Ông Việt Cộng gốc Đức

Nguyễn Xuân Thọ

1-Những người bạn cánh tả Tây Đức

Có lẽ vì tôi tuổi Mão nên chiều mồng hai tết Ất Mão đầu năm 1975 một bất ngờ lớn đã đến với tôi. Gã trai mơ mộng bỗng được ông Huỳnh Văn Tiểng, Trưởng ban Vô tuyến truyền hình giao nhiệm vụ đi Hải Phòng đón hai “đồng chí Tây Đức” và đoàn xe truyền hình lưu động. Truyền Hình Việt Nam lúc đó chỉ là một ban biên tập với khoảng gần 100 người, nằm trong Đài Tiếng Nói Việt Nam, đóng ở 58 phố Quán Sứ. Phương tiện của chúng tôi lúc đó nghèo xơ xác, chỉ có một studio vừa phát sóng vừa để sản xuất chương trình. Mỗi tuần phát sóng hai buổi tối, mỗi lần 2 giờ, tất cả bằng một chiếc xe truyền hình lưu động 4 camera đen trắng mua của Ba-Lan.

Còn tôi thì chỉ là một gã công nhân quèn làm việc trong một cơ quan mà đa số là các vị con ông cháu cha, tốt nghiệp các trường đại học nổi tiếng của các nước xã hội chủ nghĩa.

Là công nhân cơ khí vô tuyến điện học nghề ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức về nên tôi lép vế, phải cam chịu nhận làm tất cả mọi việc “xứng tầm với công nhân”. Đó cũng là động lực khiến tôi quyết tâm học đại học tại chức để thành kỹ sư như ai.

Trong đài còn có những kỹ sư, biên tập viên học đại học 6 năm ở Đức về nên tiếng Đức của họ xem ra phải hơn tôi. Chúng tôi chỉ được học 6 tháng tiếng Đức tại xí nghiệp đào tạo nghề. Sau đó là 3 năm học nghề hoặc thực tập ngay trong các xưởng máy. Còn sinh viên du học thì được học tiếng Đức 1 năm tại viện ngôn ngữ Herder, sau đó là 5 năm đại học, ngồi nghe trên giảng đường và viết biết bao bài thi, luận án, v.v.

Sự khác nhau đó là một trời một vực cả về văn bằng và cả về vốn từ.

Nhưng tôi thì lại học tiếng Đức bằng cả vốn sống, bằng cả sự láu cá và bằng cả sự liều lĩnh của một kẻ ham tìm hiểu. Thời tôi ở Đông Đức từ 1967-1971, đại sứ quán cấm xem TV Tây Đức. Tôi vẫn lén phá rào để xem, mặc dù bụng bảo dạ, bọn đế quốc thế nào cũng nói láo. Các anh chị đảng viên trong đội ngăn cản chúng tôi kết thân với bạn Đức, bạn Liên Xô, vì lập trường chính trị của Đảng Lao động Việt Nam[1] lúc đó gần với Trung Quốc, coi Liên Xô và Đông Đức là “xét lại”[2], là “hữu khuynh”. Tôi cũng kệ, tìm cách xé rào, thậm chí chơi với cả bạn gái Đức. Vì thế nên kiến thức của tôi mang ở Đông Đức về có chút khác với những anh chị sống theo đúng mọi quy định của đại sứ quán. Tiếng Đức của tôi không “hàn lâm” như của họ, mà là thứ tiếng Đức dân dã, nhưng tếu táo và dễ hiểu.

Ban biên tập Truyền hình Việt Nam còn rất nhỏ nên hay có những cuộc họp chung, gồm cả dân thời sự, văn nghệ, quay phim, hành chính, tổ chức và kỹ thuật. Tôi hay đem những kinh nghiệm về nội dung và nghệ thuật mang từ đài truyền hình Đông Đức về phổ biến tại đây. Những ý kiến đó được ông Huỳnh Văn Tiểng, sếp trùm của chúng tôi rất quan tâm. Từ đó tôi lọt vào mắt xanh của ông.

Ông Tiểng là một nhà lãnh đạo đặc biệt. Người Việt lớn tuổi chắc còn nhớ đến bộ tam “Huỳnh – Mai – Lưu” nổi tiếng một thời. Đó là ba vị trí thức Nam Bộ: Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ và Lưu Hữu Phước. Từ trước Cách mạng tháng Tám 1945 bộ ba này là nòng cốt của phong trào thanh niên, sinh viên yêu nước ở Sài Gòn. Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã sáng tác ra bài Tiếng gọi Thanh niên, về sau này thành quốc ca của Việt Nam Cộng Hòa dưới cái tên Tiếng gọi công dân. Ông Tiểng cùng ông Mai Văn Bộ sáng tác các bài Ải Chi Lăng, Bạch Đằng Giang. Ông cũng đã viết lời cho bài Lên Đàng của ông Lưu Hữu Phước. Có thể nói các bài hát này từng là linh hồn của phong trào sinh viên học sinh Việt Nam thời đó.[3]

Với tư chất trí thức Nam bộ đó ông Tiểng làm việc rất cởi mở và dễ chịu. Ông không câu nệ bằng cấp, chỉ đánh giá nhân viên qua năng lực. Ông rất tin và quý tôi. Cứ có việc gì liên quan đến tiếng Đức là ông kêu tôi. Nay nghe tin có đoàn Tây Đức sang, ông nói ngay anh An Minh Trị, lái xe riêng của ông đến “bắt cóc” tôi đi Hải Phòng.

Tôi bỏ mấy cuộc hẹn với bạn bè, nhảy lên xe anh Trị, đi luôn.

Xe chúng tôi đến cảng Hải Phòng vào lúc xế chiều, nhưng tàu còn ở ngoài khơi cách bờ mười hải lý. Sau độ một tiếng rưỡi đồng hồ, chiếc ca nô chở chúng tôi cập mạn tàu dưới ánh đèn pha từ boong tàu chiếu xuống. Tôi được dẫn đến giới thiệu với hai thanh niên Đức, Gerd Krepper và Udo Steinmetz.

Gerd và Udo cùng tuổi tôi, đang là sinh viên năm cuối cùng ngành khoa học sân khấu điện ảnh, trường Đại học Cologne (Köln). Thành phố này từng là thủ đô truyền thông của Đức và những thanh niên trí thức ở đây đã lập ra “Ủy ban sáng kiến ủng hộ ngành điện ảnh và truyền hình Việt Nam” (Initiativkommittee zur Unterstützung des Film-und Fernsehwesens der DR Vietnam, viết tắt là IK) từ mùa hè đỏ lửa 1972. Họ quyên góp và giúp đỡ rất nhiều cho VTV cũng như các xưởng phim Việt Nam khác. Trước khi làm quen với Truyền hình Việt Nam, IK đã quyên góp tiền mua tặng Xưởng phim Giải Phóng và xưởng Phim Truyện Việt Nam một số máy quay phim Arriflex 16mm.

IK hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình, điện ảnh, nhưng cũng quyên góp giúp đỡ cho Việt Nam các phương tiện y tế. Người phụ trách mảng y tế là bác sĩ trẻ Norbert Moos ở Cologne. Cho đến tận hôm nay, ông Moos tuy đã hơn 76 tuổi, vẫn hay về Việt Nam giúp đỡ các bệnh viện chấn thương chỉnh hình. Rất nhiều cầu thủ bóng đá Việt Nam đã được ông mổ.

Thời chiến tranh lạnh Tây Đức phải nấp dưới cái ô hạt nhân của Mỹ nên chính phủ đứng về phía Mỹ trong cuộc chiến Đông Dương và có quan hệ ngoại giao với nhà nước Việt Nam Cộng Hòa. Những người cánh tả như Udo và Gerd luôn là thiểu số và bị cô lập. Vì Bắc Việt Nam chưa có quan hệ ngoại giao với Tây Đức nên những người trong tổ chức IK thường phải sang Đông Đức để liên hệ với Đại sứ quán Việt Nam ở Đông Berlin. Tất cả mọi hoạt động của IK đều bị mật vụ Tây Đức để ý. Tuy nhiên nền dân chủ tư sản vẫn phải chấp nhận tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và lập hội nên các bạn IK vẫn tận dụng không gian đó để tuyên truyền cho cuộc đấu tranh của “Việt Cộng”.

Cuối năm 1974 tổ chức IK mua tặng truyền hình Việt Nam một đoàn xe truyền hình lưu động. Đoàn xe bao gồm một xe đạo diễn hình, một xe kỹ thuật âm thanh và một xe kho chứa thiết bị. Đây là hàng “second hand”, kỹ thuật hình đen-trắng họ mua lại của đài truyền hình WDR. Bộ xe đó giá trị mới khoảng một triệu Mark Đức (DM), tổ chức IK mua lại khoảng hơn 20.000 DM. Thời gian này các đài truyền hình Tây Đức đang lần lượt chuyển từ kỹ thuật đen-trắng sang phát hình màu nên họ thanh lý đoàn xe đó với giá thấp như vậy. Đối chúng tôi thì đó là cả một gia tài. Quý hơn cả là cái tình. Để có số tiền đó, các bạn IK đã phải tổ chức quyên góp cả năm trời, chưa kể tiền thuê tàu biển vận chuyển sang Việt Nam. Trước đó các bạn sinh viên đã mất nhiều tuần lễ để tân trang, tu bổ lại đoàn xe cũ.

Ngày 12.12.1974 hai bạn áp tải đoàn xe lên con tàu viễn dương Mai-Rickmers, xuất phát từ cảng Bremerhaven của Đức đi HongKong. Thời gian này kênh đào Suez đang đóng để tháo gỡ bom mìn từ cuộc chiến tranh Do Thái – Ả Rập nên tàu phải đi vòng qua Mũi Hảo Vọng ở Nam châu Phi. Chuyến hành trình đó kéo dài mệt mỏi hai tháng, thêm vào đó là sự buồn tẻ trên tàu. Vì Tây Đức chỉ quan hệ kinh tế, chính trị với Miền Nam Việt nam, vì các tổ chức cứu trợ nhân đạo của Tây Đức chủ yếu hợp tác với chính quyền Sài Gòn nên hàng hóa vận chuyển từ Tây Đức chỉ đến các cảng Miền Nam. Do đó việc hai thanh niên cánh tả mang quà sang Hải Phòng tặng nhà nước Cộng Sản là điều khó hiểu với thuỷ thủ đoàn. Họ ít nói chuyện với Gerd và Udo.

Ngày 3.2.1975 tàu đến HongKong nhưng hai bạn phải chờ tàu Việt Nam thêm 1 tuần. Ngày 10.2. đoàn xe ba chiếc được cẩu sang tàu Bảo Việt để lên đường về Hải Phòng. Bảo Việt là một chiếc tàu viễn dương nhỏ, tải trọng hơn 1000 tấn thuộc Tổng công ty vận tải biển Việt Nam VOSCO. Ở đây Gerd và Udo được đón chào nồng nhiệt, khác hẳn không khí buồn tẻ trên tàu Đức. Đêm đó cũng đúng là đêm giao thừa tết Ất Mão nên hai bạn được ăn tết chung với thủy thủ đoàn Bảo Việt. Họ có cảm giác như về nhà.

Rạng sáng 12.2. tàu về đến Hải Phòng, nhưng vì cảng đang vướng rà quét bom mìn nên chỉ có chỗ cho vài chiếc tàu. Thế là Bảo Việt phải thả neo cách bờ 10 hải lý[4]. Thuyền trưởng điện cho đài Tiếng Nói Việt Nam ra đón hai anh.

Gerd và Udo rất mừng khi gặp tôi, vì mấy ngày qua trên đường từ Hong Kong về đây, họ chỉ nói chuyện với thủy thủ Việt Nam bằng một thứ tiếng Anh gãy khúc. Dù hai bên hiểu nhau hết và đều quý mến nhau, nhưng để tâm sự như ở nhà bằng tiếng Đức dân dã thì không thể.

Quá nửa đêm, xe chúng tôi chở hai bạn Đức về đến khách sạn Thống Nhất[5]. Đây là khách sạn sang nhất miền Bắc lúc đó.

Những ngày sau, đài thuê cho tôi một chiếc xe Volga với anh tài xế tên là Đức, người của “Cục phục vụ ngoại giao đoàn” để đưa Gerd và Udo đi Hải Phòng làm thủ tục nhập đoàn xe truyền hình. Tranh thủ lúc rỗi tôi dẫn hai bạn đi chơi vịnh Hạ Long, đi thăm Cao Bằng, thăm các danh lam thắng cảnh quanh Hà Nội, Hòa Bình. Từ đó Gerd, Udo và tôi trở thành bộ tam, gắn kết với nhau.

Lúc đó ở Việt Nam đói kém lắm mà chúng tôi thì đi đến đâu cũng được ăn trong các khách sạn sang, uống bia Hà Nội, hút thuốc lá thơm Thăng Long bao giấy bạc. Ăn xong thì ghi sổ, không cần trả tiền. Mấy hôm sau, khi đã thân quen, tôi bảo Gerd lấy cho tôi bao Thăng Long. Tôi mang về 58 Quán Sứ chia cho anh em trong phòng, ai cũng sướng. Anh Đức lái xe cũng được ăn, uống, hút ghé. Có nghĩa là Gerd và Udo được gì, chúng tôi có nấy. Tôi nói đùa: “Chưa có Chủ nghĩa Cộng sản trong toàn quốc, nhưng ít ra phải có trong nhóm chúng mình chứ”.

Anh Thiện, cán bộ đối ngoại của Đài mỗi khi đến khách sạn thanh toán tiền, nhìn vào hóa đơn thì kêu trời. Anh cấm bác tài Đức và tôi không được lợi dụng ăn uống “tiêu chuẩn Tây”.

Ngày hôm sau Gerd và Udo phát hiện ra lệnh cấm này vì thấy hai chúng tôi mang cơm nắm và bi đông nước đi làm. Họ phản đối sự phân biệt đối xử này. Udo tuyên bố sẽ không đi đâu, ăn gì nữa. Thế là anh Thiện chịu thua. Nhưng cho đến nay tôi vẫn chưa quên cái lườm sắc lẹm của anh.

Đài làm mọi cách sớm đưa đoàn xe từ cảng Hải Phòng về đến Hà Nội. Đây là một dịp tuyên truyền tuyệt vời. Này nhé: Việt Nam không những được các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ, mà được cả các phong trào Hòa bình từ phương Tây viện trợ!

Đón đoàn xe truyền hình lưu động từ Hải Phòng về Hà Nội đầu tháng 3.1975

Thế nên mọi giao dịch hải quan, vận chuyển đều rất thuận lợi. Đoàn xe đi từ Hải Phòng về, có xe ba bánh cảnh sát dẫn đường, có quay phim chụp ảnh. Tất nhiên tôi luôn được lên phim ảnh cùng hai ông “Tây Đức”.

Là dân kỹ thuật từ trong máu nên chỉ sau vài ngày tôi đã thuộc lòng mọi chi tiết kỹ thuật của ba chiếc xe do hai ông bạn đem sang. Sau đó tôi tổ chức vài buổi hướng dẫn các đồng nghiệp và họ lập tức đưa chúng vào sử dụng.

2- Tổ chức IK (Initiativkommittee zur Unterstützung des Film-und Fernsehwesens der DR Vietnam)

Ngày bàn giao chính thức ba chiếc xe này cho Truyền hình Việt Nam, phái đoàn chính của ban lãnh đạo IK bay từ Đức sang. Riêng Chủ tịch Rüdiger Minow thì không bay mà đi tàu hỏa xuyên lục địa suốt 12 ngày từ Berlin sang Hà Nội. Anh có bệnh sợ bay từ nhỏ. Phía Việt Nam cử các đại diện của Ban Tuyên huấn, của Bộ Ngoại giao, của Cục Điện ảnh, Bộ Văn hóa, của đài Tiếng Nói Việt Nam, v.v. đón tiếp rất linh đình.

Ông Huỳnh Văn Tiểng đọc diễn văn chào mừng phái đoàn đoàn IK (ảnh trên), anh bạn Rüdiger đọc lời đáp từ (ảnh dưới). Tác giả phiên dịch.

Đến lúc này thì vai trò phiên dịch của tôi có vẻ lung lay. Vì các cơ quan đều có các phiên dịch tiếng Đức thượng thặng. Họ học ở Đức cả 6-7 năm trở lên, chuyên làm về quan hệ quốc tế. Tôi còn nhớ chị Hoàng (sau này làm Tổng Giám đốc công ty Saigon Tourist). Chị cũng đi phiên dịch cho đoàn IK vài buổi. Chị dịch rất chính xác, bài bản và rất ngoại giao. Nhưng cả ông Huỳnh Văn Tiểng và nhóm Tây Đức vẫn thích lối dịch dân dã của tôi. Cuối cùng ông Tiểng nói với sếp tôi: Để cậu Thọ đi dịch cho đoàn IK đến hết chuyến đi thăm này!

Vài hôm sau, Gerd và Udo đã hoàn thành sứ mệnh. Họ về nước qua đường bay Bắc Kinh, Moskva, Berlin, Köln. Tôi tiếp tục dịch cho ban lãnh đạo IK và hai nhà làm phim. Đây là một thử thách mới.

Các ông Trần Lâm và Huỳnh Văn Tiểng tiếp các bạn Rüdiger Minow và Ernst Peterka, Chủ tịch và Phó Chủ tịch IK (ảnh trên). Ông Hoàng Tùng, Bí thư Trung ương Đảng tiếp hai bạn (ảnh dưới).

Từ chỗ phiên dịch cho hai ông bạn Gerd và Udo, tay công nhân kỹ thuật 24 tuổi bỗng dưng bị rơi vào vòng xoáy của các sự kiện chính trị. Gerd và Udo là hai sinh viên 24, 25 tuổi, tính tình tếu táo và chỉ mang thiết bị kỹ thuật sang bàn giao nên những chuyện họ nói rất hợp với vốn tiếng Đức của tôi. Nhưng Hans-Rüdiger Minow, Chủ tịch IK, và Ernst Peterka, Phó Chủ tịch là những tay chính trị chuyên nghiệp lại là một đẳng cấp khác. Rüdiger kết nối IK với các phong trào phản chiến ở Pháp, Hà Lan, Bắc- Âu. Cậu bạn Ernst Peterka quen biết cặp vợ chồng Jane Fonda – Tom Hayden ở Mỹ nên đã mời Jane Fonda sang Đức cùng IK mở các chiến dịch tuyên truyền cho Việt Nam. Với trình độ kinh bang tế thế của họ, chỉ trong vòng 3 năm, từ 1972 đến 1975, Rüdiger và Ernst đã biến tổ chức IK của mấy ông trẻ nổi loạn thành một phong trào chống chiến tranh có tiếng nói lớn ở Tây Đức, có tiềm lực kinh tế. Họ quyên được hàng trăm ngàn D-Mark để mua đoàn xe truyền hình lưu động rồi thuê tàu biển gửi sang cho VTV, mua rất nhiều thiết bị quay phim, thu thanh cho các xưởng phim ở Việt Nam, các trang thiết bị y tế cứu trợ nhân đạo. Chỉ riêng chi phí đi lại cho 6 người sang Việt Nam lúc đó cũng là món tiền khủng.

Đi cùng Rüdiger sang Hà Nội là bà Roshan Dhunjibhoy, một nhà điện ảnh cánh tả gốc Pakistan, một nhà hoạt động nữ quyền nổi tiếng ở Đức và châu Âu cùng với chồng là ông Reginald Beuthner, một nhà quay phim lão luyện của Đức. Họ sẽ ở lại Việt Nam một tháng để làm nhiều phim tài liệu và phỏng vấn nhiều lãnh đạo cao cấp của Đảng Lao động và chính phủ Việt Nam.

Khi đó Việt Nam là một nước khép kín với phương Tây. Ngoài hãng thông tấn Pháp AFP, không cơ quan thông tấn, báo chí phương Tây nào khác có phóng viên tại Việt Nam. Bản thân AFP cũng ít được tiếp xúc với giới lãnh đạo chóp bu ở Hà Nội, ít được phép đi đến các vùng “nhạy cảm”. Do đó IK mong muốn tận dụng thời gian ở Việt Nam để làm những thước phim đắt giá nhất về hậu phương của một cuộc chiến tranh đang ở vào giai đoạn kịch tính nhất.

Đoàn đến Hà Nội đầu tháng 3.1975 thì chỉ hai tuần sau, quân lực Việt Nam Cộng Hòa rút lui khỏi thị xã Buôn Mê Thuột, mở đầu cho bước ngoặt lịch sử của cuộc chiến tranh 20 năm.

Tôi phải tháp tùng đoàn IK đi làm việc với các Hội hữu nghị, với Bộ Văn hóa, Bộ Ngoại giao, Ban Tôn giáo, Cơ quan đại diện của Chính Phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, v.v. Đề tài là những bàn luận về chính trị và ngoại giao rất phức tạp mà đôi khi tôi bị quá tải. May mắn nhất cho tôi là được lớn lên trong lòng cơ quan Việt Nam Thông Tấn Xã, từ bé đã nhập tâm khá nhiều khái niệm chính trị. Do vậy khi hai bên nói về vấn đề gì mới, tôi hiểu khá nhanh. May hơn nữa là anh bạn Hans-Rüdiger rất giỏi tiếng Pháp, vì anh ta là cộng tác viên ở trường Đại học Sorbonne, còn bà Roshan thì nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ. Do vậy khi tôi lúng túng điều gì mà đối tác Việt Nam biết một trong hai thứ tiếng kia là họ có thể bổ sung cho tôi. Qua đó tôi học được thêm khá nhiều.

Tôi mau chóng trở thành bạn thân của Rüdiger. Điều khiến tôi ngạc nhiên là người Tây Đức dù lớn tuổi và nổi tiếng lại rất giản dị và thân thiện. Họ cậu cậu tớ tớ với tôi ngay từ hôm đầu. Tôi có rất nhiều bạn Đông Đức, nhưng đối với các vị lớn tuổi, với các thầy cô, chúng tôi luôn gọi nhau bằng ông bà.

Thời đó, kết bạn với đồng chí Liên Xô cũng còn gặp khó. Nếu anh đi đường gặp lại một người quen từ các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan mà đứng lại nói chuyện, tay bắt mặt mừng là tối về nhà sẽ có người đến hỏi thăm xem anh quan hệ thế nào, đã nói gì với ông bà Tây đó. Kèm theo luôn là yêu cầu từ nay không được tự tiện tiếp xúc với người nước ngoài. Do vậy quan hệ của tôi với người Tây Đức là một việc rất phiền phức. Trong thời gian đoàn IK đi làm phim ở Việt Nam, luôn có các nhân viên an ninh tháp tùng đoàn. Tôi cũng được căn dặn rất kỹ về các nguyên tắc giao dịch về những việc không được làm và phải làm. Gerd và Udo muốn về nhà tôi chơi, thăm ba má tôi mà đâu có được.

Sau khi đoàn IK về Tây Đức, tôi vẫn quan hệ thư tín với họ. Cuối năm 1975, Cộng Hòa Liên Bang Đức và Việt Nam lập quan hệ ngoại giao. Đầu năm 1976, hai nước trao đổi đại sứ. Quan hệ giữa Việt Nam và IK xấu đi. Có lẽ vì IK là một tổ chức không được chính quyền Tây Đức hoan nghênh trong khi Hà Nội đang muốn mở rộng quan hệ với Bonn[6].

Nhiều dự định của IK hợp tác với ngành phát thanh, truyền hình, điện ảnh Việt Nam bỗng bị phía Việt Nam bỏ rơi. Mọi công điện của IK gửi sang Hà Nội đều không được trả lời. Rüdiger toàn viết thư riêng cho tôi, nhờ tôi hỏi ông nọ, bà kia, những vị đã đón tiếp niềm nở anh ta trong chuyến đi thăm Việt Nam đó. Tôi sẵn sàng nhận lời giúp anh ta và chuyển các bức thư đó cho họ.

Đây là một việc làm nguy hiểm và tôi đã khốn khổ suốt mấy năm liền vì tình bạn này.

Nhưng tôi không bao giờ bỏ bạn bè, và họ cũng chẳng bao giờ quên tôi. Đó cũng là một trong các lý do mà sau này, khi quay lại Đức 1991, tôi lại chọn Cologne làm quê hương mới. Tổ chức IK lúc này đã tan vỡ, cũng như những hoài bão của họ về nước Việt Nam.

Các thành viên của họ đôi khi không chơi với nhau, nhưng mọi người đều quý mến tôi.

Trong sách Hai quê hương tôi có kể về những ngày đầu hụt hẫng khi đến Đức 1991. Lúc này người tỵ nạn từ Đông Âu ồ ạt đổ vào Đức khiến cho tư tưởng kỳ thị người nước ngoài dâng lên như một phản ứng tự vệ. Người nước ngoài khó có thể xin việc làm hoặc thuê nhà. Thêm vào đó là các quy định ngặt nghèo về cấp phép lao động cho người nước ngoài. Chính Rüdiger đã giúp tôi thuê nhà và đặc biệt là xin giấy phép lao động tại Sở Lao động Cologne. Là đạo diễn truyền hình, anh gọi điện cho Sở Lao động, nói là muốn làm phim về vấn đề cấp giấy phép lao động cho người ngoại quốc. Anh nói sẽ mang theo một nhân chứng đang được chủ chấp nhận nhưng không có giấy phép.

Tôi bỏ lại sự nghiệp ở VTV sang Đức lập nghiệp vì quá tin vào năng lực chuyên môn của mình. Nhưng thực tế ở Đức, quê hương lựa chọn của tôi trong thời gian đầu quả là phũ phàng. Cái bằng đại học của Việt Nam tất nhiên không được công nhận. Tuy không ai chê kiến thức kỹ thuật của tôi, nhưng chỉ qua nói chuyện, các chuyên viên về nhân sự (Human Resources) nhận ra dấu ấn của nếp sống bao cấp, thiếu tự tin, thiếu chủ động. Sau này đi làm tôi mới hiểu: Kiến thức thì có thể có, nhưng nếp sống và cách suy nghĩ thì còn lâu. Chỉ sau vài tuần, hy vọng sánh vai với các kỹ sư Tây tiêu tan trong mây. Dù đã xuống nước đến mức sẵn sàng làm cả thợ điện, thợ sửa radio, nhưng cái vóc dáng nhỏ thó, nói năng rụt rè lại không có bằng lái xe đã khiến mọi ông chủ đều lịch sự tiễn tôi ra cửa.

Riêng chỉ có ông Bader, ông chủ một hãng điện tử, vốn cũng có con đường tiến thân từ công nhân giống tôi, giang tay cứu tôi khỏi cái hố “ăn tiền xã hội”. Là kỹ sư điện tử đầu ngành truyền hình ở Việt nam nhưng tôi chấp nhận làm thợ điện sửa chữa các loại máy đo cho ông với mức lương thấp nhất ở Đức lúc đó là 2.000 D-Mark. Nhưng kể cả làm công việc rẻ mạt này cũng phải có giấy phép của Sở Lao động.

Vụ quay phim đó của Rüdiger đã giúp tôi có cái giấy phép lao động, cứ sáu tháng lại gia hạn một lần. Đó là cái phao đầu tiên.

Trong thời gian đầu khi mới sang Đức, các bạn khác trong nhóm IK đều giúp đỡ tôi rất nhiều, tuy bản thân họ có những điều bất đồng với nhau. Sau này khi đã ổn định cuộc sống và lập ra doanh nghiệp riêng, tôi đã tìm cách cảm ơn họ khi có dịp. Đa số họ làm trong ngành điện ảnh, truyền hình trong khi công ty tôi làm dịch vụ kỹ thuật truyền hình nên nhiều khi tôi giúp họ miễn phí.

3-Nhân chứng Stephan Koester

Những gì xảy ra sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc đã gây thất vọng, thậm chí tạo lên những chấn thương tâm lý cho hầu hết các thành viên IK khiến họ xa rời nhau, thậm chí có nhiều bất đồng với nhau. Không ai trong số họ muốn nhắc đến quá khứ, đến các tư tưởng họ đã đi theo. Vì vậy không ai trong họ muốn nhắc lại chuyện cũ. IK đối với họ là một kỷ niệm đau xót.

Đối với tôi thì ngược lại. Mặc dù tình bạn của tôi với các bạn IK đã khiến tôi khốn khổ một thời, nhưng đó là những kỷ niệm đẹp của thời trai trẻ. Vì vậy ngay khi mới sang Đức định cư năm 1991 tôi đã tìm cách liên hệ với các bạn IK. Chính tôi đã tìm mọi cách kết nối họ lại. Họ không chủ động gặp nhau, nhưng khi tôi mời hoặc tổ chức gì đó, họ đều đến. Nhiều cuộc gặp gỡ tôi tổ chức đã phần nào xóa bỏ cái hố ngăn cách giữa họ. Nhờ đó tôi kết bạn thêm với nhiều cựu thành viên IK mà năm 1975 tôi chưa được làm quen.

Trong số các bạn mới đó có Stephan Koester. Là một nhà điện ảnh, anh có tình cảm đặc biệt với Việt Nam ngay từ đầu những năm 1970, sau khi được xem bộ phim Rừng O Thắm[7] và các phim tài liệu khác được Xưởng phim Giải Phóng mang sang dự liên hoan phim Oberhausen.

Hè 2006 Stephan Köster đến chơi và tặng tôi bộ phim Bản báo cáo thành tích anh làm từ năm 1983. Phim đã được phát sóng trên đài truyền hình Đức ZDF. Tôi xem xong, rất cảm động nhưng chỉ biết cất cuộn băng VHS đó vào ngăn kéo, không dám phổ biến.

Đầu năm 2018 Stephan Köster lại đến thăm tôi. Vợ tôi đãi các món mà anh đã được Xuân, vợ chưa cưới của anh nấu cho tại Sài Gòn mùa hè 1975. Stephan rất khoái nước mắm và dùng đũa thành thạo. Bên cốc rượu vang, anh kể lại cho chúng tôi những cảm xúc của mình trong ngày kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm, cuộc chiến tranh đã chính trị hóa thế hệ anh, đã đưa anh đến với Việt Nam, đến với Xuân. Những gì Stephan kể cho vợ chồng tôi nghe rất lạ tai, rất khác với những điều người Việt hay nói về ngày 30 tháng Tư. Đó là một cái nhìn nhân bản của một trí thức phương Tây, về một dân tộc khác.

Tại sao Stephan lại có mặt Sài Gòn vào thời điểm đó?

Trong thời gian Rüdiger, Chủ tịch IK ở lại Việt Nam để làm phim và gặp gỡ các quan chức Việt Nam, anh đã thu hút được sự chú ý của Bộ Chính trị Đảng Lao Động Việt nam. Ông Hoàng Tùng đã tiếp Rüdiger, không chỉ trong tư cách Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, mà còn thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đỉnh cao của chuyến đi là phái đoàn IK được Thủ tướng Phạm Văn Đồng mời đến gặp gỡ tiễn biệt vào ngày cuối cùng. Tất cả chúng tôi đều ngạc nhiên trước sự kiện đó.

Sáng 30.3.1975, sau khi quân chủ lực miền Bắc và du kích vừa chiếm Đà Nẵng, tổng hành dinh của Quân đoàn 1 Việt Nam Cộng Hòa chiều hôm trước, tôi tháp tùng Rüdiger và cặp làm phim Roshan, Reginald đến Phủ Thủ tướng ở Ba Đình để chuẩn bị một cuộc phỏng vấn lịch sử.

Ông Reginald chuẩn bị máy móc gấp đôi. Chúng tôi đến trước một giờ để ông lắp đặt máy móc thu thanh, quay phim và ánh sáng. Ông đã đi nhiều nơi, nhưng chưa bao giờ được phỏng vấn trực tiếp Thủ tướng một quốc gia cộng sản, lại vào lúc nước này đang tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho thế giới.

Sau màn chào hỏi xã giao và phát biểu ca ngợi nhau, Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời một số câu hỏi phỏng vấn của bà Roshan. Tuy nội dung phát biểu của Thủ tướng đối với tôi hoàn toàn không có gì lạ, vẫn như các bài phát biểu theo đúng đường lối chính sách của Đảng, nhưng đối với người phương Tây thì đó là lời phát biểu mang tính lịch sử.

Cuối cùng, Rüdiger xin gặp riêng Thủ tướng và anh ta hỏi nhỏ ông Phạm Văn Đồng: Bao giờ các đồng chí vào Sài Gòn?

Câu trả lời là cuối tháng tư 1975.

Rüdiger nói sẽ gửi một phóng viên bí mật vào Sài Gòn để làm phim về sự kiện này dưới góc nhìn của những người bạn. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cảm ơn và hứa sẽ thông tin cho các cơ quan hữu quan.

Ngày 31.03.1975 đoàn IK bay về Đức, mang theo toàn bộ các phim phỏng vấn giới lãnh đạo Việt Nam mà lúc đó cả UPI, AFP, AP hay Reuters trong mơ cũng không thể có. Rüdiger xưa nay chưa bao giờ dám đi máy bay, nhưng nay anh phải vượt qua nỗi sợ để mang những thước phim lịch sử này ra thế giới sớm nhất.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp Chủ tịch IK ngày 30.3.1975. Ngày 11.4.1975 bản tin của IK đã in bài phỏng vấn ông.

Ngay sau khi về đến Köln, IK lập tức bắt tay tìm người đi Việt Nam và chuẩn bị cho chuyến đi của nhà quay phim bí mật. Họ chọn Stephan Köster, chàng quay phim 27 tuổi. Lý do là Stephan sinh ra trong một gia đình ngoại giao lâu đời ở Đức, đã theo bố mẹ rong ruổi khắp thế giới. Anh thông thạo sáu ngoại ngữ. Ngoài ra, Stephan đã từng có những tiếp xúc với du kích Nam Mỹ khi còn ở Bolivia.

Ngày 25.04.1975, Stephan nói dối gia đình là đi quay phim ở Tây Ban Nha, rồi bí mật đáp máy bay đi Bangkok. Ngày 26.4 sân bay Bangkok đầy ắp người Việt Nam bỏ chạy sang Thái Lan. Những chiếc máy bay chở họ sang đều nằm lại, không quay trở lại Sài Gòn. May mắn là hôm đó hãng Air China của Đài Loan vẫn bay một chuyến về Sài Gòn. Trên máy bay chỉ có một hành khách duy nhất là Stephan. Vì lý do an toàn Stephan không mang bất cứ một giấy tờ gì có thể lộ ra rằng anh là người của “Việt Cộng”. Trong valise chỉ có một máy quay phim Bolex 16mm, máy ghi âm, máy ảnh và cơ số phim đủ cho 2 tháng.

Chiều 26.04 Stephan hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất. Anh ngạc nhiên vì ga hàng không vắng tanh không bóng người, cũng không ai kiểm tra giấy tờ. Anh leo lên một chiếc taxi và hỏi bác tài đi vào thành phố. Bác tài khuyên anh nên đến khách sạn Caravelle ở đường Catinat. Sau này anh mới biết chuyến bay đó là chuyến chở khách cuối cùng đến Sài Gòn. Từ hôm sau sân bay bị pháo kích nặng nề và ngày 28.04 còn bị phi đội Nguyễn Thành Trung ném bom. Chỉ còn vài máy trực thăng quân sự dám lên xuống trên đường băng lỗ chỗ vết đạn.

Stefan Koester, nhà quay phim thiên tả Tây Đức trước cửa dinh Độc Lập hôm 1.5.1975

Sinh nhật Stephan Köster tháng 8.2018 tại nhà tác giả ở Cologne

Stephan Köster tại Bolivia 1971

Thế là Stephan bỗng trở thành nhân chứng lịch sử của một sự kiện mà anh tưởng rằng sẽ là ngày tận thế của chủ nghĩa đế quốc, bỗng yêu một người con gái Việt Nam từ phía bên kia của cách mạng.

4-Hoàng hôn của chiến tranh

Stephan từng biết đến Sài Gòn như một Hòn ngọc Viễn Đông và anh bị thành phố này quyến rũ ngay khi đặt chân đến, dù trong buổi hoàng hôn của nhà nước Việt Nam Cộng Hòa. Chiều ngày 26.4, thành phố vẫn yên tĩnh, bất chấp các tin chiến sự, tin đồn thay đổi nội các. Các lệnh giới nghiêm được Đài phát thanh liên tục phát đi. Cảnh sát vẫn điều hành các ngã tư, mọi mệnh lệnh từ trên xuống vẫn thi hành nghiêm túc.

Stephan Koester trên 1 chiếc xe tăng Mỹ bị hỏng trước cửa ngõ Sài Gòn ngày 01.05.1975

Sáng 27.04, Stephan làm quen nhà báo Đan Mạch Jens Nauntofte đang viết bài cho tờ báo Thụy Điển Dagens Nyheter (Tin tức hôm nay) trong sảnh của khách sạn Caravelle. Anh hỏi Jens là liệu cuộc chiến có sớm chấm dứt hay không?

– Còn lâu, đừng nghĩ là chỉ vì anh sang đây mà cuộc chiến 30 năm này sẽ kết thúc nay mai – Jens trả lời.

Ngay lúc đó một loạt đạn pháo 122mm từ bên ngoài bắn vào thành phố, hai viên nổ ngay trên nóc khách sạn Majestic gần đó.

Ngày 28.04, khách sạn Caravelle đề nghị người nước ngoài phải nộp ảnh để làm giấy tạm trú theo lệnh thiết quân luật. Tại một tiệm chụp ảnh bên kia đường, Stephan bị thôi miên bởi ánh mắt của một cô gái đang nhìn mình. Xuân, cho đến lúc này vẫn còn là xướng ngôn viên đài truyền hình Sài Gòn của Việt Nam Cộng Hòa, đang chờ chụp ảnh để làm visa xuất ngoại. Vì vướng mấy chương trình lên sóng nên giờ nàng mới lo đến việc làm visa.

Xuân, người yêu, lái xe, phiên dịch, trợ lý quay phim của Stephan

Xuân có cảm tình ngay với chàng trai Đức đang thì thầm với chủ tiệm bằng cái giọng Pháp rất êm. Nàng liên tưởng đến chiếc xe VW của Đức vừa dễ thương vừa rất đáng tin cậy mà nàng dùng lâu nay. Tình yêu sét đánh!

Xuân mời Stephan đi thăm thành phố bằng xe riêng của mình. Trên xe đã có một bà cụ già đang ngồi xếp hai chân trên ghế sau. Bà cười vui vẻ với Stephan, hiện ra hàm răng đen nhánh. Xuân giới thiệu:

– Đây là vú em “Bonne” đã chăm nuôi em từ lúc bé. Em yêu cô như mẹ.

Chiếc xe VW màu trắng bỗng trở thành phương tiện vận chuyển của Stephan trong hơn hai tháng sau đó, với Xuân trong vai trò tài xế, thông ngôn và trợ lý đạo diễn. Xuân tìm thấy ở Stephan chàng hiệp sĩ của đời mình. Nàng sao nhãng những cố gắng xuất cảnh, yên tâm phụ giúp chàng trong mọi hoạt động.

Xuân không giấu giếm Stephan rằng mình là người của đài Truyền Hình Sài Gòn. Stephan không biết các đồng chí của anh ở Đức sẽ nghĩ sao, khi anh sang đây quay phim cho truyền hình của cách mạng mà lại gửi trái tim cho một nhân viên truyền hình phía “địch”. Nhưng anh không cưỡng được đôi mắt và nụ cười của nàng. Còn Xuân chỉ biết anh là phóng viên Tây Đức chứ đâu ngờ là anh làm việc cho những người cộng sản đang bao vây thành phố.

Xuân kể rằng cha mẹ nàng, chủ một hãng bào chế, đang chờ mình đi chụp ảnh làm visa để cùng họ di tản ra nước ngoài. Tình yêu sét đánh đã khiến nàng bỏ lại ý đồ đó. Xuân chở Stephan và bà vú em đi thăm thành phố. Xuân tính đưa Stephan về nhà chào bố mẹ, nhưng còi báo động nổi lên vì thành phố bị ném bom. Bốn chiếc A37 của phi đội Nguyễn Thành Trung sau khi ném bom sân bay đang bay vào thả bom dinh Độc Lập. Xe cảnh sát kêu gọi mọi người ở trong nhà và ban bố lệnh giới nghiêm.

Xuân vội lái xe đưa bà vú em về nhà rồi cùng Stephan phóng về khách sạn Caravelle. Buổi tối hôm đó Xuân ở lại khách sạn. Hai người không dám ngủ trong phòng khách, mà chui vào phòng tắm không có cửa sổ để tránh đạn lạc.

Sáng ngày 29.04: Tổng thống Gerald Ford khởi động chiến dịch di tản “Operation Frequent Wind”. Đài phát thanh American Forces Network (FAN) liên tục phát đi bản nhạc “I am dreaming of a White Christmas”. Cảnh tượng hỗn loạn xảy ra khắp thành phố. Hàng chục ngàn người vừa Việt vừa Mỹ đổ xô về đại sứ quán Mỹ và những tòa nhà có chỗ đỗ cho máy bay trực thăng.

Stephan chứng kiến sự hỗn loạn tương tự trong sảnh khách sạn Caravelle. Tất cả phóng viên quốc tế, khách nước ngoài ở đó hốt hoảng chạy ào ra những chiếc xe bus. Nhiều người đội mũ sắt, mặc áo chắn đạn. Có người còn vẫy tay giục Stephan nhanh lên. Tuy bị cái sợ của họ lây sang, nhưng anh chỉ đứng im, mỉm cười chào họ.

Rồi anh vác máy quay ra phố, chộp được cảnh những chiếc Chinook liên tục đáp xuống chở người chạy trốn. Anh cũng quay được cảnh chiếc trực thăng HUEY đang đỗ trên nóc một căn nhà, bên dưới là một dòng người đang leo lên. Nhưng người may mắn chụp được bức ảnh nổi tiếng thế giới đó lại là phóng viên người Hà-Lan Hubert van Es đang làm việc cho United Press International (UPI).

Xuân khuyên anh nên chuyển sang khách sạn Continental Palace gần đó cho an toàn. Số ít ỏi phóng viên còn lại ở Caravelle cũng đã chuyển sang đó, nơi có đông người phương Tây hơn để tạo thành một căn cứ nhỏ bảo vệ lẫn nhau. Khách sạn Continental Palace dùng lưới thép bọc toàn bộ các cửa sổ và chặn cửa ra vào bằng hàng rào thép để tránh bị tấn công. Ở đây, đa số phóng viên nước ngoài đã bỏ đi, trong đó có những cây bút chiến tranh gạo cội như Peter Scholl Latour và Winfried Scharlau. Nhưng vẫn còn vài phóng viên Đức khác ở lại cùng Stephan:

1. Börries Gallasch, phóng viên tạp chí Tấm gương (Der Spiegel). Sáng 30-4-1975, mặc dù “sợ đến run cả hai đầu gối”, Borries Gallasch vẫn tìm cách “lọt” vào bên trong dinh Độc Lập, và sau đó trở thành phóng viên nước ngoài duy nhất chứng kiến thời khắc lịch sử ở Đài phát thanh Sài Gòn.

Börries Gallasch, phóng viên tạp chí Tấm gương (Der Spiegel), nhân chứng nước ngoài duy nhất tại đài Phát thanh Sài Gòn trưa 30.4.1975. Tướng Dương Văn Minh đã đọc lời kêu gọi ngừng bắn vào máy ghi âm của Gallasch.

2. Dietrich Mummende, phóng viên ảnh của nhật báo Thế giới (Die Welt), trong phim còn được gọi là Dieter. Sáng 01.05 Dieter cùng đi với Stephan ra xa lộ Biên hòa để quay phim các phòng tuyến chống cự của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng trên đường ra, cả hai chỉ chứng kiến các đoàn xe chở bộ đội Bắc Việt tiến vào thành phố. Trong buổi sáng 30.04 Stephan không vào dinh Độc Lập mà đi quay các điểm khác trong thành phố. Trưa hôm đó anh chỉ kịp quay cảnh biệt động nội thành chiếm tòa nhà Hạ Nghị viện.

3. Một nhân chứng khác là Tiziano Terzani (người Ý), phóng viên thường trú báo Tấm gương (Spiegel) thì có vợ con, thuê nhà ở ngay trong thành phố nên không ở khách sạn. Trong quá trình làm việc sau này, Stephan và Tiziano cũng nhiều lần trao đổi với nhau. Tiziano Terzani là người đã phát bản tin Sài Gòn thất thủ đầu tiên ra nước ngoài vào buổi trưa 30.4.1975.

Tiziano Terzani, phóng viên ngoại quốc đã ghi lại hình ảnh chiếc xe tăng húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập

Tất cả họ đều kết bạn với Stephan mà không hề biết Stephan đang làm việc cho “Việt Cộng”. Cả “Việt Cộng” cũng vậy. Trong các cuộc chiến tranh, phóng viên ngoại quốc luôn có ý thức bảo vệ nhau, vì cùng chia sẻ một số phận. Khi hoạn nạn, họ hay giúp đỡ nhau, dù quốc tịch nào, khuynh hướng chính trị nào. Trong mấy ngày đó, chiều nào họ cũng gặp nhau ở quán bar khách sạn Continental, đẫm mồ hôi và bụi đường. Ai cũng mừng là còn sống. Chiều nào họ cũng rủ nhau uống những “cốc bia cuối cùng”, vì không biết ngày mai có còn cơ hội nữa không. Tuy nhiên khi trở về cuộc sống hòa bình, họ cũng cạnh tranh và ganh tỵ với nhau.

Stephan kể về một phóng viên Đức phải về nước trong tuần thứ hai của tháng 5. Vì rất thân anh ta nên Stephan nhờ mang toàn bộ số phim ảnh về cho tổ chức IK. Tất nhiên đó là những tư liệu rất quý. Tuy đắt hơn vàng, nhưng giá của chúng sẽ giảm từng ngày một. Phóng viên nọ về Đức, chờ bán hết các tư liệu của mình mới điện cho IK ở Köln đến nhận phim của Stephan. Tuy muộn, nhưng những thước phim đắt giá của Stephan đã giúp IK thu được rất nhiều tiền bản quyền từ các kênh truyền hình quốc tế.

Không biết có phải vì yêu cuộc chiến tranh giải phóng của “Việt Cộng”, hay vì yêu một người con gái của phía bên kia và luôn có nàng bên mình như một tấm bùa hộ mệnh mà Stephan luôn cảm thấy vững tin trong tác nghiệp, không hề cảm thấy sợ hãi khi tiếp xúc với binh lính từ cả hai bên.

Người phương Tây còn kẹt lại tại Sài Gòn lúc đó biết dân chúng rất ghét người Mỹ, coi Mỹ là bọn phản bội, đẩy họ vào tình thế này. Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn G. Martin sau này có kể về khả năng quân lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ bao vây, thậm chí tấn các cơ sở tập trung người Mỹ trước khi bỏ chạy để trả thù về việc Mỹ bỏ rơi đồng minh. Ai cũng lo một vụ tàn sát người Mỹ có thể xảy ra. Cả Xuân và Stephan đều chuẩn bị cho tình huống này. Xuân dạy Stephan phát âm thật sành sõi câu: “Tôi là người Đức! Không phải là người Mỹ!”. Cho đến nay anh vẫn nhập tâm câu này. Còn anh dạy Xuân câu tiếng Đức: “Ich bin Deutscher, kein Amerikaner”. Nhưng trong suốt mấy ngày loạn lạc họ chưa bao giờ phải thốt ra những câu đó.

Xuân báo cho Stephan tin xấu: Bố mẹ nàng đã lên trực thăng bay ra Biển Đông hôm qua. Họ đã tìm mọi cách mà không liên lạc được với con gái. Chỉ sau khi vú em Bonne kể là Xuân đang được chàng phóng viên Tây Đức che chở, họ mới yên tâm ra đi, với hy vọng nàng sẽ thoát ra sau này.

– Yên tâm đi công chúa của anh. Em với anh giờ là một. Anh sẽ không bao giờ bỏ rơi em.

Stephan Koester (X) đang quay cảnh Biệt động Sài Gòn hạ cờ Việt Nam Cộng Hòa tại trụ sở Hạ nghị viện lúc 11:30 ngày 30.4.1975

Quảng trường trước mặt khách sạn Continental luôn xuất hiện các toán binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa từ mặt trận chạy về. Họ mệt mỏi rã rời, nét mặt vô vọng, nhưng trang bị đến tận răng, tiểu liên cầm tay, lựu đạn quanh hông. Đám phóng viên ngoại quốc nấp ở bên trong hàng rào thép nhìn ra sợ hãi, chỉ sợ đám tàn binh vô kỷ luật, không còn gì để mất kia dùng súng chống tăng phá hàng rào thép để vào khách sạn trả thù. Nhưng chẳng lần nào điều đó xảy ra. Binh lính lại kéo đi. Stephan kể là ngày 29.4, khi trực thăng còn quần đảo trên bầu trời, có một thanh niên Mỹ không biết say rượu hay hoảng loạn, cứ cởi áo, đứng múa may quay cuồng trước nhà thờ Đức Bà. Stephan sợ cậu ta sẽ bị người Việt xúm lại đánh hội đồng (lynch). Nhưng không ai làm điều đó.

Từ tối 29.4 và sáng 30.4, trước khi xe tăng của quân chủ lực miền Bắc tràn vào Sài Gòn, Stephan đã nhìn thấy Biệt động nội thành của Việt Cộng xuất hiện vài nơi. Trên trời trực thăng vẫn tiếp tục di tản người ra khỏi thành phố, nhưng các “Việt cộng” này chỉ ngước nhìn lên, không hề nghĩ đến chuyện bắn hạ, dù việc đó dễ như trở bàn tay. Trong những lúc quay phim giao tranh, mỗi khi Stephan xuất hiện, dù là lính Cộng Hòa hay Việt Cộng, chẳng ai quan tâm đến anh, ai làm việc nấy. Binh lính Cộng Hòa rất oán ghét các tướng lĩnh vô trách nhiệm, bỏ mặc họ cho số phận để leo lên trực thăng tháo chạy. Súng trong tay nhưng họ chỉ nhìn theo máy bay chửi đổng. Không ai còn thiết đổ máu nữa!

Stephan với một thanh niên Sài Gòn trưa 30.04.1975 trước tượng đài Thủy quân lục chiến

Cuối cùng Stephan khẳng định:

– Từ khi bước chân đến Việt Nam, tớ đã cảm thấy một dân tộc khao khát hòa bình. Cuộc chiến tranh tàn bạo nhất thế kỷ 20 kết thúc êm như một điều thần kỳ chính vì ý nguyện của tất cả những người trong cuộc. Cả một dân tộc đã nhận ra rằng đến lúc phải thôi bắn giết! Điều thần kỳ này không phải do đám chính trị làm nên, không hề vì thắng lợi của cách mạng, chẳng phải vì bọn cường quốc đánh cờ trên lưng Việt Nam, chẳng phải vì ai bán đứng ai cả.

Đây quả là một nhận định mới về 30.4 mà tôi chưa được nghe từ người Việt Nam nào.

5- Tình yêu buổi bình minh

Kết luận lạ tai của Stephan về kết cục chiến tranh khiến tôi trầm ngâm:

-Cậu nghĩ sao về ý nguyện của dân tộc này, khi chính cậu, chỉ vài tháng sau đó đã bất hạnh về những đau khổ mà người Việt phải chịu đựng, về những cơ hội bị vứt đi sau chiến tranh?

– Thọ ạ, đó chính là bi kịch của mỗi dân tộc. Người ta có thể tạo ra cái kết đẹp của một cuộc chiến để rồi lao vào một khởi đầu xấu cho nền hòa bình.

Anh nhìn vào khoảng không một lúc rồi buồn bã nói:

– Cũng như trong đời người, hai chúng tớ đã vượt qua tất cả mọi rào cản để có một mối tình đẹp, đẹp như mơ, nhưng lại không biết giữ nó, để tuột khỏi tay.

Stephan coi Xuân là tình yêu vào buổi bình minh của anh. Hai người thuê một căn hộ trong phố để ấp ủ tương lai. Xuân luôn ở bên anh trong mọi hoạt động và họ chẳng còn giấu giếm nhau điều gì nữa. Stephan biết Xuân từng là gương mặt của cỗ máy tuyên truyền bên kia, có họ với hoàng đế Bảo Đại, sống trong nhung lụa. Stephan gọi Xuân là “Cô bé mơ mộng”, là “Công chúa của anh” và lúc nào cũng nâng niu nàng như một bông hồng, chỉ sợ nó rụng cánh.

Stephan rất lo lắng tìm cách gửi phim về Đức cho IK. Nhưng Sài Gòn những ngày sau 30.4 là một thành phố cô lập. Anh đến gặp ông đại sứ, trưởng phái đoàn Ba Lan tại Sài Gòn[8] là người vẫn có nhiều liên lạc với bên ngoài. Anh nhờ ông gửi mấy cuộn phim về châu Âu. Nhà ngoại giao Ba Lan cầm mấy hộp phim trên tay rồi từ chối. Nhưng để an ủi Stephan, ông vào kho vũ khí của các sĩ quan Ba Lan lấy ra hai khẩu súng tặng anh để phòng thân, một tiểu liên M16 và 1 khẩu Colt 45.

Sau khi tình hình tạm ổn định, Stephan đến thăm đài “Truyền hình Sài Gòn giải phóng” ở đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai). Giám đốc đài lúc này lại là sếp cũ của tôi, ông Huỳnh Văn Tiểng từ Hà Nội mới vào. Từ khi ở Hà Nội hai tháng trước ông được biết về ý đồ của IK sẽ cử phóng viên bí mật đến Sài Gòn trước 30.4. Nhưng ông không rõ điều đó có xảy ra được không. Giờ đây nghe chàng trai Đức đứng trước mặt ông nói bằng giọng Pháp chuẩn: “Tôi là người của IK cử sang để sát cánh cùng các bạn”, ông mừng lắm. Stephan nộp cho ông Tiểng hai khẩu súng mà ông trưởng đoàn Ba Lan tặng. Anh khuyên ông cử người theo anh đến khách sạn thu gom những máy quay phim và thiết bị âm thanh, ánh sáng của các phóng viên phương Tây để lại.

Stephan Koester trong buổi lễ ra mắt chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam 19.5.1975

Lúc này Xuân mới té ngửa rằng Stephan là người của Việt Cộng. Nàng hỏi:

– Vậy anh là Cộng sản à?

– Phải, anh sẽ là người cộng sản, nếu Cách mạng Việt Nam thành công.

Trong phim, Stephan tự nhận mình là người cộng sản, nhưng trong thực tế các thành viên IK không quan hệ với Đảng Cộng sản Đức (DKP). Mặc dù cùng chia sẻ với nhau các quan điểm thiên tả: chống chiến tranh Việt Nam, chống bóc lột các nước thế giới thứ ba, chống lại trật tự kinh tế Tư bản chủ nghĩa…, nhưng IK phản đối mối liên hệ chặt chẽ giữa DKP với nhà nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Đối với trí thức thiên tả Tây Đức, nhà nước xã hội chủ nghĩa ở miền Đông là biểu tượng của nền chuyên chế, độc tài. Stephan lại tìm thấy trong những chàng trai, cô gái Việt Cộng đội mũ tai bèo, quấn khăn rằn, cầm AK47 hình ảnh của một cuộc chiến tranh giải phóng, vì tự do, chống lại chuyên chế.

Từ giờ phút này, chính quyền biết Stephan là ai. Ông “Tây phe ta” được chăm sóc khắc hẳn các phóng viên phương Tây khác. Anh được sắp xếp lịch đi quay phim ở các nơi, được xe Jeep chở đi, có người bảo vệ, hướng dẫn. Anh được tiếp xúc với đại diện của “Lực lượng thứ ba”: Giáo sư Ngô Bá Thành, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, Ni sư Huỳnh Liên và các thủ lĩnh sinh viên nội thành. Đối với anh, đó là những “Việt Cộng”, ai cũng trí thức, cũng đáng yêu, rất con người.

Stephan ngạc nhiên một cách thú vị khi thấy Xuân, cô gái tư sản có họ hàng với vua Bảo Đại, từng làm việc trong ngành tuyên truyền của “địch” lại rất cởi mở trong tiếp xúc với những người “Việt Cộng”. Xuân cảm thấy họ gần gũi hơn. Nàng đem chuyện cưới xin ra hỏi bà Ngô Bá Thành, nhờ bà nói giúp với ban Quân quản. Stephan hạnh phúc ngây ngất và cả hai quyết định cưới.

Stephan và Xuân đến thăm bà Ngô Bá Thành tháng 5.1975, nhờ bà nói giúp cho hai người được tổ chức đám cưới

Chính quyền quân quản không ngăn cản nhưng cũng không đồng ý, chỉ nói phải chờ đã. Xuân rất khó chịu. Nhưng Stephan thông cảm. Anh nói là cách mạng mới thành công, còn trăm công nghìn việc hãy thong thả chờ. Xuân biết ngày về Đức của Stephan không xa nữa. Chỉ có tờ giấy kết hôn mới đưa nàng ra khỏi xứ này… Họ hờn dỗi nhau, rồi làm lành, lại cưng nhau.

Giấc mơ của Stephan về một nước Việt Nam hòa bình, tự do, bác ái bắt đầu rạn nứt: Chỉ qua đêm hàng loạt loa phóng thanh được lắp ngoài đường chĩa vào khách sạn làm anh khó chịu. Các em bé ăn mặc chỉnh tề thắt khăn quàng đỏ diễu hành ngoài đường làm anh nhớ đến chế độ Đông Đức. Rừng cờ đỏ ngợp trời ngày đầu làm anh hứng khởi, nay được thay thế bằng các khẩu hiệu đủ kiểu khiến anh liên tưởng đến chủ nghĩa Mao. Anh tự bào chữa: đó chỉ là sự ấu trĩ của những cán bộ ít học. Các trí thức mà anh quen biết sẽ dạy cho họ biết thế nào là văn hóa, là cách mạng.

Nhưng rồi anh thấy những “Việt Cộng” dễ thương của anh cứ vắng dần đi, thay vào đó là các cán bộ lạnh lùng ngoài Bắc vào. Họ không biết ngoại ngữ nên nói chuyện gì cũng phải qua Xuân phiên dịch. Phim của anh gửi về Đức cho IK ngày càng “kém chất lượng”, vì nó không toát lên được khí thế cách mạng mà các đồng chí bên đó mong đợi. Các câu hỏi anh đặt ra trong phim ngày càng khó chịu. IK liên tục gửi điện, giục anh phải về ngay Đức để làm bản “Báo cáo thành tích”.

Stephan là một người làm phim có lương tâm. Anh không thích quay những cảnh gượng gạo, càng sợ những cảnh tàn bạo. Một tuần sau 30.4, khi đang ngồi uống cà phê trong khách sạn, bỗng cả đám nhà báo nháo nhác chạy ra xem một phật tử trẻ tự thiêu ngay trước cửa. Có máy trong tay mà Stephan không dám quay, không dám chụp. Anh rùng mình nhìn bọt nước dãi sùi ra từ miệng người thanh niên kia, trong khi một phóng viên khác chụp ảnh liên tục vụ tự thiêu này để có một Hot-Story. (Phóng viên này bị phiến quân Uganda giết chết vài năm sau đó).

Chính quyền bắt đầu trục xuất dần số phóng viên ngoại quốc ra khỏi Việt Nam. Vài ngày một lần, lại có một thông báo ai phải ra đi, dán trước cửa khách sạn. Stephan không coi mình nằm trong diện đó. Anh là đồng chí của họ cơ mà. Anh muốn ở lại vĩnh viễn với Xuân. Cơ số phim IK cấp cho, anh đã quay hết, đã gửi về đủ, coi như xong nhiệm vụ.

Đời đâu có đơn giản thế. Cuối cùng Stephan được chính quyền vui vẻ và lễ độ thông báo là anh sẽ phải rời khỏi Việt Nam. Mình không còn có ích cho họ nữa, Stephan nghĩ bụng.

– Thế còn vợ tôi?

– Chúng tôi sẽ giải quyết sau một năm!

Nghe vậy, Xuân la khóc:

– Sao anh lại có thể tin người Cộng sản?

– Em chẳng đã từng bảo anh cũng là cộng sản sao? Em hãy tin anh. Giờ anh đành phải về. Nhưng anh thề sẽ đưa em ra khỏi đây.

Nói vậy nhưng Stephan rất lo lắng. Anh biết Xuân vì yêu anh mà giờ bị kẹt lại ở đây. Anh mất ăn mất ngủ tìm mọi cách. Anh đi gặp rất nhiều người, nhưng những người trí thức Việt Cộng bạn anh giờ đây không giúp gì được anh nữa cả.

Ngày 1.7.1975, 66 ngày sau khi đến Việt Nam, Stephan cùng một số nhân viên cứu trợ Liên Hiệp Quốc bước lên chiếc máy bay của Air France đi Vientiane. Họ là những người ngoại quốc cuối cùng đã vào đây bằng thị thực của Việt Nam Cộng Hòa, nay buộc phải rời Việt Nam. Xuân đứng như trời trồng ở sân bay nhìn theo con chim sắt mất hút trên bầu trời.

Bạn bè trong tổ chức IK đón Stephan (thứ ba từ trái) tại sân bay Köln-Bonn hôm 5-7.1975. Ngoài cùng bên trái là Rüdiger, ngoài cùng bên phải là Udo và Gerd

Về đến Đức, Stephan bỏ mặc những bất đồng với ban lãnh đạo IK, với các bạn anh. Anh cũng chẳng thèm làm bản “Báo cáo thành tích” nữa. Anh chỉ lo chạy để đưa Xuân sang.

– Đồng chí cameraman, đồng chí thông cảm. Chúng tôi mới ra khỏi chiến tranh, còn nhiều việc quan trọng hơn phải làm…

Nhân viên sứ quán Việt Nam tại Đông Berlin nhiều lần lễ phép nói vậy.

Những bức điện tín của Xuân từ Sài Gòn gửi sang, càng ngày càng vô vọng…

Những bức điện của Stephan gửi vợ chưa cưới bắt đầu bằng an ủi, động viên, rồi chuyển sang khuyên nàng kiên nhẫn. Cuối cùng anh tin là nàng sẽ không bao giờ được ra khỏi Việt Nam.

Rồi Stephan phải đi Nam Mỹ làm việc. Ở đó, đầu tháng Năm 1976 anh bỗng nhận đươc tin nhắn của một người bạn: Xuân đã sang đến Paris.

Nhưng tại sao Xuân không báo cho Stephan. Chỉ hai người biết với nhau sau này.

Stephan cảm ơn những người Việt Nam đã giữ lời hứa. Lời hứa mà cả anh và Xuân đã không còn tin vào nó nữa.

Visa xuất cảnh của Xuân được cấp ngày 28.04.1976, đúng một năm sau mối tình sét đánh xảy ra trong tiệm ảnh.

Rồi IK trải qua những năm tháng vật vã trong quan hệ với Việt Nam. Những tin xấu: Trại cải tạo, đánh tư sản, đốt sách vở, thuyền nhân chết trên biển… làm cho tất cả họ sụp đổ.

Hè 1982, sau khi đã hồi phục về tâm lý, Stephan sang Pháp thăm Xuân, nay đang là chủ của một boutique ở Paris. Công chúa thì luôn công chúa. Xuân đang sở hữu một boutique sang trọng ở ngay phố Rue Boissy-d´Anglas, quận 8, một khu phố của giới thượng lưu Paris. Cửa hàng chuyên bán đồ mỹ thuật và quần áo mốt cao cấp kiểu Việt Nam. Và dù đi đâu, đến đâu vú em Bonne luôn ở bên nàng. Bà lại cười chào Stephan với hàm răng đen nhánh.

Cuộc gặp gỡ cảm động đó đã bình thường hóa quan hệ của cặp vợ chồng chưa cưới ngày nào về cấp bạn bè.

Stephan chua xót nói với vợ chồng tôi:

– Tình yêu bình minh của chúng tớ cũng ngắn ngủi như giấc mộng đẹp về cuộc cách mạng ở Việt Nam.

Năm 1982 khi đã phục hồi mọi chấn thương tâm lý và tình cảm, Stephan làm bộ phim tư liệu 60 phút Bản báo cáo thành tích (Erfolgsbericht) để giãi bày lòng mình. Bộ phim được giải đặc biệt của liên hoan phim Berlinale 1983 về thể loại phim “Sân khấu nhỏ”, được coi là tạo bước ngoặt về kịch bản với các yếu tố tự sự, tiểu thuyết và kể chuyện kết hợp trong mối tình có một không hai.

Chia tay vợ chồng tôi lần này, Stephan đồng ý cho tôi bản quyền phim Bản báo cáo thành tích mà tôi đã giữ kín từ 2006 đến nay. Anh nhờ tôi dịch ra tiếng Việt để phổ biến trên Youtube. Tôi đã cùng một số bạn bè để dịch, làm phụ đề và phổ biến nó trên Youtube nhân 30.4.2018.

6-Bản báo cáo thành tích

Stephan Köster sinh năm 1948, hơn tôi ba tuổi. Hiện vẫn làm phim, nhưng không còn được nhiều như trước, khi anh từng làm cho chương trình Terra X của đài ZDF. Anh mong có dịp quay lai Việt Nam để đi phượt bằng Harley Davidson từ Bắc xuống Nam, được đội nón vải, quấn khăn rằn, uống nước dừa như vẫn mơ ước.

Anh giao cho tôi bản copy của phim trong cuộn băng VHS cùng toàn bộ các kỷ vật anh mang về từ Việt Nam.

Hộp phim nhựa 16mm và một số kỷ vật Stephan mang về từ Việt Nam

Một số dấu ấn về những nơi anh đã đến

Anh còn đưa tôi kịch bản phim mà anh đã tự đánh máy, sửa bằng bút dạ vào mùa hè 1982, sau khi đi thăm Xuân trở về. Trên từng trang giấy là vết gạch xóa, nhiều chỗ sửa đi sửa lại mấy lần. Điều này chúng tỏ người viết vật vã khá nhiều với từng câu, từng từ trong đó. Đọc xong, tôi cảm thấy phải có trách nhiệm với tình yêu của bạn tôi. Tôi sẽ chỉ công bố phiên bản Việt hóa khi đã hoàn thiện nó ở mức cao nhất, dù có tốn bao nhiêu tiền bạc và công sức. Nhờ sự hỗ trợ và động viên của bạn bè, tôi đã hoàn thành việc phụ đề bộ phim Bản báo cáo thành tích của Stephan Koester và công bố trên Youtube trước ngày 30.04.2018.

Phim không nói về các sự kiện trong ngày 30 tháng Tư 1975. Những hình ảnh đó Stephan và các đồng nghiệp đã cung cấp cho thế giới từ năm 1975 hết rồi. Bên cạnh bức tranh tặng người tình, phim còn là tự sự của một con người nhân ái, yêu tự do và yêu Việt Nam, về những sự kiện đã thay đổi đời anh.

Đây không phải là phim lịch sử chiến tranh về ngày 30.4, dù Stephan là một nhân chứng rất đặc biệt trong sự kiện đó. Stephan khác hẳn mọi phóng viên chiến trường, vì anh là phóng viên trá hình và không được trả tiền. Anh khác hẳn những người lính miền Bắc, vì anh đến từ phương Tây tư bản, anh khác hẳn những người bên kia vì anh yêu Việt Cộng…

Cũng có thể vì vậy mà anh có một cái nhìn đặc biệt về ngày 30.4.: “Cuộc chiến tranh tàn bạo nhất thế kỷ 20 kết thúc êm như một điều thần kỳ chính vì ý nguyện của tất cả những người trong cuộc. Cả một dân tộc đã nhận ra rằng đến lúc phải thôi bắn giết! Điều thần kỳ này không phải do đám chính trị làm nên, không hề vì thắng lợi của cách mạng, chẳng phải vì bọn cường quốc đánh cờ trên lưng Việt Nam, chẳng phải vì ai bán đứng ai cả.”

Kịch bản phim với bút tích của tác giả

Với Bản báo cáo thành tích, tác giả chủ yếu muốn nêu hai chủ đề:

Đầu tiên Stephan kể về sư ngây thơ chính trị và cái giá phải trả cho sự tỉnh ngộ (đoạn nói về những bất đồng với các đồng chí của anh sau khi ở Việt Nam về). Phim làm vào năm 1982, khi Stephan 34 tuổi, đã nhận thức được qua chuyến đi Việt Nam nhiều điều mà năm 1975 anh còn mơ mộng. Hoạt động trong phong trào thiên tả, anh rất quen với cách tuyên truyền tô hồng bôi đen, nhưng với tư cách của một người trí thức, anh thấy xấu hổ và đặt câu hỏi, sao lại phải dàn dựng sự thật? (đoạn quay phim ở Bình Thới).

Stephan dùng phần lớn của phim để âu yếm kể về Xuân, người yêu của anh trong thời khắc lịch sử đó. Tôi không nghĩ là mình nhầm, khi coi Bản báo cáo thành tích là một lời xin lỗi của Stephan gửi Xuân, vì đã đánh mất tình yêu. Nếu xem kỹ sẽ thấy Stephan không đổ lỗi chính quyền Việt Nam đã bắt anh về nước, đã không đổ lỗi cho Xuân về những nôn nóng, giận hờn, mà tự cho mình là kẻ phản bội.

Tháng 8.2016, câu lạc bộ điện ảnh Cologne có tổ chức hội thảo về phim Bản báo cáo thành tích, không phải vì ý nghĩa chính trị của nó, mà vì cách viết kịch bản và sử dụng tư liệu của Stephan.

Một số trường đại học sân khấu điện ảnh đã tổ chức hội thảo Bản báo cáo thành tích, không phải về ý nghĩa chính trị của nó, mà về cách kết hợp đặc biệt giữa hình ảnh và lời thoại của Stephan để viết kịch bản, về cách sử dụng các tư liệu cá nhân để kể chuyện.

Ban giám khảo Liên hoan phim Berlinale 1983 đã đánh giá: “Đây là một bước ngoặt trong việc lên kịch bản phim tài liệu, kết hợp các yếu tố tự sự, chất thơ và kể chuyện trong một câu chuyện tình hiếm có.” (Auf der Berlinale uraufgeführt, markiert sein Video-Film einen Wendepunkt der Dokumentarfilm-Dramaturgie, in dem er autobiographische, poetische und essaistische Elemente in einer ungewöhnlichen Liebesgeschichte vereint.)

Phim trên Youtube:

[1] Đảng Cộng sản Đông Dương đổi tên thành Đảng Lao Động Việt Nam từ 3-3-1951. Tại đại hội IV năm 1976, đảng này đổi tên thành Đảng Cộng Sản Việt Nam.

[2] Trung Quốc và Việt Nam phê phán các đảng cộng sản Liên Xô và Đông Âu là đi theo “Chủ nghĩa xét lại” (Revisionism), tức là đòi xem xét lại lý luận xã hội chủ nghĩa của Marx và Lenin.

[3] Sau ngày 30.4.1975 ông Huỳnh Văn Tiểng trở thành Tổng Giám Đốc đài Truyền Hình Sài Gòn Giải Phóng, nay là Đài TH TPHCM. Ông mạnh dạn thu nạp nhiều nhân viên của đài truyền hình chế độ cũ vào làm việc ở đây.

[4] Udo Steinmetz, Gerd Krebber: Ký sự đi thăm Việt Nam đăng trên tạp chí Việt Nam, văn hóa và chiến tranh giải phóng, số 18, tháng 3.1975 (Vietnam Kultur und Befreiungskampf Nr.18, März.1975).

[5] Nay là Hotel Sofitel Metropole, đối diện nhà khách chính phủ ở đầu phố Ngô Quyền.

[6] Bonn là thủ đô của CHLB Đức từ 1949 đến 1998.

[7] Phim do xưởng phim truyện Việt Nam sản xuất năm 1967.

[8] Ba Lan cùng Hungary và Canada là thành viên của Ủy ban quốc tế giám sát thi hành hiệp định Paris 1973 (ICCS) nên có phái đoàn đại diện ở Sài Gòn. Các thành viên ICCS thường xuyên được bay ra Hà Nội, Vientiane hoặc Bangkok để đi ra quốc tế.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.