Mai An Nguyễn Anh Tuấn
5.
Lúc Thế trở về Thủ đô sau hơn tháng lăn lộn trên Tây Bắc, tới cổng nhà thì chàng thanh niên hàng xóm sát bên vội nhảy ra vồn vã, hồn nhiên – như lần nào cũng vậy cả năm qua:
– Anh ơi, đã xin được việc cho em chưa?
Thế chỉ biết gượng nở nụ cười chó thui để khỏi dội nước lạnh vào hy vọng của thằng bé. Gọi là thằng bé thì quả quá đáng, vì cậu ta cũng hơn 30 tuổi, có điều tâm trí ngây thơ như một đứa trẻ mười hai chốn quê rừng. Cậu ta sống trong ngôi nhà 4 tầng chỉ có hai bố con. Ông bố là một vị bác sĩ già, cỡ giáo sư tiến sĩ, song giờ đây niềm vui và động lực sống cuối đời của ông chỉ là làm thơ ôn kỷ niệm xưa, chăm sóc con chó giống Đức, và canh chừng đứa con trai út khỏi đánh mất chùm chìa khóa dù luôn đeo lủng lẳng trên cổ và bớt làm những điều dại dột khiến ông đau đầu. Thực ra, cậu ta chưa làm điều gì gọi là dại dột để ông bố mất thể diện với hàng xóm. Tình trạng tâm thần phân liệt của cậu ta ở dạng vẫn đủ năng lực để học hết hàm thụ Cao đẳng mỹ thuật công nghiệp, và vẽ được khá nhiều bức tranh dễ thương, thậm chí có bức độc đáo. Nếu ở một đất nước “tư bản thù địch”, chắc là những bức tranh nọ cũng sẽ được coi trọng, người vẽ sống được bằng tác phẩm của mình. Nhưng ở xứ sở là fan hàng đầu của các loại quảng cáo này, ai bỏ tiền ra cho cậu ta tự lăng-xê, và tổ chức triển lãm tranh? Ông bố nhếch mép, ừ, mày vẽ vời thế sẽ bớt rượu chè be bét và khỏi ngã xe đạp gãy quai hàm cho tao yên thân! Cậu ta lại không thể biết được cái thủ thuật “luộc” chính tác phẩm của mình, đem nhân bản chúng ra, và không có quan hệ cực đẹp để chúng có thể được tiêu thụ vèo vèo, được treo cả nơi công sở hoành tráng lẫn toa-let khách sạn sang trọng như nhiều “đồng nghiệp” may mắn của cậu ta! Thế chợt giật mình. Biết đâu, trong số những người mà anh ám chỉ “đồng nghiệp” ấy, có kẻ đang nhận trách nhiệm theo dõi anh, chỉ vì anh đã không chỉ một lần bóc mẽ cái nghệ thuật thương mại hóa nghệ thuật của họ?
Lâu nay, cứ về tới Hà Nội là Thế trở lại cái bệnh mà văn hào Lỗ Tấn từng duy danh: bệnh “bách hại cuồng”. Bố anh, bạn bè bố anh từng bị khoác những cái án chính thức lẫn không chính thức mà Tòa án công luận đã “xử trảm”, bị hành lên bờ xuống ruộng đến thân bại danh liệt hàng chục năm trời. Không ít những người mà anh kính trọng nhưng chỉ biết tên, bị mắc cái họa, chung quy lại như ông cha anh gọi là “họa sát thân” bởi tội “yêu thư yêu ngôn”. Vì thế, anh khôn ngoan “tránh voi chẳng xấu mặt nào”, chui vào chuyên môn thuần túy, nếu không có duyên để được “hồng” thì cũng có lộc là “chuyên”. Trên bục giảng, anh cố gắng không để lòi “cái đuôi” dù chẳng đem ra mà xào nấu no bụng được thì cũng là cái “nghiệp” của dòng giống bất hạnh nhà anh, để sinh viên và các tầng lớp trên sinh viên không thắc mắc, nghi ngờ gì anh. Về tới nhà, Thế cũng ít chuyện trò với mẹ và vợ, phòng cái bệnh “buôn dưa lê” của các bà già bà trẻ mà vô tình làm lộ ra thân phận anh.
Tội nghiệp, cái thân phận vô hại mà phải trốn tránh, chui lủi!
Hàng xóm Thế có một số quan chức mấy Bộ mặt lúc nào cũng lạnh tanh qua cửa xe đắt tiền, còn lại là những trọc phú giàu xổi đến độ bóng loáng từ cái bậc dắt xe – họ thường nhìn như anh có “cái mặt không chơi được”, và có thái độ nghi kỵ, khinh khỉnh, hoặc bất đắc dĩ phải xã giao nhăn nhở. Đặc biệt, ở sát nhà anh là một đôi vợ chồng làm ở một cơ quan thuộc “thượng tầng quý tộc”, cô vợ là kế toán trưởng, đã cho cải tạo nhà giống lâu đài; họ tự hào được sinh ra ở đất Thang Mộc – quê Vua Chúa (Của đáng tội, có mấy người bạn thân của anh và vài người thầy anh kính trọng nhất lại xuất thân từ vùng đất địa linh nhân kiệt khét tiếng ấy!). Họ còn đắc chí là hậu duệ của một đội trưởng Ưu binh kiêm Kiêu binh thời chế độ lưỡng đầu chưa thành quá khứ sử Việt, lớp người vỗ ngực là nền móng chế độ với câu thần chú: “còn Chúa còn mình”. Thế thúc dục con gái đọc sách, học ngoại ngữ, và cho nó đi chơi xa khi rỗi rãi, để hạn chế mối quan hệ với những đứa trẻ xung quanh ra mặt vênh vang cậy thế, cậy của. Về nhà, anh chỉ trò chuyện thân mật với cậu họa sĩ nọ, người mà anh biết chắc là không có âm mưu, không có năng lực hại anh, và cũng chẳng ai dở người hạ mình để chơi và lợi dụng cậu ta! Thế có cảm giác an toàn tuyệt đối trước một type nhân vật kiểu chú bé Oskar của Gunter Grass[94]. Và thế là anh mắc nợ, một lời hứa hão: anh sẽ xin việc cho chú. Chuyện này, anh không dám hé nửa lời với ông bố, người cứ mỗi lần gặp anh là bỗ bã toa, moa[95], bởi ông thuộc lớp người không hình dung nổi phải chạy chọt biết bao tiền một suất làng nhàng vào cơ quan Nhà nước để không biết đến hết thế kỷ này có hòa vốn? (Dĩ nhiên là không kể đến suất quan chức bự). Thế cũng đề phòng ông già mới duyềnh lên tâm hồn thi sĩ sẽ vui miệng san sẻ (hay phản đối một cách chính trực) với hàng xóm chắc chắn là có tai mắt của An ninh, truy đến anh thì rắc rối to.
Gần ba năm nay, trước khi về hưu, Thế âm thầm tìm cách chuyển cả nhà tới một thành phố phía Nam. Thành phố mà qua báo chí, anh biết là một nơi đáng sống nhất nước hiện nay, bởi có người đứng đầu với những quyết sách đúng đắn, mạnh bạo. Con gái anh sẽ thoát được cảnh học thêm phờ phạc, cảnh buộc phải gà bài cho đứa kém hơn trong giờ kiểm tra cuối kỳ để lớp dành được tiên tiến cuối năm. Mẹ anh sẽ kéo dài thêm tuổi thọ ở một môi trường còn có thể được gọi là khá trong lành, cả nhà bớt nỗi lo ngay ngáy bị đầu độc thực phẩm theo kiểu con ếch bị nung nóng từ từ trong chảo. Quan trọng nhất là thoát được mấy nhà hàng xóm khinh khỉnh vốn coi tiền của là Thượng đế, tệ hơn là hình như đang bí mật xoi mói hành tung của anh. Vì vậy, anh càng cẩn thận giữ mình. Anh không dại dột gì nữa mà bình phẩm, mà thất vọng hỡi ơi cho thị hiếu loại mô-ve gu (mauvais goût) của những bức tranh “Bờ hồ” chọc vào mắt chỉ có khung là đắt giá trong nhà hàng xóm dòng giống “Kiêu binh” mà anh vô tình liếc thấy…
Song, sự bất an ngày một tăng thêm. Con đà điểu trốn trong cát tưởng mình an toàn. Anh thì không ngu ngơ thế. Đêm đêm, anh vắt tay lên trán để tự kiểm điểm, tự đấu tố, tự phê bình – những từ ngữ khét lẹt mùi khủng bố tinh thần một thời chưa xa và hiện đương được trang kim thời thượng. Những cuốn phim đen trắng négatif chiếu chậm bắt đầu trở thành cấu trúc cơ bản của tâm hồn anh. Có cuốn chiếu độc lập, có những cuốn lại đâm sầm vào nhau và tự vận hành cơ chế montage quái đản riêng của chúng…
Một cuốn phim nhắc anh nhớ, cái ý định làm cuộc cách mạng di chuyển nơi cư trú chợt lóe đến với anh khi kể cho sinh viên nghe về vở kịch Ba chị em của A. Chekhov. Anh chợt toát mồ hôi hột: Rất có thể một sinh viên nào đó đã báo cáo lên trên, suy diễn lời giảng của anh về sự ngột ngạt tù túng xã hội nơi tỉnh lẻ khiến ba chị em ao ước được dọn nhà tới Moskva như một hư ảo hạnh phúc, nhưng rồi họ đau đớn vỡ mộng, và lại tiếp tục cái cuộc sống vũng lầy hiện tại.
Một cuốn phim nhòe nước mắt của chính anh văng vẳng lời nói của đôi bạn họa sĩ bên bức tranh trên giấy báo của “mét”[96] Phái vẽ chân dung bố anh ngồi bó gối trước một phin cà phê, có bút tích của danh họa: “Hoan nghênh café!”. Thực xuẩn ngốc khi anh đem khoe với một số người mà anh mù mờ về lai lịch, kèm những lời bình về sự đói nghèo thảm hại của các họa sĩ thời phải đổi tranh lấy cà-phê. Có khác gì lên án xã hội một cách thâm hiểm! Lại nữa: nhân vật chính của thời đại – Công Nông Binh đang chiến đấu và lao động sản xuất biến đâu rồi, sao chỉ có kẻ hưởng thụ kiểu tư sản?
Cuốn phim tiếp liền lại là chính giọng của anh trước sinh viên, kể theo lời bố anh về bức tranh đầu tiên và cũng là cuối cùng của một người đàn bà gần hết cuộc đời làm nghề nhặt củi khô trên tuyết để nuôi sống đàn con cháu mình: Trên một tấm toan phủ sơn trắng toát, có mấy nét vẽ đơn sơ nguệch ngoạc màu nâu đen. Bức tranh sau đó đã trở nên vô giá trong con mắt của những nhà sưu tập tranh thế giới. Không thể đem hệ thống mỹ học quen thuộc và cứng nhắc của chúng ta mà cảm thụ, đánh giá những tác phẩm như thế… Biết đâu, trong lý lịch cá nhân của anh ở phòng Tổ chức cán bộ đã có dòng ton hót của một sinh viên nào đó kiêm “mật thám tư tưởng”: “Đi ngược lại quan điểm chính thống về văn học – nghệ thuật, tuyên truyền thứ mỹ học phi giai cấp rác rưởi!”.
Rồi, thực nguy hiểm cuốn phim trình chiếu cảnh anh say sưa nói về những Hóa thân, Vụ án, Lâu đài của F. Kafka trong một cuộc sinh hoạt câu lạc bộ văn học – nghệ thuật giáo chức, anh đã đọc mấy đoạn có gạch bên lề, có ghi chú hẳn hoi, trong đó là đoạn Jozep K ném thẳng vào mặt những kẻ thi hành công vụ: “tất nhiên lề lối của ngành tư pháp chúng ta đòi hỏi không những người vô tội bị kết án mà còn không được biết đến luật pháp”. Thế bật mình như mèo vồ chuột, chạy đến giá sách lục tìm cuốn sách tai hại kia, vội vã lật tìm những chỗ sẽ làm vật chứng hùng hồn kết tội hắn, xé chúng ra và bật lửa đốt. Bóng anh bập bùng lay động, kỳ quái tựa Gregor Samsa hóa thành con bọ khổng lồ trong chính căn phòng của mình! Anh đã phạm tội đốt sách, nhưng xét cho cùng không nghiêm trọng bằng tội mượn xưa nói nay, mượn ngoài nói trong, vẽ mây nảy trăng, tội dùng symbol équivoque (biểu tượng hai mặt)!
Còn cuộn phim hãi hùng này đây: khi các rạp chiếu bóng cùng toàn bộ hệ thống truyền thông đại chúng hân hoan đến cuồng nhiệt quảng cáo không công cho chủ nghĩa nặng mùi bá quyền Đại Hán của đạo diễn tài ba Trương Nghệ Mưu qua bộ phim Anh hùng và chương trình Olympic Bắc Kinh, anh đã phản ứng một cách đơn độc để rồi chắc phải chuốc lấy sự khinh ghét, thù hằn của ối người, ối cơ quan – không chỉ vì anh đã động tới túi tiền lớn của họ trong kinh doanh văn hóa, mà chính là vì đã cả gan động chạm tới và hòng giải thiêng một “vùng nhạy cảm” mà người dân đen và những trí thức hạng bét như anh không có quyền. Sao anh ngu lâu thế?
Liên quan tới cái ngu do phim ảnh gây ra thì còn có cuộn phim này: Sau buổi chiếu phim tham khảo một bộ phim đoạt giải Cành cọ vàng của LHF Cannes – phim The Tree of Life (Cây đời), anh đã khái quát lại, đại khái: Suốt phim là những hình ảnh ẩn dụ kỳ lạ, đầy chất thơ, đạo diễn dùng cả lịch sử tiến hóa vũ trụ để diễn tả hân hoan sự hình thành một đứa trẻ. Thế mà nhân vật người cha lại bơ vơ lạc lõng trong những tòa nhà che khuất bầu trời, luôn tự hỏi về “Cây đời”, về ý nghĩa của sự tồn tại. Rất nhiều câu hỏi được nêu ra: “Người đã ở đâu?”, “Chúng con là gì với Người?”, “Vì sao tôi được sinh ra?”, “Mục đích sống của tôi là gì?”… Phim không hề có một câu trả lời. Nhưng người xem có thể tìm thấy câu trả lời: con người ta được sinh ra là cả một kỳ công vĩ đại, vậy mà đã không được sống cho ra sống! Một sinh viên ngay hôm đó tung lên FB: “Một ông thầy của chúng tôi đã mượn diễn đàn chiếu phim học tập để tuyên truyền cho chủ nghĩa hư vô, chủ nghĩa vô chính phủ, kích động tinh thần nổi loạn, tư tưởng bi quan, rõ ràng ám chỉ xã hội ta và nhằm đả kích nền Điện ảnh Cách mạng khá sâu cay”. Dĩ nhiên là ở trường chẳng ai thèm đếm xỉa tới những lời nhăng nhít ấy. Nhưng biết đâu, ở một cơ quan bí mật nào đó, những lời giống như kết án kia đã được copy lại và được đóng khung đen làm dữ liệu trong hồ sơ để hạch tội sau này, khi có thời cơ? Điều đó thì anh không dám chắc, có khi chỉ là sản phẩm méo mó của bệnh “Bách hại cuồng” đã tiến triển tới độ đáng báo động. Song, mặc dù đã có dấu hiệu của le fou (thằng điên) mức độ xấp xỉ cậu họa sĩ hàng xóm, có điều anh biết chắc: viên tuần Trang thời nọ bất chấp cái lạy của thầy dạy mình là Lý Trần Quán để trói gô chúa Đoan Nam vương nộp cho quân Tây Sơn, chỉ vì tiền và sự an toàn của bản thân; còn học trò thời nay “bán thầy” là vì sự giác ngộ lý tưởng xã hội mà cậu ta được nhồi nhét một cách tuyệt vời, trên cả tuyệt vời thành công. Đó là cả một bước tiến lớn xét về tiến trình tư tưởng dân tộc.
Nhưng cuốn phim kinh khủng nhất, có thể sẽ là chứng cớ quy tội nặng nhất cho anh đang xè xè chạy qua một tâm trí bấn loạn: Lần ấy, một người bạn thân là phóng viên truyền hình Đài X rủ anh tới làng Y ngoại thành Hà Nội. Bạn anh bảo: “Ông bớt ru rú trong tháp ngà văn chương nghệ thuật mà đến với The Tree of Life thứ thiệt đi!”. Không đợi đến lời khích bác thứ hai, anh cun cút đi theo bạn.
Hôm đó là một ngày đẹp trời song u ám bởi hàng vạn tâm trạng phẫn nộ, tức tối, hoang mang, tuyệt vọng. Trước đó, đã có rất nhiều bài báo viết về những xung đột, bê bối của làng này quanh chuyện giải tỏa đền bù đất đai. Nhưng, khi phóng viên của một đài Truyền hình lớn tới, mang theo cả máy quay, sự bức bối tích tụ lâu ngày của dân làng mới thực sự nổ tung ra. Khi thấy dân làng đổ tới mỗi lúc một đông, anh chột dạ. Nhưng, có tư cách pháp nhân của bạn, anh vững dạ phần nào. Thế đeo túi máy cho bạn, đi sau ống kính ghi lại bao khuôn mặt phừng phừng nhãy nhụa mồ hôi, bao lời gào thét thê thảm kịch kim thu thanh. Lần đầu tiên trong đời anh cảm nhận hết sự xót xa cho nỗi đau mất nguồn mưu sinh của những người dân hiền lành, quen nhẫn nhục. Trên những mảnh đất thấm mồ hôi của họ và ông bà cha mẹ họ, rồi đây sẽ mọc lên một khu du lịch sinh thái với những điểm dịch vụ ăn – chơi, những quán lá kiểu cách dành cho các đôi tình nhân mà người dân làng mãn kiếp cũng không thể bén mảng tới nổi! Tuy mắt cay xè và lồng ngực thổn thức trước cảnh bất công ngang trái sờ sờ, Thế vẫn đủ tỉnh táo để nhận thấy mấy chiếc xe tải do dân thuê chở đầy đất đá bắt đầu đổ xuống ào ào ngăn bên ngoài cổng khu vực chăm sóc sức khỏe cao cấp tương lai. Có tiếng thét lớn: “Đến nhà tay chủ tịch xã hỏi tội!”. Nguy rồi. Thế kéo tay bạn báo hiệu. Nhưng cậu ta dường đang mê man đi, dán mắt vào vi-zơ để không bỏ sót một nỗi uất hận nào đang sôi sục khắp bốn phía. Cảnh giác cách mạng của anh hóa ra cao hơn bạn. Thế thét vào tai bạn: “Rút ngay đi!”.
Lúc bấy giờ bạn Thế mới sững người tỉnh ra, hiểu rõ hơn anh tình thế hiểm nghèo. Hai tên vội vã thu máy, chạy ra chỗ gửi xe do dân làng trông hộ “các phóng viên”. Thế đèo bạn bằng chiếc xe máy phân khối lớn tuy đã cũ song còn khả năng đương đầu với mọi cuộc săn đuổi. Quả là có một cuộc săn đuổi như hai thằng dự đoán! Mới chạy được gần trăm mét, qua gương chiếu hậu, anh thoáng thấy hai chiếc xe máy hối hả phóng theo. Cuộc rượt đuổi qua hết làng, ra đường quốc lộ, rồi anh phóng xe vào ngõ ngách trong làng bên cạnh hồi dài. Thế là thoát. Hú vía. Nhưng tối hôm sau, anh gặp lại bạn thấy vẻ mặt thẫn thờ như người mất của.
Đúng là “mất của” thật… Buổi sáng, có hai cán bộ An ninh văn hóa đến cơ quan bạn anh, chỉ gặp được giám đốc. Họ yêu cầu nộp lại cái băng đã quay: “Cũng may là cuốn băng chưa lộ ra bên ngoài, chưa bị đem bán cho kẻ xấu – nó có giá của cả một ngôi nhà 4 tầng đấy! Lẽ ra chúng tôi phải mời đương sự lên làm việc, viết tường trình, tịch thu phương tiện phạm pháp. Nhưng anh ta chưa có tiền án tiền sự gì, chỉ là người ngây thơ quá thể về chính trị. Đề nghị cơ quan kiểm điểm, rút kinh nghiệm thật nghiêm túc!” – Đấy là sự phản ánh lại của giám đốc kèm theo mấy lời mắng mỏ thân tình.
Có hai điều cực nguy hiểm cho bạn Thế: thứ nhất, anh ta không được cơ quan cử đi làm phóng sự về vụ này (mà đời nào có chuyện được làm phóng sự về một việc “nhạy cảm” như thế!); thứ hai, có một lá đơn kiện mang danh nghĩa Chi bộ xã gửi tóe loe, vu rằng: các phóng viên đã ăn tiền của những kẻ xấu ở xã để góp phần kích động sự chống đối chủ trương chính sách của Đảng ủy, Chính quyền địa phương trong sự nghiệp phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội! Nếu bạn anh không cấp tốc ngay tối ấy kêu cứu một đồng môn đồng nghiệp là đạo diễn truyền hình đeo hàm đại tá công an – theo gợi ý khôn ngoan đột xuất của anh, thì hẳn đã toi đời toi nghiệp rồi!
Nhưng anh thì không có ai chống lưng trong cái vụ động trời này. Đơn kiện kia có viết: “Người phóng viên đi theo giúp đỡ rất tích cực cho nhà quay phim, có thể là sếp, đã trực tiếp phỏng vấn và gợi ý thêm cho những kẻ làm loạn kỷ cương phép nước!”. Anh được (bị) “chuyển nghề”, lại có vai trò quan trọng hơn người cầm máy quay, thậm chí vai trò cầm đầu, hơn thế, nếu pháp luật khui ra còn mắc tội lừa đảo. Đáng đời chưa! Thế đã phát sốt phát rét cả tháng ròng. Bạn anh, sau khi tai qua nạn khỏi thì khệnh khạng: “Nếu Tổng giám đốc mà có gọi tao lên khảo, tao sẽ nói: là một phóng viên, nếu tôi dửng dưng trước sự bất công, nguội lạnh với nỗi đau của người dân, thì chẳng xứng đáng cầm máy cầm bút nữa!”. Thế cười khẩy: “Yêng hùng quá nhẩy! May thoát hiểm nên thánh tướng! Còn tớ chỉ vì dửng mỡ mà sẽ phải mang họa lớn đây!”,
Suốt một thời gian dài, không ai động chạm gì tới Thế, khiến anh càng bồn chồn lo lắng. Như một cái án treo lơ lửng trên đầu. Phen này thì sạt nghiệp, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng! Đã mấy năm trôi qua, cái án chưa thành đó, cộng với những “phốt” tư tưởng trót mắc phải và do anh tự huyễn hoặc thêm cứ đeo đẳng ám ảnh, thỉnh thoảng lại nhói lên tựa kim châm hồn anh. Không hồ nghi gì nữa, đây chính là một cuộc giăng bẫy thú bự, trường kỳ mai phục, “thập-diện-mai-phục” – như tên một bộ phim võ hiệp Tàu! Như vậy thì càng phải mau mau tìm cách chuồn cho sớm khỏi đất này. Anh và cả gia đình sẽ ra đi một cách lặng lẽ, bí mật, vào ban đêm, với ít đồ đạc, nếu lỡ hàng xóm biết thì phao là đi du lịch (Tất nhiên là vào dịp nghỉ hè của con bé, và cũng là dịp anh nghỉ phép). Đồ đạc cồng kềnh nhờ cô em gái bí mật chuyển dần sau bằng xe tải (cồng kềnh nhất chỉ là sách vở tài liệu của anh).
Giữa những ngày tâm trí căng như dây đàn sắp đứt vì cái Án tưởng tượng nọ, anh đọc được một bài viết trên báo lề phải nói về cái nơi anh đang mong chuyển cả nhà đến: hàng loạt dự án Cao ốc và Rì-dọt khủng đang chuẩn bị xẻ thịt tan hoang những bãi biển đẹp nhất Thành phố, bởi những công ty “sân sau” của lãnh đạo cao cấp tỉnh! Anh tựa quả bóng xì hơi. Thế là hết. Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa. Biết tìm đâu ở khắp xứ sở của quảng cáo này một nơi hầu như chỉ có sự Tử tế dựa trên sự Lương thiện? Anh lại phải mầy mò từ đầu, làm lại cuộc hành trình rất có thể là vô vọng đi tìm xứ sở ít nhất cũng có cái vỏ của Thiên đường, chứ không phải xứ sở Thiên đường trong mộng của Alice[97] mà con gái anh mê mải…
– Anh ơi, đã xin được việc cho em chưa?
Hóa ra anh đã về đến cổng lúc nào không biết. Lời nói quen thuộc của cậu họa sĩ “không chịu trưởng thành” lôi anh trở về thực tại đắng ngắt, khó chịu. Trong tâm thế ấy, óc anh chợt lóe lên sự hoài nghi quái quỷ: nếu cậu ta là le fou (thằng điên) thật như ông bố thường nheo mắt chế riễu con trai, thì mỗi lần nói câu đó sắc thái phải sinh động, tự nhiên, mỗi lần một âm sắc khác biệt dù rất nhỏ; nhưng đây thì lần nào cũng đơn điệu và tỏ ra hồn nhiên thái quá như nhau? Phải chăng, nếu chú bé Oskar nọ quyết định ngụy trang để tồn tại bằng cách là sẽ không lớn nữa, thì cậu họa sĩ này lại ngụy trang cái sứ mệnh Gia-ve văn hóa mà người ta giao cho bằng sự vờ vịt nửa điên nửa tỉnh?
Nếu sự thật là vậy, anh còn biết tin ai, tin điều gì nữa ở cõi đời này? Và anh phải làm những gì để con gái anh được thoát khỏi cái định mệnh quái gở kia?
6.
Khi Thế vừa được nhận thẻ Thành viên của Trung tâm Bảo tồn di sản văn hóa Tôn giáo, Giám đốc Khánh mời anh lên văn phòng Trung tâm. Trước cả Ban Giám đốc ai cũng mặt mũi căng thẳng, ông Khánh trịnh trọng giao cho anh một nhiệm vụ của Trung tâm: “Việc này, cả Trung tâm chắc chỉ có nhà báo mới làm nổi, chú em cố gắng nha”.
Một bà vãi nghèo tỉnh T đã mang một mớ đơn từ kiện cáo, khiếu nại của những tín đồ Phật tử địa phương tới rất nhiều cơ quan Nhà nước, tổ chức phi Chính phủ ở Thủ đô; chẳng ai thèm quan tâm tới chúng, nhất là khi những người có trách nhiệm và quyền hạn đã bị bội thực bởi những kiện cáo khiếu nại quanh chuyện đất đai. Bà ta tìm đến Trung tâm của ông Khánh, bởi có người giới thiệu: “Ông giám đốc là nhà nghiên cứu Phật học có tâm Phật, nguyên là Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện Trung tâm do ông quản lý làm nhiều chuyện hữu ích cho tăng ni Phật tử cả nước…”. Sự thật kinh khủng trong những lá đơn viết tay nghệch ngoạc khiến Thế sởn cả gai ốc. Sự thật chứa đựng lòng phẫn nộ, khinh bỉ, căm ghét của nhiều Phật tử nghèo đối với một vị đại đức có chức sắc trong Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh đó. Một sư hổ mang, một tăng chúng vi phạm hầu hết các giới luật của người tu hành đạo Phật ở cái mức thậm tệ và trơ tráo, vượt khỏi mọi sự hình dung thông thường. Và ông ta đã dùng mọi thủ đoạn hèn hạ nhất nhằm ngăn chặn, triệt đường tất cả những vị sư nào định lên lãnh địa đó trụ trì mà không thần phục, không cung phụng ông ta. Mọi lá đơn kiện đều bị vô hiệu hoá ở một xứ sở có điều kiện hơn bất kỳ nơi nào khác cho luật rừng tác yêu tác quái… Trong đời làm phim làm báo, Thế chưa bao giờ nắm được trong tay nhiều chứng cứ chân thật và sinh động đến thế! Anh chợt run lên, không phải vì bản năng nghề nghiệp được đánh thức, mà vì một sự kinh ngạc dần dần bị nỗi căm giận chiếm chỗ. Thế nhận lời với ông Khánh, quyết tâm hành động, dù chưa rõ là bằng cách nào để giúp các bà vãi nghèo nơi ấy…
Nhưng Thế không thể ngờ vụ này đã khiến anh đánh mất một tình bạn, với người bạn thân thiết nhất gần như “con chấy cắn đôi”, lạm dụng từ ngữ của giới kinh tế – chính trị, là phá sản! Và sự phá sản đau đớn này, không ngờ lại có liên quan, theo quy luật quả báo của đạo Phật, tới những chùa và biệt phủ ở một tỉnh miền núi vẫn phải xin Trung ương cấp gạo cứu đói…
Thế nhảy xe khách lên tỉnh T. Đã hai năm, Thế mới lại có dịp lên vùng đất từng lưu dấu nhiều kỷ niệm của tuổi thơ lẫn tuổi trẻ của anh… Không phải tới thăm những khu sinh thái hiện đại bát ngát, những biệt phủ choáng lộn tựa trong mơ bắt đầu xuất hiện ở chốn “khỉ ho cò gáy” xưa. Nơi ấy, có người bạn thân của anh: Trần Linh, đang giữ chức tổng biên tập tờ báo oai nhất tỉnh, kiêm phó chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, và cũng sắp tới lúc “chuẩn bị hạ cánh an toàn, dù là Bật Mã Ôn thì cũng là quan ch…ức…ức…” – như lời đùa vui của Linh, lúc hai thằng khề khà bên chiếu rượu tổng kết cuối năm của dân văn nghệ tỉnh mà Thế được mời ké, nhân một lần lên thăm bạn.
Trần Linh quảng giao, hay bốc đồng, có sức thuyết phục đám đông không chỉ bởi “võ mồm” nổi tiếng từ hồi học văn khoa tổng hợp mà còn bởi cái nhiệt huyết từ bên trong lúc nào cũng như ào ạt tràn ra bên ngoài. Khoảng ngót chục năm trở lại đây, anh bỗng dưng trở nên trầm lắng, không còn nữa những cơn sôi trào nội tâm tựa núi lửa hoạt động… Trước đây, anh hay chê Thế, ông là cái thằng mắt lườm lườm sau đít chai không ra trận cầm súng ngày nào nên không thể hiểu nổi cái giá của máu xương, sức mạnh của lòng căm thù… Dù cũng có lúc nổi nóng, cãi lại cật lực ông bạn nhà báo cựu chiến binh, song rồi anh hiểu: Linh trách yêu bạn, lòng anh trong sáng, cái trong sáng của một thế hệ – trong đó có Thế – đã tình nguyện dâng hiến cả tuổi thanh xuân và sinh mệnh cho sự tồn vong của Đất nước. Giờ, anh đã như một con người khác, hay trầm ngâm, buồn bã ra mặt, ngay cả những vần thơ hùng tráng nhất của anh đọc lại trước các bạn cũng như ẩn giấu tiếng nức nở và những gịot nước mắt. Những lúc ấy, anh chợt trở nên gần gũi thân thiết với Thế một cách kỳ lạ, hơn hẳn trong những năm tháng nghèo đói…
Thời đó, là một nhà báo kiết xác, bị vợ rầy la, anh đành bớt thời giờ làm thơ viết báo chui để xin nhận trông xe bí mật cho một công ty thương mại, che kín mặt cả buổi tối, và sắm cho lũ con gái con trai lốc nhốc mỗi đứa một bộ đồ bán nước chè ngoài ga ban đêm. Cứ mỗi khi Thế rảnh rỗi lên chơi, hoặc kết hợp công việc vào thăm gia đình anh, anh mừng như bắt được vàng, và thét vợ như một ông tướng Quảng Lạc phải vào ngay chuồng gà nhép và ra ngay mảnh vườn còi để làm sao đãi bạn tươm tất nhất… Có lần, anh đến, cả nhà đi vắng hết, anh ngậm ngùi nhìn những vách nứa xập xệ, mái tranh thủng lỗ chỗ, cái bàn viết cáu bẩn xộc xệch, và hắn ứa nước mắt thương bạn, thương mình…
Nhưng, nhờ ơn trời, bạn anh, cũng như nhiều kẻ thuộc nhóm người được trở nên bất hủ bởi cái định nghĩa “nhà văn, nhà báo, nhà giáo – nhà nghèo” đã bươn trải đến bươu đầu sứt trán để vượt qua “Thời gian khổ”[98] vĩ đại đó mà không bị xây sát nhiều lắm về lương tâm, để hùng dũng bước vào cơn lốc xoáy thị trường dị dạng. Trần Linh đã có một ngôi nhà nhỏ bằng gạch với đôi mảnh vườn xinh xắn, nhưng tự nhận xét: nó chỉ bằng cái vẩy so với những lâu đài lớn, dinh thự khủng và siêu biệt thự của các quan chức đầu tỉnh đang đua nhau mọc lên trong cái thành phố mới thoát thai từ thị xã nghèo kia. Anh còn nói thêm, vẻ chua chát: Thôi ông ạ, không “đú” được với lũ ăn tàn phá hại đó thì cũng đến lúc chúng mình cần học cách tự thoả mãn của một nhân vật với quả phúc bồn tử vườn nhà mà Sêkhốp từng tả thật hay: “Chà, ngon tuyệt! Anh hãy nếm thử xem”. Và cũng đành uống cặn của bọn họ thôi, biết làm thế nào… Anh thở dài để che dấu sự tuyệt vọng, và nỗi uất ức đang bị kìm nén trong trái tim chắc đã bắt đầu mệt mỏi.
Tới tỉnh, nơi đầu tiên Thế đến là nhà bạn.
Trần Linh phấn khởi vô cùng, bắt tay anh thật chặt, lắc mãi, sau đó còn giang cả hai cánh tay ôm choàng lấy anh. Ngôi nhà nhỏ đã được thiết kế lại nội thất theo mode hiện đại, cùng các tiện nghi đắt tiền kiểu mới nhất không có gì để chê. Một mảnh vườn biến mất, xuất hiện một ngôi nhà gỗ theo kiểu cổ, trang trí cầu kỳ, không cần thạo lắm cũng có thể nhận ra chúng làm toàn bằng gỗ quý: lim, nghiến, lát… Trần Linh hăng hái dắt Thế bước vào ngôi nhà gỗ với các câu đối, đại tự, các đồ thờ mới cóng, anh kính cẩn đốt hương rồi đưa cho Thế vài nén… Trong cuộc rượu linh đình chiêu đãi bạn, khi đã ngà ngà, Trần Linh hồ hởi khoe mấy đứa con mình đã trở thành viên chức Nhà nước, tự hào rằng, người ngoài thì phải tốn không biết bao nhiêu tiền của, chạy chọt đủ kiểu mà không xong, còn Trần Linh thì khác, được các vị ấy tôn trọng, thậm chí tôn thờ. Trần Linh, tai mắt của tỉnh, tiếng nói của các vị lãnh đạo tỉnh, một tiền đồn của tư tưởng chính thống, vì thế, con cái Trần Linh được coi như con cháu lãnh đạo tỉnh… Thế ù cả tai, hoa cả mắt, chẳng phải do rượu ngâm cây thuốc phiện được Trần Linh rót liên tục cho bạn quý, tửu lượng của anh đã được thử thách suốt thời trai trẻ ở miền núi, giờ đã ăn thua gì! Sau hơn hai năm, bạn anh từ một anh chàng mảnh khảnh, khắc khổ với những đau đáu suy tư văn chương, triết học, thời cuộc, đã trở nên bệ vệ với vẻ niềm nở kiêm xun xoe của một ông giám đốc du lịch làm ăn thất bát giờ mới phất trở lại. Đó là lý do để anh bắt đầu thận trọng, và không xì ngay ra mớ đơn kiện như ý định lúc đầu. Anh dò hỏi.
– Ông có quan tâm đến tình hình Phật giáo địa phương?
– Ồ, đó là một lĩnh vực nhạy cảm…
Không kìm được, anh bất giác như kêu lên:
– Ông đúng là giọng tuyên huấn nghề nghiệp! Mấy bà vãi nghèo đang mong có mái chùa bé con con để lạy Bụt và quên mọi thứ nhố nhăng sự đời đi, thì nhạy cảm cái cóc khô gì!?
Đến lượt Trần Linh cảnh giác với anh, hạ giọng:
– Ấy, ông đừng có mà nghe một chiều… Tôi nói thật nhé, đừng động tới ổ kiến lửa… Ông đã nghe phong thanh gì về ông đại đức trụ trì chùa Y rồi? Tin đồn vớ vẩn đấy! Trâu buộc ghét trâu ăn, thói đời đáng sợ thật. Đừng có dại dột sờ dái ngựa… Nào, cạn, quên béng chuyện đời lẫn chuyện đạo đi! Đất này là đất dữ đấy! Ông còn nhớ cuốn tiểu thuyết Nam Mỹ Miền đất hung bạo[99] năm xưa ông mang lên cho tôi mượn chứ?
Một kỷ niệm văn chương đã trở thành tín hiệu đe doạ, trấn áp chăng?
Đúng như anh đã dự cảm.
Chiều tối hôm đó, lấy cớ trở lại nơi cũ anh từng ở với bà cô hồi sơ tán, anh rời “ổ rượu” của chàng quan chức hạng bét chuẩn bị về hưu và anh trọc phú mới nổi Trần Linh để bí mật đến với nhân chứng đầu tiên. Ông Phật tử này từng làm người gác cổng vài năm cho chùa Y, một trong những chùa lớn nhất tỉnh T, từng nhiều lần lúc nửa đêm phải mở cửa chùa cho ông sư hổ mang dẫn gái qua cổng tam quan. Còn cô gái khi bị bỏ rơi thì tới trước cửa chùa chửi bới như giữa chợ…
– Ô nhục quá! – nhân chứng của anh đau đớn thốt lên – Nhưng chúng tôi chẳng còn tin vào ai nữa rồi! Bao đơn từ gửi lên các ban ngành của tỉnh, lão ấy tìm cách nuốt hết, và thách thức trong một trận say: ta có nhiều tiền hơn cả nước sông kia hiểu chửa, ta mua được cả hồn Ngọc hoàng thượng đế nữa là loại kiết xác như Phật tử các ông các bà, những kẻ mà tiền của công đức, cúng dường chẳng đủ cho ta tiếp khách một chầu bia suông!…
Và, ông nhân chứng đã cho anh biết cái điều anh chẳng muốn nghe: Bạn anh, một nhà báo lớn của tỉnh, một nhà thơ thành danh nơi xứ Mây, cũng là kẻ đã nhiều lần ngồi chè chén say sưa, tâm đầu ý hợp với lão sư hổ mang ngay trong địa phận chùa, đã tỉ tê thế nào đó khiến cho kẻ tu hành giả mạo kia phải tài trợ mấy cuộc hội thảo văn học nghệ thuật, mấy cuộc thi sáng tác thơ, văn, nhiếp ảnh, rồi kinh phí để in hàng đống sách thơ cho mình và hội viên. Những việc đó được Uỷ ban tỉnh tuyên dương, tặng một lô bằng khen theo đề nghị của bạn anh, và lão sư lấy chúng làm dày thêm lá chắn cho mình mỗi khi làm điều thất đức, không từ cả việc thuê bọn đầu gấu doạ nạt, trấn áp bất cứ người lương thiện nào dám tố cáo, hay chỉ dám ho he thắc mắc về vị trí, lợi quyền của y với tư cách một lãnh chúa gian tham có thờ Phật và mặc áo tu hành!
Sáng hôm sau, rời nhà trọ, anh tìm tới nhà bà vãi B, người đã ôm mớ đơn kiện tới Trung tâm ông Khánh. Đứa cháu cho biết bà B đang ở nơi các bà vãi thường tụ họp. Thế lại mò đến đó. Một ngôi nhà tạm độ ba chục mét vuông được dựng lên bên sườn đồi lúp xúp cây cỏ hoang dại, bên trong đặt ban thờ Phật đơn sơ mà ấm cúng. Mấy chục bà vãi đang chăm sóc các luống hoa quanh nhà và trang hoàng “ngôi bảo điện” bằng hoa, quả. Thấy anh, các bà vãi bộc lộ nỗi vui mừng kín đáo, như là sự việc đương nhiên phải thế. Các bà thay phiên nhau, chậm rãi kể lại khúc nhôi sự tình… Một vị đại đức trẻ đang tu tập ở xứ Đông, nhân một lần theo tăng bạn lên chơi, yêu mến cảnh và người nơi đây, thấy chưa có chùa nên ngỏ ý muốn góp công của xây một ngôi chùa nhỏ, và sẽ xin làm trụ trì chùa. Như gặp nắng hạn mong mưa rào, các Phật tử vùng này phấn khởi, lo xin đất, cùng vị đại đức nọ chạy mọi thủ tục xong xuôi. Nhưng, suốt gần 10 năm trời, ngôi chùa vẫn chỉ nằm trên bản vẽ thiết kế ban đầu do một kiến trúc sư Phật tử cung tiến và các giấy tờ liên quan. Đây là đơn kiến nghị mới nhất, sau hàng mớ đơn từ, sau nhiều năm chờ đợi và chạy chọt đủ kiểu, với lời lẽ nhẫn nhịn, chịu đựng, song không giấu nổi sự bất bình, bực dọc, và chắc là phải nhờ vả người nào đó viết hộ cho đúng quy cách lẫn chính tả:
…Ngày 1/1/2008 toàn thể nhân dân và 100 phật tử có hộ khẩu tại 7 thôn xã Thanh Minh đã có đơn gửi UBND tỉnh T và Ban trị sự GHPGVN tỉnh T với nội dung: Đề nghị giúp đỡ xây dựng chùa Thanh Minh và thỉnh mời Đại Đức Thích Thanh Quý về trụ trì, xây dựng chùa Thanh Minh, thành phố T…
Ngày 25/1/2008 VP UBND tỉnh T đã có Công văn 727/CV/UBND gửi Sở Nội vụ tỉnh T giải quyết nội dung theo nguyện vọng của nhân dân và bà con Phật tử xã Thanh Minh.
Tuy nhiên cho tới giờ, sau 09 năm, với năm lần đơn gửi tiếp theo, vẫn chưa hề có văn bản nào trả lời.
Chúng tôi thiết nghĩ, Đạo Phật là từ bi và GHPG tỉnh T có những quy định theo tính chất địa phương, đúng sai chúng tôi không bàn cãi, nhưng đề nghị của Đại Đức Thích Thanh Quý là hợp lý, và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân cùng tín đồ phật tử xã Thanh Minh…
Đọc lá đơn, đầu anh ong lên bởi loảng xoảng các từ ngữ hành chính: công văn, kiến nghị, đề nghị, văn bản… Tuy nhiên, kết hợp với những tin tức đã thu thập được, anh cũng hiểu ra điều chủ yếu: việc chậm trễ này chỉ có một nguyên nhân chính, đó là sự cố tình cản trở của lão sư trụ trì chùa Y và đang là phó Ban trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh T, được sự tiếp tay đắc lực của những người có quyền hạn tỉnh này.
Trong bữa cơm chay giản dị chiêu đãi nhà báo của các vãi nghèo, giữa khi căng thẳng tìm cách giúp họ sao cho phải lẽ và có kết quả, anh nghe được loáng thoáng lời các bà: “Rau sạch đấy, cậu đừng lo…”- “Cái lão sư ấy à… Đồ rắn độc… Nhiều thủ đoạn lắm… Cậu cần giữ mình đấy…”- “Tội cho thầy Thanh Quý quá… Bơ vơ bao năm nay…” – “Thế mà vẫn nhẫn nhịn, vẫn cầu mong cho cái lão sư rởm hồi tâm và tử tế với đồng đạo…” – “Dạo tiếp quản chùa Y, lão cho đập bỏ hết những tượng Phật, đồ thờ cúng dường thuộc sư trụ trì trước, cho làm lại sạch…” – “Giá như lão đem thí cho các chùa nghèo như ta thì đỡ quá, các bà nhỉ…”
Trở về Hà Nội, đang loay hoay với đống tư liệu và đơn từ đủ loại kia, Thế lại được biết thông tin nóng nhất: một phóng viên trẻ của báo X vừa bị bắt tại thành phố T trong khi làm loạt phóng sự bài và ảnh về những biệt phủ của hàng loạt yếu nhân tỉnh T đương làm nổi sóng dư luận. Đọc qua mấy bài báo về vụ bắt bớ, và bằng trực giác, anh lờ mờ phỏng đoán: cậu phóng viên mà anh vẫn khâm phục sự dũng cảm nhưng chưa hề quen biết này chắc đã bị gài bẫy… Anh sực nhớ đến người bạn đang làm quan chức báo chí – văn nghệ tỉnh T, sẽ nhờ anh ta hỏi cho ra nhẽ. Và nếu quả là chuyện gài bẫy thực, may ra, tiếng nói của anh ta sẽ giúp được chút gì chăng cho cậu phóng viên đương gặp nạn? Thế giở di động ra gọi. Không nghe máy. Hay là Trần Linh đã nhạy cảm được điều gì? Mà một việc khá hệ trọng thế này, gọi điện thoại có nên không? Biết đâu, một kẻ hay lo chuyện trời ơi đất hỡi như hắn cũng đã bị nghe trộm? Thế là lanh lại tất tả nhảy xe đò lên tỉnh T.
Tới trước cổng tiểu biệt thự của Trần Linh, anh bỗng đứng sững lại.
Lần đầu tiên anh cảm thấy ngại ngùng, thậm chí e sợ khi đến nhà người bạn thân thiết này. Anh e sợ, bởi chút hy vọng của mình không khéo biến thành bong bóng xà phòng. Và anh sợ trước quá khứ đẹp của tình bạn đang bủa vây anh, hoành hành cái tâm tư đa cảm của anh… Nhưng rồi, anh cũng quyết định bấm chuông. Một con chó nòi săn lao vụt tới sủa vang nhằm khẳng định thêm cho vị thế của chủ. Vợ Trần Linh te tái chạy ra, khắp người lấp loá nhẫn vàng, vòng vàng trong nắng trưa. “Nhà em đang đi ăn tiệc với các anh trên tỉnh, anh cứ vào tự nhiên, người nhà cả mà!” Suýt nữa thì Thế lầm lẫn chữ “người nhà” dành riêng cho anh với “các anh trên tỉnh”! Vợ Trần Linh sau khi đã hỏi han đến xóc óc và biết rõ anh đã ăn uống no say rồi, gọi cậu con trai đầu ra tiếp anh. “Chú lên một mình à? Công việc hay chuyện riêng, hả chú?” Thế vội xoá ngay đi cái ấn tượng về cái lối như tra hỏi của cậu trai. “Chú lên chơi thôi. Nghe nói, bố cháu vừa in tập thơ, tuần trước chú lên chưa được tặng…” – “Ồ, tưởng gì, bố cháu ký tên đóng dấu sẵn đây này, nhờ cháu phân phát cho mọi người khi bố cháu không có nhà…” Thì ra, đây chính là tập thơ được in bằng mồ hôi nước mắt của những Phật tử nghèo mà lão sư hổ mang đã trấn lột! Anh chua chát thầm nghĩ, tập sách trên tay chợt nặng như cục đá. Cậu con trai pha nước chè: “Đây là chè Shan tuyết sạch trăm phầm trăm, một tôm một lá, sao bằng tay chú ạ, nhà cháu chỉ mời người quen thân thôi…” Rồi cậu ta xăng xái bật đầu đĩa DVD lên. “Bố cháu vừa mang về, bảo là có hầu hết những nhân vật quan trọng của tỉnh. Cháu cũng chưa kịp xem.” Màn hình xuất hiện những gương mặt ở lễ động thổ xây dựng công trình du lịch sinh thái, sân sau của một bậc “Cha Mẹ dân” cỡ bự tỉnh mà có lần Trần Linh đã kể cho anh với thái độ khinh miệt. Những gương mặt béo tốt, bóng nhẫy, tự mãn, và khi tươi cười trong men rượu bia lại vô tình lộ ra vẻ lỳ lợm nham hiểm… “Đây là… Đây là… À, bà này tên là Nga vừa mới lên chót vót, ông này tên là Hân vừa chiếm chỗ của ông Đán”.
Thế chợt nhận ra bạn anh, nhà báo nhà thơ quan chức tép riu đang xăng xái hân hoan vác cốc bia lửng đi tới các bàn quan chức lớn để chúc tụng, vẻ mặt bợ đỡ trong ma men càng nổi lên phừng phừng như tô điểm thêm sự tinh xảo cho một vũ hội của ma quỷ… Anh bất giác nhắm tịt mắt lại trong một nỗi kinh hoàng chưa từng thấy. Đó là chân dung thật nhất của bạn anh vào lúc đó. Thế vô thức đứng dậy, vác túi lầm lũi đi ra khỏi căn nhà, giữa lúc cậu trai đang nhăn nhở hoan hỉ với những cảnh hội chợ ăn chơi phè phỡn hứa hẹn nay mai cậu sẽ dự phần…
Bên dòng sông chói chang cuồn cuộn chảy về xuôi, Thế nhìn thấy bao ký ức đẹp đẽ của anh đang bị kéo trôi tuột đi bởi sự thô bỉ, trâng tráo, hể hả đến buồn nôn của lũ quan chức tỉnh mà anh vừa được chứng kiến. Và anh cũng được chứng kiến sự sụp đổ của những niềm tin ngây thơ còn sót lại trong anh, cùng sự phá sản đến thảm hại của một tình bạn trải suốt bốn chục năm trời khốn khó lận đận, ngay giữa tâm hồn anh. Một cái hố trống rỗng khủng khiếp hiện ra trước anh, vây quanh là những biệt phủ đang vùn vụt vươn lên tựa những cây nấm độc khổng lồ đè bẹp dí một ngôi chùa bé nhỏ…
Thế bỗng sực nhớ mục đích chuyến đi lần này… Cậu phóng viên báo X nọ, nếu không bị gài bẫy, thì biết đâu cũng đã tự rơi vào cái bẫy của sự phù hoa mà phần đông lũ quan chức hư hỏng đang bầy đặt ra – theo đúng như “quy trình” mà bạn hắn đang lao đầu vào? Anh không hiểu nổi mình là ai, mình sống để làm gì nữa. Mọi sự đều trở nên khó hiểu quá chừng! Lúc này, chỉ có một điều an ủi nhỏ bé duy nhất giúp anh tỉnh táo, là bạn anh chắc sẽ không đến nỗi trở thành kẻ phản trắc, kẻ sẵn sàng bán đứng bạn vì quyền lợi riêng!… Rồi sau đó, một ý nghĩ chợt đến và miên man theo dòng lũ: Một xứ sở mà có những quan lại như thế, anh bị đánh cắp tình bạn, cùng sự nảy nòi những ngạ quỷ khoác áo cà sa, là điều không khó hiểu… Một xứ sở có những lâu đài biệt phủ lộng lẫy đồng thời là những cái bẫy đểu cáng nhằm tha hoá con người và thủ tiêu công lý, là điều không khó hiểu…
Thế báo cáo lại cho Giám đốc Khánh toàn bộ sự việc, nhà Phật học trầm ngâm rất lâu.
– Chú em nhà báo à, tôi rất cảm thông với tâm sự và nỗi đau lòng của chú… Cái gốc của sự mạt Pháp này có từ rất lâu rồi, từ thời Lý kia… Có điều, đạo Phật thực sự đã ngấm vào lòng dân nước này tựa mạch nước ngầm cả mấy ngàn năm… Cả Trung tâm đã đọc bài báo của chú: “Tiếng nói của trí thức Việt xưa – nay trước sự suy đồi của Phật giáo” thấm lắm, thấm lắm! Nhưng chú em nên thiền đi… Các bà vãi trên ấy nhất định sẽ được đền bù xứng đáng theo luật Nhân quả ở cõi tạm này… Còn chú, chú cũng như tôi chỉ ưa cảnh “Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá – Sư cụ nằm chung với khói mây”, vì vậy tôi hiểu rõ tâm trạng của chú hôm cả Trung tâm ta được mời tới khánh thành một khu Chùa khủng, khu Tâm linh trá hình…
Hôm đó, ông Khánh rủ Thế đi cùng thăm một ngôi chùa mới hoàn thành theo lời mời, đồng thời cũng để khảo sát… Trở về, Thế đã viết bài báo: Những vết thương đau đớn của thiên nhiên:
Cứ mỗi lần nhìn thấy cảnh bạt núi, đốn rừng để làm cái mà người ta gọi là “Du lịch văn hóa tâm linh”, tôi đều có cảm giác xót xa, đau đớn, như chính thân thể của thiên nhiên đẹp đẽ đang bị cào, bị cuốc vào mặt mình và thốt lên lời than khóc u uất!
Tôi có dịp đến ba nơi “hoành tráng” như thế đã hoàn thiện và đi vào hoạt động, để rồi tự thề sẽ không bao giờ bước tới những nơi đó thêm một lần nữa! Máy ảnh, máy quay thường mang theo như thói quen nghề nghiệp, nhưng tôi đã không dám/ không thể chụp một tấm ảnh và bấm một giây hình nào, bởi ở những nơi đó, tôi chỉ nhìn thấy sự lai căng kệch cỡm, sự phô trương lố bịch, thiên nhiên chạy trốn trước sự khoe khoang vẻ vĩ đại sặc mùi thương mại của những kẻ đang âm mưu biến chúng và Phật thành máy thu tiền! Tôi chợt nhớ lại một ngôi chùa lớn ở Thượng Hải, cái cảnh dòng người náo nức sau khi đã trả tiền xếp hàng thăm tượng Phật Ngọc như thăm vườn Bách thú!!!
Còn ở những nơi này, tìm đâu ra chút bóng dáng của “Bầu trời cảnh Bụt/ Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay”. Đâu rồi cảnh: “Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái/ Lửng lơ khe suối cá nghe kinh/ Thoảng bên tai một tiếng chày kình/ Khách tang hải giật mình trong giấc mộng” mà thi sĩ Chu Mạnh Trinh năm xưa rung động? Tôi đi thẫn thờ, mệt mỏi, hoang mang giữa cái không gian to vật vã toàn màu xám của bê tông và đá xẻ đắt tiền áp đảo, bóng cây lác đác, còn các tượng Phật, tượng La Hán khổng lồ như muốn đè bẹp mọi cảm xúc tinh tế thiêng liêng nếu như nó bất chợt nảy sinh ở nơi chốn được miễn cưỡng gọi là “Tâm linh” này… Và chợt thèm biết bao cái khung cảnh quen thuộc lâu nay trong tâm tính người Việt về những “Mái chùa – Hồn dân tộc” mà nhà thơ Nguyễn Khuyến từng nói hộ lòng ta: “Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá/ Sư cụ nằm chung với khói mây”…
Những Khu “Du lịch tâm linh” như thế hiện giờ đã trở thành “hình mẫu” cho nhiều dự án Du lịch tâm linh kết hợp với dự án bất động sản bắt đầu nảy nở khắp nơi trên toàn quốc, tiếp tục một cách kinh hoàng cái “sự nghiệp” tàn phá Rừng, tàn phá Thiên nhiên, tàn phá những Giá trị văn hóa cổ truyền tốt đẹp nhằm phục vụ cho quyền lợi riêng của một số kẻ Lợi ích nhóm! Thiên nhiên vẫn sẽ còn phải tiếp tục kêu cứu đau đớn, khi những cái gọi là “Du lịch văn hóa Tâm linh” trá hình như thế đang thống trị bởi quy luật đồng tiền thời kinh tế thị trường méo mó dị dạng, được “bảo kê” bởi một số kẻ có chức quyền và có tiền. Chính họ đã dám to tiếng trên Đài truyền hình Quốc gia rằng: “Những ai phê phán việc phá rừng, phá thiên nhiên đều thuộc thế lực thù địch!”.
Than ôi! Biết đến khi nào máu của Thiên nhiên mới ngừng chảy? Biết đến khi nào máu mắt của những người lương thiện đau xót cho Thiên nhiên bị tàn sát mới thôi rơi?
Biết Thế là người hay lên tiếng kịp thời và gay gắt về sự tàn sát Thiên Nhiên, Tổ chức “Diễn đàn Nhà báo Môi trường” (VFEJ) đã chủ động tìm đến anh mời cộng tác nhiều lần. Và lần cộng tác quan trọng nhất là VFEJ mời anh và hai nhà báo nhận một nhiệm vụ khá nặng nề: cung cấp những tư liệu thực tế để góp phần phản biện công trình: “Xác định cơ sở khoa học để đánh giá tác động môi trường phục vụ dự án xây dựng khu du lịch sinh thái bền vững Tam Đảo 2” của trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) và của Ban Quản lý Dự án Tam Đảo 2 được làm theo “hợp đồng có định hướng” của UBND tỉnh Vĩnh Phúc – mà trên cơ sở đó, tỉnh sẽ triển khai các bước tiếp theo nhằm thu hút 380 triệu USD cho một dự án xây dựng khu vui chơi giải trí cao cấp – gồm khách sạn, sòng bạc, sân golf, chuồng ngựa… ngay trong vùng lõi của một Vườn Quốc gia nổi tiếng!
Trước đó, có lần đi trong Thiền viện Tây Thiên, ngẩng nhìn khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, anh thoáng mơ ước được lên tới đỉnh Tam Đảo. Không ngờ, chỉ mấy tháng sau anh lại là nhà báo đầu tiên có cơ hội đặt chân đến nơi xa nhất, cao nhất và hoang lạnh nhất của núi rừng Tam Đảo…
Sáng sớm, một đoàn công tác 14 người – gồm ba nhà báo, người dẫn đường, cùng cán bộ tỉnh, kiểm lâm, và lực lượng quân sự được cử đi theo để giúp đỡ, bảo vệ (và giám sát) các nhà báo tác nghiệp – đã xuất phát từ một khách sạn của khu Tam Đảo I….
Những ánh đèn pin chọc sương mù dày đặc. Tiếng chậm rãi gọi bộ đàm báo cáo. Tiếng bước chân nặng trịch của đoàn người trĩu vai súng đạn, tăng võng, nồi niêu, gạo muối, máy quay, v.v. Đoạn đường đất 3km từ Tam Đảo I vào cửa rừng bị sụt lở nham nhở, và tới một chỗ, con đường biến mất, đất đá chình ình! Mọi người đã phải bám vào một cành cây để đu sang hòn đá tảng nằm chơi vơi trên vực thẳm, rồi thận trọng leo xuống. Hú vía!
Cửa rừng đã hiện ra. Người địa phương gọi đó là ngã ba Rùng Rình…Từ đây, lộ trình của cả đoàn chỉ có thể đếm từng bước chân qua một lối mòn mờ nhoà, trơn tuột, vắt qua những sườn đá cheo leo, và có lúc mất hút. Đây đó, thấp thoáng những viên đá lát trải ngót thế kỷ vốn dành riêng cho người tuần rừng. Nhiều chỗ phải chui qua, hoặc trèo lên một thân cây lớn ngã gục giữa đường. Những thanh gỗ mục bắc qua hẻm… Người dẫn đường vừa cầm dao phạt dây leo, vừa xác định lại phương hướng. Chưa được một phần tư đường, ai nấy mồ hôi trộn nước mưa nhoè nhoẹt. Nhà báo Bùi Viên người Hải Phòng (vốn là nhà quay phim điện ảnh đã về hưu) mấy lần chuội chân suýt ngã xuống dốc. Ông ngồi mệt nhoài, tay ôm ngực. Cả đoàn hội ý, rồi cử một anh lính đưa ông quay ra.
Vậy là, giờ chỉ còn Thế và nhà báo trẻ của báo Phú Thọ – hai “gã nghều” tác nghiệp… Hai nhà báo đã được thông báo kỹ lưỡng trước khi khởi hành: rừng Tam Đảo không còn gì đáng để bảo tồn, không còn cây lớn nào mà chỉ toàn rừng cây lúp xúp, dứa ma và tre trúc, các loài thú quý hiếm không còn! Thấy anh chăm chú ghi hình những thân cây lớn bị chặt đốn ngổn ngang còn in vết rìu, người kiểm lâm đi theo vội giải thích: đó là do chúng tự hoại, tự đổ, vì trên cao gió to, lại không có ai bảo vệ…
Đường hẹp và trơn nhẫy, dốc đứng, may mà có những bụi cây rễ cây để bám, nếu không, sau mấy lần trượt chân Thế đã quăng mình lẫn đồ nghề xuống chân núi hoặc đáy vực! Chưa được nửa chặng đường, đế giày của Thế đã bật tung. Nguy quá, anh đành “phanh thây” vỏ chân máy quay để buộc quanh giày đi tạm.
Cả đoàn nghỉ ăn trưa bên một đoạn thác hoang vu. Từ đây nhìn xuống là rừng thăm thẳm ôm đất Phật Tây Thiên và một vùng trung du chìm trong mây lẫn sương mù trắng đục…
Anh cán bộ tỉnh bước tới cạnh Thế, say sưa kể lại chuyện: năm trước, một kỹ sư lâm nghiệp người Úc, vì mải say mê khám phá sự phong phú của tài nguyên rừng và hệ sinh thái rừng Tam Đảo mà ông ta đã bị lạc bốn ngày trong rừng, suýt chết!… Những điều viết trong công trình khoa học nói trên không dám phủ nhận sự phong phú của hệ sinh thái rừng Tam Đảo, nhưng đã nhấn mạnh rằng, chúng đã bị hủy diệt gần hết, giờ chỉ còn là rừng tái sinh, cây dại, và đất thì đã hoang hóa, cằn cỗi, chỉ có thể dùng làm vào việc khác “có ích” hơn! Cái Tâm và cái Tầm tri thức của những nhà khoa học Việt Nam trong công trình được gọi là “khoa học” đó sao mà thảm hại so với ông kỹ sư lâm nghiệp người Úc kia!
Tới suối Bòn Bọt, có hai lán hoang. Đích thị là lán lâm tặc!… Ống kính máy quay của Thế may mắn “bắt” được những vạt rừng già nguyên sinh còn sót lại, những thân cổ thụ hai ba người ôm không xuể! Những “di chứng” của rừng như thế hiện đang nằm trong kế hoạch chặt phá với danh nghĩa là “phát triển khu du lịch sinh thái để gây dựng, phục hồi rừng”!? Anh đã được nghe kể về ý tưởng “nối Mặt đất với Thiên đường” của Lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc, và được Nhà tư vấn Belt Collin Hawaii Ltd., được cụ thể hóa bằng phương án có tên gọi là “Cầu nối trời và đất” – tức là những con đường được mở dẫn lên Tam Đảo 2 – kèm theo ba phương án biến vùng lõi Tam Đảo 2 thành “Thiên đường”…
4 giờ 30 phút chiều, đoàn mới lên tới đỉnh Tam Đảo II – đó là một khu đất bằng phẳng, từng là bãi đáp máy bay trực thăng đưa lãnh đạo tỉnh và các nhà khoa học tới Tam Đảo…
Cả đoàn hạ trại. Nhóm thì nổi lửa nấu cơm, nhóm thì dựng lán căng lều bạt… Hai nhà báo tận dụng ánh sáng trời. Mục đích lớn nhất của hai nhà báo trong chuyến đi này là phải ghi bằng được hình ảnh về Rừng Lùn – như một bằng chứng hùng hồn về sự đa dạng sinh học của Tam Đảo! Chúng nằm ở vùng đất ướt vắt trên sống của dãy Tam Đảo, là một loại rừng đặc thù của vùng mưa ẩm Á nhiệt đới sống ở trên cao mưa nhiều gió lớn, tồn tại một cách phi thường theo kiểu rừng kín, xanh tốt quanh năm, và đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam. Nhưng cán bộ tỉnh đi theo quả quyết: rừng Lùn không còn nữa, và các nhà báo lần đầu tiên đã được đi tới nơi xa nhất của Tam Đảo 2!
Đúng là xa nhất, nhưng cũng xa hẳn rừng Lùn – theo “định hướng”!
Sập tối. Cả đoàn run rẩy vây quanh đống lửa lớn… Sau bữa cơm bày trên mảnh ni lông, vừa ăn vừa hớp nước mưa, mọi người chui vào những lều bạt, lán nứa dựng tạm.
Qua một ngày ròng leo núi vượt rừng nguy hiểm, đầy bất trắc, ngay cả những anh lính trẻ cũng lăn ra ngủ như chết. Còn Thế, toàn thân đau nhức, không sao ngủ được, lại thêm nỗi thao thức giữa rừng hoang lạnh trước tương lai thê thảm nhỡn tiền của Tam Đảo… Anh nhìn ra màn đêm, chợt hình dung ra cảnh những đống đất đá khổng lồ, những dòng lũ bùn lũ rác trôi từ đỉnh Tam Đảo này xuống chôn vùi, phá huỷ bao thôn xóm và 79 di tích đền chùa dưới chân Tam Đảo – một khi “Thiên đường” được tạo nên bằng mọi giá!… Ba Vì, Tam Đảo là những ngọn núi linh thiêng của người Việt tự cổ xưa. Và trước khi dời Hoa Lư ra Thăng Long, vua Lý Công Uẩn viết Chiếu dời Đô, có câu: Tiện hình thế nhìn sông tựa núi (sơn xuyên hướng bội chi nghi). Thăng Long – Hà Nội nhìn ra sông Cái (Nhị Hà) và tựa vào hai dãy núi linh thiêng này. Vua Lý Công Uẩn hẳn đã nhận thấy Kinh đô mới nhìn ra sông Cái và dựa vào hai dãy núi này… Mệt quá, Thế thiếp đi trong một cơn ác mộng hãi hùng chưa từng thấy trong đời: Những dòng lũ bùn, lũ đá, lũ rác cuốn trôi ào ạt, đè ập xuống, làm đứt phựt tiếng hát ngây ngô của con gái anh: Cọ xoè ô che nắng/ Thơm mát đường… Dốc Rùng Rình chợt chao đảo, suối Bòn Bọt bỗng thở dài não nuột và cất tiếng khóc ai oán hơn cả tiếng khóc đại tang… Những dòng lũ rác lũ bùn làm màu mây trắng thần thoại Tây Thiên thành xám xịt; tượng Phật, tượng La Hán chảy máu mắt ròng ròng trước cảnh chùa tan hoang, ngập bùn, núi thiêng nham nhở, trọc lốc… Thú lớn thú nhỏ chạy tan tác khi những vòng quay sòng bạc xoay tít toé máu ra khắp hướng… Những vó ngựa đua giẫm nát cánh bướm rừng… Những sân golf mười tám lỗ, ba sáu lỗ như những lỗ đen trên thiên hà đang há toác miệng nuốt chửng mọi thứ… Khách sạn, nhà hàng chăng đầy da thú hiếm như triển lãm, vây quanh là những khuôn mặt tự mãn no nê đỏ phừng phừng mở miệng lè ra rắn rết, rồi ném ra ngoài thành những con khủng long tiền sử đột biến gien có khả năng đớp, ngoạm tất cả! Một vị tiên ông khoác hoàng bào xuất hiện, thét vào mặt anh: Này, đây là nơi mà cơ nghiệp muôn đời đế vương xưa tựa vào, và đang là chỗ dựa cho muôn đời con cháu, các ngươi hiểu chưa? Rồi một nhà khoa học nước ngoài thẫn thờ ôm mặt khóc, mọc đôi cánh thiên thần và lặng lẽ bay đi…
Quá nửa đêm, Thế bật choàng tỉnh dậy, sờ tay lên người, cả một tảng máu đã khô cứng lẫn máu tươi đang ri rỉ bởi một con vắt chui vào nách tự lúc nào! Nhưng điều này còn dễ chịu hơn gấp trăm lần so với những cơn ác mộng vừa qua… Sương mỗi lúc một nặng hạt rơi trên nóc lán bạt. Thế lại quay nhìn sang mấy anh lính trẻ đang ngủ vùi mê mệt sau những chặng dốc cao, vực thẳm hun hút, lối mòn chênh vênh trơn tuột trong gió lạnh, mưa phùn. Có thể, các anh cũng đang trải qua những giấc mơ hãi hùng như Thế? Và chúng sẽ không còn là giấc mơ nữa, khi dự án “nối mặt đất với thiên đường” trở thành hiện thực, mở lối dẫn vào Chín tầng Địa ngục của thi hào Ý Dante[100]!
Lượt trở về cũng gian nan nguy hiểm không kém… Thế lại tiếp tục quay được thêm những thân cổ thụ bị chặt và đổ gục thương tâm, những lán lâm tặc, những bụi dứa ma xơ xác, những con vắt nghển cổ ngạo mạn… Anh chưa kịp tìm thấy Rừng Lùn cùng những con thú được ghi trong sách Đỏ… Nhưng, ngót hai mươi phút hình ảnh có máu, mồ hôi, nước mắt, và cả tính mạng của hai nhà báo “đánh cược” ở đó cũng cho thấy sự phong phú đa dạng của hệ sinh thái rừng Tam Đảo, những chứng cứ hiển nhiên của rừng nguyên sinh – chúng chưa hề bị biến mất như trong các báo cáo “khoa học” – dù phải trải qua biết bao sự khai thác tận diệt, sự ngang nhiên phá rừng của những kẻ vô lương tâm và dốt nát. Và điều đó đã giúp rất nhiều cho “Khoá đào tạo các nhà báo quan tâm đến môi trường ba miền” do VFEJ (Diễn đàn Nhà báo Môi trường) tổ chức (với sự tài trợ của Mạng lưới Báo chí Trái đất – EJN), theo chủ đề: Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam. Lớp tập huấn này được tổ chức ngay sau cuộc hành trình dã ngoại của Thế một tuần tại Tam Đảo I, các nhà báo trẻ toàn quốc đã được xem những hình ảnh sống động, chân thực chưa từng có về Tam Đảo II; cũng từ đây, nhiều tiếng nói gay gắt bộc trực của các nhà báo trẻ đã gây sốc cho công luận về cái ý định xẻ thịt vùng lõi Vườn Quốc Gia Tam Đảo, phá đi lá phổi miền Bắc! Và, rất tự nhiên, như một phản ứng dây chuyền, cuối năm đó, tại Hà Nội, một cuộc Hội thảo quy mô đã diễn ra: “Các vấn đề môi trường liên quan đến dự án Tam Đảo 2”. Chắc chắn, những vấn đề được nêu lên từ Hội thảo đó sẽ còn nguyên tính thời sự làm nóng bỏng lương tri xã hội nhiều năm tháng sau. Và chuyến đi đặc biệt ấy đã không đưa Thế đến “Thiên đường” nhưng đã giúp anh cùng nhiều nhà báo trẻ – ít nhất là như thế – bước đầu hiểu thế nào là Địa ngục, nếu cái “Thiên đường” kia vì một lý do nào đó lại trở thành hiện thực.
[94] Trong tiểu thuyết Đức Cái trống thiếc.
[95] Tôi, anh.
[96] Bậc thầy (maître) – Cách gọi thân mật của đồng nghiệp đối với danh họa Bùi Xuân Phái.
[97] Alice ở Xứ sở Diệu kỳ (Alice’s Adventures in Wonderland) – cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1865 của nhà văn Anh Lewis Carroll, kể về chuyến phiêu lưu giả tưởng của cô bé Alice ở thế giới kỳ ảo.
[98] Hard Times – tên một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của văn hào Anh Charles Dickens.
[99] Terras do Sem-Fim – tiểu thuyết của nhà văn Jorge Amado người Brasil.
[100] Trong tác phẩm Divina Commedia (Thần khúc) của nhà thơ Ý vĩ đại Dante Alighieri (1265-1321).