Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (15)

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

19.

Bên một đoạn suối cách khá xa làng bản có một nấm mộ nằm chơ vơ, bị trồi sụt bởi mưa lũ, vết chân trâu. Trên mộ có một bó hoa rừng còn tươi.

Minh – kỹ sư thuỷ điện mang cuốc đi tới mộ. Anh sửng sốt khi nhìn thấy bó hoa rừng mới. Anh nhìn quanh quẩn một lúc rồi cầm cuốc sang sửa lại nấm mộ.

Dưới làn nước trong vắt, phản chiếu ánh nắng. Những tảng rêu suối trở nên óng ánh, tựa mái tóc dài của một cô gái Thái.

Ở một đoạn suối khác, gần làng bản hơn, Lao đang lúi húi vớt rêu suối. Khi cái ếp đan bằng nứa chất kha khá những tảng rêu xanh mượt, Lao đặt nó trên bờ cỏ. Chị lại bước xuống suối, cuốn dần chiếc váy lên ngực, lên cổ rồi cuối cùng chiếc váy được đặt gọn gàng ngay ngắn trên mái tóc búi ngược (tằng cẩu) thành một cái khăn. Trong làn nước suối, da người đàn bà trắng bóc mịn màng, chị có bộ ngực vẫn tròn căng như của con gái. Chị chậm rãi kỳ cọ tắm rửa, ngắm nhìn khuôn mặt mình trong ánh nước lung linh.

Minh cầm cuốc quay ngược trở lại. Thoáng nhìn thấy người đàn bà tắm suối, anh dừng lại và ngẩn ngơ ngắm chị.

Lao tắm xong, chị bước lên bờ và chiếc váy áo Thái lại được thả dần xuống tấm thân eo ót, đầy đặn. Tới lúc đó, chị mới tháo bỏ mái tóc búi cao xuống thành một suối tóc dài óng mượt.

Minh trộm nhìn, ngây ngất.

Lao cúi xuống mặt nước, bắt đầu gội mái tóc… Rồi Lao đeo ếp lên, bước đi uyển chuyển, mái tóc ướt được xõa tung ra trước gió và quẩn lấy bộ váy áo cóm ôm chặt thân hình.

Minh thẫn thờ nhìn theo cho đến khi bóng người đàn bà khuất sau núi. Anh bất chợt nghĩ ra điều gì, vội chạy theo người đàn bà.

– Chị gì ơi!

Lao dừng lại nhìn bỡ ngỡ. Minh bước tới.

– Xin lỗi chị!… Có phải chị đã đặt bó hoa rừng lên ngôi mộ phía trên kia?

Lao nhìn dò hỏi giây lát.

– Vâng ạ! Đó là một người kỹ sư khảo sát lòng hồ!…

Minh vội vã:

– Anh Thắng, bạn thân của tôi đấy! Cám ơn chị nhiều!

Lao thở nhẹ ra:

– Ra thế…

– Chị ở bản nào?

– Chiềng Sại.

– Chiềng Sại? Tưởng đã di rời hết rồi cơ mà?

Lao lắc đầu vẻ ngượng nghịu. Minh giải thích:

– Tôi được biết người Chiềng Sại và các mường lân cận đều gọi mộ bạn tôi là “mả hủi”, ai cũng căm hận anh ấy vì đã có tội cho làng bản của họ vào bản đồ lòng hồ!

Lao gật nhẹ đầu xác nhận.

– Thế vì sao…?

Lao ngắt lời:

– Tôi không nỡ nhìn thấy ngôi mộ tiêu điều, cô độc. Với lại, không phải người Thái Chiềng Sại nào cũng căm hận anh ta đâu!

Minh bất ngờ xúc động:

– Chị biết không? Để có được công trường thủy điện Tạ Bú đang xây dựng hôm nay, những người khảo sát thiết kế mấy thế hệ liền đã mất 23 năm ròng! Chưa ai biết hết được nỗi vất vả ròng rã, những sự hy sinh thầm lặng của họ đâu!

Lao vẻ thích thú:

– Thế thì cán bộ kể cho nghe đi!

Minh phấn khởi hẳn lên:

– Được! Nhưng chị sẽ cho tôi biết vì sao chị và gia đình chưa đến nơi tái định cư chứ?

Lao gật đầu, bước nhẹ đi. Họ vừa đi vừa trò chuyện say sưa trên con đường mòn khúc khuỷu ven suối. Đứng từ trên cao xuống, con suối hiền lành và mềm mại trong nắng chiều giống như một dải lụa đính kim cương, và hai người – một Kinh một Thái, một đàn ông một đàn bà – tựa một đôi bạn trẻ gắn bó và thân thiết từ lâu. Họ đi chậm rãi bên suối, lắng nghe nhau chăm chú và bộc lộ những hiểu biết riêng của mình một cách nhiệt thành.

Đôi mắt Lao đỏ lên, má chị còn ngấn nước. Lao nhìn Minh:

– Cám ơn cán bộ. Bây giờ tôi càng thấy thương quý người nằm dưới ngôi mộ kia…

Hai người đã tới một đoạn có hai ngả rẽ: một lối ngược lên bản trên rừng, một lối chạy tới bãi cát sông Đà. Minh chỉ tay ra phía sông Đà ngầu đục.

– Tôi phải ra thuyền xuôi về công trường… Chị yên tâm! Chúng tôi sẽ viết một bản kiến nghị gửi lên Ban di dân tái định cư, phản ánh nguyện vọng của đồng bào.

– Còn tôi sẽ giúp mọi người biết yêu quý kỹ sư Thắng – bạn của cán bộ! Người Thái chúng tôi có câu: “Yêu quý người nào thì muốn bồng muốn cõng người ấy lên” mà!

Minh chủ động giơ tay bắt. Lao ngượng nghịu rồi lúng túng cầm tay anh. Mặt chị đỏ bừng.

– À! Tên chị là gì nhỉ?

Lao mỉm cười thật duyên dáng:

– Ngôi sao trên trời ấy!

Nói rồi chị quay người, chạy thật nhanh.

Minh ngẩn ngơ đứng nhìn theo. Lời Lao vẳng lại: “Tên… em… là … Kầm… Thị… Lao…”.

Minh bất giác nhẩm lại

– Lao… ngôi sao trên trời…!

Một ngôi nhà sàn đang được tháo dỡ. Bốn mặt ván thì ba mặt đã trống không. Trên sàn đang có một bữa cơm rượu dang dở, gồm 6, 7 người, già có, trẻ có. Đin cũng ở trong bữa rượu. Mọi người đều đã ngà ngà say. Những lời trò chuyện đứt quãng giữa những người đã ra đi rồi quay trở lại với những người đang cố tình trụ lại. “Biết thế, ngay từ đầu tôi ở lại với các ông! Lên đó, lạnh thấu xương. Nhà bê tông càng lạnh hơn! Hè thì lại nóng không chịu thấu…” – “Thế còn nhà sàn dỡ mang theo?” – “Sắp thành củi mục rồi!” – “Thế còn làm ăn? Nghe nói chăn nuôi bò sữa thu nhập khá lắm?” – “Sắp thành bò rừng rồi!” – “Từ ngày cả bản rời đi, chúng tôi thấy chống chếnh lắm… Nhưng cứ nghĩ phải ở một nơi xa lạ, không biết làm gì để mà sống, đành chịu mang tiếng là người từ bỏ cộng đồng thôi!” – “Còn trâu bò, dê lợn nữa, làm sao mang đi được? Thôi, nước hồ có tới thì cứ vén lên cao dần vậy…” – “Ngày mai chúng tôi sẽ giúp nhà ông dựng cái lán để ở. Đêm nay về lán của nhà tôi ở tạm nhé!”…

Mọi người lặng lẽ uống, vẻ trầm ngâm lo âu. Lao trở về bản, đi ngang qua ngôi nhà sàn ấy. Chị ngước nhìn mấy vách nhà trống huếch và thoáng thở dài buồn bã. Đin ngồi uống im lìm, thoáng nhìn thấy vợ về, nhưng anh vẫn ngồi như tượng. Bỗng nhiên, Đin thốt lên.

– Tôi đã lên nơi đó thăm rồi!

Mọi người đổ dồn mắt vào Đin dò hỏi.

– Không còn rừng để đi săn nữa!

Câu nói đó lọt vào tai Lao. Chị dừng bước giây lát rồi đi nhanh về lán nhà mình.

Hai đứa trẻ Phôn, Lét đang ngồi mỗi đứa một góc. Con Lét gập con bọ dừa, thằng Phôn chẻ lạt. Mặt chúng buồn thiu. Thấy mẹ về, chúng chỉ ngước lên nhìn một cái rồi lại lúi húi với việc của mình. Lao nhìn hai con, vẻ ái ngại.

– Lét mang sa ra tập kéo đi!

Con Lét làm theo. Còn Lao bỏ mớ rêu suối ra, bắt đầu thái trên thớt. Đin loạng choạng bước về với vẻ mặt nặng trĩu. Đin lấy cây súng kíp ra lau. Lao liếc nhìn sang chồng một cái rồi lại lúi húi làm. Thằng Phôn bước tới bố, ôm một bó lạt.

– Xong cả rồi đây! Bố ơi, bao giờ lên mường mới? Năm học mới sắp hêt một học kỳ rồi!

Đin lặng lẽ lau. Bất chợt, anh giộng cái báng súng kíp xuống đất đánh “thịch”. Thằng bé giật nảy người. Đin rít lên.

– Mày đừng làm khổ tao thêm nữa!

Thằng bé phụng phịu vứt bó lạt xuống đất, chạy ra ngoài. Con Lét cũng bỏ sa chạy theo anh.

Khu rừng ma còn hoang vắng hơn cả bản cũ. Một hai cây cờ phướn cũ kỹ nhợt nhạt hết màu sắc còn vương lại trên vài cái nhà mồ đã mục nát. Tiếng chim buồn đến não lòng. Thằng Phôn chạy ra rừng ma. Mặt nó ngơ ngác. Nó chạy ra đây không mục đích, chỉ theo một thói quen mỗi khi bị mắng hay bực bội điều gì. Nó thôi chạy, đi từ từ rồi ngồi xuống một gốc cây to bị đẵn từ lâu. Nó bất giác nhìn lên trời. Con Lét bước tới gần anh, cũng ngước nhìn theo anh. Bầu trời như sẫm lại màu tro, trên nền trời ấy xuất hiện một đàn chim nhỏ xíu như cái trứng gà màu đỏ rực đang bay liệng, cất tiếng kêu thảm thiết. Con Lét lay anh, tay chỉ:

– Anh! Chim gì thế?

Phôn dụi mắt rồi nhìn em thì thầm vẻ hệ trọng.

– Những con Nộc phay[86] đấy… Ông mo Sáy kể: đó là linh hồn của những người chết đói tháng ba, những người đi tìm gạo ở mường xa bị lửa cháy rừng thiêu chết, họ bay trở về tìm người thân vào mùa lúa chín đấy!

Con bé mở to mắt, thốt lên

– Chim lửa! Em mấy lần nhìn thấy chúng ở trên nương rồi!

Phôn chợt thấy rõ uy lực làm anh của mình, cậu lên giọng:

– Bố bảo là: Cụ nội rồi đến ông nội của chúng mình cũng biến thành chim lửa, vì lúc chết không đủ tiền cúng ma làm hỏa táng nên phải chôn ở rừng ma.

Thằng Phôn cắn môi lại, mắt nhìn đăm đăm phía xa, trông nó già dặn hẳn đi. Chợt nó đứng vụt dậy, dắt tay con bé rồi chạy ra khỏi rừng ma. Con bé tất tưởi chạy theo anh.

Ông mo đang ngồi trầm ngâm bên bếp lửa với chiếc tẩu đặc biệt tự làm bằng một viên đá cuội được đẽo gọt cầu kỳ, cần tẩu là một dọc gỗ cây me rừng cũ kỹ y như khuôn mặt ông. Hai đứa trẻ khẽ mở cửa gây ra một tiếng động nhỏ rồi rón rén bước vào nhà. Mo Sáy không quay lại. Khuôn mặt răn deo của ông nở một nụ cười kín đáo.

– Thằng Chim sẻ với con Cánh cam đấy à?

– Ông ơi! Bố cháu không lên mường mới có phải vì cụ với ông nội cháu còn chôn ở rừng ma? – Phôn hỏi ngay.

Ông mo phà một hơi thuốc dài.

– Ờ, ờ… Cháu đã bắt đầu biết nghĩ bằng cái này rồi đấy! – Ông chỉ tay vào đầu – Họ nội nhà cháu chẳng có ai đủ tiền của làm “dệt Heo” nên chỉ được địa táng, linh hồn không được lột xác để Then cho lên trời… cứ phải lang thang cô quạnh rất lâu…

– Và làm con Nộc phay hở ông? – Lét chen ngang.

Ông Mo nhìn con bé với vẻ dịu dàng u buồn rồi gật đầu nhẹ.

– Đó là hồn những người đi kiếm gạo mường xa bị chết vì đói, vì lửa cháy tháng ba…

– Ông ơi! Thế ngày xưa ông có đi tìm gạo không? – Phôn hỏi

Ông mo đứng lên tới góc nhà lấy ra một túi thổ cẩm đã xỉn màu rồi giở ra: bên trong đựng những ống trúc to nhỏ dài ngắn khác nhau đã lên nước bóng nhoáng. Hai đứa trẻ sán lại nhìn.

– Những năm ông còn trai trẻ, mường ta đói to. Ông lên mường Mứt, mường Khoa, qua cả sông Đà sông Mã… xa lắm. Người khác đem những gì mình có, thường là thổ cẩm, cúc bạc, hoa tai bạc, thắt lưng tơ tằm, xà tích bạc… Còn ông thì đem đổi những chiếc khèn này lấy gạo… – Thằng Phôn, con Lét cầm những ống trúc trên tay tò mò – Chúng là pí Tam-lay đấy…- Ông mo nói trịnh trọng. Rồi ông lắp những ống trúc vào với nhau thành chiếc khèn, đưa lên ngang mặt và thổi. Tiếng khèn buồn bã âm u giống như những lời thở dài và tiếng thổn thức. Ông mo dừng pí, nhìn xa xăm. “Đã từ lâu rồi người ta không làm loại khèn này nữa, người thổi nó cũng ít dần…” – “Vì sao thế ông?” – Phôn thắc mắc. Ông mo sau một lúc: “Vì người ta sợ thổi nó sẽ làm thức dậy thế giới buồn đau đeo đẳng tự bao đời… Nhưng nếu mất nó, người Thái mình đã nghèo lại còn nghèo hơn nữa!… Ông sẽ dạy cháu học làm và thổi cái khèn này…” – “Ông vừa bảo là nó buồn lắm cơ mà?” – Phôn vội vã chen ngang.

Ông mo trìu mến nhìn thằng bé.

– Cháu ạ! Đã là đàn ông Thái phải biết kể Quám tô mướng (chuyện bản mường) và thổi pí tam-lay, đàn bà Thái phải biết làm dưa cải và dệt thổ cẩm…Con gái phải biết làm vải, con trai phải biết đan chài… Người Thái mình không lấy cái sự giàu làm trọng mà chỉ yêu quý những người hiểu biết, từng trải, quan tâm đến mọi người… “Vàng bạc thì nhỏ, danh dự thì lớn” – ông cha đã dạy thế. Và những ai đã làm điều thiện khi sống thì không trước rồi sau sẽ được hóa thành vì sao sáng khi chết đi… Còn những kẻ xấu xa làm trái đạo người thì sẽ bị Then Xội trừng trị, bị trói nhốt vào cõi u minh vĩnh viễn…

– Kể cả khi không có đồ dệt Heo để làm hỏa táng, ngừơi tốt cũng được biến thành vì sao sáng hở ông? – Phôn nôn nóng.

– Cả những con Nộc phay nữa à? – Con Lét cũng hồi hộp không kém anh nó.

Ông mo gật đầu.

Gương mặt hai đứa trẻ như được chìm trong một thứ ánh sáng, êm dịu mà ngây ngất.

Mấy kỹ sư ngồi uống trà, tán gẫu trong căn phòng tập thể của Minh tại một Công ty cổ phần xây dựng thuỷ điện. Một người bật cười nhẹ, lắc đầu nhìn Minh vẻ ái ngại sau khi nghe anh kể lại chuyện gặp người đàn bà Thái sáng nay.

– Cậu đúng là đa sự, mơ mộng! Việc giải phóng lòng hồ là nhiệm vụ của Ban tái định cư, đâu phải của chúng ta?

– Hay là trái tim cậu đã bị rung rinh bởi người đàn bà đẹp ấy rồi? Này, phụ nữ Thái có thân hình lý tưởng thật đấy! Họ mặc áo cóm chật từ lúc còn bé nên eo người chuẩn quá! Lại dịu dàng tình tứ nữa… – Một người đã lớn tuổi nhưng vẻ rất phong độ bình luận ỡm ờ. Một kỹ sư chắc trẻ nhất trong phòng nhảy tới chỗ Minh:

– Theo em thì anh Minh có lý đấy! Có nhiều nỗi uẩn khúc của người dân vùng lòng hồ, chúng mình giúp họ được gì thì giúp đi!

Minh cảm động bắt chặt tay cậu kỹ sư trẻ:

– Cảm ơn cậu đã ủng hộ…!

– Nhưng lần sau thì anh phải cho em đi theo cơ. Em muốn được làm quen với một cô gái Thái…

Minh búng tay vào mũi cậu kỹ sư trẻ:

– Ra điều kiện cơ đấy! Vậy thì tớ chịu! Đừng có nhập nhèm chuyện công chuyện riêng!

– Thì em đùa vui tí chút, kẻo mang tiếng là kỹ sư thủy điện thì khô như đá và bê tông!

Đêm ấy, Minh ngồi cặm cụi trên bàn làm việc. Thỉnh thoảng Minh ngồi bặm môi suy nghĩ. Rồi anh lại quyết định ghi lại tất cả những hiểu biết, những kiến nghị của mình trong một bản tường trình…

Minh vươn vai. Anh nhìn qua cửa sổ. Mặt trăng tròn vằng vặc treo trên những ngọn núi đen sẫm, lô nhô của vùng Mường La… Bóng dáng người đàn bà đang tắm chập chờn hiện ra trong vầng trăng tròn trịa ấy… Minh nhắm tịt mắt, lắc đầu rồi mở bừng mắt ra, vẻ mặt anh ngơ ngác thẫn thờ. Minh lấy ra một tờ giấy bản to gập phong bì. Rồi anh nắn nót ghi trên phong bì bằng bút dạ đậm:

“Kính gửi: Ban quản lý Dự án di dân tái định cư

Nguyễn Minh. Kỹ sư Nhà máy thủy điện sông Đà”.

Ở ngôi nhà sàn cổ quái, lúc này Phôn cầm cái khèn tam- lay đang tập thổi dưới sự hướng dẫn của ông mo. Ông say sưa truyền nghề cho thằng bé mà ông đặt biết bao hy vọng:

– Khi thổi nó phải đặt hết cả hồn vào từng ống trúc. Thổi trong hội lễ khác thổi trong đám ma. Đây, để ta thổi lại lần nữa cho. Điệu buồn trước nhé! Ông cầm khèn thổi. Thằng Phôn chăm chú. Lúc sau, hai ông cháu đã nằm đấu đầu vào nhau, chân đưa ra hai phía: chân ông mo gác lên cột nhà gắn những động vật lớn, còn chân thằng Phôn để lên cái bậc cửa. Hai người cùng nhìn lên mái nhà đầy bồ hóng, có một con nhện đang chăng tơ. Ông lão kể lại cho cậu bé truyền nhân của mình những câu chuyện về mường Thái bằng cái giọng gần như trong lễ sửa hồn. Thằng Phôn nhỏm dậy: “Chuyện buồn thế hở ông? Ông kể chuyện vui đi!”. Ông mo lặng yên một lát. “Chuyện mường Thái chỉ là những chuyện buồn thôi cháu ạ… Từ buồn đau, người ta sẽ dễ tìm ra cái lẽ tồn tại của đời người…”. Ông mo lại bắt đầu đưa hai ông cháu vào cái thế giới đói nghèo xưa kia của mường Thái: “Một bà mẹ đi đào củ mài, vì quá mệt và đói nên cắm đầu chết trong hố củ. Đứa con nhỏ ngồi chờ không thấy mẹ dậy cứ gọi mãi, giục mãi mẹ về cho em bú, rồi nó biến thành con chim đêm… Còn người mẹ hóa thành củ mài, hai chân chĩa lên trời thành dây leo cho mọi người nhìn thấy…”.

Thằng Phôn bất giác đưa tay lên chùi mí mắt. Nó nhìn ông mo: “Ông ơi, sao cái đói cái nghèo cứ dai dẳng ở mường Thái ta thế? Cháu được các thầy cô giáo bảo là: việc xây dựng thuỷ điện trên đất này sẽ xoá hết đói nghèo cực khổ, có đúng không ông?”.

Ông mo không nhìn thằng bé.

– Cũng không hẳn là như thế… Với lại, có những thứ còn quan trọng hơn miếng ăn thức uống… Đói thóc gạo, người ta vẫn có thể sống bằng củ mài, cây rừng. Nhưng nếu mất đi phần hồn thiêng liêng, ta sẽ chết mà không về nổi Mường Lò quê tổ, không lên đến được đẳm Đoi, pan Luông[87]

Trong lúc đó, Lao dụi tắt hết than củi trong bếp rồi đi nằm. Chị mở to mắt nhìn mái trần tạm bợ rồi lại quay người ra phía bên ngoài.

Ánh trăng rải những luồng ánh sáng xanh biếc trên những đồ vật ngổn ngang ngoài nền nhà cũ, tạo ra những vệt sáng, tối tương phản. Có một bóng đen trên nền nhà cũ bước đi chậm chạp, nặng nề. Bóng Đin che khuất ánh trăng giây lát trong gian nhà tạm. Đin treo súng lên cây xà chống tạm, rồi anh lao tới chỗ vợ, phũ phàng vần vợ ra. Lao để mặc chồng muốn làm gì thì làm, chị như một tấm gỗ. Ánh mắt Lao vô cảm, vô hồn. Mắt Lao chợt nhắm lại từ từ, đôi giọt lệ ứa ra trên mí mắt… “Em không có thời con gái… Anh là người chồng tốt… nhưng anh không hiểu em nghĩ gì, em muốn gì… Người ta bảo: ba ngày vợ chồng không ăn nằm với nhau hoá thành người dưng… Nhưng thực ra đâu phải vậy… Càng gần gũi nhau càng thấy xa lạ… Anh hết lòng vì gia đình, anh chăm chỉ như con ong thợ… Còn em như một con trâu cái cứ mỗi lần cỏ non mọc lại muốn đi hoang, đi thật xa, thật xa vào các thung lũng ẩm ướt và nồng nàn hương cỏ mật…”.

Bên ngoài, tiếng gà rừng gáy xa xa. Trăng đã tà. Không gian của mường Thái xưa cũ như chìm trong giấc ngủ quên lãng tự ngàn đời.

Thằng bé Phôn đã về từ lâu rồi. Ông mo ngồi trước bếp lửa bắt đầu tàn, vẻ mặt âm u sầu não. Những hình ảnh quá khứ lần lượt trở về tràn ngập hồn ông…

Một đôi nam nữ dắt tay nhau chạy dưới gốc một cây ban già nở hoa trắng. Những cánh hoa rụng rơi như mây như sương vương trên vai, trên tóc cô gái Thái; người con trai ngắm nhìn người tình đắm say.. Ông mo lúc còn trẻ ngồi xếp bằng trước một mâm gỗ bên trên bày các loại thức ăn, mỗi thứ một ít: thịt gà, thịt lợn, thịt dê, thịt trâu, cá suối, cơm xôi, các loại rau rừng… Ông mo cầu cúng và bắt đầu giăng những sợi chỉ màu từ cái mâm về các phía cho những người già, trẻ con đang ngồi xung quanh xem ông làm lễ… Ông bứt những sợi chỉ buộc lên cổ tay cho mọi người để cầu phúc… Một đống lửa to cháy sáng rực cả một đám ruộng trong tiếng chiêng tiếng trống náo động, những đám thanh niên nam nữ đang múa xoè thành những vòng rộng xung quanh dãy chum rượu cần có nhiều người uống. Những cô gái, những chàng trai đang hát giao duyên trong một đám cưới tưng bừng. Cô dâu khuôn mặt buồn bã nhìn phía bờ suối – nơi có người con trai vác bó củi trên vai. Anh ta vứt bó củi xuống đất, chạy theo đám rước dâu. Đôi môi anh mím chặt. Trên dòng suối, một cái khèn bè trôi bập bềnh cùng với những cánh hoa. Khuôn mặt người con trai buồn bã. Đó chính là ông mo thủa xưa. Cặp mắt ông rưng rưng ngấn lệ. Ông lấy một ngón tay gập cong lại chùi mắt. Rồi ông lại đăm đăm nhìn vệt than hồng cuối cùng sắp lụi tắt trong tro tàn. Ông như nhìn thấy ở trong đó dàn cồng, dàn chiêng trống trong ngày hội “sên Mường”, những cuốn sách cổ chữ Thái, những chiếc khaucut nhà sàn vươn lên trời như bàn tay nhái… Tất cả đang từ từ bị dìm trong một làn nước mênh mông… Hai bàn tay ông ôm lấy mặt. Ông khóc rưng rức. Ông cảm thấy chính mình cũng đang bị dìm trong làn nước lạnh.

Dòng sông đang mùa lũ, nước đục ngầu cuồn cuộn. Một chiếc thuyền độc mộc đuôi én – loại thuyền quen thuộc trên sông dữ vùng núi Tây Bắc đang chật vật rẽ sóng tiến lên phía thượng nguồn do một cô gái Thái trẻ cầm sào. Người ngồi trên thuyền là Minh. Vẻ mặt anh bồn chồn khó tả. Núi non hùng vĩ hiểm trở và đầy bí hiểm. Minh nhìn đuôi én gỗ bạc màu trên con thuyền, như lần đầu tiên anh phát hiện ra điều gì đặc biệt.

Khi rời thuyền, Minh hối hả đi như chạy vào một thung lũng hẹp và gạt lau sậy để bước tới ngôi mộ bạn mình.

Anh có vẻ hơi thất vọng khi trên ngôi mộ vẫn là đóa hoa rừng hôm trước, giờ đã héo tàn… Anh bất giác ngó nhìn quanh như tìm một hình bóng quen thuộc. Anh đặt đĩa hoa quả rồi xòe diêm châm hương cắm lên mộ bạn. Rồi anh chắp tay cúi đầu lặng lẽ. “Thắng ơi! Mình sắp phải rời xa công trường này rồi… Phần việc của Công ty đã hết, bọn mình sẽ đến một công trình thủy điện xa hơn… Không biết đến bao giờ mình mới được quay trở lại đất này để thăm cậu…”

Lao ngồi giữa mấy người đàn ông đàn bà Thái. Họ lầm lì nghe Lao nói. Một người già gật gù: “Được! Ta sẽ thay phiên nhau tới chăm mộ kỹ sư Thắng”. Lao chỉ tay lên phía trên bản cũ:

– Các bác các anh chị nghĩ xem: Chúng ta vén lên núi cao kia thì lấy đâu ra nước, lấy đâu đất làm ruộng nương? Và chẳng lẽ Nhà nước lại kéo điện, làm đường chỉ cho riêng mấy nhà chúng ta? – Đin đi đâu về, vai vác cái hủm tre quây cá. Anh dừng lại và nghe được mấy câu cuối của Lao – Còn trường học nữa! Hai đứa trẻ nhà tôi phải nghỉ học mấy tháng nay rồi… Xót ruột lắm! Thế bọn trẻ nhà các bác không kêu ca gì à?

Mặt Đin sầm lại. Anh xồng xộc bước tới, kéo tay lôi vợ xềnh xệch đi. Mọi người chỉ biết nhìn nhau, lắc đầu rồi lầm lũi tản đi.

Lao im lặng để chồng kéo tay về. Đin đẩy vợ thật mạnh vào trong nhà rồi chỉ tay vào vợ.

– Mày muốn đi thì cứ đi đi, mặc bố con tao ở lại! Mày ăn phải bả của cán bộ tái định cư từ bao giờ thế?

Lao cố nhẫn nhịn, mới đầu thì khẽ khàng, nhưng mỗi lúc một hăng lên.

– Tôi cũng như mọi người, có ai muốn rời ngôi nhà với mảnh vườn của mình? Nhưng nước hồ sắp lên! Chạy vén thì được đến khi nào? Sống ra làm sao?… Có thủy điện thì thằng Phôn cái Lét mới thoát khỏi phận con dúi, con mang trong rừng sâu. Mà để có được cái thủy điện ấy, bao nhiêu người phải xa quê hương, gia đình, chịu khổ cực, có người phải bỏ mạng giữa rừng đấy! Còn anh, mấy con cầy con sóc bắt mất hồn đi rồi!

Đin càng nghe càng sôi máu lên. Cơn giận bừng bừng khiến anh mất tự chủ. Anh nhảy đến vợ giống như một con thú dữ, giơ tay tát đánh “bốp” vào mặt vợ. Lao bất ngờ. Chị giơ tay ôm mặt. Đin cũng sững sờ với hành động của mình, bởi đó là một hành động xa lạ với người Thái xưa nay. Lao bật khóc. Chị chạy ra khỏi nhà. Đin thảng thốt nhìn tay mình, rồi nhìn theo vợ. Mặt anh méo xệch.

Lao chạy qua bản cũ hoang vắng. Chị chạy lên rừng. Nước mắt ràn rụa. Dòng suối Nậm Theo hiện ra. Lao ào xuống, chạy trên lòng suối, mặc kệ nước bắn tung tóe lên người. Chị vẫn chạy như để rũ bỏ biết bao nỗi cay đắng, tủi nhục…

Đang chạy trên lòng suối, chợt Lao đứng sững lại nghe ngóng một tiếng động lạ từ phía trên thượng nguồn con suối. Lao thất sắc. Chị vội vã chạy ra khỏi lòng suối, chạy ngược lên phía núi. Là một người đồng rừng, chị biết rõ đôi khi những con vật nhanh nhẹn nhất như hươu, nai cũng không thoát nạn khỏi lũ rừng. Một cơn lũ khủng khiếp ập tới, kèm theo những tiếng động khủng khiếp của lũ muộn. Tuy nhanh chân, Lao cũng bị một dòng lũ cuốn đuổi kịp làm ướt sũng người. Suýt nữa thì Lao bị nước cuốn bay đi. Lao vội túm lấy một rễ cây cổ thụ, giãy giụa khỏi lũ rồi chạy thục mạng ngược lên cao… Một hang đá hẻo lánh xuất hiện. Lao chỉ kịp nhảy bổ vào hang, nước lũ đã đánh ập tới. Lao ngất xỉu đi trong lòng hang vì kiệt sức trong cuộc chạy đua với lũ.

Trong khi đó, cơn dông nặng nề u ám như sắp đổ sập xuống mường Thái Chiềng Sại. Những người ở lại trong bản cũ chạy nháo nhác. “Lũ muộn về rồi!” – “Trâu đã về nhà hết chưa?” – ”Giàng ơi! Con một sừng chắc bị lũ cuốn mất rồi! Hu… hu…”. Tiếng hú hét, tiếng khóc, tiếng hỏi thăm và tiếng chó sủa trộn lẫn với nhau trên nền tiếng động ầm ầm của cơn lũ muộn vùng cao đổ về.

Đin chạy tới từng nhà tạm, nhớn nhác tìm vợ. Mặt anh nhớn nhác và tái mét vì lo lắng. Rồi anh lại chạy ra khỏi bản cũ.

Trong nhà tạm, hai đứa trẻ ôm chặt gối, vẻ sợ hãi trước những tiếng động kỳ quái bên ngoài . Thằng Phôn chợt lẩm bẩm một mình rồi thảng thốt lo sợ: “Tháng… nhặng xanh…” Con Lét bất giác thốt lên, nghe như khóc: “Mẹ ơi!”…

Lao từ từ mở mắt tỉnh dậy. Chị hốt hoảng khi thấy chân tay mình đầy máu và vết cào xước của gai rừng, đá sắc. Chị mò ra cửa hang. Nước lũ đã cuốn đi, để lại rác rưởi, lá khô, cành cây mục, vết bùn nham nhở… Một cảnh tượng tang thương. Chợt ánh mắt Lao dừng lại trước một xác người nằm còng queo như bị mắc lại bởi đá và rễ cây cổ thụ sau cơn lũ lớn. Lao hoảng sợ, kinh hãi. Nhưng chị tự trấn tĩnh lại, bước tới cái xác. Chị lay lay cái xác, rồi lật đầu anh ta lên. Lao thốt lên bàng hoàng: “Cán bộ Minh!”. Quên sợ hãi và mệt nhọc, Lao vội vã kéo kê thân hình Minh vào trong hang đá. Chị lấy hộp dầu con hổ lúc nào cũng phòng thân bên mình và bôi khắp mặt, khắp ngực, khắp lưng cho Minh. Rồi chị vơ lá khô, cành mục vương đầy trong hang, đập hai hòn đá vào nhau tạo lửa… Một đống lửa nhỏ đã được nhóm lên. Đống lửa to dần. Lao kéo dịch Minh tới gần đống lửa… Khuôn mặt tái ngắt của anh hồng hào dần trong ánh lửa. Ánh mắt Lao chăm chú nhìn anh, vẻ chờ đợi và hy vọng… Lao lại tiếp tục vơ củi, lá chất vào đống lửa. Bàn tay Minh bắt đầu động đậy nhẹ. Rồi anh từ từ hé mở mắt. Bóng dáng Lao và đống lửa mờ nhòa trong cái nhìn của Minh… Rồi anh thấy chị nhao về phía mình. Giọng chị thảng thốt lo âu pha mừng rỡ khôn xiết.

– Cán bộ Minh… Kỹ sư Minh!… Anh đã tỉnh lại rồi à?

Lao cuống quýt bên Minh.

– Em ngỡ là lũ đã cuốn mất hồn anh rồi!

Minh cố gắng mỉm nụ cười mệt nhọc.

Lao vạch cây rừng để tìm lá thuốc. Chị vội vã ngắt lá rừng, buộc lại thành túm bằng dây rừng, rồi rút con dao rừng lúc nào cũng đeo bên hông chặt một đoạn ống vầu tươi… Lao lội ra suối, chị lấy cái hủm tre cũ của ai đó bỏ lại, khuân đá rồi chặn suối bắt cá… Không đầy một giờ sau, trên vai Lao đã là một bó củi khô mục, còn tay chị cầm xâu cá suối, bó thuốc lá, ống vầu. Chị bước vào hang. Trời vừa sập tối.

Lao xiên các con cá vào những thanh tre rồi đặt lên đống lửa. Ống vầu cũng dược đặt trên đống lửa. Minh cố ngồi dậy, dựa người vào hòn đá tảng. Anh nhìn Lao với vẻ mến thương, biết ơn trìu mến. Bắt gặp cái nhìn đó của Minh, Lao bối rối xấu hổ cúi gằm mặt xuống. Rồi chị đưa một con cá nướng cho Minh.

Minh nói bằng tiếng Thái:

– Kin pả (ăn cá)…

Lao chợt cười nhẹ, hồn hậu.

– Úi! Cán bộ biết cả tiếng Thái!

– Ít thôi… Bạn tôi, kỹ sư Thắng biết nhiều hơn!

– Anh nhớ anh ấy lắm phải không?

Minh nhẹ gật đầu. Anh giật mình nhìn lại cái túi dết đeo bên mình, vội mở ra. Những giấy tờ nhão nhoét. Mấy bức ảnh dính chặt vào nhau. Minh gỡ ra từng thứ, đặt phơi lên mặt đá phía sau lưng. Lao giúp anh phơi. Minh cầm một tấm ảnh lên, chỉ cho Lao:

– Đây là gia đình kỹ sư Thắng.

Một người thanh niên khỏe mạnh, đẹp trai, tươi cười chụp cùng cô vợ xinh xắn và một bé gái lên 3. Lao chăm chú nhìn ngắm.

– Cô ấy định năm nay đưa con gái lên thăm, rồi chuyển hài cốt anh Thắng về quê…

Lao từ từ ngước nhìn Minh. Mắt chị rơm rớm ướt. Rồi như để che giấu cảm xúc của mình, chị lại cầm một bức ảnh khác. Một cậu con trai lên 8 tuổi, vẻ mặt ngây thơ, nhưng nghiêm nghị, hơi buồn. Lời Minh: “Con trai đầu tôi đấy!”.

– Chắc bằng tuổi con gái út của em! Còn chị ấy… chắc xinh đẹp lắm! Ảnh của chị ấy đâu?

Minh nói sau một lúc im lặng:

– Cô ấy đã đi theo một người đàn ông khác… Cháu bây giờ gửi ông bà nội…

Lao nhìn vẻ đầy thương cảm.Chị lấy ống vầu ra, mở nút lá rồi đặt trước mặt Minh.

– Thuốc lá chữa tụ máu của người Thái đấy, tốt lắm!

Đin bước vào nhà. Hai đứa trẻ nhao nhao.

– Mẹ đâu hở bố?

– Sao đến giờ mẹ vẫn chưa về?

Chợt thằng Phôn thần mặt ra, nó lẩm bẩm.

– Nhặng xanh… lũ muộn…

Đin mắng át:

– Nói nhảm! Hai đứa ngủ đi!

Rồi Đin lấy đèn bão ra, châm lửa rồi bước ra bên ngoài. Dáng anh liêu xiêu tội nghiệp. Chiếc đèn bão loang loáng giơ lên giơ xuống. Giọng Đin lạc hẳn đi:.

– Lao! Lao ơi! Mình ơi!…

Đin đi vật vờ khắp bản cũ, rồi bước vào rừng suối. Hơn chục ngọn đuốc cháy sáng rực một đoạn suối, những tiếng gọi tên Lao vang lên khấy động thung lũng mường cũ nghèo khó, vắng lặng. Mặt con suối chợt vỡ vụn ra thành muôn mảnh bạc lóng lánh khi bước chân Đin giẫm xuống.

Đin thẫn thờ đi dọc suối, gào lên: “Mình ơi!… Lao… ơi!…”

Lao nhìn ra bên ngoài cửa hang. Trăng sáng vằng vặc.Chị nói khẽ, như nói cho chính mình:

– Cơn lũ muộn đầu tiên qua rồi…

Minh chăm chú:

– Sao lại gọi là lũ muộn?

– Tên một loại lũ ở vùng núi chúng em đấy! Vài ba năm mới có một lần, không đoán trước được… Nó hung dữ, tàn ác lắm!…

Minh đăm chiêu:

– Lũ muộn… Hay nhỉ!… Cứ mỗi lần đi lang thang vào bản, tôi lại được học thêm một điều mới lạ… À! Mà tôi đã kể cho Lao nghe rất nhiều về cuộc sống riêng của tôi. Đến lượt Lao kể về Lao đi!

Lao nhìn ngọn lửa bập bùng, khẽ thở dài. Lát sau chị mới thì thầm.

– Có gì mà kể, anh!… Đời người con gái một gang. Đời người đàn bà thì trăm dặm. Một gang thì bay bổng. Trăm dặm thì chìm nổi trôi dạt… Ngày ngày lên nương, xuống ruộng, về nhà bếp núc, làm vườn, chăm lo con cái xong thì cạn sức… Đời này qua đời khác đều thế cả… Người đàn bà Thái khi đã có chồng thì ước mơ trôi xuống thác, đắm dưới vực sâu…

Minh chết lặng nghe Lao nói.

Bóng hai người in trên vách hang chập chờn. Họ cứ ngồi đối diện bên nhau và bên đống lửa như thế để trò chuyện, không để lửa tàn.

Ngoài hang, trời hửng lên. Lao thảng thốt nhìn ra bên ngoài.

– Chết thôi! Hết cả đêm rồi! Em không để anh nghỉ ngơi, anh mệt lắm đấy!

Minh lắc đầu:

– Không đâu! Nghe chuyện của Lao, tôi như được sống lại… Tôi có thêm sinh lực mới… Tôi rất biết ơn Lao!

Lao vẻ ngượng ngùng:

– Chuyện của em toàn chuyện buồn của mường Thái thôi mà… – Rồi chị đứng lên – Em không về sau cơn lũ, chắc mọi người đang lo lắng lắm! Ta đi thôi anh!

Minh đứng lên, nhưng anh bỗng ngã lăn ra đất, mặt mũi xanh xám. Anh ôm chân, mặt mũi nhăn nhó. Lao hoảng hốt:

– Thôi chết! Anh bị cảm gió rồi! Để em đánh gió cho!

Lao tháo cái xà tích bạc đeo ở lưng ra cùng hộp cao con hổ ra, vén lưng áo Minh lên và đánh gió cho Minh.

– Hay là thế này! Em ngược sông lên công trường, báo cho đồng đội của anh biết, họ lên đón anh!

– Vậy thì phiền cho em quá!

Lao cương quyết:

– Anh chưa khỏi cảm, lại còn cái chân thế này! – Lao vén ống quần Minh lên – một vệt thâm tím kéo dài – Anh nói địa chỉ đi!

Minh lưỡng lự giây lát rồi đành gật đầu.

– Thôi được! Tôi ở Công ty Cổ phần 137…

– Em cũng muốn có dịp được nhìn công trình thủy điện!

Lao đứng lên và bước nhanh ra cửa hang. Minh nhìn theo. Anh chợt nhớ ra, gọi giật

– Cô Lao! Cô cầm tiền để đi thuyền này, tiền đi xe ôm về Công ty nữa!

Lao bần thần rồi quay lại cầm tiền. Chị đi ra bãi sông ngóng đợi. Một con thuyền mui chạy bằng máy Coler thấy người vẫy ghé vào. Trên thuyền là những người dân Thái, Khơmú, Dao, Kinh ngồi chặt, hỗn độn cùng các hàng hóa nông lâm sản. Lao vừa ngồi xuống một lát thì thuyền nổ máy chạy. Lao nhìn về phía mình vừa rời xa. Chẳng mấy chốc, bãi cát đã biến mất và nhường chỗ cho nước sông dữ đỏ ngầu và núi non hiểm trở ngút ngàn.

Thuyền dừng bến, tàu thuyền san sát chật cả một đoạn sông Đà. Bến nham nhở sỏi đá bởi mìn phá đá. Bên kia sông đã là địa phận công trường thủy điện, cần cẩu, xe ben đang hoạt động tấp nập. Lao đi khỏi thuyền, bước lên bến. Mấy anh xe ôm chạy theo săn đón. Lao lắc đầu quầy quậy từ chối.

– Không có tiền đâu! Cho hỏi thăm đường tới Công ty 137.

Một anh lái xe ôm chỉ tay, rồi nói đường tỉ mỉ cho Lao. Lao đi bộ lếch thếch trên con đường đầy bụi của công trường. Thỉnh thoảng một chiếc xe ben chạy qua tung mù bụi. Lao lấy khăn piêu che miệng một đoạn dài… Lao đi qua mấy cái cổng công ty. Chị dừng lại trước cổng đề: “Công ty Cổ phần 137”. Chị ngần ngừ giây lát rồi quyết định bước vào. Một loạt phòng: Giám đốc, kỹ thuật, kế toán… đều đóng cửa. Lao ngẩn người, không biết làm gì. Một chị công nhân đi ngang qua sân. Lao bước tới.

– Chị ơi! Công ty không làm việc à?

Chị công nhân nhìn Lao một lát:

– Hôm nay Ban giám đốc đi họp trên Tổng Công ty hết rồi. Chị cần gặp ai?

– Còn các kỹ sư?

– À! Họ đi dự đám cưới ngoài thị trấn Mường La hết rồi! Chị tìm ai?

Lao lúng túng cảm ơn rồi đi ra. Lời chị công nhân đuổi theo:

– Công ty đang chuẩn bị di chuyển đến nơi khác đấy!

Lao đi trên thuyền độc mộc đuôi én ngược về bến cũ. Vẻ mặt chị bồn chồn. Tay chị khư khư ôm chặt cái túi nilông đựng mấy quả cam.

Bước chân Lao gấp gáp đi về phía bản cũ. Chị tìm đến lán canh nương cũ đã lâu không ai dùng tới, cách xa bản. Chị vào trong lục lọi, lấy ra mấy bắp ngô còn sót lại, cái niêu đất, cái bát con sứt, cái ếp to cũ kỹ. Chị cho tất cả vào ếp, đeo lên vai rồi hấp tấp bước đi. Chi rẽ vào cái cối giã hoang bằng chân nằm ở cuối bản…

Minh nằm dài trên hòn đá tảng, lấy hai tay gối đầu. Mắt anh mở to nhìn trần hang… Đôi mắt trong ngần long lanh lúc nào cũng như ngấn nước và nụ cười hồn hậu của người đàn bà Thái ẩn hiện trong tâm hồn anh.

Bóng Lao thấp thoáng ngoài cửa hang. Minh gượng ngồi hẳn dậy, vẻ mừng rỡ…

Những nhũ đá long lanh nhỏ nước thánh thót, tạo nên một chiếc vũng trong vắt. Đống lửa bập bùng. Lao múc bát cháo ngô còn bốc hơi ngùn ngụt đưa cho Minh, có chiếc thìa được gọt vội bằng thanh tre tươi.

– Không có rượu, không có thịt, anh ăn tạm…

Minh cầm bát cháo

– Lao đã ăn gì ngoài huyện chưa?

– Anh ăn trước đi, rồi em ăn sau. Người Thái có câu: Con gái không biết mệt, không biết đói. Trẻ em không biết rét mà!

Minh xúc ăn ngấu nghiến. Lao ngồi nhìn anh ăn.

– Em định chạy qua nhà lấy đồ ăn tử tế, nhưng sợ anh đợi lâu bị đói, bị khát…

Minh đang ăn thì nghẹn lại. Anh dừng bát, nhìn Lao, mắt anh rân rấn nước.

– Lao ơi! Sao em đối xử tốt với tôi thế?

Lao hơi cúi đầu:

– Nghe anh kể về những người làm thủy điện, em thấy thương lắm… Kìa, anh ăn nữa đi cho lại sức.

Minh chơm chớp mắt. Anh ăn vội cho hết rồi lê tới niêu định múc. Lao giằng lấy.

– Để em múc thêm cho anh!

– Anh không ăn nữa! Anh múc cho Lao!

Nghĩ thế nào, Lao ngồi im nhìn Minh vụng về múc cháo bằng muôi gốc tre, chị nghẹn ngào cảm động. Khi Minh đưa bát cháo cho Lao, nước mắt chị chợt lăn ra đôi giọt. Minh hốt hoảng, anh nhìn gần vào vẻ mặt Lao

– Có chuyện gì thế Lao?

Lao sau một lúc lặng thinh rồi mới lắc đầu, gượng mỉm cười:

– Không, không có gì đâu ạ!

Minh cười nhẹ:

– Lao ăn đi!… Con gái Thái không biết mệt biết đói là vì chuyên nhường nhịn cho người khác, chuyên giành hết việc vào cho mình… Có đúng vậy không?

Lao mở to mắt nhìn Minh như thảng thốt.

– Sao, tôi nói sai à?

Lao ngoảnh đi. Lát sau, vai chị rung lên thổn thức. Minh lo lắng, hoảng sợ. Anh lê tới gần Lao, nhẹ đặt bàn tay lên vai chị. Và thế là Lao bùng khóc nức nở, khóc như chưa bao giờ chị được khóc.

Minh cũng nghẹn ngào, anh vuốt ve lưng vai chị một cách dịu dàng. Anh thầm thì:

– Anh hiểu! Anh hiểu!… Anh kính trọng em… thương em…

Hồi lâu cứ như thế. Cơn sốc tình cảm ở Lao qua đi. Chị lau sạch nước mắt nhìn Minh:.

– Anh ơi! Kể từ lần đầu gặp anh, em thấy mình như là người khác ấy… Em tựa như cơn lũ muộn cuốn cả em đi…

Lao bỗng cất lời hát bằng tiếng Thái. Mắt cô long lanh khiến Minh nhìn ngắm mê mẩn.

Anh như cây tràm bờ suối, em như đóa hoa rừng

Đã yêu nhau từ thuở trăng tròn, tình không bao giờ nhạt phai

Đôi ta như lúa nếp thơm, bên nhau trọn đời,

dù nghèo khó vẫn không rời

Minh ngơ ngẩn cả người:

– Anh không hiểu gì… Nhưng nghe giọng em, anh biết là hay lắm! Và say đắm nữa… Nỗi niềm của một người đàn bà đang yêu, phải không?

– Vậy thì em khỏi phải giải nghĩa cho anh nữa!

Bất giác, Lao xổ tung mái tóc đang búi tằng cẩu thành suối tóc óng ả, rồi Lao vùi cả mặt mình vào lồng ngực Minh. Chị thầm thì:

– Anh ơi! Giờ đang là mùa của đàn trâu đi hoang, mùa của những cơn lũ cuối cùng… Cái mùa đàn ông như tàu lá héo khô, còn đàn bà như rượu cần đã ngấu. Người mường Thái em nói vậy đấy!

Minh nhìn ngọn lửa, mắt anh buồn tê tái. Anh vuốt ve mái tóc Lao. Đêm xuống. Ngọn lửa vẫn cháy đượm từ những gộc củi lớn. Họ nằm bên nhau trên nệm lá tươi, tay kề tay, má áp má, say đắm nồng nàn. Lao nói như trong hơi thở.

– Mẹ em ngày xưa vẫn hát: Ta yêu nhau ở trong lều nương không có vách, ta cởi áo làm vách. Ta thương nhau ở lều ruộng không có sàn, ta cởi áo làm sàn… Giảng nghĩa xong cô nói – Giờ thì em mới thực thấm câu hát.

– Anh có đang nằm mơ hay không? – Minh nói trong hơi thở nhẹ. Lao cầm lấy bàn tay Minh rồi chị lại hát:

Ngủ mơ nghe tiếng hát

Ngủ mơ nhìn thấy nhau

Mơ thấy anh kề sát

Cùng nắm tay nghiêng đầu

Chăn chia đôi em đợi

Em đợi chờ anh trong mơ…

Có khi em sẽ bỏ chồng về nương tựa nơi mình.

Hát xong, Lao dịch lại từng câu cho Minh nghe. Minh ôm choàng lấy thân hình nồng nàn của Lao.

– Em có làm như câu hát cuối không?

Lao im lặng. Chị khẽ nhích ra khỏi bàn tay ôm ấp của Minh.

– Anh ơi! Người con gái Thái có chồng rồi thì không được chơi bời ngoài bản, nhưng họ vẫn thầm yêu trộm nhớ… Họ giống như con trâu cái, cứ mỗi lần cỏ mọc lại muốn đạp bỏ cái chuồng chật chội để đi hoang, đi thật xa vào các thung lũng ẩm ướt ngập hương cỏ mật…

Đôi môi Minh đã ghé sát trên tóc, rồi trên mi mắt Lao.

– Anh thấy mùi cỏ mật ở khắp người em!

Rồi anh ôm ghì, xiết chặt lấy Lao. Chị rùng mình, run rẩy, hai mắt từ từ nhắm lại vì hạnh phúc… Hàng cúc mắc pém đều đặn hiện ra trước mắt Minh như đàn bướm bay lượn. Anh thận trọng cởi từng chiếc cúc bướm bạc trên áo cóm người đàn bà. Đôi vú trắng ngà, nở nang săn chắc chợt lồ lộ. Minh vùi cả mặt mình vào đó. Anh hít thở mùi chàm, mùi mồ hôi, mùi lá rừng, và mùi của cả một vùng Thái lam lũ giờ đã trở nên thân thiết chừng nào đối với anh! Đôi bàn tay anh lần đến đôi hông người đàn bà vốn được khít chặt bởi tấm váy lụa tạo ra những đường cong tuyệt mỹ… Lao chợt tháo tung chiếc xà cạp màu nõn chuối, và kéo tụt cả tấm váy khỏi thân để người đàn ông tự do xâm nhập vào toàn bộ cơ thể nóng ran của mình… Họ lăn lộn ôm nhau trên nệm cỏ tươi lá tươi. Lao rên rỉ:

– Anh ơi! Em đã giẫm lên gai mà trộm yêu thương anh rồi!

– Em chưa trả lời anh… Em có làm như câu hát cuối ấy không?

Lao giơ tay lên che miệng Minh. Mắt chị ứa ra những giọt lệ buồn trĩu. Minh gỡ tay chị ra. Anh thốt lên những điều tận đáy lòng:

– Hãy đi với anh! Gia đình anh đã tan nát… Em cùng về quê anh, chăm sóc hai con em và con anh, trong một mái nhà yên ấm… Em sẽ không bao giờ phải buồn khổ nữa! Trả lời anh đi!

Sau một lúc lâu im lặng, Lao mới thầm thì trong nước mắt:

– Anh ơi! Gái đã có chồng như bị trói, gái có con như nhựa dính… Em cũng muốn làm theo lời ông em: đi suối nào phải đến tận ngọn của suối ấy! Nhưng em đang ở cái cảnh: cúi xuống cũng sai, ngẩng lên cũng trái, lỗi chỉ bằng con muỗi, quay phắt lại thành con trâu mất rồi! Tình yêu của em chỉ là một cơn lũ muộn… Hại anh, hại cả em!

Minh từ từ ngồi dậy, hai tay ôm mặt đau đớn.

– Em không nỡ từ bỏ cái cuộc sống mòn mỏi của người phụ nữ Thái ư?

Lao buồn thiu. Và chị nói ra những lời như người khác nói hộ:

– Chồng em là người tốt… Em không yêu, chưa hề yêu, nhưng em thương người ta…

Minh ngồi lặng tê tái. Lao dịu dàng ngồi lên ghé sát người Minh.

– Em biết là yêu thương nhau thế này, chúng mình đều gặp hạn khổ đau cả… Nhưng hạn của em chỉ là bầu nước đổ, còn hạn của anh tựa cơn mưa lũ… Đời người kiếp này em gặp được anh là quả ngọt, là ánh trăng đêm tháng ba… Người đàn bà Thái khổ lắm, không có tình yêu, không được yêu… Nhưng được anh yêu thế này, em dẫu có chết cũng không ân hận nữa…

Nói xong, Lao tuôn trào nước mắt. Minh cũng không cầm được lệ, anh lại ôm choàng lấy vai Lao. Rồi anh chấm nước mắt cho chị, trong khi mắt anh cũng nhòa ướt.

– Lao à! Anh hiểu và tôn trọng những ý nghĩ của em. Anh không nỡ nài ép thêm… Vài ngày nữa, anh sẽ phải rời xa sông Đà… Biết bao giờ được gặp lại em, dòng suối đầu nguồn của anh?!

Bóng hai người bập bùng ngồi ôm nhau thủ thỉ tâm tình in hằn trên hang đá.

Mặt trời đã rọi tia nắng đầu tiên vào hang. Những con chim ăn đêm về muộn bay chập choạng trong ánh ban mai loé rạng Hai người nắm chặt tay nhau lần cuối, nhìn nhau đắm đuối rồi cùng bịn rịn bước ra khỏi hang. Họ quàng vai nhau đi một đoạn dài. Chân Minh còn khập khiễng. Tới chỗ rẽ ra bến sông Đà, hai người dừng lại. Minh nghẹn ngào nuốt lệ

– Anh sẽ rất nhớ em…

– Em cũng thế… Nhìn trăng, em nhớ anh! Nhìn hoa rừng, em nhớ anh! Cứ lúc buồn em lại nhớ anh!

– Em và gia đình nhanh chóng lên bản mới nhé, để ổn định cuộc sống. Mong em sẽ có hạnh phúc thật sự…

– Còn anh cũng tìm được hạnh phúc mới nhé! Em hứa sẽ vận động những người còn lại sớm rời bản cũ.

Minh xiết chặt tay Lao. Minh chợt nhớ ra.

– Em hát lại cái bài hát hôm qua đi!

Lao gật đầu. Và cô hát lại bài Em đợi chờ anh trong mơ…

Lao cúi xuống ngực cắn đứt một chiếc cúc lớn giả bạc đưa cho Minh. Chị tháo một sợi trên chiếc khăn piêu, chỗ bị lỗi, rồi buộc vào cổ tay Minh .

– Em chúc phúc cho anh… Anh đừng bao giờ quên người đàn bà Thái tội lỗi này nhé!

Minh kín đáo gạt lệ.

– Vĩnh biệt em!

Nói rồi, anh quay người đi như chạy trốn. Có chỗ anh vấp ngã, rồi anh lại vội đứng lên. Lao đứng lặng nhìn theo hồi lâu, nước mắt rơi lã chã. Rồi chị nặng nhọc đi về phía bản cũ.

Chợt Lao đứng sững lại. Có một cái gì đó đổ vỡ trong chị. Chị không đủ sức lực để quay lại bản cũ. Nỗi xót xa ân hận dâng đầy trong mắt chị. Và còn hơn cả nỗi ân hận, một sự thức tỉnh nguy hiểm đang cuốn chị đi nhanh như cơn lũ ống. Lao quay ngược trở lại ra suối, ngồi thụp xuống nhìn dòng nước vẫn còn ngầu đục sau trận lũ. Rồi chị đi lang thang ra bờ dòng sông Đà cuồn cuộn. Phía thượng nguồn mù sương, tịch mịch. Rồi chị quay đầu nhìn về phía những bản mường cũ vắng lặng ở bên sông vì đã di rời từ nhiều tháng nay… Lao chậm rãi cởi chiếc khăn piêu, chiếc xà tích bạc ra, đặt lên một hòn đá. Rồi chị bước ra sông trầm mình.

Dòng nước lũ cuốn Lao đi ngay lập tức. Nhưng cũng chính lúc đó, lời hứa vừa nãy với Minh ập về với chị như một mệnh lệnh: “Em hứa sẽ vận động những người còn lại sớm rời bản cũ…” Lao cố vẫy vùng để thoát khỏi dòng lũ.

Trên con thuyền đuôi én chạy máy coler xuôi về công trường, cặp mắt Minh mờ lệ nhìn ngóng mãi ở một điểm ở phía thượng nguồn. Lời bài hát từ miệng Lao văng vẳng bên tai anh Em đợi chờ anh trong mơ…

Một người đàn ông vội vã bước tới nhà Đin – Lao. Tay ông ta cầm vật gì đó vo tròn.

Thằng Phôn, con Lét đang giở cuốn sách giáo khoa cũ ra nhìn, chỉ cho nhau xem, vẻ nuối tiếc. Đin đang chẻ lạt đan hủm quây cá. Người đàn ông bước vào, đưa cho Đin vật cầm ở tay.

– Mày nhìn xem, có phải của vợ mày không? Ngoài bến sông đấy!

Đin cầm chiếc khăn piêu giở ra, bên trong có chùm xà tích bạc đeo những ống kim và cái vuốt gấu bịt bạc. Anh giật bắn mình, nhìn thật kỹ chùm xà tích. Hai đứa trẻ cũng sán tới nhìn. Con Lét cầm khăn lên, rồi chợt kêu to:

– Đúng cái khăn piêu của mẹ rồi! Có một lỗi dệt đây này!

Đin sững sờ đánh rơi chiếc khăn xuống đất. Hai đứa trẻ khóc òa lên, gào “Mẹ ơi!”…

Đêm về. Giữa căn nhà tạm là một chiếc nệm mới bông lau được trải ra. Đầu nệm là chiếc khăn piêu được gấp cẩn thận. Giữa nệm là bộ váy áo cóm còn mới của Lao được trải dài theo thân nệm. Ông mo Sáy cầm cái màn đen chập hai dây làm một, căng theo dọc nệm và che lên bộ váy áo như trùm kín thi hài. Rồi ông quay lại hỏi Lét

– Trứng và xôi có chưa?

Con Lét nước mắt đầm đìa, nức nở đem ra một quả trứng gà và một bát xôi.

Ông mo cầm bát xôi, quả trứng đặt xuống phản. Ông nhón một vốc xôi và nắm lại to cũng bằng quả trứng gà. Rồi ông mở túi “hồn” lúc nào cũng đeo bên mình làm bằng da nai sờn cũ , lấy ra một miếng vải chàm và mấy gói nhỏ làm sẵn. Ông thấy thằng Phôn đứng khóc ở góc nhà, ông vẫy tay gọi nó lại.

– Này cháu, chưa lễ Tức, nghĩa là chưa báo Then có người chết thì không được làm náo động trời đất… Cháu hãy xem kỹ việc cúng hồn theo tục lệ, sau này cháu phải thay ta mà!

Thằng Phôn ngoan ngoãn ngồi xuống cạnh ông mo. Nó vẫn còn thổn thức. Ông mo chỉ tay vào 9 gói nhỏ, mở ra một gói.

– Đây là 9 gói bạc chặt từ một đồng bạc trắng, cùng xôi, trứng này là thức ăn đường và lộ phí của vong hồn mẹ cháu – Ông vừa nói vừa gói tất cả 9 gói nhỏ và xôi lẫn trứng vào tấm vải chàm, buộc túm lại. Sau đó ông tìm cách treo lên xà, phía ngực chiếc áo cóm. Rồi ông chỉ vào phía cuối nệm – Theo lệ cũ, lẽ ra phải có một con vịt chặt đầu treo bên chân thi hài, gọi là pết khảm Khái, tức là vịt để vong hồn cưỡi vượt sông Ta Khái lên trời…

Đin bước vào nhà, tay cầm một cây gậy dài vót nhọn đầu như cây giáo, buộc mảnh vải đỏ ở cổ giáo thả hai đầu xuống thành tua. Đin đưa cho ông mo Sáy. Ông cầm thanh giáo giả, nhìn lên, miệng lẩm bẩm rồi chọc thẳng mái nhà tạm, ngay phía trên chiếc khăn piêu gập. Ông mo bảo với Đin: “Buộc cán giáo lên xà!”. Đin loay hoay làm theo. Rồi ông mo quay sang Phôn và Lét: “Các cháu lấy một súc vải, một súc khuýt và đĩa trầu cau ra đây!”. Ông cũng ngó nghiêng tìm một cái rổ to ở bếp. Rồi khi bọn trẻ mang đủ mấy thứ ra, ông cho cả vào rổ, đặt cạnh bộ váy áo cóm. Ông đưa cho thằng Phôn chiếc kiếm nhỏ để trần đã bắt đầu rỉ .

– Cháu hãy quỳ bên thi hài giả của mẹ cháu, gọi to ba lần: “Mẹ ơi!” rồi nói: “Mẹ tôi đã chết rồi!” Sau đó cháu cầm kiếm vào bếp lửa, chém vào gác bếp, nghe chưa?

Thằng Phôn làm theo. Đin cũng kêu lên thống thiết, bi ai:

– Vợ tôi đã chết rồi!

Ông mo cầm cái rổ ra khỏi nhà. Ông quay vào, ra hiệu cho thằng Phôn tới. Ông chỉ tay vào bàn thờ gia tiên tạm bợ, tại đó có cả một phên vách nhỏ có lỗ vuông nhỏ ở giữa treo lưng chừng.

– Cháu chém rời cái pha hóng kia xuống đất!

Phôn làm theo.

– Bây giờ các cháu khóc thương được rồi! – Ông mo ra lệnh.

Chỉ đợi có thế, hai đứa trẻ òa lên khóc tức tưởi. Đin cũng gào lên thống thiết.

Ngọn nến lớn làm bằng sáp ong đang cháy trước đầu nệm. Mấy bố con Đin mặc đồ tang trắng. Đin và con Lét ngồi quanh nệm. Ông mo Sáy ngồi trước đầu nệm, quyển Xán xông ( Khóc tiễn đưa hồn ) đang mở. Thằng Phôn vai đeo một túi vải lớn, tay nắm tà áo ông mo. Giọng ông mo buồn thương, thê thảm, bi ai, ông làm thay công việc của những ông chang, ông nghè vốn là người giúp việc cho mo mường trong hoàn cảnh này: “khắp hảy phi tai” (hát khóc người chết): Hết đời người mình mới lên trời/ Mình yêu mường trời hơn mường người/ Con côi ngấn mắt đau thương/ Giương mắt ngóng!…/ Tưởng nên vợ nên chồng, rồi bỏ/ Tưởng nên tình nằm bên, chia lìa!… Thằng Phôn, con Lét nước mắt lưng tròng, nhưng chúng cố không khóc thành tiếng khi ông mo “khắp” Xán xông.

Một ngôi nhà mồ Thái với cây nêu cao và những lá cờ phướn nhiều màu mới được dựng lên. Trong nhà mồ đặt mấy nắm xôi, con gà, quả trứng luộc. Con Lét đặt vào cái xa kéo sợi của mẹ nó. Đin cầm khèn tam-lay thổi điệu tiễn biệt ai oán buồn thương. Mấy người hàng xóm đứng ngoài nhà mồ, mắt họ rưng rưng. Rồi họ lục tục kéo ra về, để mấy bố con Đin và ông mo ở lại với tiếng khèn tam-lay quẩn quanh ngôi nhà mồ, giữa rừng ma vắng vẻ lạnh lẽo…

Núi rừng yên tĩnh, mặt trăng muộn vẫn tỏa sáng một thứ ánh sáng dịu dàng. Một bóng người ra đi từ rừng già đến bên bờ suối, con suối chảy cắt ngang con đường về bản. Đó là một người đàn bà. Chị ta đến bên bờ suối ngồi lặng lẽ rồi đứng dậy cởi váy áo, mái tóc dài buông xuôi trên thân hình tuyệt đẹp. Không thể nhìn rõ mặt. Người đàn bà từ từ lội xuống làn nước, mặt nước lấp lánh ánh bạc vỡ vụn…

Có tiếng chân bước, rồi ánh đèn lấp loáng từ phía bản cũ đi tới. Người đàn bà lội trở lại bờ, ôm váy áo lách vào bụi cây ven suối. Lát sau, Đin đeo đèn đi săn đi từ bản thẳng tới hướng rừng cây – nơi có cây đa cổ thụ, đến chỗ đoạn suối, nơi có người vừa tắm. Như có linh tính, anh ta dừng lại. Sau đó, vốc nước tưới vã lên mặt rồi xách súng, bật đèn, lội suối đi sang bờ bên kia, nơi có những cây đa đầy quả chín đang vọng lại tiếng những con thú rừng đi ăn đêm…

Thằng Phôn, con Lét đi về phía cuối rừng ma để trèo lên nói. Thằng Phôn tay cầm cái thuổng, con Lét đeo cái ếp nhỏ.

Chợt thằng Phôn kéo tay em lại, chỉ tay về một chỗ rậm rịt cây dại, dây rừng. Hai đứa thận trọng đi tới ngó xuống. Cả một vực khá sâu hiện ra trước mắt chúng nó. Phôn cầm một hòn đá ném xuống. Hòn đá nảy tưng tưng vượt qua những mỏm đá, những rễ cây và dây leo rồi mất hút dưới đáy vực. Hai đứa bắt đầu trèo lên một ngọn núi đá.

Ở một vạt rừng thưa, nép bên vách đá xám cao ngút, chằng chịt dây leo, gần một hốc đá, thằng Phôn đang hì hục đào bới gì đó cạnh gốc cây to bằng cái thuổng. Con Lét quần áo rách rưới bẩn thỉu ngồi cạnh nhìn anh làm, cái ếp nhỏ bằng tre đeo lủng lẳng trên cổ nó như cái mõ trâu. Thằng Phôn vẫn mắm môi đào bới như một con dúi, lúc này chiếc thuổng đã vứt bên trên cái hố, nó chúi hẳn nửa người xuống hố. Bỗng thằng Phôn kêu to.

– Lét, giúp anh đi!

Con Lét bò tới, túm lấy một chân thằng anh rồi ra sức kéo. Sau một hồi vật lộn, thằng Phôn đã ra khỏi được hố với một đoạn củ mài to bằng bắp chân trẻ con. Hai đứa trẻ cười sung sướng trên gương mặt nhem nhuốc. Thằng Phôn cho đoạn củ mài vào ếp của em gái, rồi lại mò xuống hố lần nữa…

Trong hốc đá, một đống lửa nhỏ đã được nhóm lên từ lá khô, củi khô. Thằng Phôn lấy ra một đoạn củ mài cho vào lửa nướng. Con Lét nhìn thèm thuồng, trông nó vừa mệt vừa đói. Thằng Phôn nhìn em.

– Ông mo kể: Một bà mẹ đi đào củ mài, vì quá mệt và đói nên cắm đầu chết trong hố củ. Đứa con nhỏ ngồi chờ không thấy mẹ rồi nó biến thành con chim đêm… Còn người mẹ hóa thành củ mài, hai chân chĩa lên trời thành dây leo… – Nó đưa đoạn củ mài nướng cho emaionghe chuyeeboo – Hôm nay đào củ mài, anh bỗng nhớ mẹ quá!…

Con Lét bắt đầu rân rấn nước mắt, tay cầm đoạn củ mài nhìn xuống.

– Thôi em ăn đi rồi về kẻo bố mong đấy!

Chợt con Lét khóc òa lên, thổn thức.

– Mẹ ơi!

Thằng Phôn dụi mắt, nó cũng sắp khóc, mắt đỏ hoe.

Hoàng hôn buông xuống núi rừng. Cối gạo nước gần bờ suối được làm dưới một mái lá sơ sài, có lẽ đã từ rất lâu không làm công việc của mình. Thằng Phôn dùng lá cỏ lau sạch cái cối mốc và bụi, rồi nó bắt đầu cho nước chảy vào máng đổ xuống chân cối. Con Lét đổ thóc vào cái cối. Một âm thanh nặng nề vừa quen vừa lạ phát ra từ cái cối gạo nước. Con Lét nói với anh.

– Đã từ lâu, em không được nghe tiếng cối giã gạo.

Thằng Phôn tư lự cầm cái xúc cá và mấy cái giỏ đi xuống suối, con Lét cũng đi về hướng những đám ruộng cũ ven bờ suối để nhặt rau dại. Đằng sau chúng, cái cối gạo vẫn phát ra âm thanh cũ kỹ và nặng nhọc…

Bên dòng suối, bố con Đin đang hạ tấm mành tre chắn cá được quây thành vòng tròn trên các đoạn cây tre cắm xuống nước. Những nhánh cây chà gai, những cục đá to được xếp từ trước thành một đống, bây giờ được hai bố con ném ra ngoài phên tre. Chốc chốc, một vài con cá bị đánh động bay vọt lên khỏi mặt nước.

Mặt trời đã bắt đầu lên cao, hai bố con mê mải bắt cá. Chốc chốc thằng Phôn lại reo to và thích thú khi hai bố con bắt được một con cá to…

Trên một thửa ruộng cũ sát bờ suối, cách chỗ hai bố con đang bắt cá vài chục mét, con Lét đang mê mải nhặt rau ruộng. Nó đi dần ra chỗ mép nước. Bất giác, nó cảm thấy như có ai đang nhìn. Nó từ từ quay lại nhìn xung quanh. Nhưng chỉ có mấy bụi cây gai mọc lúp xúp đang phất phơ trong gió.

Mặt trời bắt đầu nắng gắt, bầu trời trong xanh không một gợn mây. Con Lét bỗng nhiên nhìn xuống mặt nước. Lẫn giữa bóng cây, nó nhìn thấy một người đàn bà đội khăn trùm đầu đang đứng cách đó không xa và lặng lẽ nhìn nó. Nó quay hẳn người lại. Cái bóng biến mất. Nó hét lên sợ hãi rồi cắm đầu bỏ chạy về chỗ bố và anh nó, cái váy trở nên vướng víu, con bé vấp ngã nhưng tay vẫn giữ chặt giỏ rau. Nó kêu lạc cả giọng vì hoảng sợ.

Từ dưới suối, Đin và thằng Phôn bỏ mặc hụm cá chạy lao về phía con Lét. Đin đỡ con dậy, con bé miệng vẫn ú ớ, giơ tay chỉ về phía mấy bụi cây. Nhưng lúc này ngoài mấy bụi cây lung lay trong gió không nhìn thấy cái gì cả. Thằng Phôn mắng em: “Đồ khỉ! Có cái gì mà mày hét toáng lên như thế?” Con Lét ngơ ngác ngồi im, khóc thút thít. Đin dỗ dành con: “Nín đi con! Thôi, cũng trưa rồi, bố con mình về đi!”. Con Lét vẫn chưa hết hoảng hồn. Đin cõng con gái trên lưng.

Đin và hai đứa trẻ đến chỗ cối gạo. Anh đẩy tấm phên tre ra và dụi mắt ngạc nhiên: Cái cối đã ngừng giã, nước chảy ra ngoài, còn chỗ gạo đã được sẩy kỹ, để gọn gàng như có ai đó vừa đi khỏi. Thằng Phôn cũng ngạc nhiên không kém gì bố, nó nhìn bố như dò hỏi. Vẻ mặt bố nó đầy nghi hoặc. Thằng Phôn hỏi con Lét.

– Em làm à?

Con Lét ngơ ngác lắc đầu.

Ba bố con lấy gạo đổ vào túi và đi về hướng bản cũ…

Ông mo ngồi trước mặt ba bố con đang trong cái vẻ còn bàng hoàng. Ông gật gù:

– Chuyện bố con chúng mày gặp sáng nay cũng dễ hiểu thôi… Mường ta là mường Thái cổ xưa lắm rồi, bao kiếp người đã sống ở đây, và người chết phải nhiều hơn người sống chứ. Bây giờ, người sống đã đi gần hết, nên vong hồn những người chưa được lên trời càng về nhiều hơn…

– Theo thầy thì vong hồn người chết đã giúp bố con chúng cháu à? – Đin ngắt lời ông mo

– Cái gì cũng có thể xảy ra được chứ! – ông mo tự tin nói

Thằng Phôn chợt ngẩn ra:

– Hay là vong hồn của mẹ cháu?

Đột nhiên mấy người im lặng. Đin đứng lên, kéo tay hai con.

– Chúng cháu về đây ạ!

– Ờ… Để mai ta sang làm thêm lễ cúng gọi hồn… Đêm nay ta nhẩm lại bài cúng đã!

Ông mo khép cửa rồi bước vào, ngồi thần ra trước ngọn đèn mỡ lợn cháy leo lét. Ông lộ vẻ băn khoăn trên gương mặt nhăn nhúm. Ông lầm rầm chuẩn bị mấy câu cúng hồn cho ngày mai:

– Ô hô! Mười đắng mới có một ngọt, mười cay mới có một bùi… Mười bản không bằng bản rụng rốn, mười mường chẳng bằng mường chôn nhau… Vợ chồng đã từng đá tảng cùng nhau khiêng, chồng rào vợ cuốc, của cải trên gác, gia súc dưới gầm, con cái nên chân nên tay… Dù miếng ăn còn nắm đầy nắm vơi, nhưng lúa gạo ở dưới đất, thức ăn ở trong rừng… Gặp trâu bò phá ruộng nương hẵng đuổi hộ, nếu không hồn lúa sẽ chê. Gặp người khổ nạn hãy giúp đỡ nếu không hồn họ sẽ oán… Đánh chửi nhau không đau bằng lòng oán thán…

Trong lúc ông mo đang lim dim mắt lẩm bẩm những lời cầu cúng thì cửa sẽ hé mở. Bóng một người đàn bà bước vào. Chị quấn khăn gần kín mặt bằng đoạn vải xé ra từ chiếc váy khiến chiếc váy đang mặc trở nên cũn cỡn. Ông mo vẫn không hề hay biết. Chị bước tới gần ông mo. Một tiếng nấc nghẹn ngào khe khẽ khiến ông mo choàng tỉnh. Ông quay phắt người lại. Khi thấy bóng người trong ánh đèn mỡ chập chờn, ông rụng rời chân tay, quỳ sụp xuống, lạy như tế sao.

– Ối hồn ơi, hồn hỡi! Vừa gọi hồn đã về! Ta không phải là kẻ tắm suối một đằng, rửa chân một nẻo. Ta yêu bản kính mường, ta thương người quý dân. Ta không có gì để hồn phải oán thán…

Lao gỡ tấm khăn ra:

– Con đây mà, thầy mo! Con là Lao, vợ Đin, mẹ thằng Phôn con Lét đây!

Ông mo càng luống cuống sợ hãi bội phần.

– Hồn ơi! Ta có sai sót gì trong cúng lễ hãy rộng lòng tha thứ. Lệ cũ đã bỏ nhiều, nhưng ta vẫn cố dựng lại phần nào cho cháu Phôn kế tục ta được hiểu rõ… Nhà hồn nghèo, dân bản đi gần hết nên chẳng đủ để lễ dệt Heo, nhưng ai cũng nhớ thương hồn, ai cũng xót quý người xưa…

Lao chủ động ngồi xuống trước mặt ông mo, đặt tay lên vai ông mo đang cứng đờ lại. Lao mỉm cười buồn:

– Có là hồn thật, con cũng không dám trách thầy điều gì đâu. Nhưng con là Lao bằng xương bằng thịt đây này…

Ông mo chớp chớp mắt ngó nghiêng nhìn kỹ người đàn bà. Miệng ông ú ớ.

– Thế… thế mày không chết thật à? May không bị lũ cuốn đi hả cháu? Vậy từ hôm ấy tới nay, sao mày không về nhà, để phí bao nhiêu nước mắt tiếc thương? Chồng con mày vừa ở đây về đấy!

– Con biết… Con đã nghe hết chuyện của mọi người. Con muốn về nhà lắm chứ! Nhưng… còn khó hơn lên mường trời. Con sẽ kể thầy nghe ngọn ngành, nhưng mong thầy giữ kín cho…

Ông mo vội vã gật gật đầu.

Thằng Đin, con Lét nằm một góc nhà. Đin nằm một góc nhà. Con Lét mở to mắt nhìn ra màn đêm phủ sương trắng. Nó trằn trọc. Rồi nó khẽ nhỏm dậy, bò tới chỗ anh, lay lay. Thằng Phôn giật mình mở mắt, bực bội. “Gì thế? Sao chưa ngủ?” – “Anh ơi! Lúc đi khỏi nhà, mẹ có ăn gì không?” Phôn nhìn em lạ lùng như muốn hỏi. “Em lo mẹ không ăn gì, chết sẽ phải biến thành con chim lửa quanh quẩn ở bản” – “Đồ ngu!”. Mắng em xong, nó nằm xuống, nhưng mắt lại mở chong chong. Rõ ràng là phát hiện của em gái có tác động mạnh tới nó. Và nó chợt nhớ lai mồn một những câu chuyện của ông mo Sáy kể về các loại “phi” (hồn ma) trong mường bản, trời đất. “Phi hướn” (tức là hồn tổ tiên) và “phi Then” (tức là hồn chủ cõi trời) thì tồn tại mãi mãi, còn các “phi” khác thì có sống có chết. Khi chết, “phi” biến thành “phí”, “phí” chết biến thành loài ve sầu kêu bên rừng. Ve sầu chết lại biến thành rong rêu mọc trên đá suối… Còn hồn mẹ nó là “phi” gì mà lại biến thành chim lửa? Có thật như thế không? Đầu óc nó rối tinh lên. Nó chợt thoáng ân hận vì đã mắng em gái vừa rồi, khiến em nó bị cụt hứng và chắc sẽ buồn thêm. Nó bỗng thấy thương con Lét ghê gớm. Tình thương ấy đang xộc lên mũi, lên mắt nó…

Cũng trong lúc đó, tại ngôi-nhà-hang, mặt ông mo như dài ra. Ông nhìn Lao với ánh mắt vừa nghiêm khắc, vừa xót thương vô hạn.

– Thì vẫn là chuyện “gái gần trai, trâu gần mạ” thôi mà! Nhưng với mày thì… tao không ngờ… người đàn bà đẹp nhất vùng Chiềng Sại và nổi tiếng nết na… Sao mày lại thế hở? Mày có biết luật tục mường Thái ta về tội yêu trộm là thế nào không? Để tao nói cho biết: đã có chồng có con mà yêu trộm thì phải bị phạt vạ là…

Lao ngắt lời:

– Thôi! Con van xin thầy! Con đã thoát chết hai lần khỏi lũ thì chẳng hình phạt nào đáng sợ nữa… Nếu con được chết để gia đình con và những người còn lại được sống yên ổn ở mường mới thì con rất vui lòng!

– Mày nói cái gì vậy?

– Vâng, con buộc phải tìm đến thầy… mong thầy hãy lôi kéo mọi người di rời khỏi bản cũ, càng sớm càng tốt…

– Cái mắt thấy thì không sợ mà sợ cái mắt không thấy… Mày ăn tiền của bọn tái định cư rồi à, Lao?

Lao bất ngờ, bực tức nhưng cố ghìm nén.

– Bao nhiêu cái khôn ngoan của mường Thái đều ở trong đầu thầy, vậy mà thầy lại nghĩ thế à?

Ông mo biết mình đã lỡ lời, hạ giọng xuê xoa.

– Mày không phải là kẻ tự kiếm chấy thả vào đầu mình, ta biết… Nhưng con ơi! Ba nén bạc ở bên kia sông không bằng năm đồng cân có ở trong tay. Quả chín đất người không bằng quả ương đất mình… Với lại, mày quên ông cha xưa từng dặn: “Rời nơi ăn chốn ở mãi rồi cũng thành ma” hay sao?

Lao gấp gáp nói trong một xúc động bất ngờ:

– Nhưng thầy ạ! Thầy chẳng nói với con: đoàn tụ thì người kính nể, chia sẻ người ta coi thường là gì! Một năm nay chúng ta sống không ra sống rồi. Hãy mau đoàn tụ với cộng đồng thôi! Thầy yêu bản kính mường bằng việc đó ngay đi!

Ông mo thở dài:

– Mày đã vãi tro vào mặt ta rồi đấy! Thực ra, ta cũng buồn lắm, ta nghĩ ngợi nhiều lắm… Ta chờ đợi xem ở mường mới, bà con mình sẽ chịu được đến bao giờ… Với lại, đất người dù gạo chất đống, chớ cắp đòn gánh đến lân la…

– Thầy ơi! Ở đâu cũng là đất mường mình cả! Người ta ở tận đồng bằng lên đây, đổ cả máu cho đồng bào mình. Vậy mà…

– Được! Mày cứ để ta xem xét ngẫm nghĩ trước sau… Còn bây giờ, mày hãy về nhà đi, chồng con mày chắc như được sống lại đấy!

– Con chỉ về nhà khi thầy và chồng con quyết chí di rời khỏi bản cũ. Chỉ thầy mới thuyết phục nổi chồng con và những người còn lại ra đi!

– Cái gì đã cho mày lòng dạ sắt đá ấy? Thôi, hãy cứ về đi đã! Đũa một chiếc không gắp được rau, kiềng một chân không đặt được nồi. Chồng mày đang chới với lắm đấy! Đừng làm kẻ “đi không ai biết, ở không ai thấy” nữa!

– Con đã nói là như dao chém đá! Còn việc tới gặp thầy, thầy giữ kín cho, nếu không con sẽ nhảy xuống sông Đà chết thật đấy!

Lao trùm khăn lên mặt rồi quay đi nhanh như ngọn gió. Ông mo ngẩn người nhìn theo.

Cả nhà đang ngồi ăn bên chiếc mâm gỗ cũ kỹ, sứt sẹo. Mặt con Lét đăm chiêu nghĩ ngợi điều gì đó. Bỗng nó bốc một nắm xôi trong cón khẩu, rồi chạy ra bên ngoài. Trước mắt nó, mái nhà tạm xiêu vẹo chợt được thay thế bằng mái nhà sàn với chiếc khaucut vươn lên trời, mấy con chim đang đậu. Con Lét gỡ vụn nắm xôi ra, ném vãi lên trời, kêu thật to.

– Ơi!… Nộc phay ơi! Chim lửa ơi! Mẹ ơi! Về đây mà ăn cơm nếp nương!

Thằng Phôn cũng chạy ra với em gái. Nó nhìn em vẻ thương cảm. Vừa lúc đó ông mo đeo túi da nai đi tới. Hai đứa trẻ chào hỏi lễ phép. Ông mo bước vào nhà. Đin nhìn túi “hồn” của ông mo:

– Ông đi đâu đấy? Đi xa à? Con gói xôi cho ông nhé!

– Ờ ờ! Nhưng mà in ít thôi! Hôm nay, ta ra tận Mường Bú, sửa hồn cho người bà con xa đã chết, bởi vì ông ta sống nhiều quá mà…

Đin lấy xôi gói vào lá chuối rừng, kèm theo một miếng cá nướng và gói chéo.

– Chỉ cần bằng cái mõm chó thôi! Ta không đem được đâu!

– Xa lắm! Còn phải xuôi sông Đà gần hết buổi cơ mà, ông!

Ông mo nhìn Đin vẻ xót thương, thông cảm.

– Này Đin! Mày đi săn gặp vượn đực thì hãy tha cho chúng nhé!…

Đin ngạc nhiên:

– Sao thế ạ?

– Ờ… ờ… Cũng chỉ vì người Thái ta có nhiều chuyện cổ tích buồn về những con vượn đực chung tình bất hạnh mà…

Theo người Thái, loài vượn là con vật chung thủy và tận tụy với đàn – nhất là với vượn cái và lũ vượn con. Chúng thường nhường nhịn thức ăn cho vượn cái và lũ con của mình. Thông thường, lũ vượn đực bị mắc bẫy nhiều nhất vào mùa bắp chín trên nương: chúng đi đầu dò đường rồi bị sa bẫy đầu tiên… Chúng ngồi trong lồng bẫy nhìn lũ vượn cái vượn con ăn no rồi vô tình bỏ đi. Khi một con vượn đực bị sa vào bẫy hoặc chết vì tên nỏ của thợ săn, thì vượn cái ngay lập tức tìm ngay một con vượn đực khác để bắt đầu một cuộc tình mới… Đin nhìn ông mo vẻ khó hiểu: “Hôm nay ông có tâm sự gì thế?” Ông mo buồn bã lắc đầu. “Từ ngày vợ chưa cưới bỏ ta chạy theo thằng trai trai buôn muối, ta thường ngẫm về những con vượn đực đó thôi!” Nói rồi, ông lầm lũi chống gậy quay đi, dáng gù gù nặng nề.

Mặt trời buổi chiều to đỏ như một cái đĩa khổng lồ. Không gian như nóng hơn trong làn khói đốt cỏ trên rãy. Thằng Phôn cùng bố nó đang dọn dẹp một đám đất để chuẩn bị làm nơi tuốt lúa. Đám nương bên cạnh, lúa đã bắt đầu ngả sang màu vàng. Đống lửa chốc chốc lại được thằng Phôn bỏ thêm cỏ khô và rác, nó bốc lên làn khói dày, tỏa kín khắp cả nương lúa.

Đin nhặt các bẫy thú ở mấy góc nương rồi cùng con trai chăng ngang những sợi dây bằng tre treo mõ và các hình nộm bằng cỏ để đuổi chim. Con Lét đang lấy que cời một đám cỏ cháy cạnh cây gỗ đổ. Nó bỗng nhìn thấy trong làn khói mờ ảo một bóng người trùm khăn đen đang vịn vào thân cây cạnh nương nhìn nó từ lúc nào. Con bé hét lên khiếp đảm. Đin và thằng Phôn từ trên đầu nương chạy vội về phía con bé.

Con Lét miệng ú ớ, mắt mở to thất thần giơ tay chỉ về phía thân cây đổ. Nơi đó không có một bóng người. Đin cầm con dao đi về hướng tay chỉ của con. Trước mặt anh chỉ là những vệt đè trên cỏ gianh. Anh vòng qua thân cây sang bên kia và quan sát xung quanh kỹ hơn.

Hai anh em thằng Phôn đeo ếp và vác dao đi về hướng con suối gần bản cũ. Khi hai đứa con đi khuất, Đin cầm khẩu súng và đeo con dao rừng đi về hướng núi đá. Trời đã ngả hoàng hôn tím sẫm, mặt trời khuất dần sau dãy núi lô nhô, hắt lên trời một màu đỏ thẫm như máu.

Buổi tối, con Lét nằm nghiêng sang phía đệm của thằng Phôn thì thào để bố nó không nghe thấy.

– Anh ơi! Chiều nay em nhìn thấy một đàn chim lửa bay về chân ruộng cũ… Chúng có bay về nhà mồ của mẹ không nhỉ? Chắc mẹ chúng mình cũng ở trong số những con chim lửa ấy…

Thằng Phôn nhắm tịt mắt giả vờ ngủ. Rồi nó cũng không cưỡng nổi giấc ngủ bập bềnh nhớ thương, xa xót… Con Lét chợt co rúm người lại khi nó thoáng nhìn thấy ánh một đôi mắt nhìn chằm chặp từ bên ngoài qua khe vách. Cặp mắt vụt biến mất.

Hai đứa bước tới nhà mồ. Những chiếc cờ phướn đã bắt đầu tơi tả bạc phếch sau những trận mưa rừng cuối mùa lũ. Ngôi mộ giả đã lên xanh cỏ. Con Lét đi hái những bông hoa rừng đặt lên mộ. Rồi nó ngước nhìn tìm trên nóc nhà mồ. Mấy con chim Nộc phay bay lạc đàn sà xuống đó. Mắt con Lét mở to chăm chú. Nó khẽ lay lay tay áo anh.

– Anh ơi! Làm thế nào biết được con chim lửa nào là linh hồn của mẹ?

Thằng Phôn cũng nhìn như thôi miên.

Lao nằm trong lán canh nương cũ, trên tấm nệm rơm. Mắt chị mở to, miệng nhai trệu trạo bắp ngô nướng. Bếp lửa vẫn còn than hồng. Cạnh đó là cái niêu đất, ống cơm lam… Lao từ từ ngồi dậy. Chị nhìn bếp than hồng. Ánh mắt như thêm bồn chồn trong ánh lửa sắp tàn. Rồi chị vụt đứng dậy, đi như bay trong đêm tối.

Lao rón rén bước tới ngôi nhà tạm trống huếch. Chị ghé nhìn trộm vào. Hai đứa trẻ và Đin đã ngủ say. Lao bần thần nhìn. Chị đã định bước chân vào, nhưng rồi lại rút chân ra. Nước mắt Lao lại tuôn chảy. Nhưng chị cắn chặt môi lại, lấy tay lau sạch nước mắt. Rồi chị quyết định quay đi, thật rón rén. Cuối mùa trăng. Không gian là một màu trắng đục, mơ hồ. Mấy tiếng chó sủa đơn độc và bất thường vang lên từ ngôi nhà tạm của hàng xóm.

Trong nhà, Đin chợt tỉnh dậy ngay từ tiếng chó sủa đầu tiên. Đin bật nhỏm dậy nhanh như cáo, căng mắt nhìn ra ngoài và thấy một bóng đen thoắt bỏ chạy. Đin bất giác thốt lên: “Phà ơi! Thú lớn đã về!” Đin nhanh nhẹn cầm khẩu súng kíp và cái đèn soi lên, chạy ra ngoài. Anh đi theo hướng bóng đen vừa bỏ chạy. Phía xa, Lao đã thoáng nhìn thấy bóng chồng đi ra khỏi nhà. Chị chạy thục mạng ra phía rừng ma.

Đin lạnh lùng và bình tĩnh bước đi với kinh nghiệm dày dặn của người thợ săn lão luyện, lăm lăm tay súng. Chợt Đin nghe thấy một tiếng rơi nặng nề ở phía cuối rừng ma. Nơi đó có một cái vực khá sâu. Đin nhíu mày phán đoán rồi anh đi nhanh về phía đó. Đin bật đèn soi lên. Có một vật gì đó đã lăn xuống vực, để lại vết đè lên dây rừng chằng chịt. Đin thận trọng tìm cách mò xuống vực, một tay nắm lấy các sợi dây rừng, rễ cây, mô đá, một tay cầm đầu súng kéo lê. Khó khăn lắm Đin mới lần xuống được dưới chân vực đầy đá tảng. Mặt mũi, chân tay anh đầy vết xây xước, máu bê bết. Dưới ánh đèn, Đin chợt nhìn thấy một vệt máu tươi trên đá. Mặt anh tươi tỉnh lại, quên hẳn đau đớn. Anh giương súng lên và thận trọng bước tới, lần theo dấu máu mỗi lúc một loang nhiều hơn.

Lao cắn răng lại vì đau đớn. Chị cố lê thật nhanh. Thỉnh thoảng, chị dừng lại lau vội vết máu thật sạch. Phía xa xa, ánh đèn soi loang loáng.

Đin chợt dừng lại. Vết máu tự dưng biến mất. Đin nằm áp xuống cỏ ngửi mùi máu. Rồi anh nhìn quanh phán đoán hướng cần tìm.

Lao như kiệt sức. Chị nằm dài để thở dốc, dường như đã đầu hàng định mệnh. Rồi một sức mạnh vô hình đã vực chị dậy. Chị lại bò tiếp với một nghị lực ghê gớm. Lao gần như lê người qua suối. Người chị ướt đẫm. Chị lại cố lê đi thật nhanh.

Đin vẫn kiên trì lần theo dấu máu – lúc bị xóa lúc lại xuất hiện – với một ý chí và niềm đam mê săn bắn kỳ lạ rực lên trong đôi mắt anh. Dấu vết của con thú bị săn đuổi đến suối thì mất hẳn.

Đin lội qua suối. Đèn soi chập chờn rồi tắt hẳn. Anh đặt khẩu súng săn xuống một bãi sỏi rồi chặt nứa khô bó lấy mấy bó đuốc. Đoạn anh châm một bó đuốc to, một tay cầm một khẩu súng đã nạp đạn, bắt đầu đi vào dãy núi đá. Ánh đuốc lấp loáng soi rõ những dãy đá chồng chất chằng chịt dây leo. Một con đường mòn trâu đi dẫn lên một cửa hang nằm cheo leo bên cạnh vách đá…

Đến cửa hang, Đin bỗng soi đuốc xuống một phiến đá. Một vật máu tươi cùng với những vết máu đã khô. Đin khoa đuốc cho sáng rồi kiên quyết đi vào hang. Qua một đoạn ngách tối, anh nhìn thấy ở phía cuối hang, trên một phiến đá phẳng có trải lá khô, một người nằm, lưng quay về phía cửa hang. Đin quan sát trong hang hồi lâu. Rồi khi đã yên tâm không có người thứ ba trong hang, anh mới tiến lại gần, lấy nòng súng chọc khẽ vào người đang nằm. Người ấy không hề có một phản ứng. Như có linh tính, anh dùng tay kéo vai người đó nằm trở lại. Một búi tóc xổ ra. Rồi khuôn mặt người đàn bà đang nằm thiêm thiếp. Đin hốt hoảng bước lùi:

– Lao, trời! Lao… Không lẽ là em!

Anh bỏ súng, cắm đuốc vào vách hang rồi lay gọi.

Người đàn bà không tỉnh. Khuôn mặt và khắp người Lao bị đá sắc, gai rừng cào rách tơi tả, máu tươi lẫn máu khô bết lại. Hốt hoảng, Đin nhìn xung quanh, rồi chạy lại góc hang vốc nước từ trong kẽ đá đổ vào mặt người đàn bà rồi lay gọi liên tục.

Lát sau, người đàn bà khẽ cựa quậy rồi từ từ mở mắt. Đin sung sướng gọi.

– Lao! Em thật sao? Có nhận ra anh không? Sao lại thế này?… Tỉnh lại đi!

Người đàn bà rên khe khẽ rồi đòi uống nước. Đin vốc nước đổ vào miệng chị. Giây lâu, Lao mở mắt và nhìn anh.

– Em không muốn anh nhìn thấy em trong cảnh ngộ này…

– Em đừng nói gì nữa. Để anh đưa em về! Rồi có gì sẽ nói sau!

Đin định đỡ Lao dậy, nhưng chị nhăn mặt, xua tay.

– Anh… Anh đừng làm như vậy nữa… Không kịp nữa rồi! Anh… Anh cố mà nhớ những điều em sẽ nói…

– Không! Không! Anh phải đưa em đi khỏi đây! Em không thể chết được!…

Lao ngăn lại rồi tiếp tục nói.

– Anh ơi! Những lời nói này là những lời cuối cùng… Những ngày qua, em đã được nhìn thấy anh và các con sống như thế nào. Vậy là em yên tâm ra đi, không còn ân hận gì nữa… Em đã lừa gạt mọi người. Em không có quyền được sống tiếp với anh và con nữa… Em đã chung sống với một người đàn ông khác… Đã gửi hồn cho anh ta….Em là người đàn bà tội lỗi, chỉ biết sống theo con tim yếu đuối… Hãy rộng lòng tha thứ cho em, vì em sắp mất tất cả rồi… – Đin sững người giây lát – Thằng Phôn nó sẽ học được ở anh nhiều điều… Nhưng con Lét sẽ không có ai bảo ban nó dệt vải làm chăn đệm… Em muốn bố con anh sẽ đi khỏi đây, về đất mới để con cái chúng ta được sống với bản mường…

Đin chợt bật khóc:

– Anh đã hại em mất rồi… Nếu như anh không đuổi theo con thú lớn đó…

– Anh không có lỗi gì cả! Tối hôm kia biết anh đi săn, em đã trở về nhà… Em về để được nhìn thật gần các con… Còn bây giờ được chết trong tay anh là em đã mãn nguyện lắm rồi…

– Em đừng nói nhiều nữa, sẽ mệt.

– Không! Cứ để em nói, nếu không thì sẽ chẳng còn lúc nào nữa…! Cái số của em là vậy! Chúng ta đã hết duyên phận, em sẽ về trời trước anh!… Ở đó, em sẽ làm nhà trồng rau cải và dệt chăn đợi anh. Em sẽ đợi dù bao nhiêu lâu em cũng đợi… Anh đừng buồn, em chỉ đi trước anh thôi mà… Ba bố con anh trông nom nhau. Anh cũng đừng kể lại chuyện hôm nay cho các con nghe… Ước nguyện cuối cùng của em là…

Lao ngất đi, Đin lại lay gọi, lát sau Lao lại tỉnh, cố gắng nói với tất cả sức lực còn lại.

– Anh và các con hãy sớm đi lên miền đất mới. Ở đó, thằng Phôn, con Lét tức là thằng Mưa và con Nắng, chúng nó sẽ thoát khỏi những khổ đau nơi mường cũ đói nghèo… Anh là Đất, tức là có đất, có mưa và có nắng, gia đình nhỏ của em sẽ có hạnh phúc. Còn em, em sẽ trở về nơi em đã ra đi… Anh ơi! Cúi xuống gần đây!…

Người đàn bà định nói điều gì nữa, nhưng đã tắt thở . Đin thét lên hãi hùng rồi ôm chặt lấy xác vợ…

Ngọn lửa cháy bùng trên giàn củi thiêu xác người đàn bà. Đêm sâu, muôn ngàn vì sao lấp lánh. Ông mo, Đin, con Lét lần lượt châm lửa vào những bó đuốc rồi lại gần giàn thiêu kính cẩn đặt vào đống củi đang cháy. Phôn đội khăn tang thổi pí tam-lay tiễn mẹ lên trời… Ông mo đọc lời cúng tiễn hồn trên nền khèn còn vụng dại nhưng chân thành làm rơi lệ cả những người nghe xa lạ. Trong màn đêm sâu thẳm, ngọn lửa bập bùng mỗi lúc một cháy dữ dội. Đin đứng ôm chặt đứa con gái nhỏ, nhìn ngọn lửa. Tiếng pí tam-lay ai oán như khóc như than. Khuôn mặt của Phôn ẩn hiện qua màn lửa…

Tất cả cư dân còn lại của bản cũ đều có mặt trong đám hỏa thiêu. Những gương mặt đìu hiu, ngơ ngác, buồn thương. Ông mo nấc lên:

– Con ơi! Nếu ta nghe lời con sớm hơn, đâu đến nỗi cách biệt đất trời, để chồng góa bụa, con cái bơ vơ… Ô hô… Mười đắng với có một ngọt, mười cay mới có một bùi! Mười bản không bằng bản rụng rốn, mười mường chẳng bằng mường chôn nhau… Lưng địu con, tay với non, tay mò cá cua sớm tối, chẳng bớt phần dâu của tằm… Con gái ra suối múc nước đứng ngóng, con trai ra đồng mót lúa ngồi mong! Đi đường nước được cá chép cá trắm, đi đường cạn được con hoẵng con nai. Đi không vấp, về không vướng, ngủ ngon ở lành… ơ hơ…

Đọc xong lời cúng, ông mo lau nước mắt. Một ông hàng xóm, tay cầm một tờ công văn, bước tới ông mo. Đi theo ông ta là một người ra dáng cán bộ.

– Thưa thầy mo! Có cán bộ của Ban quản lý di dân tái định cư muốn gặp thầy!

Anh cán bộ và ông mo chào nhau kính cẩn theo phong tục đồng bào Thái. Anh cán bộ nói cái gì đó với ông mo. Phôn vẫn thổi khèn. Nó liếc sang nhìn hai người lớn đang nói chuyện. Lát sau, nó thấy ông mo bước tới gần nó, ra hiệu ngừng khèn. Ông mo nhìn tất cả những người trong đám tang. Ông e hèm, trịnh trọng:

– Thưa bà con! Ban di dân tái định cư công trình thủy điện đã có chủ trương … – Ông cầm tờ công văn lên đọc – “Dân yêu cầu làm mới thì xây, nếu dân tự tháo dỡ nhà cũ và vận chuyển đến nơi ở mới thì hỗ trợ tiền di rời, tiền bổ sung vật liệu để hoàn thiện nhà mới. Mỗi hộ tự tháo nhà di rời sẽ hỗ trợ thêm 50 triệu đồng để đầu tư sản xuất, ổn định đời sống…”.

Mọi người hơi xì xào xôn xao, họ ghé tai nhau nói thầm. Ông mo cầm tờ công văn ném vào ngọn lửa, nhìn nó cháy hết.

– Hồn hỡi, hồn hãy vui lòng…- Ông quay sang anh cán bộ – Ban tái định cư đã thấu hiểu một phần nguyện vọng của đồng bào. Giá như chủ trương này có sớm hơn, sẽ đỡ khổ nhiều cho cả người đã đi lẫn người còn ở lại… Nhưng muộn còn hơn không… Ta nghĩ, nhiều nơi đang cần đến nó đấy. Còn ở đây, chẳng đợi có chủ trương này, chúng tôi cũng đã quyết định di rời hết! – Ông quay sang mấy hàng xóm – Phải không bà con?

Mấy người gật gật đầu xác nhận. Ông mo nói với anh cán bộ:

– Các anh ở trên nói một, chúng tôi hy vọng mười… Mong là vùng đất mới sẽ là vùng cỏ mật như các anh từng hứa hẹn…

Anh cán bộ vội tiếp lời luôn:

– Vâng! Cả với sự ủng hộ hết lòng của bà con cô bác nữa… Cái gì lúc ban đầu cũng đều gian khó ạ…

Ông mo gật đầu rồi lại quay sang mọi người.

– Nước thủy điện sắp về tới mường cũ này rồi! Ở chỗ khác cũng đều là đất mường ta cả… Người Thái ta đi đâu cũng được, miễn là có đất đai để lấy mồ hôi đổi cơm gạo, có trường học cho bọn trẻ…Cái gì rồi cũng xong, miễn là ta bớt nghĩ quá nhiều cho bản thân… Con cháu dân mường Thái đi thì những người chết cũng đi theo thôi. Cái hồn vía của ông cha cũng chấp nhận rồi mà!…

Đin bước ra cái trống da bò nổi một hồi trống dài tiễn biệt hồn.

Hai chiếc thuyền lớn đang neo bến sông Đà ở khu mường cũ đã vắng tanh vắng ngắt. Đin và một số thanh niên, trung niên đang khuân vác đồ đạc lên thuyền, cả những cột kèo nhà sàn. Tất cả các nhà tạm đã được dỡ bỏ. Mọi người đang thu dọn đồ lề. Những người ra bến thuyền đã quay trở lại bản cũ tiếp tục khuân nốt đồ đi…

Bố con Đin đồ lề trên vai bước ra phía bến thuyền. Con Lét đeo chiếc phưm dệt thổ cẩm của mẹ và cái bầu nước. Thằng Phôn đeo cả hai cái cặp sách to nhỏ của anh em nó cùng mấy thứ lặt vặt: dao, dây thừng… Đin cõng trên lưng một cái hũ sành bằng đất nâu – hũ đựng tro xương của vợ, tay xách khẩu súng kíp, vai đeo nỏ, tên.

Thằng Phôn chợt dừng lại. Nó cúi xuống nhặt cái khaucut mà những người lớn vận chuyển đã đánh rơi. Tới một lối rẽ sang rừng ma, con Lét níu tay bố.

– Tới tạm biệt nhà mồ mẹ đi bố!

Thằng Phôn chỉ tay vào cái hũ sành trên lưng bố.

– Mẹ đã ở trong này rồi cơ mà!

Đin ngẫm nghĩ, rồi đi về phía rừng ma. Ba bố con đứng trước cái nhà mồ đã bắt đầu tàn tạ, rêu mốc bởi nắng mưa.Thằng Phôn trèo lên nóc nhà mồ, loay hoay cắm cái khaucut mà nó vừa nhặt được ở trên đó. Con Lét ngẩng tìm những con chim lửa trên nóc nhà mồ. Không có con chim nào cả. Nó bảo anh:

– Hay là linh hồn mẹ đã về mường mới trước rồi?

Từ xa nhìn lại, ba bố con thật bé nhỏ lạc lõng giữa rừng ma. Họ lại lầm lũi bước đi về phía bãi sông Đà. Một đàn chim bay về bản cũ. Con Lét dừng lại nhìn, nó giơ tay vẫy.

– Chim ơi! Hãy về mường mới nhá!

Rồi nó cong đít chạy theo bố và anh, chiếc phưm nhảy tưng tưng trên vai nó. Bóng ba bố con in trên nền trời đầy mây trắng thành những hình silouette đen sẫm.


[86] Tức chim lửa, một loài chim kỳ lạ của rừng Tây Bắc.

[87] Cõi Trời, theo quan niệm của người Thái xưa kia.