Giấc mơ Trung Hoa Tan vỡ – cải cách làm sống lại chủ nghĩa toàn trị thế nào (kỳ 5)

Tác giả: Bùi Mẫn Hân

Người dịch: Nguyễn Quang A 

NXB Princeton University Press, 2026.

  1. Chủ nghĩa Độc đoán Mới, 1992–2002

Kết cục đẫm máu của cuộc khủng hoảng Thiên An Môn đã chặn đứng, ít nhất là trong tương lai gần, con đường dẫn đến một xã hội mở và tự do hơn của Trung Quốc. Tuy nhiên, trật tự độc đoán mới — sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa dưới chế độ một đảng — không xuất hiện ngay sau cuộc đàn áp. Thực tế, đảng vẫn có hai con đường khả thi để lựa chọn. Một là đảo ngược các cải cách kinh tế thập niên 1980, tái khẳng định sự kiểm soát của đảng đối với kinh tế và xã hội, và tái lập một hệ thống mang hầu hết các đặc điểm thể chế của những năm 1950 trên hết. Con đường còn lại là hoàn toàn ủng hộ chủ nghĩa (kiến tạo) phát triển độc đoán mới (neo-authoritarian developmentalism). Ban đầu, từ giữa năm 1989 đến cuối năm 1991, những người cứng rắn nắm quyền sau cuộc đàn áp đã cố gắng khôi phục lại hệ thống cộng sản cũ. Mặc dù nỗ lực của họ chủ yếu thất bại, nhưng một tình trạng bế tắc chính trị kéo dài, trong đó chế độ bị kẹt trong vùng đất không người ở giai đoạn chuyển tiếp, là một khả năng rõ rệt.

Sự kiện thúc đẩy đảng hoàn toàn ủng hộ chủ nghĩa phát triển độc đoán mới là sự sụp đổ của Liên Xô vào tháng 12 năm 1991. Ít hơn một tháng sau đó, Đặng Tiểu Bình bắt đầu chuyến thăm miền nam Trung Quốc, vốn về bản chất (mặc dù không phải về tên gọi) đã mở ra kỷ nguyên hậu Thiên An Môn của chế độ độc đoán mới. Do cuộc thanh trừng cánh tự do khỏi đảng vào năm 1989 và sự suy sụp tinh thần của phe cứng rắn do sự sụp đổ của Liên Xô, lãnh đạo đảng trở nên đồng nhất về mặt tư tưởng. Dù miễn cưỡng, phe cứng rắn đã chấp nhận tầm nhìn của Đặng Tiểu Bình về hiện đại hóa kinh tế tư bản chủ nghĩa dưới chế độ một đảng vì đây là chiến lược sinh tồn duy nhất khả thi, dù trước đó họ đã phản đối con đường này.

Sau khi tập hợp đảng theo tầm nhìn độc đoán mới của mình và thành lập một đội ngũ lãnh đạo mới vào mùa thu năm 1992, Đặng Tiểu Bình dần dần lui khỏi chính trường. Giang Trạch Dân, sự lựa chọn thỏa hiệp cho chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc mà các bậc tiền bối đã chọn trong cuộc khủng hoảng Thiên An Môn, đã trở thành người thực thi hiệu quả chiến lược tân độc đoán của Đặng Tiểu Bình. Dưới sự lãnh đạo của Giang Trạch Dân, đảng tập trung toàn lực vào phát triển kinh tế đồng thời áp dụng các chiến thuật mới để duy trì quyền kiểm soát trong một xã hội đang thay đổi nhanh chóng. Các thành phần riêng lẻ của chiến lược sinh tồn của đảng, như tính chính danh dựa trên thành tích, một thỏa thuận an ninh ngầm giữa các tầng lớp tinh hoa, chủ nghĩa dân tộc, sự thu phục xã hội và đàn áp có chọn lọc, đã phát triển thành những trụ cột chính của trật tự tân độc đoán sau năm 1989.

Dựa trên sự bùng nổ kinh tế và sự ổn định chính trị ở cả cấp độ tinh hoa và quần chúng trong thời kỳ hậu Thiên An Môn (1992–2012), tầm nhìn tân độc đoán của Đặng Tiểu Bình phải được ghi nhận là đã mang lại thời kỳ hoàng kim cho Đảng và giúp chế độ vượt qua những cú sốc từ thảm họa Thiên An Môn và sự sụp đổ của Liên Xô. Tuy nhiên, đằng sau lớp vỏ bọc của sự ổn định và thịnh vượng, những nguy cơ mới bắt đầu xuất hiện. Thành công của Đảng trong việc nâng cao mức sống, dù dựa trên mô hình tăng trưởng dẫn dắt bởi đầu tư sẽ sớm mang lại lợi nhuận giảm dần, đã làm giảm động lực cho những cải cách kinh tế sâu rộng và khó khăn hơn. Đồng thời, sự kiểm soát của Đảng đối với nguồn lực kinh tế khổng lồ và đang phát triển nhanh chóng đã nuôi dưỡng tham nhũng, phơi bày những khuyết điểm cơ bản của chủ nghĩa độc đoán mới theo phong cách Đặng Tiểu Bình.

Một kỳ nghỉ gia đình thay đổi lịch sử

Việc đàn áp dã man các cuộc biểu tình Thiên An Môn vào ngày 4 tháng 6 năm 1989 đã gây tổn hại nghiêm trọng cho Đặng về mặt chính trị. Việc thanh trừng Triệu Tử Dương và các nhà cải cách tự do khác có nghĩa là Đặng không thể tiếp tục dựa vào các thành viên của nhóm này để thực hiện chương trình cải cách và mở cửa của mình. Người đàn ông tám mươi tuổi được cho là rất chán nản, và sau khi đã bỏ hút thuốc trong vài năm, ông lại bắt đầu hút thuốc trở lại.1 Sự an ủi duy nhất cho Đặng là ông đã thành công trong việc đưa ra một lựa chọn thỏa hiệp, Giang Trạch Dân, cựu bí thư thành ủy Thượng Hải, làm người thay thế Triệu Tử Dương, từ đó ngăn chặn một người theo chủ nghĩa cứng rắn về mặt tư tưởng nắm giữ vị trí lãnh đạo cao nhất của đảng. Tuy nhiên, nước cờ quyền lực của Đặng Tiểu Bình không thể ngăn cản phe cứng rắn thực hiện các chính sách đảo ngược các cải cách thập niên 1980, vì Giang Trạch Dân, một kẻ cơ hội chủ nghĩa ngại rủi ro và không có cơ sở quyền lực riêng, thiếu cả ý chí lẫn khả năng để chống đối.

Lí Bằng và Diêu Y Lâm, hai nhân vật bảo thủ cứng rắn phụ trách chính sách kinh tế, đã đẩy mạnh chương trình thắt lưng buộc bụng được thông qua vào cuối năm 1988 nhằm kiềm chế lạm phát. Mặc dù ban đầu chương trình này ưu tiên cắt giảm đầu tư, nhưng sau vụ đàn áp Thiên An Môn, họ đã tích cực thúc đẩy việc tập trung hóa quyền lực và hồi sinh lại kế hoạch kinh tế. Những biện pháp này đã ưu ái các doanh nghiệp nhà nước (SOE) mà bỏ qua khu vực tư nhân mới chớm nở.2 Kết quả là, nền kinh tế ghi nhận mức tăng trưởng yếu nhất trong một thập kỷ. GDP chỉ tăng 4,1% vào năm 1989 và 3,9% vào năm 1990, mặc dù đã phục hồi lên 9,5% vào năm 1991.3 Các doanh nghiệp tư nhân quy mô vừa và nhỏ (TVEs), thành phần lớn nhất của khu vực tư nhân, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm 40% từ năm 1985 đến 1988, nhưng vào năm 1989 và 1990, chúng chỉ tăng trưởng lần lượt 15% và 14%.4 Tuy nhiên, phe cứng rắn đã không thành công trong việc tập trung hóa lại nền kinh tế, vì những nỗ lực đó vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ từ các tỉnh lớn và có tầm quan trọng về kinh tế, như Thượng Hải và Sơn Đông.5

Cuộc đàn áp chính trị do phe cứng rắn phát động nhằm vào những người tham gia phong trào dân chủ chỉ mang lại kết quả nửa vời. Chế độ đã thành công trong việc khôi phục quyền kiểm soát chính trị tại các khuôn viên đại học.⁶ Tuy nhiên, cuộc truy lùng các nhà hoạt động dân chủ ở cấp cơ sở của họ phần lớn đã thất bại do sự chống đối từ các quan chức địa phương có thiện cảm.⁷ Những cuộc tấn công mang tính ý thức hệ, được che đậy một cách mỏng manh, của phe cứng rắn nhằm vào chính sách cải cách và mở cửa của Đặng Tiểu Bình ngay lập tức vấp phải sự phản đối từ chính ông Đặng.8 Tình hình chính trị chung trong một năm rưỡi sau cuộc đàn áp Thiên An Môn có thể được mô tả là một thế bế tắc chính trị.9 Mặc dù phe cứng rắn đang lên có đà để đảo ngược cải cách của Đặng Tiểu Bình và giành lại quyền kiểm soát xã hội đã bị xói mòn của đảng, họ không hoàn toàn thành công. Đồng thời, phe cải cách do Đặng Tiểu Bình lãnh đạo, nay đã bị suy yếu về mặt cấu trúc do cuộc thanh trừng các nhà cải cách cấp cao của ông, thiếu sức mạnh để thổi luồng sinh khí mới vào cải cách và mở cửa. Đối với các nhà quan sát bên ngoài, chế độ Trung Quốc vào năm 1990 “thể hiện nhiều dấu hiệu điển hình của một hệ thống đang suy tàn.”10

Đặng Tiểu Bình, người mà di sản đang bị đe dọa, không muốn thấy dự án hiện đại hóa Trung Quốc của mình lụi tàn giữa chừng. Năm 1991, ông bắt đầu thực hiện các hành động để hồi sinh cải cách và mở cửa.11 Ông đầu tiên đến thăm Thượng Hải vào tháng 1 năm 1991 và phát biểu một loạt bài diễn văn kêu gọi “giải phóng tư tưởng” và thực hiện những bước đi táo bạo hơn trong cải cách và mở cửa.12 Ngay sau khi trở về từ chuyến thăm, Đặng Tiểu Bình đã thăng chức cho Chu Dung Cơ, người đứng đầu đảng và thị trưởng Thượng Hải có phong cách cứng rắn, lên vị trí Phó Thủ tướng, mặc dù Chu lúc đó chỉ là thành viên dự khuyết của Ban Chấp hành Trung ương (theo truyền thống, các phó thủ tướng cũng là thành viên Bộ Chính trị). Việc thăng chức cho Chu vào tháng 4 năm 1991 đánh dấu sự khởi đầu của sự suy yếu quyền kiểm soát chính sách kinh tế của phe cứng rắn trong Hội đồng Nhà nước.

Dù những động thái chính trị này có thể hữu ích cho Đặng Tiểu Bình đến đâu, chúng vẫn không đủ để thay đổi cục diện chính trị một cách quyết định có lợi cho ông. Điều thực sự tạo ra sự khác biệt là cú sốc từ sự sụp đổ của Liên Xô vào cuối năm 1991. Dựa trên sự phục hồi của nền kinh tế Trung Quốc trong năm đó, động lực chính đằng sau nỗ lực cuối cùng của Đặng Tiểu Bình nhằm cứu vãn di sản của mình vào đầu năm 1992 không phải là những khó khăn kinh tế của Trung Quốc, mà là bối cảnh địa chính trị và ý thức hệ đã bị thay đổi đến mức không thể nhận ra do các sự kiện tại Liên Xô.13

Vào ngày 19 tháng 8 năm 1991, những người bảo thủ cứng rắn ở Moscow, trong nỗ lực tuyệt vọng nhằm cứu vãn Liên Xô đang sụp đổ, đã phát động một cuộc đảo chính. Ban đầu, những người đồng minh của họ ở Bắc Kinh rất phấn khích. Một số người thậm chí đề xuất nên công khai ủng hộ cuộc đảo chính, nhưng Đặng Tiểu Bình đã bác bỏ ý tưởng đó và kêu gọi thận trọng.14 Nếu có chăng, thì cuộc khủng hoảng tại Liên Xô càng củng cố niềm tin của Đặng Tiểu Bình rằng chỉ có thành công kinh tế mới có thể giữ ĐCSTQ tại quyền lực. Ngày hôm sau cuộc đảo chính, Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh rằng sự tồn tại của đảng sẽ phụ thuộc phần lớn vào cải cách và mở cửa. Thay vì coi sự sụp đổ sắp xảy ra của Liên Xô là một cuộc khủng hoảng, ông cảnh báo các thành viên lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương rằng “những thay đổi lớn đang diễn ra trên thế giới, và điều này mang lại cho chúng ta một cơ hội Nếu chúng ta không nắm bắt cơ hội này để nâng nền kinh tế lên một tầm cao mới, các nước khác sẽ vượt xa chúng ta, bỏ lại chúng ta ở phía sau.”15

Phản ứng cá nhân của Đặng Tiểu Bình trước sự tan rã của Liên Xô vào cuối năm 1991 vẫn chưa được biết rõ. Tuy nhiên, ba tuần sau khi Gorbachev ký văn bản giải thể Liên Xô, Đặng Tiểu Bình đã bắt đầu chuyến công du lịch sử về miền Nam, mở ra kỷ nguyên hậu Thiên An Môn của chủ nghĩa độc đoán mới. Bề ngoài, chuyến đi 36 ngày đưa Đặng Tiểu Bình, khi đó 87 tuổi, đến một số thành phố ở miền Nam là một kỳ nghỉ gia đình. Trước khi đoàn tàu của ông rời Bắc Kinh vào ngày 17 tháng 1 năm 1992, không có dấu hiệu nào cho thấy bế tắc chính trị sau cuộc đàn áp Thiên An Môn sẽ sớm kết thúc. Nhưng khi Đặng Tiểu Bình trở về Bắc Kinh vào ngày 21 tháng 2, ông đã đứng trước ngưỡng cửa tái khởi động một cuộc cách mạng kinh tế nhằm thiết lập trật tự mới: phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa dưới chế độ một đảng và con đường hiện đại hóa mà ông Đặng đã kiên trì ủng hộ từ cuối thập niên 1970.16 Trong vòng một tuần sau khi ông Đặng trở về, như một cử chỉ ủng hộ quan điểm của ông, Đảng đã phân phát tóm tắt các bài phát biểu mà ông đã trình bày trong chuyến đi. Vào ngày 9 và 10 tháng 3, Bộ Chính trị đã tổ chức một cuộc họp hiếm hoi kéo dài hai ngày (các cuộc họp Bộ Chính trị thường chỉ kéo dài một ngày) và quyết định thực hiện “tinh thần” của các bài phát biểu của Đặng Tiểu Bình.17 Không khí chính trị trong nước thay đổi ngay lập tức sau đó. Sau khi rõ ràng rằng Đặng Tiểu Bình đã lấy lại thế chủ đạo, các lãnh đạo tỉnh đua nhau kêu gọi cải cách kinh tế nhanh hơn. Tăng trưởng ngay lập tức bùng nổ (GDP sẽ tăng 14% vào năm 1992).18 Đến tháng 10 năm 1992, Đặng Tiểu Bình đã thành lập một Ban Thường vụ Bộ Chính trị do một nhóm lãnh đạo mới chia sẻ tầm nhìn tân độc đoán của ông (Lí Bằng, Thủ tướng, là người theo đường lối cứng rắn duy nhất còn sống sót trong ban lãnh đạo cấp cao).

Không có câu trả lời duy nhất cho câu hỏi làm thế nào một chuyến “du lịch gia đình” kéo dài một tháng của một nhà lãnh đạo 87 tuổi đã nghỉ hưu, người lúc đó chỉ mang danh hiệu “Chủ tịch danh dự Hiệp hội Cầu Trung Quốc”, lại có thể thay đổi tiến trình lịch sử Trung Quốc.

Ở cấp độ chính trị giới thượng lưu, tác động quan trọng nhất của chuyến đi của Đặng Tiểu Bình là buộc Giang Trạch Dân, người đã theo đuổi đường lối bảo thủ hơn kể từ khi được bổ nhiệm làm Tổng Bí thư vào tháng 6 năm 1989, phải hoàn toàn ủng hộ chính sách của Đặng Tiểu Bình. Dựa trên một phiên bản không chính thức nhưng dường như xác thực của các tóm tắt cuộc trò chuyện của Đặng Tiểu Bình trong chuyến đi, ông gần như không thể che giấu sự bất mãn sâu sắc với ban lãnh đạo sau sự kiện Thiên An Môn, và ngầm đe dọa sẽ cách chức Giang Trạch Dân.19 Ngoài ra, Đặng Tiểu Bình đã nói rất nhiều về sự sụp đổ của Liên Xô. “Điều tôi suy nghĩ nhiều nhất những ngày này,” Đặng Tiểu Bình được cho là đã nói với khán giả tại Thâm Quyến, “là Liên Xô. Đây là một quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, truyền thống văn hóa sâu sắc, một nhà nước hùng mạnh và một Đảng Cộng sản khổng lồ. Nhưng nó sụp đổ chỉ trong một đêm.” (Điều trớ trêu là Tập Cận Bình sẽ suy ngẫm về sự sụp đổ của Liên Xô bằng ngôn ngữ gần như giống hệt hai thập kỷ sau, sau khi ông đảm nhận chức vụ Tổng Bí thư vào tháng 11 năm 2012.) Chẩn đoán của Đặng về sự sụp đổ của Liên Xô là thất bại kinh tế (“nó thậm chí không thể lấp đầy bụng của người dân,” theo cách diễn đạt sinh động của ông). Nếu Trung Quốc thất bại về kinh tế, Đặng cảnh báo, “Liên Xô ngày hôm nay sẽ là Trung Quốc ngày mai.”20

Đe dọa của Đặng Tiểu Bình về việc cách chức Giang Trạch Dân vào đầu năm 1992 dường như có cơ sở. Một nhà báo Trung Quốc có mối quan hệ rộng, Yang Jisheng, viết rằng Đặng Tiểu Bình đã thất vọng với Giang Trạch Dân, và ông ngụ ý rằng Giang Trạch Dân nên từ chức nếu không ủng hộ cải cách một cách quyết liệt hơn. Sau đó, Đặng Tiểu Bình không sa thải Giang Trạch Dân, nhưng điều này chỉ vì ông đã được một đồng minh thân cận, nhà cách mạng lão thành Bạc Nhất Ba, thuyết phục. Ezra Vogel cũng khẳng định rằng vào tháng 2 năm 1992, Giang Trạch Dân đã biết rằng Đặng Tiểu Bình “quyết tâm” sa thải ông nếu ông không ủng hộ cải cách.21

Với vị trí đang bị đe dọa, Giang quyết định ủng hộ toàn diện chương trình cải cách của Đặng. Mặc dù vào năm 1992, Giang chưa củng cố được quyền lực, nhưng sự chuyển hướng trong lập trường của ông từ một kẻ cơ hội đứng giữa sang ủng hộ lời kêu gọi cải cách kinh tế mới của Đặng đã quyết định làm nghiêng cán cân quyền lực ở đỉnh cao lãnh đạo về phía chính sách của Đặng. Ngoài ra, vào đầu năm 1992, các nhân vật cứng rắn già nua chủ chốt đều đang trong tình trạng sức khỏe yếu hoặc sắp qua đời. Trần Vân, 86 tuổi, người đứng đầu phe bảo thủ có thể đã chống lại cuộc tấn công của Đặng, dường như đang trong tình trạng sức khỏe yếu và không còn hoạt động chính trị. (Trần qua đời vào tháng 4 năm 1995.)22

Về mặt chính sách, các lực lượng bảo thủ không thể chống cự vì đến năm 1992, họ đã mất hết uy tín. Các chính sách kinh tế lạc hậu của họ đã gây ra mức tăng trưởng tồi tệ nhất trong hai năm kể từ năm 1979. Sự sụp đổ của Liên Xô, mô hình của Đảng, đã hoàn toàn phơi bày sự phá sản về mặt tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản chính thống. Trong khi Đặng Tiểu Bình đã vạch ra một chiến lược để giữ ĐCSTQ nắm quyền trong thế giới đang thay đổi và ngày càng trở nên thù địch với chủ nghĩa cộng sản, thì phe cứng rắn đơn giản là không có giải pháp thay thế nào để đề xuất. Lời kêu gọi của Đặng Tiểu Bình về việc đẩy nhanh phát triển kinh tế cũng đã nhận được sự ủng hộ của công chúng. Một lựa chọn thay thế cho con đường này — quay trở lại nền kinh tế kế hoạch hóa và kiểm soát xã hội toàn trị — hầu như không hấp dẫn đối với những người vẫn còn nhớ về thời kỳ đen tối của chủ nghĩa Mao. Lựa chọn còn lại — hiện đại hóa kinh tế song song với tự do hóa chính trị — là không khả thi. Cuộc đàn áp Thiên An Môn đã giáng một đòn chí mạng vào các lực lượng ủng hộ dân chủ (vốn đã yếu ớt) ở mọi cấp độ. Người bảo trợ của họ trong ban lãnh đạo cấp cao, Triệu Tử Dương, đã bị thanh trừng. Các trí thức và nhà hoạt động tự do hàng đầu đã bị lưu đày hoặc bỏ tù. Sự kiểm soát chính trị được áp đặt sau cuộc đàn áp Thiên An Môn đã loại bỏ mọi không gian công cộng để ủng hộ thay đổi chính trị.23

Trong bối cảnh này, con đường tân độc đoán dường như mang lại lợi ích cho tất cả mọi người. Đối với những người quyết tâm duy trì chế độ một đảng, chiến lược sinh tồn này là thực tế và hứa hẹn nhất. Đối với những người tìm cách cải cách chế độ một đảng, hiện đại hóa kinh tế có thể là con đường vòng để tự do hóa hoặc thậm chí dân chủ hóa chế độ độc tài. Đối với đa số người dân Trung Quốc, với thu nhập bình quân đầu người chỉ 1.262 theo sức mua tương đương vào năm 1992, một chế độ cầm quyền tập trung vào phát triển kinh tế dường như tốt hơn nhiều so với một chế độ không làm điều đó.24

Cuối cùng, yếu tố Liên Xô có lẽ đã có tác động lớn, dù khó đo lường, đến thái độ của người dân Trung Quốc bình thường đối với chính phủ của họ. Sự hỗn loạn sau sự sụp đổ của Liên Xô, mà chính phủ Trung Quốc mô tả bằng những thuật ngữ tận thế thông qua tuyên truyền chính thức, có lẽ đã khiến người dân Trung Quốc, những người vẫn còn nhớ rõ sự hỗn loạn của Cách mạng Văn hóa, ưa chuộng trật tự và ổn định hơn là sự thay đổi có thể dẫn đến thảm họa tương tự như sự sụp đổ của Liên Xô. Thực tế, các cuộc điều tra ý kiến được tiến hành vào đầu thập niên 1990 cho thấy mức độ ủng hộ đáng ngạc nhiên dành cho ĐCSTQ. Ngoài thành tích kinh tế đáng khen ngợi của đảng, một nguồn ủng hộ quan trọng khác là nỗi sợ hãi về sự bất ổn xã hội.25

Sau khi xoay chuyển tình thế với chuyến đi miền Nam, Đặng Tiểu Bình ngay lập tức bắt tay vào việc sắp xếp lại ban lãnh đạo cấp cao của đảng để đảm bảo rằng chiến lược sinh tồn theo chủ nghĩa độc đoán mới của ông sẽ được thực hiện một cách trung thành. Vì Trần Vân phần lớn đã từ bỏ sự phản đối đối với chính sách của Đặng, một phần do sức khỏe yếu, Đặng có gần như toàn quyền lựa chọn các lãnh đạo cấp cao tại Đại hội Đảng lần thứ 14 vào tháng 10 năm 1992.26 Dựa trên danh sách ban lãnh đạo cấp cao được bầu tại đại hội, Đặng đã đạt được một chiến thắng chính trị toàn diện. Ban Chấp hành Trung ương có một số chuyên gia kỹ trị có thể tin cậy để thực hiện nhiệm vụ thúc đẩy phát triển kinh tế.27 Trong số bảy thành viên của Ban Thường vụ, Đặng Tiểu Bình có thể tin tưởng sáu người để thực hiện chính sách của mình, bao gồm Giang Trạch Dân (Tổng Bí thư), Chu Dung Cơ (Phó Thủ tướng Thường trực) và Hồ Cẩm Đào (một ngôi sao đang lên mà Đặng Tiểu Bình đã chỉ định làm người kế nhiệm Giang Trạch Dân). Người bảo thủ duy nhất trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị là Thủ tướng Lí Bằng.

Việc Đặng Tiểu Bình chỉ định Hồ Cẩm Đào, lúc đó 50 tuổi, làm người kế nhiệm của Giang Trạch Dân có thể phản ánh nỗi lo của ông rằng có thể xảy ra cuộc đấu tranh quyền lực sau khi Giang kết thúc nhiệm kỳ thứ hai đầy đủ với tư cách là Tổng Bí thư vào năm 2002. Cuộc đấu tranh như vậy không chỉ gây bất ổn mà còn có thể dẫn đến việc đưa một nhà lãnh đạo lên vị trí cao nhất có thể đe dọa di sản của Đặng Tiểu Bình. Sự lựa chọn của Đặng Tiểu Bình đối với Hồ Cẩm Đào, một quan chức đảng có thành tích hạn chế, vẫn là một bí ẩn. Vì Đặng Tiểu Bình hầu như không quen biết Hồ Cẩm Đào một cách cá nhân do Hồ Cẩm Đào trẻ hơn ông gần 40 tuổi và chưa từng làm việc trực tiếp dưới quyền ông, rất có thể Đặng Tiểu Bình đã dựa vào lời giới thiệu của người đồng minh thân cận và ân nhân suốt đời của Hồ Cẩm Đào là Tống Bình, một thành viên bảo thủ của Ban Thường vụ Bộ Chính trị (1989–1992). Đặng có thể cũng đã được trấn an bởi lòng trung thành của Hồ đối với Đảng, bởi vì, với tư cách là Bí thư Đảng ủy Tây Tạng từ năm 1988, ông đã ra lệnh thiết quân luật và đàn áp các cuộc biểu tình của người Tây Tạng vào tháng 3 năm 1989, vài tháng trước thảm sát Thiên An Môn. Đồng thời, Hồ cũng không thể hiện bất kỳ sự phản đối nào đối với các cải cách theo định hướng thị trường. Trong bối cảnh đó, Hồ Cẩm Đào rõ ràng là sự lựa chọn an toàn nhất cho vị trí lãnh đạo tương lai.28

Nền tảng trí tuệ của trật tự hậu Thiên An Môn

Về mặt lí luận, chiến lược tồn tại của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) trong thời kỳ hậu Thiên An Môn phần lớn được rút ra từ những thành công phát triển của các nước Đông Á (đặc biệt là Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore) dưới chế độ độc tài từ những năm 1960 đến 1980, và sau sự sụp đổ của Liên Xô, từ cách hiểu riêng của họ về nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của chế độ Liên Xô. “Chủ nghĩa [kiến tạo] phát triển tân độc đoán” — sự kết hợp giữa các cải cách ủng hộ thị trường, hội nhập với nền kinh tế toàn cầu do phương Tây chi phối và chế độ độc tài — có lẽ là cách tóm tắt tốt nhất bản chất của chiến lược hiện đại hóa kinh tế của Đặng Tiểu Bình. Như được thể hiện qua các bài phát biểu của ông nhấn mạnh cả và việc duy trì độc quyền chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc (nguyên tắc quan trọng nhất trong “bốn nguyên tắc cơ bản” của ông), chủ nghĩa phát triển độc đoán mới đã là nguồn cảm hứng tư tưởng cho chính sách cải cách và mở cửa của Đặng Tiểu Bình ngay từ đầu, mặc dù ông chưa bao giờ sử dụng thuật ngữ này trong các bài phát biểu công khai. Bằng chứng đáng tin cậy duy nhất cho thấy Đặng Tiểu Bình chấp nhận khái niệm này được cung cấp bởi Triệu Tử Dương, người cho biết Đặng đã bình luận với ông trong một cuộc họp năm 1988 rằng “chủ nghĩa độc đoán mới”—phát triển kinh tế trong môi trường ổn định dưới sự cai trị của một nhà lãnh đạo mạnh mẽ—“là quan điểm của tôi, nhưng không cần phải diễn đạt nó theo cách đó.”29

Thực tế, khái niệm “chủ nghĩa độc đoán mới” đã trở thành chủ đề nóng trong giới trí thức Trung Quốc vào năm 1988 do sự ủng hộ của một nhóm học giả trẻ và trung niên có khuynh hướng bảo thủ tham gia vào một cuộc tranh luận lớn hơn về con đường phát triển tối ưu của Trung Quốc. Mặc dù không có bằng chứng cho thấy những người theo đường lối cứng rắn đứng sau những người ủng hộ chủ nghĩa độc đoán mới vào thời điểm đó, ý tưởng về một chế độ độc đoán cam kết phát triển kinh tế có sức hấp dẫn rất lớn và được những người ủng hộ xem như một giải pháp thay thế cho mô hình phát triển dưới chế độ chính trị tự do.30 Về các ví dụ trong thế giới thực, những người ủng hộ chủ nghĩa độc đoán mới có thể tìm thấy những trường hợp thuyết phục ủng hộ lập luận của họ. Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, và ở mức độ thấp hơn là Thái Lan, Indonesia và Malaysia đã đạt được những thành công phát triển ngoạn mục kể từ những năm 1960 dưới chế độ độc tài. Mặc dù không có nghiên cứu học thuật nào khẳng định rõ ràng rằng chế độ độc đoán đã tạo điều kiện cho thành công kinh tế đó, mối liên hệ giữa chủ nghĩa độc đoán và sự phát triển kinh tế nhanh chóng dường như hiển nhiên một cách trực quan.31 Mặc dù chủ nghĩa độc đoán mới là nguyên tắc chỉ đạo của cuộc cải cách và mở cửa của Đặng Tiểu Bình trước khi nó trở thành xu hướng chủ đạo trong giới học thuật vào năm 1987–1988, Đặng Tiểu Bình đã gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển hóa hoàn toàn tầm nhìn này thành chính sách do sự phản đối, chủ yếu từ phe cứng rắn và thứ hai là từ phe tự do. Phe cứng rắn, do Trần Vân dẫn đầu, kiên quyết chống lại nỗ lực của Đặng Tiểu Bình trong việc tự do hóa nền kinh tế Trung Quốc, trong khi phe tự do ủng hộ cải cách chính trị mặc dù họ ủng hộ Đặng Tiểu Bình về chính sách kinh tế. Sự suy yếu của phe tự do như một lực lượng chính trị sau vụ đàn áp Thiên An Môn năm 1989 đã loại bỏ một rào cản đối với tầm nhìn tân độc đoán của Đặng Tiểu Bình. Sau sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1991, sự phản đối của phe cứng rắn đối với chiến lược sinh tồn dựa vào phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa để duy trì chế độ một đảng cũng tan biến.

Ngoài việc củng cố chiến lược tân độc đoán của Đặng Tiểu Bình, sự sụp đổ của Liên Xô còn định hình chiến lược sinh tồn của ĐCSTQ theo nhiều cách quan trọng.32 Trong thập niên 1990, lãnh đạo Trung Quốc đã giao nhiệm vụ cho các nhà khoa học xã hội trong nước thực hiện một số nghiên cứu nhằm tìm hiểu các yếu tố dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô. Không có gì ngạc nhiên khi các nghiên cứu này đưa ra những kết luận rất khác nhau và mâu thuẫn. Nhìn chung, các học giả tự do quy trách nhiệm cho hệ thống kinh tế kém hiệu quả, sự bành trướng đế quốc, tham nhũng và sự cứng nhắc của chế độ Liên Xô, nhưng các học giả bảo thủ lại cho rằng sự sụp đổ của Liên Xô chủ yếu là do các chính sách glasnost perestroika của Mikhail Gorbachev và do “sự diễn biến hòa bình” mà phương Tây chủ trương.33 Cách giải thích bảo thủ về sự sụp đổ của Liên Xô đã trở thành câu chuyện chính thức chủ đạo và ảnh hưởng đến chiến lược của ĐCSTQ trong việc đàn áp sự bất đồng chính kiến trong nước và đề phòng ảnh hưởng của phương Tây trong thời kỳ hậu Thiên An Môn. Tuy nhiên, hai kết luận do các học giả tự do đưa ra—sự thất bại của chế độ Liên Xô trong việc cải cách kinh tế và sự bành trướng đế quốc quá mức—đã có tác động sâu sắc đến chiến lược sinh tồn của đảng trong giai đoạn này. Đúng vậy, công lao cho hai quan sát này trước hết thuộc về chính Đặng, vì ông không chỉ chỉ ra rằng thất bại kinh tế sẽ dẫn đến sự sụp đổ của đảng mà còn kiên quyết khẳng định rằng Trung Quốc “tuyệt đối không được đi đầu” trong việc đối đầu với phương Tây.34

Những bài học mà lãnh đạo Trung Quốc rút ra từ sự sụp đổ của Liên Xô, dù mang tính chọn lọc, đã bổ sung gần như hoàn hảo cho tầm nhìn tân độc đoán của Đặng Tiểu Bình và định hướng chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng cho đến khi Tập Cận Bình lên nắm quyền vào cuối năm 2012. Về mặt đối nội, sự sụp đổ của Liên Xô đã nhấn mạnh vai trò trung tâm của phát triển kinh tế đối với tính chính danh dựa trên thành tích của Đảng, từ đó biện minh cho các cải cách định hướng thị trường táo bạo và hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Trong quan hệ đối ngoại, lãnh đạo sau sự kiện Thiên An Môn đã tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc “taoguan yanghui-thao quang dưỡng hối” (giấu mình chờ thời) của Đặng Tiểu Bình và hết sức tránh xung đột với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đồng thời, đảng cũng có hệ thống củng cố kiểm soát xã hội để phòng ngừa “sự diễn biến hòa bình”, nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc một cách có hệ thống để tăng cường tính chính danh của chế độ, tiến hành chiến dịch thu hút các tầng lớp tinh hoa xã hội để mở rộng cơ sở ủng hộ, và nhất quán duy trì kiểm soát các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế để ngăn chặn các cải cách thị trường làm suy yếu nền tảng kinh tế của chế độ một đảng. Chắc chắn, lãnh đạo Đảng sau thời Đặng Tiểu Bình đã hình thành chiến lược sinh tồn toàn diện này chủ yếu thông qua học hỏi và thích nghi.35 Tuy nhiên, xét theo thành công của Đảng trong tăng trưởng kinh tế và sự tồn tại của chế độ trong hai thập kỷ sau chuyến đi miền Nam của Đặng Tiểu Bình, những ý tưởng cốt lõi của chủ nghĩa độc đoán mới và bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô có thể được coi là yếu tố quan trọng góp phần vào thời kỳ hoàng kim của chế độ một đảng ở Trung Quốc từ năm 1992 đến 2012.

Các trụ cột chính của trật tự hậu Thiên An Môn

Trật tự tân độc đoán, bắt đầu từ chuyến thăm miền Nam lịch sử của Đặng Tiểu Bình vào năm 1992 và kết thúc với việc Tập Cận Bình lên nắm quyền lãnh đạo đảng vào tháng 11 năm 2012, kéo dài khoảng hai thập kỷ. Ngoài việc tạo ra “phép màu kinh tế” của Trung Quốc trong giai đoạn này, trật tự hậu Thiên An Môn được đặc trưng bởi sự đồng thuận về chính sách trong giới tinh hoa, lãnh đạo tập thể và chia sẻ quyền lực ở cấp cao, một thỏa thuận an ninh ngầm giữa các nhà lãnh đạo, cùng việc tuyển dụng và thăng tiến giới tinh hoa dường như dựa trên các quy tắc và chuẩn mực đã được thiết lập. Những đặc điểm quan sát được trong chính trị giới tinh hoa này đã lệch biệt đáng kể so với những gì đã đặc trưng cho tất cả các giai đoạn khác trong Trung Quốc hậu năm 1949. Trong giai đoạn Mao Trạch Đông (1949–1976), chế độ độc tài cá nhân và các cuộc thanh trừng liên tục chi phối chính trị tầng lớp tinh hoa, tương tự như trường hợp trong “kỷ nguyên mới” của Tập Cận Bình kể từ năm 2013. Trong thập niên 1980, những khác biệt về tư tưởng đã dẫn đến những xung đột gay gắt về chính sách và gây ra sự sụp đổ của hai tổng bí thư. Điều đã khiến chính trị giới thượng lưu sau Thiên An Môn tương đối ổn định đã thúc đẩy một cuộc tranh luận sôi nổi về vai trò của các thể chế và quyền lực trong thời kỳ hậu Đặng Tiểu Bình.

Một yếu tố rõ ràng đằng sau sự phát triển này là sự rút lui suôn sẻ của nhà cách mạng các kỳ cựu, bắt đầu từ đầu thập niên 1990 và kết thúc với cái chết của Đặng Tiểu Bình vào tháng 2 năm 1997. Sự chuyển giao từ nhà cách mạng các kỳ cựu sang thế hệ mới và trẻ hơn của các nhà kỹ trị có trình độ cao (Giang Trạch Dân là Tổng Bí thư đầu tiên có bằng đại học) diễn ra mà không gặp trở ngại, chủ yếu nhờ vào các bước đi chính trị của Đặng Tiểu Bình vào năm 1992. Sự sụp đổ của sự phản đối đối với tầm nhìn chủ nghĩa độc đoán mới của ông đã cho phép ông bổ nhiệm một đội ngũ lãnh đạo có thể thực hiện chương trình nghị sự của ông về việc duy trì quyền lực của Đảng thông qua sự phát triển kinh tế mạnh mẽ. Một cách tình cờ nhưng quan trọng, hầu hết các nhân vật cứng rắn có ảnh hưởng đều qua đời trước khi Đặng Tiểu Bình qua đời. Sự ra đi của họ đã loại bỏ một mối đe dọa tiềm tàng đối với thế hệ lãnh đạo mới mà Đặng Tiểu Bình đã giao phó chương trình nghị sự chưa hoàn thành của mình. Đúng vậy, vẫn còn một số ít nhân vật cứng rắn trẻ hơn còn sống. Nhưng khi không còn những người bảo trợ quyền lực và vị trí chính thức, họ chỉ có thể thỉnh thoảng lên tiếng phản đối việc “phục hồi chủ nghĩa tư bản”.36 Việc loại trừ các nhân vật cứng rắn sau năm 1992 và cuộc thanh trừng các nhà cải cách vào năm 1989 đã cho phép ban lãnh đạo mới theo đuổi chương trình nghị sự của Đặng Tiểu Bình mà không bị phân tâm hay xung đột nội bộ tàn phá.

Sau khi Đặng Tiểu Bình chọn đội ngũ lãnh đạo mới tại Đại hội Đảng lần thứ 14 vào tháng 10 năm 1992, ông rút lui khỏi sân khấu chính trị. Theo biên niên sử chính thức của ông, lần xuất hiện công khai cuối cùng của ông là vào tháng 2 năm 1994, khoảng ba năm trước khi ông qua đời vào ngày 19 tháng 2 năm 1997. Chính trong giai đoạn này, nền tảng của trật tự chính trị hậu Thiên An Môn được đặt ra. Mặc dù có tiếng là người cơ hội, nhưng đến lúc đó, Giang Trạch Dân đã hoàn toàn cam kết với tầm nhìn của Đặng Tiểu Bình và bắt đầu thực hiện chương trình nghị sự tân độc đoán của ông mà hầu như không có sự dè dặt nào.

Vào tháng 11 năm 1993, Giang đã dẫn dắt việc thông qua một văn kiện mang tính bước ngoặt tại Hội nghị Toàn thể lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV. “Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về một số vấn đề trong việc thiết lập các cơ chế của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” đã hợp pháp hóa, lần đầu tiên, vị thế của nền kinh tế thị trường, đánh dấu bước đột phá về mặt tư tưởng mà Đặng Tiểu Bình đã không thể đạt được trong suốt thập niên 1980. Nghị quyết này cũng vạch ra một kế hoạch chi tiết cho các cải cách kinh tế triệt để mà phe cứng rắn đã phản đối kịch liệt trong thập kỷ trước đó. Năm mươi điều khoản của nghị quyết bao gồm các kế hoạch cải cách các doanh nghiệp nhà nước, phát triển các thể chế nền tảng của nền kinh tế thị trường, khuyến khích sự phát triển của khu vực tư nhân, thiết lập các cơ chế quản lí kinh tế vĩ mô, mở rộng cửa với nền kinh tế thế giới và xây dựng một hệ thống pháp luật hiện đại.37

Thể chế hóa Đảng và Cân bằng Quyền lực

So với các giai đoạn Maoist và Đặngist trước đó cũng như thời kỳ Tập sau này, giai đoạn hậu Thiên An Môn nổi bật bởi sự bình thường và ổn định. Không có sự kiện chính trị chấn động nào tương tự như Cách mạng Văn hóa, cuộc đàn áp Thiên An Môn hay cuộc thanh trừng không ngừng của Tập Cận Bình diễn ra trong giai đoạn này. Mặc dù Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào mỗi người đã đưa một thành viên Ban Chấp hành Trung ương đối lập vào tù, những sự kiện này chủ yếu đáng chú ý vì chúng rất hiếm hoi. Suốt giai đoạn này, các nhà lãnh đạo Trung Quốc dường như điều hành công việc theo một bộ quy tắc thành văn và các chuẩn mực bất thành văn, trong đó những quy định quan trọng và hiệu quả nhất dường như là những quy định về việc tuyển dụng và thăng tiến cán bộ dựa trên tuổi tác, trình độ học vấn và thành tích công tác, cũng như việc kỷ luật và trừng phạt các đảng viên bị nghi ngờ tham nhũng.

Đúng vậy, ý tưởng về việc làm cho chính trị tầng lớp tinh hoa trở nên dựa vào quy tắc hơn đã xuất hiện từ đầu thập niên 1980, như được thể hiện qua “Hướng dẫn về Cuộc sống Chính trị trong Đảng” được Ban Chấp hành Trung ương thông qua vào năm 1980.38 Tuy nhiên, ít quy tắc cụ thể về quản lí trong đảng được ban hành trong thập niên 1980. Một trong những ưu tiên hàng đầu của Giang Trạch Dân trong giai đoạn đầu đến giữa những năm 1990 là ban hành các quy tắc và quy định cụ thể điều chỉnh các thủ tục quan trọng về bổ nhiệm, thăng chức, kỷ luật và quản lí các ủy ban đảng địa phương. Một số quy định quan trọng nhất của đảng, chẳng hạn như “Quy định Thử nghiệm về Lựa chọn và Bổ nhiệm Cán bộ Lãnh đạo Đảng và Chính phủ” (1995) và “Quy định về Kỷ luật và Xử phạt của Đảng Cộng sản Trung Quốc” (1997), đã được ban hành dưới sự lãnh đạo của Giang Trạch Dân. (Dự án đưa chính trị trong Đảng vào khuôn khổ các quy định chặt chẽ hơn tiếp tục được thực hiện dưới thời Hồ Cẩm Đào, người đã cập nhật các quy định tạm thời do Giang Trạch Dân ban hành và đưa ra các quy định mới.)³⁹

Các quy định trong các quy tắc và tiêu chuẩn này đã mang lại những lợi ích đáng kể cho Đảng. Việc đưa ra một số tiêu chuẩn có thể đo lường được — như độ tuổi, trình độ học vấn và thành tích về năng lực quản lí (chủ yếu về mặt quản lí kinh tế) — làm một phần trong các tiêu chí tuyển dụng và thăng chức cán bộ đã góp phần mang lại sức trẻ và năng lực chuyên môn cho bộ máy cơ sở của Đảng. Việc coi trọng kinh nghiệm quản lí ở các cương vị và lĩnh vực khác nhau đã giúp đảng đào tạo và thăng chức cho các cán bộ có năng lực toàn diện. Việc đồng thời giảm bớt sự nhấn mạnh vào ý thức hệ đã giúp đảng giới hạn những bất đồng ở mức độ chính sách và tính cách, chứ không phải là các cuộc tranh luận gây chia rẽ về các giá trị ý thức hệ.

Tuy nhiên, các quy định về “chế độ trọng tài năng” và thành tích hành chính có thể bị các quan chức địa phương khôn ngoan lợi dụng. Ví dụ, các quan chức không có bằng đại học chính quy bốn năm có thể nâng cao hồ sơ của mình bằng các bằng cấp từ các chương trình đại học hoặc sau đại học ít nghiêm ngặt hơn. Ví dụ, Tập Cận Bình đã nhận bằng tiến sĩ từ Đại học Thanh Hoa danh tiếng thông qua chương trình đào tạo từ xa vào cuối những năm 1990 khi ông đang giữ chức tỉnh trưởng tỉnh Phúc Kiến. Việc làm giả dữ liệu kinh tế để tô điểm hồ sơ cá nhân là phổ biến. Việc xây dựng mối quan hệ với cấp trên, thường thông qua các phương tiện bất hợp pháp như hối lộ, có thể thúc đẩy sự nghiệp của một quan chức.40 Hệ thống dựa trên năng lực này dường như được áp dụng nghiêm ngặt hơn đối với việc thăng tiến của các quan chức địa phương so với các quan chức cấp quốc gia, vì sự bảo trợ — mối quan hệ cá nhân với các lãnh đạo cấp cao trong đảng — đóng vai trò quyết định trong việc lựa chọn các thành viên của Ban Chấp hành Trung ương, những người thường đảm nhiệm các vị trí chính trị và hành chính quan trọng nhất trong nhà nước đảng.41

Tuy nhiên, bất chấp những khuyết điểm này, các quy tắc được quy định rõ ràng và các chuẩn mực ngầm về chính trị giới thượng lưu đã giúp đảng tuyển dụng được nhiều cá nhân tài năng hơn và giữ họ gắn bó với đảng vì lợi ích cá nhân. Ít nhất, những quy tắc và chuẩn mực này đã cung cấp cho họ một lộ trình sự nghiệp để thăng tiến bên trong hệ thống đảng-nhà nước. Các giới hạn được áp dụng về nhiệm kỳ (thường là hai nhiệm kỳ ở cùng một vị trí) và tuổi tác (tuổi nghỉ hưu bắt buộc là 60 đối với các quan chức có cấp bậc phó bộ trưởng hoặc phó tỉnh trưởng, trong khi bộ trưởng và tỉnh trưởng phải nghỉ hưu ở tuổi 65) đã thúc đẩy sự luân chuyển của giới tinh hoa khi các quan chức đạt đến các giới hạn này bị buộc phải nghỉ hưu và nhường chỗ cho thế hệ trẻ hơn. Điều này giúp đảng tránh được vấn đề thời kỳ Mao Trạch Đông khi việc thiếu giới hạn về tuổi tác và nhiệm kỳ đã cho phép nhà cách mạng các kỳ cựu giữ chức vụ vô thời hạn, cản trở sự nghiệp của các quan chức trẻ. Những người theo đảng bị thất vọng này đã đóng vai trò quan trọng trong việc lật đổ thế hệ lãnh đạo cũ vào đầu Cách mạng Văn hóa.42

Để tránh làm mất lòng một nhóm lớn quan chức bị buộc phải nghỉ hưu, đảng đã bổ nhiệm họ làm đại biểu tại các hội đồng nhân dân địa phương hoặc hội nghị tham vấn chính trị nhân dân (một cơ quan tư vấn). Những quan chức nghỉ hưu khỏi các trách nhiệm trực tiếp vẫn được hưởng các quyền lợi như chế độ hưu trí hậu hĩnh, nhà ở do chính phủ cung cấp và tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao. Họ có thể dựa vào sự hỗ trợ và dịch vụ do một cơ quan hành chính đặc biệt cung cấp, đó là “Cục Cán bộ kỳ Cựu”, vốn được thành lập trong chính phủ trung ương vào thập niên 1980 để phục vụ nhu cầu của các nhà cách mạng đã ngoài 80 tuổi, nhưng sau đó được mở rộng ra tất cả các cấp của hệ thống đảng-nhà nước vào thập niên 1990. Mặc dù việc duy trì số lượng ngày càng tăng của các quan chức ở độ tuổi đầu sáu mươi tiêu tốn nguồn lực khổng lồ, đảng không gặp khó khăn trong việc chi trả các chi phí này vì kho bạc nhà nước tràn ngập nguồn thu thuế từ nền kinh tế đang mở rộng nhanh chóng.

Khác với thời kỳ Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình, chính trị tầng lớp tinh hoa trong giai đoạn Giang Trạch Dân thực sự nắm quyền (1993–2002) được đặc trưng bởi mức độ ổn định và lãnh đạo tập thể chưa từng có trong tất cả các giai đoạn khác của lịch sử Trung Quốc, ngoại trừ thời kỳ Hồ Cẩm Đào (2003–2012). Khi Mao lãnh đạo đảng, ông tiến hành các cuộc thanh trừng không ngừng để loại bỏ kẻ thù, bao gồm cả hai người được chỉ định làm người kế nhiệm (Lưu Thiếu Kỳ và Lâm Bưu). Trong thập niên 1980, sự thất vọng của Đặng Tiểu Bình đối với các đệ tử của mình, Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương, cuối cùng đã dẫn đến việc họ bị loại khỏi quyền lực.

Ngược lại, sự chấm dứt của những cuộc tranh cãi ý thức hệ gay gắt sau năm 1992 đã củng cố đáng kể sự đoàn kết của giới tinh hoa trong thời kỳ hậu Thiên An Môn. Giang không tiến hành bất kỳ cuộc thanh trừng quy mô lớn nào trong thời gian giữ chức Tổng Bí thư, mặc dù thỉnh thoảng ông cũng tiến hành các chiến dịch chống tham nhũng nửa vời, chủ yếu nhắm vào các quan chức cấp trung.43 Chỉ có một đối thủ cá nhân, thành viên Bộ Chính trị Trần Hy Đồng, bị kết án tù vì tội tham nhũng vào năm 1995 (một hành động công bằng theo quan điểm của nhiều người vì Trần đã đóng vai trò đen tối trong cuộc đàn áp Thiên An Môn). Đúng là, trong thời kỳ hậu Thiên An Môn, những mâu thuẫn cá nhân và cuộc đấu tranh quyền lực trần trụi có lẽ đã thay thế các xung đột về tư tưởng trở thành nguyên nhân chính của mâu thuẫn trong giới tinh hoa. Sự thay đổi này có thể không được coi là một cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, sự hiện diện của các quy tắc rõ ràng về việc phê duyệt hình phạt đối với các quan chức bị cáo buộc tham nhũng rất có thể đã hạn chế quyền tự tiện của đa số các quan chức Đảng, những người muốn thấy đối thủ của mình bị tống vào tù. Đáng chú ý là các cuộc điều tra chống tham nhũng không được sử dụng như một công cụ chính trị trên quy mô đáng kể cho đến khi Tập Cận Bình lên nắm quyền. Đảng đã thiết lập các thủ tục phê duyệt hình phạt đối với các quan chức cấp cao bị kết tội tham nhũng vào năm 1983. Thông thường, việc khai trừ khỏi đảng phải được Ủy ban Thường vụ của một tổ chức đảng phê chuẩn. Do đó, một thành viên của Ban Chấp hành Trung ương không thể bị trừng phạt nếu không có sự phê chuẩn của Ủy ban Thường vụ.44

Tuy nhiên, ở cấp cao nhất của Đảng, yếu tố chính giúp kiềm chế việc lạm dụng các cuộc điều tra tham nhũng nhằm vào đối thủ chính trị không chỉ là sự tồn tại của các quy định đó, mà còn là sự cân bằng quyền lực tinh tế trong Ban Thường vụ.45 Trong thời kỳ của Giang Trạch Dân, ông phải chia sẻ quyền lực với những đối thủ mạnh mẽ. Lí Bằng, Thủ tướng theo đường lối cứng rắn (và sau này là Chủ tịch Ban Thường vụ Quốc hội), người nắm giữ vị trí thứ hai trong Đảng, có cơ sở ủng hộ vững chắc trong giới bảo thủ. Kiều Thạch, nhà lãnh đạo xếp thứ ba cho đến năm 1997, đã có sự nghiệp rực rỡ hơn Giang, từng phụ trách Ban Tổ chức Đảng và bộ máy an ninh. Chu Dung Cơ, người gia nhập PSC vào năm 1992 và trở thành Thủ tướng vào năm 1998, cũng không phải là người dễ bị bắt nạt. Năm 1993, sau khi sức khỏe suy yếu và lạm phát cao buộc Lí Bằng, khi đó là Thủ tướng, phải chuyển giao phần lớn quyền hành pháp của Quốc vụ viện cho Chu, cựu Thị trưởng Thượng Hải đầy tham vọng này nhanh chóng khẳng định uy tín của mình như “người đứng đầu kinh tế” của đất nước và trở thành nhà hoạch định chính sách kinh tế có ảnh hưởng nhất trong thời kỳ hậu Thiên An Môn cho đến khi ông nghỉ hưu vào năm 2003.

Ngoài ba nhân vật chính trị nặng ký này, Giang còn phải đối phó với Lí Thụy Hoàn, thành viên thứ tư trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị, người mà Đặng Tiểu Bình đã đề bạt sau cuộc đàn áp Thiên An Môn để đối phó với phe cứng rắn. Mặc dù được cho là không hợp nhau, Giang chỉ có thể vận động để Lí về hưu tại Đại hội Đảng lần thứ 15 vào năm 1997.46 Sự hiện diện của Hồ Cẩm Đào, người kế nhiệm được Đặng Tiểu Bình chỉ định vào năm 1992, càng làm hạn chế quyền lực của Giang. Người kế nhiệm tiềm năng không thể được coi là đồng minh của Giang. Nếu có chăng, Hồ có lợi ích trong việc duy trì cân bằng quyền lực để ngăn Giang trở thành một nhà lãnh đạo mạnh mẽ và đe dọa việc ông lên nắm vị trí cao nhất trong Đảng sau khi Giang hoàn thành nhiệm kỳ thứ hai vào năm 2002.

Phân tích này cho thấy rằng, có lẽ quan trọng hơn bất kỳ quy tắc chính thức nào, sự cân bằng quyền lực được điều chỉnh tinh tế trong thời kỳ Giang (và sau này trong thời kỳ Hồ) đã duy trì sự ổn định của giới tinh hoa và lãnh đạo tập thể. Các quy tắc chỉ có hiệu lực khi chúng có thể được thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế. Trong thời kỳ hậu Thiên An Môn, sự xuất hiện của tính thể chế hóa và sự ổn định tương đối trong chính trị giới tinh hoa đã khiến một số người kết luận rằng đảng đã thành công trong việc thiết lập các quy tắc và tiêu chuẩn ràng buộc, và chính trị trong thế giới Hobbesian trước đây đã trở nên “bình thường”.47 Tuy nhiên, những người hoài nghi đặt câu hỏi liệu, trong bối cảnh thiếu vắng một bên thứ ba thực thi, giới tinh hoa trong một chế độ độc tài có thể tự kiềm chế và tuân thủ các quy tắc và chuẩn mực hay không.48 Điều nổi bật trong thời kỳ hậu Thiên An Môn là sự vắng mặt hoàn toàn của một bên thứ ba — như một cử tri đoàn có quyền lực, một hệ thống tư pháp độc lập hoặc một nền báo chí tự do — có thể thực thi các quy tắc và chuẩn mực của đảng. Sự vắng mặt của các bên thứ ba thực thi là do thiết kế chứ không phải ngẫu nhiên. Chính sự phản đối kiên quyết của Đặng Tiểu Bình đối với việc tự do hóa chính trị và các cơ chế kiểm soát và cân bằng do Triệu Tử Dương đề xuất vào năm 1987 đã ngăn cản việc thiết lập các bên thứ ba tiềm năng.

Sự cân bằng quyền lực mong manh trong thời kỳ hậu Thiên An Môn đã cho phép đảng tuân thủ các quy tắc kế vị của mình. Tuy nhiên, khi xem xét kỹ hai lần kế vị vào năm 2002 và 2012, có thể thấy hai trường hợp này đều rất mong manh, và chúng cho thấy việc thể chế hóa chính trị tầng lớp tinh hoa trong thời kỳ hậu Thiên An Môn chủ yếu chỉ là ảo giác. Trong trường hợp kế vị của Hồ vào năm 2002, Giang có lẽ đã bất mãn với việc Đặng bổ nhiệm Hồ làm người kế vị, nhưng ông thiếu quyền lực để loại bỏ Hồ. Tuy nhiên, Giang vẫn cố gắng bám víu quyền lực bằng cách giữ chức Chủ tịch Quân Ủy Trung ương của Đảng, danh nghĩa là tuân theo tiền lệ do Đặng thiết lập (người đã giữ chức vụ tương tự sau khi từ bỏ ghế trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị vào năm 1987). Theo ngôn ngữ thông dụng của Trung Quốc, Giang Trạch Dân không “rút lui trần trụi” (luotui) bằng cách từ bỏ tất cả các chức danh chính thức của mình, như Hồ Cẩm Đào sẽ làm sau này vào năm 2012.

Sự non nớt trong quá trình thể chế hóa của Đảng một lần nữa được thể hiện tại Đại hội Đảng lần thứ 17 năm 2007, khi người kế nhiệm của Hồ Cẩm Đào được bầu chọn. Bước đi có tầm nhìn xa, dù không phải là chủ động, của Đặng Tiểu Bình khi chỉ định người kế nhiệm của Giang vào năm 1992 có thể đã giúp đảng tránh được một cuộc đấu tranh quyền lực tàn khốc vào năm 2002, nhưng vào năm 2007, đảng buộc phải đạt được thỏa thuận về việc ai sẽ kế nhiệm Hồ Cẩm Đào. Như sẽ được thảo luận sau trong chương này, không có quy tắc nào cho đảng tuân theo. Tập Cận Bình — người chiến thắng cuối cùng trong cuộc cạnh tranh giữa Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào — không liên kết với bất kỳ phe phái nào. Nhưng chính vị “hoàng tử đỏ” tương đối ít người biết đến này, sau khi lên nắm quyền vào tháng 11 năm 2012, đã không chần chừ trong việc thanh trừng các đối thủ chính trị và phá vỡ sự cân bằng quyền lực mong manh ở đỉnh cao. Thành công của Tập Cận Bình trong việc mở rộng và duy trì quyền lực cá nhân đã tái khẳng định rằng những quy tắc và chuẩn mực mà đảng đã thiết lập trong thời kỳ hậu Mao không thể sánh được với sự tàn nhẫn chính trị và mưu mô của một nhà lãnh đạo mạnh mẽ. Nếu có chăng, sự bình lặng tương đối trong chính trị tầng lớp tinh hoa trong thời kỳ hậu Thiên An Môn chính là ngoại lệ chứng minh quy luật về sự bất khả thi của việc thể chế hóa chính trị trong một chế độ độc tài.

Chiến dịch Giáo dục Yêu nước và Sự trỗi dậy của Chủ nghĩa Dân tộc

Ngày 9/6/1989, năm ngày sau khi Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) đàn áp phong trào dân chủ Thiên An Môn, Đặng Tiểu Bình đã gặp gỡ các sĩ quan quân đội cấp cao chịu trách nhiệm về cuộc đàn áp. Trong khi cảm ơn họ vì “công lao” của mình, Đặng Tiểu Bình cũng thừa nhận rằng “sai lầm lớn nhất mà chúng ta đã mắc phải trong thập kỷ qua là… [bỏ qua] giáo dục tư tưởng và chính trị.”49 Để khắc phục sai lầm này, các nhà lãnh đạo kế nhiệm trong thập niên 1990 đã phát động một chiến dịch toàn diện nhằm khôi phục chủ nghĩa dân tộc như một phương tiện để nuôi dưỡng sự ủng hộ của quần chúng đối với đảng. Thành phần cốt lõi của chiến dịch này là giáo dục yêu nước—một chương trình tận dụng sự kiểm soát của đảng đối với hệ thống giáo dục, truyền thông và các cơ sở văn hóa để gieo rắc vào công chúng Trung Quốc, đặc biệt là thế hệ trẻ, lòng tự hào dân tộc, sự phẫn nộ đối với chủ nghĩa đế quốc phương Tây và lòng trung thành với đảng.

Chiến dịch giáo dục yêu nước này diễn ra trước chuyến thăm miền Nam lịch sử của Đặng Tiểu Bình một chút. Vào cuối tháng 8 năm 1991, dưới sự thúc đẩy của Tổng Bí thư Đảng mới nhậm chức Giang Trạch Dân, Ủy ban Giáo dục Nhà nước đã ban hành hai văn bản quan trọng. Một văn bản yêu cầu tăng cường chương trình giảng dạy lịch sử ở các trường tiểu học và trung học cơ sở để học sinh hiểu rõ hơn về lịch sử hiện đại và đương đại của Trung Quốc. Văn bản này nêu rõ rằng mục tiêu của việc này là “đập tan âm mưu ‘cách mạng hòa bình’ của các thế lực thù địch trong và ngoài nước.” Để đảm bảo học sinh có động lực học lịch sử theo phiên bản của Đảng, văn bản này cũng quy định rằng bắt đầu từ năm 1992, kỳ thi tuyển sinh đại học, hay gaokao, sẽ kiểm tra kiến thức về lịch sử Đảng. Văn bản thứ hai chỉ đạo các trường học và đại học tổ chức các chuyến tham quan bảo tàng và các di tích cách mạng như một phần của chương trình nhằm nuôi dưỡng “tinh thần yêu nước và tinh thần cách mạng.”50

Văn bản chính sách quan trọng nhất về giáo dục yêu nước, “Kế hoạch triển khai giáo dục yêu nước”, đã được Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ban hành vào tháng 8 năm 1994.51 Văn bản này đã nêu rõ các quy định cụ thể cho chiến dịch này. Trong số các nội dung khác, giáo dục yêu nước tập trung vào lịch sử Trung Quốc, những đóng góp của Trung Quốc cho nền văn minh nhân loại, cuộc kháng chiến của Trung Quốc chống lại sự xâm lược và áp bức từ nước ngoài, cũng như chính sách và thành tựu của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong phát triển kinh tế. Thế hệ trẻ là đối tượng mục tiêu của chiến dịch giáo dục yêu nước, và trường học là nơi chính để thực hiện nỗ lực này. Sách giáo khoa ở các trường tiểu học và trung học cơ sở bắt buộc phải bao gồm nội dung về giáo dục yêu nước. Ngoài ra, phim ảnh, truyền hình, tạp chí và âm nhạc sẽ được sử dụng để phổ biến giáo dục yêu nước. Chính phủ cũng sẽ tài trợ cho việc thành lập các “cơ sở giáo dục yêu nước” — bao gồm bảo tàng, di tích lịch sử, các địa điểm diễn ra các trận chiến lớn trong nội chiến và các di sản văn hóa nổi tiếng. Các nghi lễ yêu nước, như hát quốc ca và lễ chào cờ, sẽ được yêu cầu thực hiện tại các lễ tốt nghiệp và các sự kiện thể thao lớn. Giáo dục yêu nước cũng bao gồm việc quảng bá các hình mẫu yêu nước — các nhà lãnh đạo đảng, nghệ sĩ, nhà thơ và các liệt sĩ cách mạng — những người đã có những đóng góp xuất sắc cho Trung Quốc. Động cơ đằng sau việc Giang Trạch Dân thúc đẩy giáo dục yêu nước rất dễ nhận ra. Về mặt chính trị, ông muốn khẳng định uy tín của mình như một người bảo thủ về mặt tư tưởng, trung thành thực hiện các chỉ thị của Đặng Tiểu Bình. Sau thảm họa Thiên An Môn năm 1989 và sự sụp đổ của Liên Xô, việc nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc cũng phục vụ lợi ích của đảng vì nó có thể tập hợp công chúng ủng hộ đảng sau khi chủ nghĩa cộng sản chính thống đã mất đi sức hấp dẫn đối với quần chúng.52

Sau khi ban hành “Khung chương trình” vào năm 1994, Đảng đã huy động bộ máy tuyên truyền và toàn bộ hệ thống giáo dục để triển khai giáo dục yêu nước. Dựa trên các tài liệu chính thức, các trường đại học và trường học đã thực hiện các chỉ đạo cụ thể được nêu trong “Khung chương trình”. Chương trình giảng dạy được sửa đổi để bao gồm nội dung giáo dục yêu nước bắt buộc, như lịch sử xâm lược của chủ nghĩa đế quốc phương Tây và văn hóa, truyền thống, cùng tinh thần yêu nước của Trung Quốc. Các trường học bắt đầu tổ chức các lễ chào cờ định kỳ, hát quốc ca tại các sự kiện lớn và treo cờ quốc gia trong các lớp học, giảng đường và văn phòng.53 “Các cơ sở giáo dục yêu nước” — những di tích cách mạng mới được chỉ định, các địa điểm diễn ra các trận chiến lớn trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai (1937–1945), bảo tàng lịch sử và quê hương của các nhân vật cách mạng và văn hóa nổi tiếng — đã được thành lập trên khắp cả nước. Các câu chuyện tại phần lớn các cơ sở này đã ca ngợi một cách rõ ràng vai trò của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong việc giành lại chủ quyền, độc lập và phẩm giá của đất nước sau một thế kỷ suy yếu và nhục nhã của dân tộc.54

Sinh viên đại học là đối tượng chính của giáo dục yêu nước vì đảng coi họ là những người bị tư tưởng phương Tây làm hư hỏng sâu sắc hơn và có khả năng đe dọa đến sự cai trị của ĐCSTQ hơn bất kỳ nhóm xã hội nào khác. Sinh viên bắt buộc phải học hai môn: “Lí luận Mác-Lênin” và “Tình hình và Chính sách Hiện tại” (xingshi zhengce jiaoyu). Mặc dù chiến dịch được gọi là “giáo dục yêu nước”, mục tiêu chính của nó, theo một quan chức cấp cao của Ủy ban Giáo dục Nhà nước, là đảm bảo lòng trung thành với “bốn nguyên tắc cơ bản” của Đặng Tiểu Bình và với sứ mệnh của Đảng trong việc xây dựng“chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.”55 Một số quan chức đại học đã khẳng định rõ ràng rằng “thành phần cơ bản” của giáo dục yêu nước là “tình yêu đối với Đảng và chủ nghĩa xã hội.”56

Khác biệt lớn so với giọng điệu chiến thắng của đảng trong việc thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc thời kỳ Mao Trạch Đông, ban lãnh đạo sau sự kiện Thiên An Môn đã chọn một câu chuyện về nạn nhân, nhấn mạnh sự bắt nạt của đế quốc đối với Trung Quốc và miêu tả đảng là người bảo vệ vinh quang lớn nhất của Trung Quốc.57 Đảng đã cố ý chọn chủ đề này bởi vì, sau cuộc đàn áp Thiên An Môn và sự sụp đổ của Liên Xô, Trung Quốc bị cô lập với phương Tây, và việc miêu tả phương Tây như đang cố gắng chinh phục Trung Quốc một lần nữa trở nên dễ dàng.

Tình cờ, một loạt sự kiện trong thập niên 1990 đã giúp củng cố tính xác thực cho câu chuyện nạn nhân của Đảng và làm nổi bật thông điệp rằng Hoa Kỳ, khi đó là siêu cường duy nhất trên thế giới, đang có ý định kiềm chế Trung Quốc. Năm 1993, vụ việc được gọi là “Yinhe-Ngân Hà” đã khiến công chúng Trung Quốc phẫn nộ. Các cơ quan tình báo Mỹ cáo buộc tàu container Trung Quốc Yinhe vận chuyển vật liệu dùng cho vũ khí hóa học của Iran, và có thể do can thiệp ngoại giao của Mỹ, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đã ngăn cản tàu này cập cảng. Ngay cả sau khi kiểm tra cho thấy Yinhe không chở bất kỳ hàng cấm nào, Mỹ vẫn từ chối xin lỗi. Năm 1995, dưới áp lực từ Quốc hội, chính quyền Clinton buộc phải cấp visa cho Lee Teng-hui (Lí Đăng Huy) để thăm Mỹ. Lee lúc đó là Tổng thống Đài Loan, người bị Bắc Kinh lên án vì những tham vọng độc lập của mình. Đáp lại những phát biểu ủng hộ độc lập mà Lee đã đưa ra tại Mỹ, Trung Quốc đã tổ chức một loạt cuộc tập trận quân sự như một lời cảnh báo đối với Đài Loan. Tuy nhiên, vào tháng 3 năm 1996, Washington đã phản ứng bằng cách điều hai nhóm tác chiến tàu sân bay đến vùng biển xung quanh Đài Loan khi Trung Quốc đang tiến hành các cuộc tập trận quân sự lớn nhất từ trước đến nay, bao gồm việc bắn tên lửa vào vùng biển gần Đài Loan. Mặc dù không xảy ra xung đột quân sự, nhưng việc Mỹ thể hiện sự ủng hộ đối với Đài Loan một lần nữa khiến công chúng Trung Quốc phẫn nộ.58

Sự kiện có lẽ đã góp phần hơn bất kỳ điều gì khác vào việc củng cố câu chuyện về “nạn nhân Trung Quốc” của Đảng là vụ oanh tạc nhầm Đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade bởi một máy bay tàng hình Mỹ trong chiến dịch oanh tạc của NATO chống lại Serbia vào tháng 5 năm 1999. Mặc dù Washington đã giải thích và xin lỗi, các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn khẳng định đây là hành động cố ý, và người dân Trung Quốc đã tham gia vào các cuộc biểu tình chống Mỹ trên toàn quốc. Những người biểu tình giận dữ ở Bắc Kinh, nhiều người trong số họ là sinh viên đại học, đã ném đá và các vật thể khác vào Đại sứ quán Mỹ. Tại Thành Đô, đám đông đã đốt cháy nơi ở của Tổng Lãnh sự Mỹ.59

Dựa trên làn sóng chống Mỹ dữ dội như vậy, đúng một thập kỷ sau khi sinh viên ủng hộ dân chủ dựng một bức tượng Nữ thần Tự do thu nhỏ tại Quảng trường Thiên An Môn, chiến dịch giáo dục yêu nước của Đảng rõ ràng đã thành công vượt ngoài mong đợi. Thật vậy, hầu hết các nghiên cứu học thuật về sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc trong những năm 1990 đều cho thấy thái độ của công chúng Trung Quốc vào thời điểm đó, đặc biệt là thái độ của thế hệ trẻ, đã trở nên yêu nước và ủng hộ chính phủ hơn.60

Đàn áp có chọn lọc

Một trong những bài học quan trọng mà lãnh đạo đảng rút ra từ cuộc khủng hoảng Thiên An Môn là nhu cầu về một cơ chế cưỡng chế hiệu quả hơn. Kết quả là, đảng đã tiến hành một chiến dịch toàn diện trong thập niên 1990 để đầu tư vào năng lực cưỡng chế của nhà nước.61 Vào tháng 4 năm 1990, đảng đã ban hành một văn kiện chính sách quan trọng về việc củng cố an ninh nội địa. Các quy định của văn bản này bao gồm việc khôi phục Ủy ban Chính trị và Pháp luật Trung ương, một cơ quan chuyên trách của đảng phụ trách thi hành pháp luật đã bị bãi bỏ bởi Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc theo chủ trương cải cách Triệu Tử Dương vào năm 1988. Ủy ban được khôi phục này sẽ giám sát việc tăng cường thi hành pháp luật và điều phối việc thực hiện chương trình an ninh của đảng. Văn bản cam kết tiến hành một cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống lại “các lực lượng thù địch, xâm nhập và lật đổ”. Tài liệu này ra lệnh rõ ràng về việc thành lập các lực lượng chống bạo loạn cơ động ở thành thị để dập tắt các cuộc biểu tình (Trung Quốc không có lực lượng cảnh sát chống bạo loạn chuyên trách để đối phó với những người biểu tình ủng hộ dân chủ vào năm 1989).62

Mười tháng sau khi văn bản này được ban hành, đảng đã công bố chỉ thị thứ hai về an ninh nội địa, “Quyết định về việc tăng cường quản lí toàn diện an ninh công cộng”. Trên giấy tờ, văn bản này dường như nhấn mạnh vào trật tự pháp luật và ổn định xã hội, nhưng nó cũng bao gồm các quy định nhằm siết chặt kiểm soát xã hội, như giám sát “dân di cư” (người không có hộ khẩu thường trú) và theo dõi các sàn nhảy, tài liệu in ấn, và các địa điểm chiếu video. Nó kêu gọi các chính quyền địa phương tăng ngân sách cho lực lượng thi hành pháp luật.63

Đầu tư vào bộ máy cưỡng chế của Trung Quốc – cảnh sát, tòa án và viện kiểm sát – đã tăng mạnh trong những năm sau khi các văn bản này được ban hành. Từ năm 1991 đến 1995, số tiền chi cho ba cơ quan nhà nước này đã tăng gấp ba lần về mặt tuyệt đối (từ 10 tỷ nhân dân tệ vào năm 1991 lên 30 tỷ nhân dân tệ vào năm 1995). Đến năm 2002, một thập kỷ sau chuyến đi miền Nam của Đặng Tiểu Bình, chi tiêu cho ba nhánh này đã tăng lên 110 tỷ nhân dân tệ, gấp mười lần so với năm 1991 (chưa điều chỉnh theo lạm phát).64

Quy mô lực lượng cảnh sát đã tăng hơn gấp đôi từ năm 1989 đến 2010 (từ 769.000 lên ít nhất 2 triệu người).65 Bắt đầu từ đầu những năm 2000, đảng đã mở rộng các đơn vị cảnh sát chịu trách nhiệm giám sát trong nước và đàn áp chính trị (“bảo vệ an ninh trong nước”), bổ sung thêm có lẽ hơn mười nghìn cảnh sát chuyên trách xử lí những người bất đồng chính kiến, tín đồ tôn giáo ngầm và thành viên các giáo phái.66 Vào giữa năm 1990, Cảnh sát Vũ trang Nhân dân (PAP-People’s Armed Police) bắt đầu thành lập các đơn vị chống bạo loạn chuyên biệt. Đến cuối thập niên 1990, hầu hết các sở cảnh sát địa phương đã thành lập các đơn vị tương tự.67

Trong thập niên 1990, đảng đã triển khai một loạt sáng kiến nhằm nâng cao năng lực của nhà nước giám sát. Tháng 11 năm 1991, Bộ Công an (MPS) – cơ quan quyền lực – ban hành các quy định mới về giám sát “các nhóm đối tượng trọng điểm” (như những người bất đồng chính kiến, các nhà hoạt động trong các nhóm tôn giáo ngầm và những người từng có tiền án). Vào tháng 12 năm 1991, bộ này đã thiết lập các hoạt động bí mật tại các khuôn viên trường đại học. Vào tháng 5 năm 1992, bộ này chỉ đạo cảnh sát địa phương tăng cường nhân lực để nhắm vào “sự xâm nhập” của phương Tây, các nhóm Công giáo ngầm và các giáo phái. Theo chỉ đạo của đảng, cảnh sát đã tăng cường giám sát internet vào tháng 7 năm 1997, và vào tháng 10 năm 1997, họ siết chặt kiểm soát đối với nguồn tài trợ nước ngoài dành cho các tổ chức nghiên cứu khoa học xã hội của Trung Quốc.68 Thập kỷ này chứng kiến sự mở rộng đáng kể mạng lưới các nguồn tin do cảnh sát tuyển dụng để hoạt động như “tai mắt” của cơ quan thực thi pháp luật. Ví dụ, số lượng “nhân viên tình báo đặc biệt” (người cung cấp tin) được cảnh sát tỉnh Thiểm Tây tuyển dụng đã tăng gần gấp đôi trong giai đoạn 1988-2001.69

Thập niên 1990 cũng chứng kiến sự khởi đầu của một chương trình được tài trợ dồi dào nhằm nâng cấp năng lực công nghệ của bộ máy cưỡng chế của đảng-nhà nước. Vào tháng 11 năm 1991, Bộ Công an đã tổ chức một hội nghị quốc gia về hiện đại hóa công nghệ thực thi pháp luật, đánh dấu sự khởi đầu của một nỗ lực nâng cấp lực lượng thực thi pháp luật bằng công nghệ giám sát tiên tiến.70 Năm 1998, đảng chính thức phê duyệt Dự án Khiên Vàng (chương trình hiện đại hóa công nghệ thông tin của Bộ Công an, bao gồm “Bức tường lửa vĩ đại của Trung Quốc”).71

Ngoài việc đầu tư liên tục và quy mô lớn vào năng lực cưỡng chế, trong thời kỳ lãnh đạo của ông Giang, Đảng không ngừng hoàn thiện các chiến thuật đàn áp, thường áp dụng các phương pháp được sử dụng trong các chế độ độc tài mềm ở các nước Đông Á khác.72 Mời các nhà bất đồng chính kiến đã biết đến “uống trà” như một hình thức đe dọa tinh vi đã trở thành chiến thuật thông thường, cũng như việc sử dụng người thân và bạn bè để thực hiện tống tiền tình cảm đối với những công dân bình thường tham gia vào các hoạt động khiếu nại hòa bình. Khi cần sử dụng vũ lực tàn bạo, chính quyền địa phương sẽ thuê côn đồ đánh đập những người biểu tình. Nhận thức được rằng các ngày lễ lớn, các ngày kỷ niệm quan trọng (như kỷ niệm vụ thảm sát ngày 4 tháng 6) hoặc các chuyến thăm của các quan chức nước ngoài có thể trở thành điểm tập trung cho các cuộc biểu tình tập thể, cảnh sát sẽ thắt chặt các biện pháp an ninh vào những ngày nhạy cảm đó để ngăn chặn những rối loạn như vậy xảy ra.73

Chế độ này trở nên khắt khe hơn trong việc lựa chọn mục tiêu. Họ truy tố và bỏ tù ít người bất đồng chính kiến hơn, thường ưu tiên buộc tội họ về các tội danh phi chính trị (như gây rối trật tự công cộng) thay vì tội “lật đổ chính quyền nhà nước”. Để triệt tiêu phe đối lập chính trị trong nước và xoa dịu các chính phủ phương Tây, những đối tác mà chế độ sau năm 1989 tìm cách lấy lòng để duy trì quyền tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường, đảng đã buộc gần như tất cả các nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng nhất phải lưu vong, chẳng hạn như Wei Jingsheng (Ngụy Kinh Sinh biểu tượng của Phong trào Bức tường Dân chủ năm 1978–1979) và Wang Dan [Vương Đan] và Wang Juntao [Vương Quân Đào] (những người lãnh đạo các cuộc biểu tình Thiên An Môn năm 1989).74

Một số yếu tố chính đã thúc đẩy chế độ hậu Thiên An Môn tăng cường đầu tư mạnh mẽ vào năng lực cưỡng chế của mình, đồng thời cũng áp dụng các chiến thuật đàn áp tinh vi hơn. Do trải qua trải nghiệm “gần như sụp đổ” trong cuộc khủng hoảng Thiên An Môn, đảng đã nhận ra rằng năng lực cưỡng chế là bảo đảm cuối cùng cho sự tồn tại của chế độ và rằng việc ngăn chặn một cuộc khủng hoảng tương tự là ưu tiên hơn nhiều so với một cuộc đàn áp tàn bạo. Sự tăng trưởng nhanh chóng của thu ngân sách trong thập niên 1990 thịnh vượng cũng cho phép nhà nước chuyển nhiều nguồn lực hơn vào thực thi pháp luật và giám sát. Việc chuyển sang các chiến thuật đàn áp mang tính độc tài mềm đã giúp Đảng nhắm mục tiêu vào các mối đe dọa chính trị ít hơn một cách hiệu quả hơn và để phần lớn dân số không bị ảnh hưởng. Về mặt chính trị, việc đàn áp có chọn lọc đã mang lại lợi ích cho Đảng. Hầu hết người dân bình thường được hưởng sự mở rộng liên tục của các quyền tự do cá nhân khi nền kinh tế phát triển. Điều này đã chuyển hóa thành sự ủng hộ rộng rãi dành cho chế độ. Về mặt địa chính trị, việc đàn áp theo kiểu độc tài mềm đã giúp giảm bớt căng thẳng giữa Trung Quốc và các đối tác thương mại chính của nước này ở phương Tây, đồng thời chứng minh rằng việc hợp tác với Trung Quốc mang lại bằng chứng cụ thể rằng việc tự do hóa kinh tế có thể dẫn đến sự cởi mở chính trị trong tương lai.

Mặc dù đã áp dụng các chiến thuật đàn áp tinh vi hơn, các tổ chức quan liêu cơ bản của chế độ toàn trị và các cơ chế triển khai chúng để gây ra khủng bố hàng loạt vẫn còn nguyên vẹn. Đảng có thể nhanh chóng huy động các tổ chức này khi đối mặt với thách thức trực tiếp và mạnh mẽ đối với quyền lực của mình, như trong trường hợp các cuộc biểu tình do nhóm tinh thần Pháp Luân Công (Falungong) tổ chức vào năm 1999. Sau khi ban lãnh đạo đảng ban hành lệnh cấm nhóm này, được cho là có hàng chục triệu tín đồ trên toàn quốc, cảnh sát Trung Quốc đã sử dụng các phương pháp cực kỳ tàn bạo để bắt giữ, giam cầm và tra tấn các lãnh đạo và tín đồ của nhóm, phá hủy hiệu quả nhóm này như một lực lượng có tổ chức chỉ trong vài vài năm.75 Sự tiêu diệt gần như hoàn toàn Falungong đã báo trước sự trở lại chế độ toàn trị dưới thời Tập Cận Bình hơn một thập kỷ sau đó.

Sự thu phục các tầng lớp tinh hoa xã hội

Một đặc điểm nổi bật của trật tự tân độc đoán sau năm 1989 là nỗ lực thành công của Đảng trong việc mở rộng cơ sở xã hội vượt ra ngoài công nhân và nông dân, hai nhóm vốn chiếm đa số trong số đảng viên nhưng đã mất đi vị thế kinh tế và ảnh hưởng chính trị đáng kể trong thời kỳ hậu Mao. Năm 1978, vào thời điểm trước khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách, nông dân chiếm 47% số đảng viên, trong khi công nhân chiếm gần 19%. Chỉ có 1,6% trong số 37 triệu đảng viên được phân loại là “chuyên gia, cán bộ và sinh viên”.76 Đa số đảng viên có trình độ học vấn thấp. Năm 1980, 11% đảng viên mù chữ, 45% chỉ có trình độ tiểu học và chỉ 3% có trình độ đại học.77 Khi Đảng chuyển sang chiến lược sinh tồn tập trung vào phát triển kinh tế, Đảng cần tuyển dụng những cá nhân có trình độ học vấn và chuyên môn cao hơn. Ngoài yêu cầu về chuyên môn hữu ích trong việc quản lí một nền kinh tế phức tạp, chiến lược của đảng là thu hút chính những tầng lớp tinh hoa xã hội mà đảng từng coi là kẻ thù hoặc mối đe dọa trong thời kỳ Maoist. Chiến thuật này cũng chứa đựng một yếu tố Machiavellian: ngăn chặn sự đối lập dựa trên tầng lớp tinh hoa trong xã hội Trung Quốc. Việc loại trừ các tầng lớp tinh hoa có địa vị xã hội cao hơn và nguồn lực kinh tế dồi dào có thể gây ra sự phản đối và thậm chí biến những tầng lớp tinh hoa này thành đối thủ của chế độ. Vì việc đàn áp giới trí thức và các doanh nhân tư nhân có thể đe dọa chương trình kinh tế của đảng, nên phương án này không còn hấp dẫn, và việc thu hút trở thành lựa chọn ưu tiên.

Khung chiến lược chung của đảng về việc thu phục tầng lớp tinh hoa xã hội đã được nêu rõ trong quyết định của Ban Chấp hành Trung ương tháng 9 năm 1994 về xây dựng đảng. Trong số các ưu tiên hàng đầu mà đảng xác định có việc bổ nhiệm và thăng tiến một số lượng lớn cán bộ trẻ trung thành và tài năng, cũng như tuyển dụng “những nhân tố xuất sắc” trong giới trẻ và phụ nữ.78 Ban đầu, trọng tâm của chiến lược thu hút là việc tuyển dụng và thăng tiến những cá nhân có trình độ học vấn cao, đặc biệt là sinh viên đại học, một nhóm mà đảng có động lực mạnh mẽ để thu phục do vai trò của họ trong việc lãnh đạo các phong trào dân chủ vào thập niên 1980.79 (Đảng đã ban hành một chỉ thị cụ thể vào năm 2005 về việc tăng cường tuyển dụng sinh viên đại học.)80 Ví dụ, tỷ lệ đảng viên trong số sinh viên đại học tại Đại học Thanh Hoa danh tiếng đã tăng gấp đôi từ 8,3% lên 16,5% trong giai đoạn 1995-2005 (tỷ lệ sẽ tăng lên 29% vào năm 2011).81

Vì đảng kiểm soát việc tiếp cận các cơ hội nghề nghiệp, nên đảng không gặp khó khăn gì trong việc thu hút những sinh viên đại học tài năng và đầy tham vọng gia nhập hàng ngũ của mình.82

Nỗ lực tuyển dụng những cá nhân có trình độ học vấn cao đã đạt được tiến bộ nhanh chóng trong thập niên 1990, và vào cuối giai đoạn hậu Thiên An Môn, nó đã thay đổi đáng kể cơ cấu của đảng. Năm 1990, chỉ có 10,3% đảng viên có trình độ đại học trở lên. Một thập kỷ sau, 21% đảng viên có trình độ đại học trở lên.83 Đến năm 2000, đảng đã trở nên không thể nhận ra so với thời kỳ thành lập. Trong số 64,5 triệu đảng viên, công nhân và nông dân chiếm khoảng 44% (so với 66% vào năm 1979). Tỷ lệ chuyên gia đã tăng lên 19% (từ 1,6% vào năm 1978).84 Tỷ lệ công nhân và nông dân trong đảng sẽ tiếp tục giảm khi đảng tuyển dụng thêm nhiều cử nhân đại học và chuyên gia. Năm 2011, công nhân và nông dân chiếm 39% số đảng viên, trong khi cán bộ quản lí (không bao gồm cán bộ đảng và chính quyền chuyên trách), chuyên gia và sinh viên đại học chiếm 27%. Gần 40% đảng viên có trình độ đại học trở lên.85

Sau khi những nỗ lực của đảng nhằm thu hút những người có trình độ học vấn cao mang lại kết quả ấn tượng, đảng chuyển sự chú ý sang các doanh nhân tư nhân, những người đã đạt được địa vị xã hội và nguồn lực khổng lồ trong thập niên 1990 bùng nổ. Cột mốc quan trọng là lí thuyết “Ba Đại diện” của Giang Trạch Dân, được công bố rầm rộ vào ngày 1 tháng 7 năm 2001, nhân kỷ niệm 80 năm thành lập Đảng.86 Bề ngoài, Giang Trạch Dân đang cố gắng đề xuất một lí thuyết tư tưởng mới để xác định những gì Đảng đại diện, nhằm thay thế học thuyết tư tưởng chính thống của Đảng vốn nhấn mạnh vào cách mạng và đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Về mặt tư tưởng, “Ba đại diện” ngầm ủng hộ chủ nghĩa tư bản, mà Giang Trạch Dân đã gọi một cách uyển ngữ nhưng vụng về là “lực lượng sản xuất xã hội tiên tiến”. Trên thực tế, khung khổ này đã mở đường cho Đảng tiếp nhận các doanh nhân tư nhân làm đảng viên – chính là giai cấp bóc lột mà việc tiêu diệt họ về mặt lí thuyết là mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản chính thống.

Mặc dù “Ba đại diện” của Giang Trạch Dân, được đảng ghi vào điều lệ trong tháng 11 năm 2002 với tư cách là “tư tưởng quan trọng”, dường như không làm được nhiều để làm mới tư tưởng của đảng, nhưng là tín hiệu xanh cho việc tuyển dụng các nhà tư bản đã nhanh chóng có tác động đáng kể đến việc thu hút một nhóm xã hội mới đang kiểm soát một phần ngày càng lớn của nền kinh tế quốc gia. Đến năm 2000, các doanh nghiệp tư nhân (không bao gồm các hộ kinh doanh siêu nhỏ) đã sử dụng hơn 24 triệu lao động.87 Rõ ràng, đảng rất mong muốn giành được sự ủng hộ của nhóm tinh hoa xã hội này. Dựa trên các cuộc khảo sát được thực hiện vào đầu những năm 2000 đối với các chủ doanh nghiệp tư nhân, năm 1999 chỉ có 18% trong số họ là đảng viên.88

Sau lời kêu gọi của Giang Trạch Dân về việc kết nạp các nhà tư bản vào đảng, tỷ lệ doanh nhân tư nhân là đảng viên đã tăng nhanh chóng. Kết quả khảo sát cho thấy vào năm 2002, tỷ lệ này đã tăng lên 30%, so với chỉ 20% vào năm 2000.89 Vào cuối thập niên 2000, Đảng đã tuyển dụng khoảng 80.000 “cán bộ quản lí và nhân viên kỹ thuật” của các doanh nghiệp tư nhân mỗi năm.90 Chắc chắn, các doanh nhân tư nhân có những động cơ khác nhau khi gia nhập Đảng. Nhiều người, nếu không phải hầu hết, tìm kiếm địa vị chính trị đi kèm với tư cách đảng viên như một lớp bảo vệ cho tài sản của họ, hoặc họ tin rằng họ có thể tiếp cận nhiều cơ hội hơn thông qua tư cách đảng viên. Ngoài ra, việc có nhóm xã hội mới này bên trong đảng, nhìn chung, là một bước đi thành công để củng cố sự ủng hộ cho đảng trong xã hội đang thay đổi nhanh chóng.91

Tư cách đảng viên không phải là sự lôi kéo duy nhất được sử dụng để thu phục giới tinh hoa xã hội. Trong thời kỳ hậu Thiên An Môn, một nhóm các trí thức, chuyên gia và doanh nhân tư nhân nổi tiếng đã được chọn làm đại biểu tại các hội đồng nhân dân địa phương và hội nghị tham vấn chính trị nhân dân. Việc đưa những cá nhân thành công và nổi tiếng này vào các cơ quan này đã truyền tải ấn tượng đến công chúng rằng đảng được họ ủng hộ.92

Bình minh giả tạo: Giới hạn của chủ nghĩa độc đoán mới

Như đã trình bày, trong vòng một thập kỷ kể từ chuyến thị sát miền Nam của Đặng Tiểu Bình vào năm 1992, chế độ lãnh đạo tập thể dưới thời Giang Trạch Dân đã thành công trong việc biến tầm nhìn chủ nghĩa độc đoán mới của Đặng Tiểu Bình thành một chiến lược toàn diện nhằm duy trì chế độ. Các trụ cột chính của chiến lược này bao gồm tính chính danh dựa trên thành tích, chế độ lãnh đạo tập thể được củng cố bởi sự cân bằng quyền lực mong manh, mở rộng sự ủng hộ của nhân dân thông qua việc nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc, đàn áp có chọn lọc và thu phục các tầng lớp tinh hoa xã hội. Nhìn chung, đảng thể hiện khả năng thích ứng đáng kinh ngạc trong các năm 1990, và chiến lược mới của đảng đã phát huy hiệu quả.

Về mặt ý thức hệ, đảng này đồng nhất hơn bao giờ hết trong lịch sử. Cuộc thanh trừng sau vụ đàn áp Thiên An Môn đã loại bỏ những người theo chủ nghĩa tự do ở cấp lãnh đạo cao nhất. Luôn lo sợ việc đưa một nhân vật tương đương với Gorbachev lên nắm quyền ở Trung Quốc, đảng, vốn bị chi phối bởi các nhà kỹ trị bảo thủ, đã từ chối trao quyền lực cho những người có khuynh hướng tự do. Đồng thời, những người cực kỳ bảo thủ chống lại các cải cách thị trường cũng bị gạt sang một bên vì tư tưởng chính thống của họ không phù hợp với niềm tin của đảng rằng sự tồn tại của đảng phụ thuộc vào tính chính danh về thành tích, điều mà các chính sách thân thiện với doanh nghiệp có thể mang lại. Về mặt chính trị tầng lớp tinh hoa, sự đồng nhất về tư tưởng đã được chuyển hóa thành sự ổn định tương đối của tầng lớp tinh hoa. Khác với thập niên 1980, thời kỳ của Giang Trạch Dân — cũng như thời kỳ của Hồ Cẩm Đào — nổi bật chủ yếu vì sự vắng mặt của những cuộc xung đột tư tưởng gay gắt như những cuộc xung đột đã kết thúc bằng việc thanh trừng Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương và các đồng minh thân cận của họ. Tất nhiên, xung đột giữa các lãnh đạo cấp cao vẫn tồn tại, nhưng chúng xoay quanh cá nhân và quyền lực, chứ không phải ý thức hệ. Quan trọng hơn, những xung đột này được kiểm soát, như được thể hiện qua việc trong thời kỳ Giang Trạch Dân, chỉ có một thành viên Bộ Chính trị bị kết án tù vì tội tham nhũng.

Thời điểm Đảng chuyển hướng sang chế độ độc đoán mới vào thập niên 1990 không thể thuận lợi hơn. Về mặt kinh tế, các cải cách trong thập niên 1980 đã xây dựng nền tảng cho nền kinh tế thị trường — tư nhân hóa nông nghiệp, khu vực tư nhân phát triển nhanh chóng và sự kết nối với nền kinh tế toàn cầu. Sự di cư quy mô lớn từ nông thôn ra thành thị kết hợp với dân số trẻ (gần 90% dân số dưới 59 tuổi vào năm 1990) đã trở thành động lực tăng trưởng bền vững và mạnh mẽ trong hai thập kỷ tiếp theo.93 Mặc dù có một số giai đoạn căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, môi trường bên ngoài vẫn tương đối thuận lợi. Thay vì những nỗ lực của Washington nhằm kiềm chế Trung Quốc sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, như Bắc Kinh lo ngại, Hoa Kỳ đã thúc đẩy toàn cầu hóa như một công cụ để tích hợp Trung Quốc vào nền kinh tế toàn cầu, từ đó mang lại cho Trung Quốc cơ hội tiếp cận thị trường, vốn và công nghệ phương Tây chưa từng có.

Các công cụ mà đảng triển khai để phòng ngừa những mối đe dọa nội bộ đối với quyền lực của mình đã tỏ ra hiệu quả một cách đáng ngạc nhiên. Chủ nghĩa dân tộc do đảng vun đắp đã tạo ra một nguồn ủng hộ mới từ quần chúng. Việc thu phục giới tinh hoa xã hội đã mở rộng cơ sở của đảng và nâng cao trình độ học vấn cũng như chuyên môn của các quan chức đảng. Các chiến thuật đàn áp chính trị tinh vi hơn đã giúp đảng kiềm chế được các mối đe dọa mới nổi đối với quyền lực của mình. Trong những năm 1990, các biện pháp giám sát, đe dọa, bỏ tù và lưu đày đã vô hiệu hóa phong trào dân chủ như một mối nguy hiểm nghiêm trọng, và sự đầu tư của đảng vào bộ máy cưỡng chế đã mang lại kết quả xứng đáng, thể hiện qua việc đàn áp các cuộc bạo loạn của các dân tộc thiểu số ở Tây Tạng và Tân Cương, cấm hoạt động của Pháp Luân Công, và việc đàn áp các cuộc biểu tình của công nhân sau đợt sa thải hàng loạt do các doanh nghiệp nhà nước phá sản vào cuối thập kỷ.94

Tuy nhiên, trật tự tân độc đoán được xây dựng trong thập niên 1990 dưới sự lãnh đạo của Giang Trạch Dân có những khiếm khuyết nội tại, những khiếm khuyết này sẽ trở nên rõ ràng và nghiêm trọng hơn trong thời kỳ của Hồ Cẩm Đào. An ninh cho giới tinh hoa không được đảm bảo bằng các quy tắc và chuẩn mực có thể được thi hành bởi một bên thứ ba, mà bằng sự cân bằng quyền lực mong manh giữa các đối thủ. Các nhà lãnh đạo cấp cao với các cơ sở quyền lực rộng lớn trong hệ thống đảng-nhà nước đã ngăn cản hai người đứng đầu đảng, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, biến lãnh đạo tập thể thành chế độ độc tài, điều mà Tập Cận Bình đã có thể thực hiện ngay sau khi lên nắm quyền vào cuối năm 2012. Thiếu các ràng buộc thể chế bền vững—điều vốn đã khó thiết lập và duy trì ngay cả trong các nền dân chủ—an ninh cho tầng lớp tinh hoa chắc chắn sẽ biến mất một khi sự cân bằng quyền lực cơ bản không còn tồn tại.

Ngoài ra, trật tự hậu Thiên An Môn mang tính độc đoán mới vốn không tương thích với sự tự do hóa chính trị thực sự, dân chủ hóa và luật trị, do đó làm giảm khả năng rằng sự phát triển kinh tế dưới chế độ một đảng có thể dẫn đến quá trình chuyển đổi sang dân chủ. Các cải cách do các nhà tự do và ôn hòa trong đảng chủ trương đã đặt nền móng cho một hệ thống pháp luật hiện đại. Các đạo luật mang tính bước ngoặt như Luật Tố tụng Hình sự (1980), Luật Hợp đồng Kinh tế (1981), Luật Doanh nghiệp Nước ngoài (1986) và Luật Tố tụng Hành chính (1989) đều được thông qua trong thập niên 1980. Mặc dù còn nhiều thiếu sót, chúng đánh dấu bước đi đầy hứa hẹn hướng tới nhà nước luật trị. Tuy nhiên, ngay cả khi nền kinh tế đang bùng nổ, tiến trình cải cách pháp luật trong thập niên 1990 vẫn chỉ đạt được kết quả hỗn hợp. Hội nghị Nhân dân Trung Quốc (NPC) đã ban hành nhiều luật hơn so với thập niên 1980, và các thẩm phán cùng luật sư cũng được đào tạo và trang bị kiến thức tốt hơn. Tuy nhiên, Đảng kiên quyết phản đối bất kỳ cải cách nào nhằm tăng cường sự độc lập của hệ thống tư pháp, và thường xuyên phớt lờ hoặc thậm chí vi phạm các luật do NPC ban hành. Do đó, đến cuối thời kỳ Giang, hệ thống pháp luật của Trung Quốc vẫn nằm hoàn toàn dưới sự kiểm soát của Đảng, dù bề ngoài có vẻ hiện đại với hình ảnh các thẩm phán mặc áo choàng chủ tọa các phiên tòa trong những phòng xử án mới được xây dựng.95

Tiến bộ thực chất trong việc xây dựng một hệ thống trách nhiệm giải trình cơ bản cũng rất hạn chế. Với sự ủng hộ của Đảng, NPC đã ban hành một luật tạm thời cho phép cư dân nông thôn bầu cử “ủy ban làng” và các chủ tịch của họ vào năm 1987. Mặc dù các “ủy ban làng” là các tổ chức xã hội và do đó thiếu quyền lực chính trị chính thức, động thái này ban đầu được ca ngợi là một bước đi thận trọng hướng tới dân chủ cơ sở. Tuy nhiên, đến thập niên 1990, con đường này đã chứng tỏ là ngõ cụt. Đảng cho phép các cuộc bầu cử như vậy trên toàn vùng nông thôn Trung Quốc, nhưng từ chối bước tiếp theo là cho phép các cuộc bầu cử cạnh tranh cho chính quyền xã. (Xã là đơn vị hành chính thấp nhất trong nhà nước Trung Quốc.) Cuối cùng, nỗ lực thí điểm này nhằm xây dựng dân chủ cơ sở ở nông thôn Trung Quốc đã tan vỡ.96

Nếu không có luật trị và trách nhiệm giải trình được thực thi bởi xã hội dân sự hoặc báo chí tự do, sự phát triển kinh tế dưới chế độ độc tài chắc chắn sẽ sinh ra tham nhũng có hệ thống. Mặc dù tham nhũng trong những năm 1990 dường như ít lan tràn hơn so với những năm 2000, thập kỷ này đã chứng kiến một số vụ tham nhũng lớn với quy mô chưa từng có về sốlượng người liên quan và số tiền hối lộ.97 Trong vụ bê bối buôn lậu nổi tiếng tại Hạ Môn (Xiamen), các điều tra viên chống tham nhũng phát hiện một băng nhóm tội phạm đã lén đưa vào Trung Quốc hơn 53 tỷ nhân dân tệ hàng hóa từ năm 1996 đến 1999 với sự giúp đỡ của hàng chục quan chức chính phủ, bao gồm một phó bộ trưởng công an và các quan chức cấp cao khác trong hệ thống cảnh sát và hải quan tỉnh Phúc Kiến.98

Vào cuối thập niên 1990, những vết nứt bắt đầu xuất hiện trong chiến lược sinh tồn của đảng, vốn tập trung vào thành tích kinh tế, như được thể hiện qua sự gia tăng bất ổn xã hội.99 Trong số các nguyên nhân dẫn đến bất ổn xã hội có việc thi hành tàn bạo chính sách “một con” của đảng, các chính sách thu thuế phản lũy tiến, việc đuổi nhà trái phép ở các khu vực đô thị, việc quan chức địa phương tịch thu đất của nông dân, việc đóng cửa nhà máy và việc không trả lương.100 Mặc dù phần lớn các cuộc biểu tình xã hội đều nhỏ lẻ, cô lập và ngắn ngủi, xu hướng gia tăng này không chỉ làm tổn hại hình ảnh năng lực của đảng mà còn cho thấy các chính sách thúc đẩy tăng trưởng do chế độ hậu Thiên An Môn theo đuổi đang gây hại cho một phần đáng kể dân số Trung Quốc, và chế độ này có thể mất sự ủng hộ nếu bất bình đẳng, tham nhũng và vi phạm quyền lợi của người dân tiếp tục kích thích sự phẫn nộ của quần chúng.

Cuối cùng, cải cách kinh tế do một chế độ tân độc đoán theo đuổi có khả năng rơi vào bẫy của “trạng thái cân bằng cải cách một phần”. Trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường, cải cách thường bị đình trệ sau khi một số nỗ lực ban đầu đã được hoàn thành nhưng các biện pháp quan trọng hơn vẫn chưa được thực hiện.101 Tại điểm giữa của quá trình chuyển đổi, các chế độ khởi xướng quá trình này sẽ mất động lực để đi đến cùng vì, mặc dù các cải cách một phần cải thiện hiệu quả kinh tế và củng cố tính chính danh của đảng, bất kỳ cải cách nào tiếp theo chắc chắn sẽ làm suy yếu sự kiểm soát của chế độ đối với nền kinh tế và làm suy yếu quyền lực của nó.102 Chắc chắn, các triệu chứng đầy đủ của “quá trình chuyển đổi bị kẹt” này vẫn chưa rõ ràng, ít nhất là trong lĩnh vực kinh tế, cho đến khi Hồ Cẩm Đào lên nắm quyền vào năm 2002, nhưng logic chính trị đằng sau “quá trình chuyển đổi bị kẹt” đã được khắc sâu trong chính tầm nhìn tân độc đoán mà Đặng Tiểu Bình để lại cho Giang Trạch Dân vào năm 1992.

Chú thích:

Chương 3. Xây dựng chủ nghĩa độc đoán – mới, 1992–2002

  1. Yang Jisheng, 中国改革年代的政治斗争 [Các cuộc đấu tranh chính trị trong thời cải cách của Trung Quốc] (Hong Kong: Excellent Culture Press, 2004).
  2. Barry Naughton, Growing Out of the Plan: Chinese Economic Reform, 1978–1993 (New York: Cambridge University Press, 1995).
  3. 中国统计年鉴1995 [Niên giám thống kê Trung quốc] [sau đây được trích dẫn như ZGTJNJ 1995] (Beijing: Zhongguo tongji chubanshe, 1996), 32.
  4. ZGTJNJ 1995, 365.
  5. Julian Gewirtz, Unlikely Partners: Chinese Reformers, Western Economists, and the Making of Global China (Cambridge, MA: Harvard University Press, 2017), 282; Joseph Fewsmith, “Reaction, Resurgence, and Succession: Chinese Politics Since Tiananmen,” in The Politics of China: Sixty Years of the People’s Republic of China, ed. Roderick MacFarquhar (New York: Cambridge University Press, 2011), 3rd ed., 479–81; Richard Baum, Burying Mao: Chinese Politics in the Age of Deng Xiaoping (Princeton, NJ: Princeton University Press, 1994), 326–28.
  6. Stanley Rosen, “The Effect of Post-4 June Re-education Campaigns on Chinese Students,” China Quarterly, no. 134 (1993): 310–34.
  7. Baum, Burying Mao, 315–16; Hong Shi, “China’s Political Development After Tiananmen,” Asian Survey 30, no. 12 (1990): 1206–17.
  8. Yang Jisheng, 中国改革年代的政治斗争, 477; Baum, Burying Mao, 333–37.
  9. Tony Saich, From Rebel to Ruler: One Hundred Years of the Chinese Communist Party (Cambridge, MA: Harvard University Press, 2021), 311–16.
  10. David Shambaugh, “China in 1990: The Year of Damage Control,” Asian Survey 31, no. 1 (1991): 49.
  11. Fewsmith, “Reaction, Resurgence, and Succession,” 482–92.
  12. Leng Rong and Wang Zuoling, eds., 邓小平年谱下册 (1975–1997) [Niên biểu Đặng Tiểu Bình (1975–1997)] (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 2004), 1325–28.
  13. Gerald Segal, “China and the Disintegration of the Soviet Union,” Asian Survey 32, no. 9 (1992): 848–68.
  14. John Garver, “The Chinese Communist Party and the Collapse of Soviet Communism,” China Quarterly, no. 133 (1993): 15–16.
  15. “Review Your Experience and Use Professionally Trained People,” August 20, 1991, in Selected Works of Deng Xiaoping, vol. 3 (1982–1992) (Beijing: Foreign Languages Press, 1994), 357.
  16. Elizabeth Perry, “China in 1992: An Experiment in Neo-Authoritarianism,” Asian Survey 33, no. 1 (1993): 12–21; Barry Sautman, “Sirens of the Strongman: Neo-Authoritarianism in Recent Chinese Political Theory,” The China Quarterly, no. 129 (1992): 72–102.
  17. Leng and Wang, 邓小平年谱下册, 1341–46.
  18. Baum, Burying Mao, 341–68; Suisheng Zhao, “Deng Xiaoping’s Southern Tour,” Asian Survey 33, no. 8 (1993): 739–56; ZGTJNJ 1995, 32.
  19. Deng Xiaoping, “邓小平原汁原味的南方讲话” [Bài phát biểu phương nam gốc của Đặng Tiểu Bình], https://finance.sina.com.cn/roll/2024-08-23/doc-inckqshv8372587.shtml . Phiên bản chính thức của các baifd nói chuyện của Đặng có thể tìm thấy trong Selected Works of Deng Xiaoping, vol. 3 (1982–1992), 358–70.
  20. Deng Xiaoping, “邓小平原汁原味的南方讲话”; Chris Buckley, “Vows of Change in China Belie Private Warning,” New York Times, February 14, 2013, https://www.nytimes.com/2013/02/15/world/asia/vowing-reform-chinas-leader-xi-jinping-airs-ther-message-in-private.html.
  21. Yang Jisheng, 中国改革年代的政治斗争, 496; Ezra Vogel, Deng Xiaoping and the Transformation of China (Cambridge, MA: Belknap Press of Harvard University Press, 2011), 679.
  22. Zhu Jiamu and Liu Shukai, eds., 陈云年谱 (下) [Niên biểu Trần Vân, vol. 3] (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 2000), 440–52.
  23. James Miles, The Legacy of Tiananmen: China in Disarray (Ann Arbor: University of Michigan Press, 1996).
  24. World Bank, “GDP per Capita, PPP (Current International $)—China,” World Bank Open Data, https://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.PCAP.PP.CD?locations=CN.
  25. Jie Chen et al., “The Level and Sources of Popular Support for China’s Current Political Regime,” Communist and Post-Communist Studies 30, no. 1 (1997): 45–64.
  26. Zhu and Liu, 陈云年谱 (下), 442–48. Niên biểu các hoạt động của Trần cho thấy ông không hoạt động chính trị và đã dành nhiều tháng để “nghỉ ngơi.”
  27. Xiaowei Zang, “The Fourteenth Central Committee of the CCP,” Asian Survey 33, no. 8 (1993): 787–803.
  28. Richard Ewing, “Hu Jintao: The Making of a Chinese General Secretary,” China Quarterly, no. 173 (2003): 17–34.
  29. Yang Jisheng, 中国改革年代的政治斗争, 589. Triệu đã truyền đạt thông tin về cuộc trò chuyện này này với Đặng Tiểu Bình cho nhà báo Yang Jisheng vào ngày 29 tháng 10 năm 1996, khi Yang đang phỏng vấn Triệu tại tư gia của ông.
  30. Những người ủng hộ có ảnh hưởng khác là Wu Jiaxiang, một nhà nghiên cứu cấp dưới trong nhóm công tác cải cách chính trị của Triệu Tử Dương, và Xiao Gongqin, một nhà sử học ở Thượng Hải.. Liu Jun and Li Lin, eds., 新权威主义: 对改革理论纲领的论争 [Chủ nghĩa độc đoán mới: Các tranh luận về các chương trình cải cách lý thuyết] (Beijing: Beijing jingji xueyuan chubanshe, 1989); Mark Petracca and Mong Xiong, “The Concept of Chinese Neo-Authoritarianism: An Exploration and Democratic Critique,” Asian Survey 30, no. 11 (1990): 1099–1117.
  31. Ezra Vogel, The Four Little Dragons: The Spread of Industrialization in East Asia (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1991); Frederic Deyo, ed., The Political Economy of the New Asian Industrialism (Ithaca, NY: Cornell University Press, 1987); World Bank, The East Asian Miracle: Economic Growth and Public Policy (New York: Oxford University Press, 1993).
  32. Jialin Zhang, China’s Response to the Downfall of Communism in Eastern Europe and the Soviet Union (Stanford, CA: Hoover Institution Press, 1994); David Shambaugh, The Chinese Communist Party: Atrophy and Adaptation (Berkeley: University of California Press, 2008).
  33. Guan Guihai and Luan Jinghe, eds., “苏联解体对当代中国政治的影响” [The impact of the collapse of the Soviet Union on contemporary Chinese politics], in 中俄关系的历史与现实 [Sino-Russian relations: History and reality] (Beijing: Shehui kexue wenxian chubanshe, 2009), 551–58.
  34. Leng and Wang, 邓小平年谱下册, 1323.
  35. Bruce J. Dickson, “The Survival Strategy of the Chinese Communist Party,” Washington Quarterly 39, no. 4 (2016): 27–44.
  36. Zhang Lifan, “邓力群之殇与党国理论界的黄昏” [T Bi kịch của Đặng Lực Quần và hoàng hôn của giới lí luận đảng-nhà nước], New York Times (Chinese ed.), February 20, 2015, https://cn.nytimes.com/china/20150220/tc20dengliqun/.
  37. “中共中央关于建立社会主义市场经济体制若干问题的决定” [Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về một số vấn đề liên quan đến việc thiết lập cơ chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa], 中华人民共和国中央人民政府 [Chính phủ Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa], October 21, 2003, http://www.gov.cn/test/2008-08/13/content1071062.htm.
  38. “关于党内政治生活的若干准则” [Một số nguyên tắc về đời sống chính trị trong Đảng], 人民 网 [Nhân Dân Nhật Báo online], February 29, 1980, http://dangjian.people.com.cn/GB/136058/427510/428086/428088/428312/index.html.
  39. “党政领导干部选拔任用工作条例; 中国共产党纪律处分条例(试行)” [Quy định thử nghiệm về việc tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo đảng và chính quyền; quy định về kỷ luật của Đảng Cộng sản Trung Quốc], 中共中央办公厅法规局 [Cục Pháp quy thuộc Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc], “国共产党党内法规体系” [Các quy định về kỷ luật và xử phạt của Đảng Cộng sản Trung Quốc], 中华人民共和国中央人民政府 [Chính phủ Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa], July 2021, http://www.gov.cn/xinwen/2021-08/06/content5629962.htm.
  40. Pierre Landry, Decentralized Authoritarianism in China: The Control of Local Elites in the Post-Mao Era (New York: Cambridge University Press, 2008); Joseph Fewsmith, Elite Politics in Contemporary China (London: Routledge, 2015); Jiangnan Zhu, “Why Are Offices for Sale in China? A Case Study of the Office-Selling Chain in Heilongjiang Province,” Asian Survey 48, no. 4 (2008): 558–79.
  41. Victor Shih et al., “Getting Ahead in the Communist Party: Explaining the Advancement of Central Committee Members in China,” American Political Science Review 106, no. 1 (2012): 166–87.
  42. Andrew Walder, “Rebellion of the Cadres: The 1967 Implosion of the Chinese Party-State,” China Journal, no. 75 (2016): 102–20.
  43. Zengke He, “Corruption and Anti-Corruption in Reform China,” Communist and Post-Communist Studies 33, no. 2 (2000): 243–70.
  44. Ủy ban Kiểm tra và Kỷ luật Trung ương, “中央纪委关于处分违犯党纪的党员批 准权限的具体规定” [Các quy định cụ thể về thẩm quyền phê duyệt việc xử lí các đảng viên vi phạm kỷ luật đảng], 法律法规库 [Thư viện Luật và Quy định], July 6, 1983, https://www.flfgk.com/detail/6a986a4bda844c5aa686b0117132a192.html.
  45. Bo Zhiyue, China’s Elite Politics: Political Transition and Power Balancing (Singapore: World Scientific, 2007).
  46. “李瑞环告别政协退出政坛” [Li Ruihuan Li Ruihuan chia tay với CPPCC và rút lui khỏi chính trường], VOA (Chinese), March 5, 2003, https://www.voachinese.com/a/a-21-a-2003-03-05-22-1-63435732/1002079.html.
  47. Andrew Nathan, “China’s Resilient Authoritarianism,” Journal of Democracy 14, no. 1 (2003): 6–17; Frederick Teiwes, “Normal Politics with Chinese Characteristics,” China Journal, no. 45 (2001): 69–82.
  48. Joseph Fewsmith, Rethinking Chinese Politics (New York: Cambridge University Press, 2021).
  49. Leng and Wang, 邓小平年谱下册, 1280.
  50. Ủy ban Giáo dục Nhà nước, 《中小学加强中国近代现代史及国情教育的总体纲要》(初稿) [Tổng thể phác thảo về việc tăng cường giáo dục lịch sử hiện đại và tình hình quốc gia trong các trường tiểu học và trung học (bản thảo đầu tiên)] (Beijing: People’s Education Press, 1991); “关于充分运用文物进行爱国主义和革命传统教育的通知” [Thông báo về việc sử dụng đầy đủ các di tích văn hóa để giáo dục lòng yêu nước và truyền thống cách mạng], 法律法规库 [Thư viện Luật và quy định], August 28, 1991, https://www.flfgk.com/detail/5e117729ee28e77bb8e8e9790241fe55 .html.
  51. Hội đồng Nhà nước, 爱国主义教育实施纲要 [Phác thảo về việc thực hiện giáo dục lòng yêu nước], 国务院公报 [Công báo Hội đồng Nhà nước], September 20, 1990, http://www.gov.cn/gongbao/shuju/1994/gwyb199420.pdf.
  52. Suisheng Zhao, “A State-Led Nationalism: The Patriotic Education Campaign in Post-Tiananmen China,” Communist and Post-Communist Studies 31, no. 3 (1998): 287–302.
  53. Wang Dehua and Li Yali, “新形势下高校爱国主义教育的实践与启示” [Thực tiễn và bài học từ giáo dục yêu nước trong các trường đại học dưới tình hình mới], 思 想理论教育 [Giáo dục tư tưởng và lí luận], no. 3 (1994): 45–48; Political and Education Department, Yunnan Provincial Education Commission, “高扬主旋律 用多种载体 营造 大氛围” [Nâng cao chủ đề chính và sử dụng nhiều phương tiện để tạo ra bầu không khí rộng lớn], 思想理论教育 [Giáo dục tư tưởng và lí luận]], no. 4 (1995): 8–10.
  54. Zheng Wang, “National Humiliation, History Education, and the Politics of Historical Memory: Patriotic Education Campaign in China,” International Studies Quarterly 52, no. 4 (2008): 783–806.
  55. Zhu Xinjun, “大力加强高校爱国主义教育” [Tăng cường mạnh mẽ giáo dục yêu nước trong các trường đại học], 高等教育 [Giáo dục Cao đẳng], no. 1 (1996): 10–13.
  56. Xu Suping, “高校爱国主义教育的重点内容” [Nội dung trọng tâm của giáo dục yêu nước tại các trường đại học và cao đẳng], 安徽大学学报 [ Tạp chí Đại học An Huy], no. 3 (1995): 76–77.
  57. Zheng Wang, Never Forget National Humiliation: Historical Memory in Chinese Politics and Foreign Relations (New York: Columbia University Press, 2014).
  58. Andrew Scobell, “Show of Force: Chinese Soldiers, Statesmen, and the 1995–1996 Taiwan Strait Crisis,” Political Science Quarterly 115, no. 2 (2000): 227–46.
  59. Peter Hays Gries, “Tears of Rage: Chinese Nationalist Reactions to the Belgrade Embassy Bombing,” China Journal, no. 46 (2001): 25–43.
  60. Peter Hays Gries, China’s New Nationalism: Pride, Politics, and Diplomacy (Berkeley: University of California Press, 2004); Suisheng Zhao, A Nation-State by Construction: Dynamics of Modern Chinese Nationalism (Stanford, CA: Stanford University Press, 2004).
  61. Yuhua Wang and Carl Minzner, “The Rise of the Chinese Security State,” China Quarterly, no. 222 (2015): 339–59.
  62. “中共中央关于维护社会稳定加强政法工作的通知” [Thông báo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về việc duy trì ổn định xã hội và tăng cường công tác chính trị và pháp luật], 中国改革信息库 [Cơ sở dữ liệu thông tin cải cách Trung Quốc], April 2, 1990, http://www.reformdata.org/1990/0402/4106.shtml.
  63. “中共中央、国务院关于加强社会治安综合治理的决定” [Quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện về việc tăng cường quản lí tổng hợp an ninh trật tự xã hội], 中国改革信息库 [Cơ sở dữ liệu thông tin cải cách Trung Quốc], February 19, 1991, http://www.reformdata.org/1991/0219/4159.shtml.
  64. 公检法支出财务统计资料,1991–1995 [Thống kê tài chính về chi tiêu của Cục Công an, 1991–1995] (Nanjing: Jiangsu keji chubanshe, 1991), 166, 169; ZGTJNJ 2003 [Niên giám thống kê Trung quốc 2003] (Beijing: Zhongguo tongji chubanshe, 2004), 292.
  65. 1987–1997 中国法律年鉴(珍藏版) [1987–1997 China legal yearbook (collector’s edition)] (Beijing: Zhongguo falü nianjianshe, 1998), 778; Shen Xiaohong et al., “基层公安机关 警力配置现状与思考” [Tình hình hiện tại và những suy ngẫm về việc bố trí lực lượng cảnh sát tại các cơ quan công an cơ sở], 江西警察学院学报 [Tạp chí Cao đẳng Công An Giang Tây], no. 4 ( July 2010): 107. Không sẵn có số liệu chính thức nào về quy mô lực lượng cảnh sát toàn quốc trong các năm 1990 hay đầu các năm 2000.
  66. 湖北公安志 [Lịch sử an ninh công cộng Hồ Bắc] (N.p.: Hubei gong’an ting, 2010), 259; 浙 江通志: 公安志 [Lịch sử tổng quát Chiết Giang: Lịch sử an ninh công cộng] (Hangzhou: Zhejiang renmin chubanshe, 2018), 63.
  67. 玉溪市年鉴 1990 [Niên giám Thành phố Ngọc Khê (Yuxi), 1990] (Yuxi: Yuxishi difangzhi bangongting, 1990), 301; Tai Ming Cheung, “Guarding China’s Domestic Front Line: The People’s Armed Police and China’s Stability,” China Quarterly, no. 146 (1996): 525–47.
  68. 建国以来公安工作大事要览 [Tổng quan về các sự kiện quan trọng trong công tác an ninh công cộng kể từ khi thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa] (Beijing: Qunzhong chubanshe, 2003), 820, 917, 932, 1084–85, 1132, 1141.
  69. 陕西省志: 公安志 [Lịch sử tỉnh Thiểm Tây: Lịch sử công an] (Xi’an: Shaanxi renmin chubanshe, 2011), 554–58.
  70. 建国以来公安工作大事要览, 880.
  71. 建国以来公安工作大事要览, 988, 1073–74, 1227.
  72. Denny Roy, “Singapore, China, and the ‘Soft Authoritarian’ Challenge,” Asian Survey 34, no. 3 (1994): 231–42; Edwin Winckler, “Institutionalization and Participation on Taiwan: From Hard to Soft Authoritarianism?,” China Quarterly, no. 99 (1984): 481–99.
  73. Kevin O’Brien and Yanhua Deng, “Preventing Protest One Person at a Time: Psychological Coercion and Relational Repression in China,” China Review 17, no. 2 (2017): 179–201; Lynette Ong, “ ‘Thugs-for-Hire’: Subcontracting of State Coercion and State Capacity in China,” Perspectives on Politics 16, no. 3 (2018): 680–95; Rory Truex, “Focal Points, Dissident Calendars, and Preemptive Repression,” Journal of Conflict Resolution 63, no. 4 (2019): 1032–52.
  74. Ware Fong, “Depoliticization, Politicization, and Criminalization: How China Has Been Handling Political Prisoners Since 1980s,” Journal of Chinese Political Science 24, no. 2 (2019): 315–39; Michael Sullivan, “Development and Political Repression: China’s Human Rights Policy Since 1989,” Bulletin of Concerned Asian Scholars 27, no. 4 (1995): 24–39.
  75. James Tong, Revenge of the Forbidden City: The Suppression of the Falungong in China, 1999–2005 (New York: Oxford University Press, 2009).
  76. Xiao Sa, “论党的阶级基础与群众基础” [Về cơ sở giai cấp và quần chúng của Đảng], 云南省社会科学院 [Viện Khoa học Xã hội Vân Nam], November 3, 2010, http://www.sky.yn.gov.cn/ztzl/yq30zn/zgwj/zxyjs/637351293615183996.
  77. 大专以上 (mức giáo dục đại học [college] và cao hơn) ám chỉ đến giáo dục đại học ba năm hay cao hơn. Ban Tổ chức Trung ương, “中国共产党党内统计资料汇编 (1921–2010)” [Tổng hợp số liệu thống kê nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc (1921–2010)] (Beijing: Dangjian duwu chubanshe, 2011), 48–49.
  78. “关于加强党的建设几个重大问题的决定” [Quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về một số vấn đề quan trọng liên quan đến việc tăng cường xây dựng Đảng], 中共中国人民大学委员会党校 [Đảng Ủy của Trường Đảng Đại học Nhân dân Trung Quốc], June 11, 2016, http://dangxiao.ruc.edu.cn/llxx/llqy/hygb/99cb834ed166416e8391a58b8d3da4f3.htm.
  79. Xiaowei Zang, “University Education, Party Seniority, and Elite Recruitment in China,” Social Science Research 30, no. 1 (2001): 62–75; Guihua Xie and Yangyang Zhang, “Seeking Out the Party: A Study of the Communist Party of China’s Membership Recruitment Among Chinese College Students,” Chinese Journal of Sociology 3, no. 1 (2017): 98–134.
  80. “中共中央组织部、中共教育部党组、共青团中央关于加强和改进在大学生中发展党员工作和大学生党支部建设的意见” [Ý kiến của Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng bộ của Bộ Giáo dục Trung Quốc và Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc về việc tăng cường và cải thiện công tác phát triển đảng viên trong sinh viên đại học và xây dựng chi bộ đảng trong sinh viên đại học], 中华人民共和国自然资源部 [Bộ Tài nguyên Thiên nhiên Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa], May 24, 2016, https://m.mnr.gov.cn/zt/dj/jgdj/ztjy/lxyz/d/201812/t201812032371769.html.
  81. Ma Xueling and Xiao Yuanyuan, “青春与信仰 聚焦中国大学生党员群体” [Tuổi trẻ và niềm tin: Tập trung vào sinh viên đại học Trung Quốc là đảng viên], 中国新闻网 [China News Network], June 28, 2011, https://www.chinanews.com.cn/gn/2011/06-8/3142241.shtml.
  82. Xiaojun Yan, “Engineering Stability: Authoritarian Political Control Over University Students in Post-Deng China,” China Quarterly, no. 218 (2014): 493–513.
  83. 中共中央组织部, 中国共产党党内统计资料汇编 (1921–2010), 48–51.
  84. Xiao Sa, “论党的阶级基础与群众基础.”
  85. Zhou Yingfeng, “我国目前有党员8260.2万名 基层党组织402.7万个” [Nước ta hiện có 82,602 triệu đảng viên và 4,027 triệu tổ chức đảng cơ sở], 新华社 [Tân Hoa Xã-New China News Agency], June 30, 2012, http://www.gov.cn/jrzg/2012-06/30/content_2174072.htm. Số liệu chính thức cho 2021 báo cáo rằng 53 phần trăm đảng viên có trình độ giáo dục cao đẳng hay cao hơn, nhưng không tiết lộ tỷ lệ công nhân và nông dân. “党员 9671.2万名 基层党组织493.6万个” [Có 96.712 triệu đảng viên và 4.936 triệu tổ chức đảng cơ sở], 新华社 [New China News Agency], June 29, 2022, http://www.gov.cn/xinwen/2022-06/29/content5698405.htm.
  86. “江泽民在庆祝中共成立80周年大会上的讲话” [Bài phát biểu của Giang Trạch Dân tại hội nghị kỷ niệm 80 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc], 中国新闻网 [China News Network], July 2, 2001, https://www.chinanews.com.cn/2001-07-02/26/101847.html.
  87. 中国私营企业发展报告 2002 [Báo cáo phát triển doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc 2002 2002] (Beijing: Shehui kexue wenxian chubanshe, 2003), 4–5; ZGTJNJ 2004 (Beijing: Zhongguo tongji chubanshe, 2005), 53.
  88. 中国私营企业发展报告 2002, 31.
  89. 中国私营企业发展报告 2002, 31.
  90. Ban Tổ chức Trung ương, 2008年中国共产党党内统计公报 [Công báo thống kê nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2008], 复旦大学党委组织部 [Phòng tổ chức Đảng của Đại học Fudan], July 1, 2009, https://zzb.fudan.edu.cn/62/10/c2623a25104/page.htm.
  91. Bruce Dickson, Red Capitalists in China: The Party, Private Entrepreneurs, and Prospects for Political Change (New York: Cambridge University Press, 2003); Jie Chen and Bruce Dickson, Allies of the State: China’s Private Entrepreneurs and Democratic Change (Cambridge, MA: Harvard University Press, 2010).
  92. Xiaojun Yan, “Regime Inclusion and the Resilience of Authoritarianism: The Local People’s Political Consultative Conference in Post-Mao Chinese Politics,” China Journal, no. 66 (2011): 53–75; Yue Hou, The Private Sector in Public Office: Selective Property Rights in China (New York: Cambridge University Press, 2019).
  93. ZGTJNJ 1995, 61.
  94. Ben Hillman and Gray Tuttle, eds., Ethnic Conflict and Protest in Tibet and Xinjiang: Unrest in China’s West (New York: Columbia University Press, 2016); James Tong, “Anatomy of Regime Repression in China: Timing, Enforcement Institutions, and Target Selection in Banning the Falungong, July 1999,” Asian Survey 42, no. 6 (2002): 795–820; Feng Chen, “Industrial Restructuring and Workers’ Resistance in China,” Modern China 29, no. 2 (2003): 237–62.
  95. Pitman Potter, “The Chinese Legal System: Continuing Commitment to the Primacy of State Power,” China Quarterly, no. 159 (1999): 673–83; Stanley Lubman, Bird in a Cage: Legal Reform in China After Mao (Stanford, CA: Stanford University Press, 1999); Randall Peerenboom, China’s Long March Toward Rule of Law (New York: Cambridge University Press, 2002).
  96. Robert Pastor and Qingshan Tan, “The Meaning of China’s Village Elections,” China Quarterly, no. 162 (2000): 490–512; Kevin O’Brien and Rongbin Han, “Path to Democracy? Assessing Village Elections in China,” Journal of Contemporary China 18, no. 60 (2009): 359–78; Joseph Fewsmith, The Logic and Limits of Political Reform in China (New York: Cambridge University Press, 2013).
  97. Andrew Wedeman, “Anticorruption Campaigns and the Intensification of Corruption in China,” Journal of Contemporary China 14, no. 42 (2005): 93–116; Ting Gong, “Dangerous Collusion: Corruption as a Collective Venture in Contemporary China,” Communist and Post-Communist Studies 35, no. 1 (2002): 85–103; Jiangnan Zhu, “Why are Offices for Sale in China? A Case Study of the Office-Selling Chain in Heilongjiang Province,” Asian Survey 48, no. 4 (2008): 558–79.
  98. Shawn Shieh, “The Rise of Collective Corruption in China: The Xiamen Smuggling Case,” Journal of Contemporary China 14, no. 42 (2005): 67–91.
  99. Murray Scot Tanner, “China Rethinks Unrest,” Washington Quarterly 27, no. 3 (2004): 137–56.
  100. Jianrong Yu, “Social Conflict in Rural China,” China Security 3, no. 2 (2007): 2–17; Christian Goebel, “Social Unrest in China: A Bird’s-Eye View,” in Handbook of Protest and Resistance in China, ed. Teresa Wright (Cheltenham, UK: Edward Elgar, 2019), 27–45.
  101. Joel Hellman, “Winners Take All: The Politics of Partial Reform in Postcommunist Transitions,” World Politics 50, no. 2 (1998): 203–34.
  102. Minxin Pei, China’s Trapped Transition: The Limits of Developmental Autocracy (Cambridge, MA: Harvard University Press, 2006).

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged , . Bookmark the permalink.