trần Minh Kính; hiện nay họ đạo ấy có hơn 1.500 giáo dân sinh hoạt tại 9 khu đạo.

* Nhà thờ Tắc Sậy, với diện tích 20.000 m2, có 4 khu chính: Trung tâm Hành hương Thánh đường 3 tầng, mang đậm kiến trúc Á Đông giao thoa với phong cách Công giáo; Tầng trệt là không gian rộng lớn để khách nghỉ chân, tầng 2 và 3 là nơi dâng lễ, cầu nguyện; Khu mộ phần Cha Diệp, nằm kề thánh đường. Năm 2010, phần mộ Cha được di dời về vị trí mới trong khuôn viên trung tâm hành hương, đến nay vẫn tiếp tục được trùng tu, mở rộng. Đây là nơi khang trang, uy nghiêm, luôn nghi ngút hương khói do giáo dân, du khách đến dâng lễ, cầu bầu; Trung tâm trưng bày: Khuôn viên lưu giữ nhiều kỷ vật, tài liệu, hình ảnh về cuộc đời linh mục Diệp. Nhờ đóng góp của đồng bào công, lương trong-ngoài nước, Khu nhà thờ Tắc Sậy và phần mộ Cha Diệp vừa được trùng tu, xây dựng mới nhiều hạng mục khang trang, không chỉ là nơi hành hương của dân trong vùng và cả nước mà còn là điểm du lịch tâm linh cho khách bốn phương VN và thế giới. Với có sức chứa 25.000 người, Trung tâm Hành hương Tắc Sậy trong năm qua được chuẩn bị cho đại lễ 2/7/2026. Ngoài việc lắp màn hình LED, hệ thống âm thanh và nhà rạp, khu đất rộng 5 hecta đối diện nhà thờ được bố trí thành quảng trường cùng các khu phụ cận để có thể đón khoảng 47.000 người. Các khu vực đều có mái che, màn hình và âm thanh để người dân tham dự theo dõi nghi thức từ xa. Giáo dân trong vùng chuẩn bị hơn 40.000 suất ăn sáng miễn phí cho khách hành hương dịp này. Bệnh viện dã chiến cùng các trạm y tế vệ tinh được bố trí, lực lượng lính cứu hỏa và bảo vệ túc trực trong thời gian sự kiện. Cho tới ngày 29/6 đã có khoảng 1.400 linh mục, hơn 1.000 tu sĩ và hàng trăm đoàn hành hương ghi danh. Ban tổ chức kêu gọi những người tham dự ghi danh và nhấn mạnh không nhằm giới hạn số lượng người tham dự; khi danh trước, các đoàn hành hương được hướng dẫn thời gian di chuyển phù hợp, tránh tình trạng hàng chục ngàn người cùng đến thời điểm; các đoàn cũng được giới thiệu những nhà thờ dọc tuyến quốc lộ để dừng chân, nghỉ ngơi, dùng nước uống/ăn nhẹ trước khi tiếp tục hành trình. Ngày 1/7 tại nhà thờ Tắc Sậy có 4 thánh lễ từ sáng đến chiều; sáng 2/7, lễ chính thức do Đức Hồng Y Luis Tagle của Tòa Thánh Vatican, chủ trì. Dàn kèn Hiệp nhất miền Đại Đồng tập luyện với nhiều nhạc cụ, từ saxophone, trumpet, sax alto, trống, đến kèn bass, chuẩn bị cho đại lễ tuyên phong. Khoảng 700 thành viên Liên đoàn kèn đã tập luyện tại nhà thờ Tắc Sậy chiều 1/7; dàn kèn từng tập luyện trong 3 tháng, từ chia nhóm, phân bè đến ghép đội hình, hợp âm, tổng duyệt. Trưa cùng ngày, 15 xe khách đưa các thành viên đội kèn từ Ninh Bình ngoài Bắc vào nhà thờ Tắc Sậy. Trong lễ chính, đội kèn được dự tính biểu diễn khoảng 15 bài trong 90 phút, trong đó có các bài Lên đền thánh, Tiếng nhạc oai hùng, Thắp sáng niềm tin. Đại lễ 2/7/2026 tuyên phong Chân phước không chỉ ghi nhận sự hy sinh của linh mục Diệp mà còn nâng tầm Tắc Sậy từ một điểm hành hương quen thuộc trở thành trung tâm hành hương có ý nghĩa quốc gia và quốc tế; với lượng khách hành hương sẽ tiếp tục tăng, địa chỉ Tắc Sậy với “Nhà thờ Cha Diệp” thân thương sẽ đảm nhận vai trò lớn hơn trong đời sống đức tin của cộng đồng Công giáo VN và toàn vũ.

[“Tắc Sậy – từ vùng lau lách thành điểm hành hương nổi tiếng miền Tây”, vnexpress.net 27/6/2026; Lễ Tuyên Chân Phước Cha Trương Bửu Diệp: Cà Mau kêu gọi ghi danh”, nguoi-viet.com 27/6/2026; Dàn kèn 700 người phục vụ lễ tuyên Chân phước linh mục Trương Bửu Diệp vnexpress.net 2/7/2026].

 

[133] Thơ Fernando Pessoa. (“Một số bài thơ của Fernando Pessoa, Hoàng Hưng giới thiệu và chuyển ngữ”, thekymoi.media 1/7/2026).

 

[134] Xt: Về Vatican

* Tên chính thức Thành quốc Vatican, là quốc gia độc lập và nhỏ nhất thế giới theo cả diện tích lẫn dân số, về địa lý nằm hoàn toàn trong lòng thủ đô Rome, Ý; Đây là trung tâm đầu não của Giáo hội Công giáo La Mã toàn cầu và là nơi cư trú của Giáo hoàng. Tòa Thánh (tiếng Latinh: Sancta Sedes, tiếng Anh: Holy See; các cách gọi khác: Tòa Rôma, Tòa Phêrô, Tông Tòa) là cơ quan quản lý trung ương kiêm thẩm quyền tài phán của Giáo hoàng với vai trò Giám mục Rôma.

* Tức là Vatican là quốc gia, còn Tòa Thánh là chính phủ/cơ quan trung ương điều hành quốc gia và Giáo hội Công giáo hoàn vũ; Giáo hoàng giữ vai trò nguyên thủ quốc gia thông qua bầu cử. Thông tin cụ thể, nổi bật về Vatican & Tòa Thánh: 1. Chủ quyền – Pháp lý: Được thành lập năm 1929 theo Hiệp ước Latêranô giữa Giáo hoàng Pius XI và chính quyền phát xít Ý do B. Mussolini đứng đầu; Hiệp ước đã công nhận Vatican là quốc gia độc lập, chủ quyền, và chấm dứt thời kỳ bế quan tỏa cảng của các Giáo hoàng kể từ khi Lãnh địa Giáo hoàng bị sáp nhập vào Ý năm 1870. Là một quốc gia, Vatican tồn tại dưới dạng quân chủ thần quyền, do Giáo hoàng đứng đầu và nắm giữ quyền lực tuyệt đối. 2. Diện tích – Dân cư: Diện tích chỉ khoảng 0,44 km² (tương đương khu chung cư lớn) với khoảng 900 cư dân (hầu hết công dân Vatican là giáo sĩ, nhà ngoại giao, thành viên Đội Cận vệ Thụy Sĩ). 3. Di sản – Văn hóa: Vatican là quốc gia duy nhất trên thế giới được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới, với nhiều công trình kiến trúc, tác phẩm nghệ thuật vô giá (Quảng trường và Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, Nhà nguyện Sistine, lưu giữ các kiệt tác của Michelangelo, Botticelli…). 4. Kinh tế: Nguồn thu nhập chính đến từ kinh doanh du lịch, ấn phẩm, tem thư, vé thăm viếng bảo tàng, thánh đường và đóng góp của dân Công giáo toàn cầu. 5. Các thông tin hành chính: Quốc kỳ thành Vatican, và Tòa Thánh; Quốc ca: Inno Pontificio (tiếng Ý) “Quốc ca và Hành khúc Giáo hoàng”; Ngôn ngữ chính thức: tiếng Latinh; ngôn ngữ làm việc: tiếng Ý, tiếng Pháp; Tôn giáo: Công giáo; Chính trị/Chính phủ: Quân chủ tuyển cử Công giáo thần quyền: Giáo hoàng: Đương nhiệm là Đức Giáo hoàng Lêô XIV (Robert Francis Prevost), vị giáo hoàng thứ 267 của Giáo hội Công giáo Rôma; Ngài là Hồng y người Mỹ đầu tiên và cũng là người đầu tiên thuộc Dòng Thánh Augustinô được bầu chọn vào vị trí này; Tù nhân Vatican: Từng có trong các giai đoạn 1870-1929 dưới thời Vương quốc Ý.

[Do tính đặc biệt, sau “Hongcouver” ở Chương hồi 4.2.5, đây là chú thích thứ hai trong tác phẩm thơ du ký này nói về địa dư ngoài Hình Chữ S theo chuẩn mực Wikipedia].

 

[135] Trường đoạn trên có cảm hứng từ sách của Mai Văn Phấn (Xt: Tập tiểu luận – phê bình Trong ơn gọi, Nxb Đồng Nai 2025, dường như là nghiên cứu văn học đầu tiên khi tìm hiểu tương đối bài bản, sâu rộng về văn thơ Công giáo VN qua chiêm nghiệm, giải mã đặc trưng tâm linh, cảm thức tôn giáo, tình yêu kính Chúa thương đồng loại đồng bào… trong các tác phẩm của nhiều tác giả hiện đại và đương đại VN).

 

[136] Xt: Về Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp và Lễ tuyên Chân phước

* Ngày 2/7/2026 70 ngàn người đổ về tham dự đại lễ phong chân phước tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy, tỉnh Cà Mau. Từ 4h sáng, hàng chục nghìn người đã về đây sẵn sàng chuẩn bị tham dự; Quốc lộ 1 chật kín người. Lúc 8h20, thánh lễ tuyên phong Chân phước linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp do Đức Hồng y Luis Antonio G. Tagle, Tổng trưởng Phân bộ Khởi đầu Loan báo Tin Mừng, Đặc sứ của Giáo hoàng Leo XIV, chủ sự; 1.800 linh mục đồng tế, cùng hàng chục nghìn giáo dân và khách hành hương trực tiếp tham dự. Đức Hồng y Luis Tagle cầm gậy mục tử, biểu tượng cho sứ vụ dẫn dắt, chăm sóc và bảo vệ “đàn chiên của Chúa” chào các giáo dân và khách hành hương. Theo sau Đức Hồng y Luis Tagle là các giám mục cùng đông đảo linh mục, tu sĩ. Một linh mục cung nghinh Sách Phúc Âm biểu tượng cho Lời Chúa, trong nghi thức rước đầu lễ. Trên bàn thánh, Đức Hồng y công bố tông thư tuyên phong Chân phước cho linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp. Ngay sau khi tông thư được công bố, chân dung Chân phước được cung nghinh trước cộng đoàn trong bầu không khí trang nghiêm. Thánh lễ sau đó tiếp tục với các phần phụng vụ theo truyền thống Công giáo. Trong phần phụng vụ Thánh thể, các tín hữu dâng lễ vật gồm lúa, gạo – những nông sản đặc trưng của xứ Tây Nam Bộ. Đức Hồng y sau đó chủ sự nghi thức xông hương lễ vật, biểu tượng cho lời cầu nguyện dâng lên Thiên Chúa và sự tôn kính đối với các lễ vật trên bàn thờ. Đức Hồng y chúc bình an cho các giáo dân. Phía sau là đoàn giúp lễ rước Thánh giá và đèn phụng vụ. Tiếp đó, trong nghi thức Hiệp lễ các linh mục trao Mình Thánh Chúa cho các giáo dân tham dự. Khoảng 11h thánh lễ kết thúc, các con đường quanh lễ đài và nhà thờ Tắc Sậy đông nghịt người.

* Chân phước/ Á Thánh là danh hiệu được Giáo hội Công giáo trao cho người đã qua đời sau khi xác nhận rằng họ đã sống đời thánh thiện hoặc đã hy sinh mạng sống vì đức tin, và nay được tin là đang hưởng hạnh phúc bên Thiên Chúa; đây là bước trước khi được phong thánh. “Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời! Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy. Như vậy, những ai bị bách hại vì Danh Chúa, bị thế gian khước từ nhưng được Thiên Chúa đón nhận, chính là những người có phước.” Linh mục Diệp là người được Giáo hội Công giáo ghi nhận là bị “bách hại vì Danh Chúa” như vậy, khi ông bị sát hại do đứng ra bảo vệ giáo dân trong thời chiến tranh hỗn loạn khốc liệt ở Nam Bộ 1945-1946. Sau quá trình điều tra kéo dài nhiều năm, Bộ Phong Thánh kết luận cái chết của ông là trường hợp tử đạo vì đức tin (martyrdom in odium fidei), tạo cơ sở để Giáo hoàng chuẩn y việc tuyên phong Chân phước. Ngày 25/11/2024 Đức Giáo hoàng Phanxicô chính thức ban sắc lệnh nhìn nhận sự tử đạo của linh mục Diệp. Đó cũng là giai đoạn 3 trong tiến trình phong Thánh của Giáo Hội: Tôi tớ Chúa; Đấng đáng Kính; Chân phước; Hiển thánh. Nhà thờ Khúc Tréo, nơi an táng đầu tiên của cha Diệp giai đoạn 1946-1969, cũng được chỉnh trang đón các tín hữu, khách hành hương. Nhà thờ Khúc Tréo nằm tại xã An Trạch, tỉnh Cà Mau, cách nhà thờ Tắc Sậy 8km; ảnh linh mục Diệp thường xuyên được đặt trang trọng bên trong thánh đường; tượng và hình ảnh, tư liệu về ông hiện vẫn lưu giữ tại nhà thờ này.                                          * Như là lần đầu tiên và duy nhất, gần 500 năm qua, kể từ khi Công giáo vào VN năm 1533, lễ tuyên phong chân phước cho cha Diệp mang ý nghĩa bước ngoặt trong lịch sử Giáo hội Công giáo VN. Đây là lần đầu tiên với người Việt nghi thức tuyên phong chân phước được tổ chức ngay tại mảnh đất nơi vị mục tử đã sống và nằm xuống. Trước đây, các lễ phong chân phước liên quan đến người Việt đều thực thi tại Roma. Cho tới nay VN ghi nhận 117 người được phong Chân phước sau đó lên Hiển thánh; phần lớn là giám mục, linh mục, giáo dân và các nhà truyền giáo ngoại quốc đến VN, tử đạo trong giai đoạn 1644-1883. Ngoài lý do lịch sử, còn vì tiến trình này rất chặt chẽ, cần thời gian dài kiểm chứng. Sự kiện này tôn vinh 1 người công giáo Việt đã sống cuộc đời phi thường vì người khác. Vị tử đạo đầu tiên và được phong hàng chân phước (vào năm 2000, tức là sau 356 năm) của Giáo hội Công giáo VN là thầy giảng Anrê Phú Yên (1625-1644) – người bị ngã gục tại pháp trường thuộc địa phận Điện Bàn, TP Đà Nẵng, trong khi là phụ tá cha Đắc Lộ (linh mục Alexandre de Rhodes) dạy giáo lý, chăm sóc bệnh nhân… Vào các dịp Giáng sinh, ngày giỗ linh mục Diệp (12/3 DL) nhà thờ Tắc Sậy thu hút 12.000 lượt người hành hương và không chỉ gồm giáo dân mà còn đông đảo du khách từ nhiều tôn giáo. Lòng tôn kính dành cho cha Diệp được duy trì suốt nhiều thập niên; từ những năm 1980-1990, nhiều người từ khắp nơi trong-ngoài nước, không chỉ giáo dân mà cả người ngoài Công giáo, đã đến Tắc Sậy cầu nguyện. Giáo hội Rome cho rằng sự bền bỉ của lòng tôn kính là 1 trong những yếu tố quan trọng để khởi động tiến trình xin tuyên phong chân phước, đồng thời góp phần định hướng đời sống đức tin đúng đắn. Tiến trình xin phong thánh cho cha Diệp được Giáo phận Cần Thơ khởi động vào ngày 15/8/2011. Cuộc điều tra suốt 13 năm để làm rõ 3 vấn đề: Linh mục có thực sự chết vì đức tin? Cái chết đó có được xem là tử đạo? Và lòng tôn kính của giáo dân với ngài có chân thực, bền bỉ? Hồ sơ gửi Vatican dày hàng chục ngàn trang, không chỉ xem xét cái chết mà còn đánh giá toàn bộ cuộc đời bình thường và đời sống đức tin của linh mục.

* Ngày 2/7/2026 đông đảo đồng hương VN đã đến dự “Đêm nhạc tôn vinh Chân phước Francis Xavier Trương Bửu Diệp” tại nhà nguyện Trương Bửu Diệp Foundation/ TBDF, Garden Grove, California – Hoa Kỳ. Bắt đầu chương trình, mọi người lắng đọng tâm hồn, chứng kiến qua màn ảnh, giây phút trọng đại lúc Tòa Thánh Vatican tấn phong Chân phước cho linh mục Diệp – sự kiện này được hàng triệu người con yêu mến cố linh mục chờ đợi suốt nhiều thập niên. Chương trình văn nghệ đặc biệt với những bài ca nhằm vinh danh và tạ ơn vị linh mục, với những tiếng hát trong ban văn nghệ TBDF và nhiều cộng đoàn khác đến trình diễn. Mở đầu là bài Kính Chân phước Trương Bửu Diệp” của Đinh Vũ do toàn ban văn nghệ TBDF hợp ca. Kế tiếp là nhiều bài như Cảm ơn Cha (Lệ Hồng sáng tác với tiếng hát Trần Ngọc), Vinh danh Cha Trương Bửu Diệp (Thượng Uyển & Ban tam ca TBDF), Tình yêu hiến dâng (Đinh Vũ & Kenneth Phùng, Cha Diệp nhân chứng Đức tin (Trầm Thiên Thu & Lý Mai Trang)… Xen kẽ chương trình ca nhạc là chia sẻ ơn lành của các nhân chứng đồng hương. Ông John Nguyễn, thành viên BTC phát biểu: “Hôm nay là ngày rất đặc biệt, và đã có câu trả lời cho những lời cầu nguyện thầm lặng, cho những giọt nước mắt và niềm khát khao khắc khoải của hàng triệu con tim suốt 80 năm qua. Thật ý nghĩa thay, hồng ân này nở rộ ngay thềm kỷ niệm 15 năm chặng đường của Trương Bửu Diệp Foundation. Gia tài lớn nhất của chúng ta trong 15 năm qua không nằm ở những công trình vật chất. Gia tài ấy là hơn nửa triệu bước chân đã tìm về bên Cha, là gần 20.000 tấm thẻ minh chứng cho sự gắn kết, và hơn 700 câu chuyện ơn lành được ghi nhận mà 700 không phải là một con số. Đó là những cuộc đời, là những giọt nước mắt đã được lau khô, là những lời cầu nguyện đã được nhận lời, và là những phép lạ của niềm tin. Nhờ đó có một “Trương Bửu Diệp Foundation” vững chãi như hôm nay, Sứ mạng của chúng ta chưa dừng lại ở đây. Hãy mạnh dạn cất lên tiếng nói, chia sẻ những phép lạ, mà mình đã nhận được qua lời cầu nguyện của Cha. Từ bây giờ trở đi, mỗi một lời chứng quý vị cất lên, chính là nhịp cầu đưa vị cha chung của chúng ta sớm bước lên bậc vinh quang Hiển Thánh. Qua đó, niềm tự hào không chỉ của Giáo Hội VN, mà là của toàn thế giới. Nguyện xin Chân phước Trương Bửu Diệp tiếp tục che chở, chuyển cầu, ban muôn hồng ân và sự bình an của Thiên Chúa đến quý vị cùng gia quyến.” Trong số quan khách tham dự có dân biểu California Trí Tạ, và cựu nghị viên Garden Grove Phát Bùi – Chủ tịch Cộng đồng người Việt quốc gia Nam California..

* Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp/ Francis Xavier Truong Buu Diep (1897-1946) là linh mục Công giáo nổi tiếng của VN, được người dân rất kính trọng bởi cuộc đời nhân hậu, sự hy sinh cao cả bảo vệ giáo dân. Sinh tại Chợ Mới (An Giang), ngài sớm mồ côi mẹ, đi tu từ nhỏ. Sau 27 năm tu học tại Tiểu chủng viện Cù Lao Giêng và Đại chủng viện Nam Vang, ngài được thụ phong linh mục vào năm 1924, và về làm cha sở họ đạo Tắc Sậy từ 1930 đồng thời phụ trách thêm 8 họ đạo lẻ trong vùng. Trong thời gian mục vụ, Cha đã rửa tội cho 2.000 người, góp phần mở rộng cộng đoàn Công giáo trong vùng. Năm 1946, trong bối cảnh chiến tranh loạn lạc, dù được khuyên đi lánh nạn, ngài đã từ chối với câu nói nổi tiếng: “Tôi sống với giáo dân thì cũng sẽ chết cùng họ”. Bị bắt cùng khoảng 70 giáo dân và dân ngoại đạo, trong thời gian bị giam giữ Cha vẫn tiếp tục chăm lo đời sống tôn giáo cho những người bị bắt và ban phép rửa cho một số người, cuối cùng chịu thiệt mạng để bảo vệ đoàn chiên của mình: sau khi bị giam giữ ít ngày linh mục Diệp bị đưa đi rồi bị sát hại vào hôm 12/3/1946. Công báo Vatican News đã đăng nhiều bài viết bằng tiếng Anh và các ngôn ngữ khác về cha Trương Bửu Diệp khi mô tả ông đã “hiến mạng sống mình vì giáo dân”; nhưng qua nhiều thập niên từng có vài dị bản về cái chết của ông, trong đó quan điểm phổ biến là bị lực lượng Việt Minh sát hại. Giáo phận Cần Thơ đã thực hiện cuộc điều nghiên từ năm 2011 đến 2017 về vụ này. Một Ủy ban Sử học được lập ra qua thẩm vấn 23 nhân chứng (13 nhân chứng trực tiếp, 10 gián tiếp); hồ sơ được chuyển lên Tòa Thánh Rome để các chuyên gia tôn giáo, sử gia độc lập quốc tế trong-ngoài đạo thẩm định. Kết quả xác định cha Diệp bị 2 người lính Nhật đào ngũ tàn sát trong bối cảnh hỗn loạn sau chiến tranh; thi thể được tìm thấy trong một ao cá, đầu bị chém chẻ làm đôi từ đỉnh đầu xuống cổ bởi một nhát kiếm. Nơi an nghỉ cuối cùng của ngài tại Thánh đường Tắc Sậy (Bạc Liêu) dần dần đã trở thành một trong những điểm hành hương Công giáo lớn nhất VN. Hằng năm hàng triệu người lương giáo đến cầu nguyện, tìm bình yên, tri ân vị linh mục. Cha Diệp không chỉ được Công giáo dân yêu mến mà còn được người ngoài đạo tìm đến cầu nguyện. Lòng sùng kính của đông đảo dân chúng, tầm ảnh hưởng vươn xa của ông không phải do giáo phận chủ ý tạo ra, dẫn dắt, mà đã được phát sinh, lan rộng tự nhiên trong lòng mọi người và ngày càng phổ biến. Về mặt Giáo hội Công giáo, ngài được tuyên phong bậc Chân phước (bước quan trọng hướng tới công nhận là Hiển thánh) tại chính Nhà thờ Tắc Sậy. Hình ảnh phổ biến của ngài là vị linh mục mặc áo chùng thâm hoặc âu phục, khuôn mặt chữ điền phúc đức, sống giản dị, gần gũi mọi người.

[“Sẽ có hơn 70,000 người dự lễ Tuyên Chân Phước Cha Trương Bửu Diệp”, nguoi-viet.com 22/6/2026; “Lễ tuyên chân phước cho linh mục Trương Bửu Diệp sẽ diễn ra thế nào?,” vnexpress.net 24/6/2026; “Ngày 2/7/2026 diễn ra thánh lễ phong Chân phước cho Cha Diệp”, thanhnien.vn 25/4/2026; Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (1897-1946) – Cuộc đời, Nhân cách, Sự Nghiệp, Cái chết và Ý nghĩa cho ngày nay, hdgmvietnam.com 12/11/2025; “Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp”, vi.wikipedia.org; Nhà thờ Khúc Tréo – nơi an nghỉ đầu tiên của linh mục Trương Bửu Diệp”, vnexpress.net 28/6/2026; “Lễ tuyên phong Chân phước Linh mục Trương Bửu Diệp nói lên điều gì?“, bbc.com 2/7/2026;Thánh Lễ tạ ơn mừng tân Á Thánh Trương Bửu Diệp tại Little Saigon”, nguoi-viet.com 23/7/2026; “Lễ tuyên Chân phước linh mục Trương Bửu Diệp”, vnexpress.net 2/7/2026; Đêm nhạc tôn vinh Chân phước Francis Xavier Trương Bửu Diệp ở Little Saigon, nguoi-viet.com 3/7/2026; “Cuộc đời vị chân phước tử đạo năm 19 tuổi”, vnexpress.net 28/7/2026].

 

[137] Xt: “Nam nhi chi chí”/”Chí nam nhi” – lý tưởng, hoài bão lớn lao của người đàn ông thời xưa. Theo quan niệm truyền thống Việt, đây là trách nhiệm với non sông đất trời, khát vọng để lại danh tiếng cho đời thông qua công danh sự nghiệp. Cốt lõi của tinh thần là 3 yếu tố: Lập công: Khát vọng vẫy vùng, tạo dựng sự nghiệp lớn lao, cống hiến cho xã hội; Lập danh: Khẳng định bản lĩnh cá nhân, lưu danh sử sách, sống đời không uổng phí; Trách nhiệm: Trả “món nợ tang bồng” (nợ đời, nợ non sông) với tinh thần hiên ngang đầu đội trời, chân đạp đất.

[138] Xt: “Lưỡi lê Thiên Hoàng” – lưỡi lê Type 30 (Type 30 bayonet) – loại vũ khí cận chiến tiêu chuẩn của lục quân Đế quốc Nhật Bản, được trang bị cho binh lính từ năm 1897 kéo dài suốt Thế chiến II. Nó mang đậm biểu tượng và lịch sử của thời kỳ Phát xít Nhật. Thông số kỹ thuật: Lưỡi lê dài 40cm, tổng thể 50cm, được gắn vào nòng súng trường. Thiết kế: Một lưỡi, sống thẳng, có rãnh khoét giảm trọng lượng. Phần chuôi có móc chắn bảo vệ tay. Được sản xuất tại các xưởng vũ khí Hoàng gia. Dấu ấn lịch sử và văn hóa chiến tranh: Là biểu tượng võ sĩ đạo, với quân đội phát xít Nhật lưỡi lê không chỉ là công cụ quân sự. Khi kết hợp cùng khẩu súng trường Arisaka, nó đại diện cho tinh thần võ sĩ đạo của người lính Hoàng gia, thề chiến đấu tới cùng cho Thiên Hoàng. Chiến thuật Banzai: Lưỡi lê Type 30 là vũ khí chính được dùng trong các cuộc xung phong “Banzai” (tấn công biển người) nổi tiếng của quân Nhật, nhằm uy hiếp tinh thần đối phương bằng cách giáp lá cà ở cự ly gần. Tội ác chiến tranh: Đi kèm với hệ tư tưởng cực đoan, lưỡi lê này đã được quân đội Nhật dùng trong nhiều tội ác chiến tranh và các vụ thảm sát tàn bạo với tù binh và dân thường (điển hình là Thảm sát Nam Kinh 1937-1938 tại thủ đô Nam Kinh, Trung Quốc).

[139] Xt: Người Công giáo thường cầu niệm cho người quá cố qua các bài Kinh Vực Sâu hoặc câu nguyện “Lạy Chúa, xin cho các linh hồn (hoặc linh hồn [Tên người mất]) được nghỉ ngơi đời đời và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên linh hồn ấy”; “Nguyện xin … tiếp tục che chở, chuyển cầu, ban muôn hồng ân và sự bình an của Thiên Chúa đến… Mục đích để xin Thiên Chúa thương xót, tha thứ tội lỗi, sớm đưa linh hồn người đã khuất về hưởng nhan thánh Chúa. Các bài kinh, lời nguyện người Công giáo thường dùng gồm: Kinh Vực Sâu là bài kinh đặc trưng, phổ biến nhất cầu nguyện cho người chết (bắt đầu bằng câu “Lạy Chúa, con ở dưới vực sâu kêu lên Chúa…”) Lời nguyện tắt: “Lạy Chúa nhân từ, xin cho linh hồn … được nghỉ ngơi nơi an bình”.

[140] Miền Tây Nam Bộ.

[141] Theo thơ Phạm Thiên Thư (trường ca “Đoạn trường vô thanh” – tác phẩm từng giành Giải nhất Văn chương Quốc gia VNCH 1973 – đã Ct. [Xt: 4 câu thơ gói tròn tư tưởng triết học Phật giáo về nhân sinh: giác ngộ vô thường, bản ngã, cõi Không. “Lòng như bát ngát mây xanh”: Tâm hồn tu sĩ  đạt cảnh giới vô chấp, buông xả, thênh thới, không bị tham sân si ràng buộc; “Thân như sương tụ trên cành đông mai”: Triết lý vô thường, thân xác mỏng manh, tồn tại tạm bợ như giọt sương mai, có rồi tan biến; (“Cành đông mai”, đọc chệch là “đào đông mai”, thường là cách gọi nhầm của hoa đào đông/ winterberry – loại hoa nhập khẩu có quả đỏ rực được ưa chuộng chưng Tết. Cụm từ “cành đông mai” trở nên nổi tiếng sau câu thơ của Phạm thi nhân, như là hình ảnh ẩn dụ chất triết lý Phật giáo/Thiền học, tượng trưng những gì mong manh, hư ảo, nhẹ tựa sương mai trong tiết trời đông lạnh giá, toát ra sự buông bỏ, giác ngộ của nhân vật); “Cuộc đời – chớp lóe, mưa bay”: Sự ngắn ngủi đời người/kiếp nhân sinh, như tia chớp lóe giữa bầu trời hay hạt mưa thoáng qua. Mọi hiện thực cũng chỉ là ảo ảnh, duyên sinh vô định; “Càng đi, càng thấy dặm dài nỗi không”: Đạt đến đỉnh tư tưởng Tánh Không (Sunyata) trong Phật giáo. Khi con người trải nghiệm, nhìn thấu bản chất thế giới, họ nhận ra mọi sắc tướng đều là hư ảo, cuối cùng vạn vật đều quy về Không. Là tác giả của nhiều thi  phẩm đạo ca, Phạm Thiên Thư đã dùng hình tượng thơ để diễn đạt tinh tế cái nhìn buông xả, thức tỉnh người đời vượt chấp niệm mà tìm về sự an tịnh nội tại. (Phạm Thiên Thư”, vi.wikipedia.org)].

[142] Xt: Chùa Som Rong (tên đầy đủ Bôtum Vong Sa Som Rong) – ngôi chùa có tượng “Phật nằm” lớn nhất VN, nằm trên đường Tôn Đức Thắng – Sóc Trăng, TP Cần Thơ. Được xây cất từ năm 1785 bằng gỗ, lợp lá đơn sơ; sau nhiều lần trùng tu đến nay chùa mang vẻ đẹp nguy nga, kiến trúc tráng lệ, đậm nét văn hóa Khmer. Chùa mang tên Som Rong – một loài cây dại, từ trên 600 năm nay do thời đó có rất nhiều loài này mọc xung quanh. Chùa nổi tiếng vì có tượng Phật Thích Ca niết bàn lớn nhất VN theo chiều dài 63m, cao 22,5m, nặng 490 tấn, đặt trên bệ cao 28m so với mặt đất, với 2 màu chủ đạo là trắng và xanh nhạt. Bên dưới tượng là khu nhà cho các chư tăng sinh hoạt, tu tập. Công trình này được hoàn thành trong thời gian 2017-2021. Tượng Phật Thích Ca lớn với những đường nét tạo hình mang đặc trưng dân tộc Khmer; phần đầu và thân đức Phật được chế tác tinh xảo, gương mặt nhân từ, phúc hậu. Do được đặt trên bệ cao cùng với kích thước khổng lồ nên đứng từ TP Sóc Trăng cũng có thể nhìn thấy tượng. Chùa Som Rong rộng 5ha, mang nét cổ kính mà không kém phần huy hoàng, nổi bật với những bức tường nhuốm màu thời gian, với khuôn viên thoáng đãng, xung quanh phủ bóng mát của nhiều cây sao cổ. Toàn bộ chánh điện được nâng đỡ bởi 6 hàng cột trụ, tầng mái kết cấu đặc biệt gồm 3 hệ thống mái chồng nhau; góc các tầng mái được trang hoàng hình tượng rồng của người Khmer; phần mái giáp cột được trang trí hình tượng nữ thần Keynor và chim thần Krud. (Chùa có tượng Phật nằm lớn nhất Việt Nam”, vnexpress.net 10/2/2025).

[143] Xt: Mỉm chi/ Cười mỉm chi – hành động cười nhẹ, khẽ mím môi, hé miệng rất nhỏ/không thành tiếng. Đây là kiểu biểu lộ cảm xúc kín đáo, thường mang nét bẽn lẽn, dịu dàng, có phần ẩn ý. Thuật ngữ này được dùng trong giao tiếp và văn học với 3 sắc thái: Bẽn lẽn, thẹn thùng (phổ biến trong văn học miêu tả các cô gái, mang ý ngại ngùng, “tình trong như đã mặt ngoài còn e”; Sự đồng tình nhẹ nhàng (nụ cười thay cho lời xác nhận, đồng ý điều gì đó mà khỏi cần nói ra; “Mỉm chi cọp” (cách nói đùa dân gian chỉ nụ cười mím môi có phần lạnh lùng, ẩn chứa sự tinh quái, khiến đối phương cần chút e dè).

[144] Xt: Phật niết bàn/ Phật nằm – hình ảnh bất tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang nằm đầu tựa tay mô tả tư thế nhập niết bàn (viên tịch) của Ngài. Đức Phật nằm nghiêng bên phải, tay phải chống đỡ đầu; tư thế này biểu trưng cho sự thanh tịnh, tỉnh thức kèm lòng từ bi phổ độ với sự giác ngộ tối thượng mà Ngài để lại cho mọi sinh linh. Hình ảnh có 3 ý nghĩa rất sâu sắc trong Phật giáo: 1. Sự an tịnh, làm chủ tâm thức: Tư thế cát tường (Sư tử ngọa) nằm nghiêng bên phải, tay phải gối đầu, tay trái duỗi thẳng theo thân, hơi thở đều đặn và thanh thản tuyệt đối. Đó cũng là tư thế ngủ chuẩn mực của các bậc giác ngộ, không vướng mắc phiền muộn; 2. Vì chúng sinh: Tôn tượng tựa đầu, nghỉ ngơi nhưng gương mặt luôn hiền từ, biểu thị lòng thương xót vô bờ bến. Tấm lòng từ bi nơi Đức Phật hiện diện trong từng sát na. Dù ở những giây phút chót của cuộc đời tại cõi ta bà, tâm trí Ngài vẫn nhắc nhở chúng sinh buông bỏ tham sân si, hướng về giải thoát cho muôn loài khỏi biển khổ luân hồi; 3. Sự tỉnh thức và bình an: Bức tượng Phật nằm là lời nhắc nhở con người về sự buông bỏ tham sân si, hướng về tự tại, an yên giữa cuộc đời xô bồ vô thường. Về các tôn tượng Phật niết bàn (Phật nằm) có thể biết qua thông tin chi tiết của các ngôi chùa nổi danh hay quen thuộc, qua ý nghĩa các tư thế tay khác của Ngài (như Phật đứng, Phật ngồi thiền) và qua lịch sử, nhất là giai đoạn cuối đời Đức Phật.

This entry was posted in Thơ and tagged . Bookmark the permalink.