Án văn (2)

Nguyễn Thông

Hai trận tuyến, Phá vây, Nhãn đầu mùa

Trong kỳ trước, tôi đã lược lại những vụ án văn nổi cộm đời sống văn nghệ lẫn đời sống xã hội xứ này, như Nhân văn – Giai phẩm (nhiều văn nghệ sĩ bị đi tù, cải tạo, tước quyền sống, quyền sáng tác), Việt Phương với Cửa mở, Hoàng Cát với Cây táo ông Lành, Hữu Loan với Màu tím hoa sim, Quang Dũng với Tây tiến, Bùi Ngọc Tấn với Chuyện kể năm 2000

Đương nhiên văn nghệ sĩ là nạn nhân, chỉ bởi vì họ cương trực, thẳng thắn, tôn trọng quyền tự do sáng tác, không chịu khép mình vào thứ văn nghệ phục vụ chính trị thô thiển; còn thủ phạm không phải ai khác chính là nhà cầm quyền khi ấy. Lúc nào miệng quan cũng nói quyền tự do cho văn nghệ sĩ nhưng tay thì chỉ nhăm nhăm chụp vòng kim cô ý thức hệ lên đầu người sáng tác, anh nào cố tình tìm cách thoát ra khỏi vòng sẽ bị pháp luật (cũng của họ) trừng trị. Những người dân bình thường đã phải chịu cuộc sống cực kỳ vất vả, huống hồ người có tiền án tiền sự với chế độ, dù chỉ là án văn nghệ.

Thời tuổi đi học (thập niên 60 – 70), đám chúng tôi được chứng kiến, được nghe, được biết khá nhiều vụ án văn. Chả mấy ai không tỏ cuộc đời lận đận của ông Hà Minh Tuân, tác giả mấy cuốn tiểu thuyết “có vấn đề”. Ông Tuân từng tham gia cách mạng và quân đội rất sớm, hàm đại tá, năm 1954 đã lên đến chức Trưởng phòng Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị (đại tướng Nguyễn Chí Thanh chủ nhiệm tổng cục này). Có máu văn nghệ, lại lãng mạn, ông Tuân viết liền mấy cuốn tiểu thuyết Trong lòng Hà Nội, Hai trận tuyến, Vào đời, cuốn nào bạn đọc cũng thích, nhưng đảng không thích.

Những cuốn ấy bị quân ông Tố Hữu đập tơi tả, chê mất lập trường cách mạng, không phân biệt được ta và địch, ủy mị, yếu đuối, và nhất là đồi trụy. Cứ sau khi ra, sách lại bị thu hồi. Ông Tuân lên bờ xuống ruộng, bị cách chức, chuyển qua hết việc này đến việc khác (thời ấy đại tá to lắm nên không dễ gì lôi ra tòa, bởi không như vụ Trần Dụ Châu hồi chống Pháp), nhưng đời văn tàn luôn.

Bìa tác phẩm Vào đời, Nxb Văn học 1963 và tái bản 1991

Một ông khác, nhà văn Phù Thăng, bị đánh cuốn tiểu thuyết Phá vây ra đời năm 1961. Một cuốn truyện hay về đề tài chiến tranh nhưng nhà cầm quyền cho rằng tác giả đã mất lập trường, nhìn sai lạc về cuộc kháng chiến, đặc biệt làm méo mó hình ảnh người lính bộ đội cụ Hồ. Sách bị cấm, thu hồi, tác giả phải về quê Hải Dương chăn vịt, một thời gian sau mới được viết lại nhưng đời văn cũng nhiều bề lận đận.

Phù Thăng gửi trong Phá vây suy nghĩ của người lính rằng “chiến tranh không có gì đáng ca ngợi cả, và cuộc đời người lính cũng chỉ là một cuộc đời nhọc nhằn mà thôi. Nếu như cuộc chiến đấu có giành được cái vinh quang chân chính của nó thì cũng phải trả một giá quá đắt”. Thế là toi, cũng như Bảo Ninh sau này bị đánh tơi tả cuốn Nỗi buồn chiến tranh khi dám phơi bày mặt sau và những phần sâu kín của cuộc chiến mà người ta cố tình che giấu, lờ đi.

Phù Thăng bị kết án mất lập trường cách mạng, dao động ngả nghiêng, oán giận chiến tranh một cách chung chung, chỉ nhận thấy khổ cực và mất mát, làm méo mó cái nhìn về cuộc chiến tranh cách mạng, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vẻ đẹp của người lính vệ quốc.

Nhà văn Xuân Sách đã khắc họa số phận Phù Thăng trong Chân dung nhà văn: “Đứa con nuôi của trung đoàn/Phá vây xong lại chết mòn trong vây”.

Bìa các tác phẩm Phá vâyCon nuôi trung đoàn (tái bản), Nxb. Hội Nhà văn, 2015

Nhắc tới án văn, đừng quên vụ Nhãn đầu mùa của cặp Xuân Tùng – Trần Thanh. Thập niên 60, khi nó ra đời, người đọc, nhất là thanh niên trai gái, thích lắm. Đọc say mê. Sao nhà văn giỏi thế, viết hay thế.

Cuốn Nhãn đầu mùa viết cái gì mà đến nỗi hai tác giả Xuân Tùng – Trần Thanh bị đánh lên bờ xuống ruộng?

Đọc nó lâu lắm rồi, từ đầu thập niên 60 tới giờ đã hơn 60 năm, tôi không còn nhớ chi tiết nữa, nhưng vẫn mang máng rằng Nhãn đầu mùa là chuyện về cuộc chiến đấu chống Pháp ở Hưng Yên. Nơi này có đội nữ du kích Hoàng Ngân. Bà Ngân là cán bộ phụ nữ nổi tiếng, sau khi bà mất, đội du kích nữ ở Hưng Yên lấy tên bà đặt cho đội. Đội lập chiến công lẫy lừng, giặc phải khiếp sợ.

Hưng Yên thời Pháp có bà Hoàng Ngân, Hải Dương có bà Mạc Thị Bưởi (giờ ngay trung tâm Sài Gòn, quận 1, nối với đường Đồng Khởi có đường Mạc Thị Bưởi, nghe đâu giá đất vài tỉ mỗi mét vuông), Thái Bình có bà Nguyễn Thị Chiên “tay không bắt giặc”…

Cùng sát cánh chiến đấu với đội nữ Hoàng Ngân là một đơn vị bộ đội vệ quốc, tất nhiên đàn ông. Cứ có đàn ông đàn bà, lại trẻ nữa, là… sinh chuyện. Yêu nhau, để ý nhau, hẹn hò, tỏ tình. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Yêu nhau đâu có tội. Trong chiến tranh, tình yêu thường đẹp đẽ và bi thương. Ông Nguyễn Đình Thi chả viết “Anh yêu em/Và yêu khẩu súng trường trên vai em” là gì.

Các tác giả Nhãn đầu mùa kể về mối tình như vậy. Nói thật, chuyện của cô du kích Tý với anh bộ đội, chỗ tả mùi mẫn nhất cũng chỉ là cái hôn nhè nhẹ lên… trán, ôm nhau cảm nhận sau áo vải dày bộ ngực nóng bỏng phập phồng, rạo rực rạo rực. Chỉ tả bạo đến thế thôi, bọn trẻ bây giờ mà đọc lại chẳng lăn ra cười, tưởng “trái cấm” thế nào, chứ văn chương bây giờ đầy thứ “nặng đô” gấp tỉ lần, còn đưa vào cả sách giáo khoa cho trẻ con học nữa, gọi là giáo dục giới tính.

Nhưng thời cách nay nửa thế kỷ trở về trước, yêu đương là điều cấm kỵ, cả trong đời lẫn trên giấy. Cấm, cấm tiệt. Không yêu iếc gì sất, tất tật trái tim khối óc phải dành cho cuộc cách mạng, chiến đấu và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không được riêng tư, yếu đuối, ủy mị, tình cảm trai gái.

Tuyên huấn giải thích, yêu nhau quấn quít nhau thì lấy ai ra trận, người cầm súng ngoài chiến trường làm sao coi “cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”. Ngọt ngào nhớ thương thì lính làm sao đánh giặc, yên tâm về người ở hậu phương; làm sao người ở lại vững lòng chờ chồng, đảm đang gánh vác việc hợp tác xã, việc nước việc nhà… Cứ cấm tiệt, trước hết trong văn nghệ. Có yêu nhau cũng phải “Yên tâm vững bước mà đi hỡi người mà em yêu”, v.v.

Tất cả những cuốn truyện bị cấm mà tôi đã kể ở kỳ trước đều có số phận na ná Nhãn đầu mùa. Đảng, tuyên huấn không cấm yêu (họ thừa biết có cấm được khối) nhưng suốt thời gian dài không cho phép thể hiện tình yêu trai gái mùi mẫn trong tác phẩm văn học. Những Hai trận tuyến, Mùa hoa dẻ, Sắp cưới, Đi bước nữa, Phá vây… cùng chịu chung số phận khi kể chuyện trai gái yêu nhau.

Vòng trắngSẹo đất

Lứa chúng tôi cũng từng chứng kiến hai vụ án văn là bài thơ Vòng trắng của Phạm Tiến Duật và Sẹo đất của Ngô Văn Phú. Hai ông nhà thơ này trưởng thành thời chống Mỹ, tạo dựng được tên tuổi, thậm chí ông Duật từng nổi danh là nhà thơ số 1 viết về Trường Sơn, vua biết mặt chúa biết tên, trọng vọng lắm.

Những năm cuối thập niên 60, đầu 70 đang khí thế hừng hực chống Mỹ, văn nghệ bị cuốn vào chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ta thắng địch thua, thế đứng trên đầu thù, “40 thế kỷ cùng ra trận/Có đảng ta đây, có Bác Hồ”, anh nào lệch ra khỏi quỹ đạo là chết ngay.

Bác Duật, chả ngại gì khi nhận xét rằng, một kỳ nhân thời chống Mỹ. Lứa chúng tôi kém bác (sinh năm 1941) hơn một giáp, lúc vào học cấp 2 (lớp 5) thì bác đã tốt nghiệp đại học sư phạm rồi sau đó như mọi thanh niên xung phong ra mặt trận. Tài hoa thơ hàng đỉnh, một giọng mới mẻ rất thích, hơn cả những bậc tiền bối. Những bài như Gửi em cô thanh niên xung phong, Tiểu đội xe không kính, Trường Sơn đông, Trường Sơn tây… cắm mốc chắc khừ trên đỉnh thơ cách mạng. Có thể nói không ngoa, Phạm Tiến Duật ngôi số 1 của văn chương giai đoạn 1954 – 1975. Ai cãi tôi, cứ đọc thơ Trường Sơn của bác Duật thì tỏ.

Đùng một cái, ông Duật viết bài Viết về số 0 (được biết đến với cái tên phổ biến Vòng trắng), in tháng 1.1974. Lúc đầu có lẽ do tiếng tăm ông vẫn còn cao, vả lại bài thơ được in trên tạp chí Thanh Niên ít ai đọc nên người ta không để ý. Ông Duật viết:

Khói bom lên trời thành một cái vòng đen

Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng

Tôi với bạn tôi đi trong yên lặng

Cái yên lặng bình thường đêm sau chiến tranh

 

Có mất mát nào lớn bằng cái chết

Khăn tang, vòng tròn như một số 0

Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng

Là cái đầu bốc lửa ở bên trong.

Sau chả biết có ai mách lẻo, thế là báo Nhân Dân và tạp chí Học Tập nã đại bác vào thần tượng Phạm Tiến Duật.

Tạp chí Học Tập (sau đổi tên thành tạp chí Cộng sản) số tháng 9.1974 dõng dạc kết án “Giữa lúc cần nói to lên niềm sung sướng tự hào về cái được vĩ đại của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thì nhà thơ lại chỉ thấy cái mất, chỉ thấy tang tóc đau thương và than thở…”. Chỉ cần chừng ấy thôi là thành án, ông Duật mất bao nhiêu công phân trần, giãi bày nhưng triều đình chả chịu nghe.

Còn ông Ngô Văn Phú ra mắt Sẹo đất năm 1972. Ông là nhà thơ nổi tiếng lúc bấy giờ, là quan văn nghệ. Ít người biết ông là tác giả câu thơ tuyệt hay mà thiên hạ cứ nghĩ là ca dao. Bài Mây và bông, rằng:

Trên trời mây trắng như bông

Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây

Những cô má đỏ hây hây

Đội bông như thể đội mây về làng.

Ông anh tôi hồi học cấp 3 có lần bảo “Thằng cha giỏi thật, chắc tán gái thành thần” khi nói về ông Phú và bài mây bông này.

Sẹo đất làm chi mà nên tội? Chả là nhìn cái hố bom, ông Phú nghĩ có lẽ đất nó cũng như người, nó đau lắm. Trong bài thơ có câu “Tưởng như da thịt mình mới sẹo/Ai ngờ đất cũng sẹo như mình”.

Tuyên giáo phang luôn, quy kết ông Phú có vấn đề về tư tưởng, không xác định rõ tính chất của cuộc chiến tranh giữa ta và địch, gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây suy nghĩ sợ chiến tranh trong nhân dân. Ông Phú bị kiểm điểm, rồi bị cách chức, chịu bao phiền phức về sau.

Nhìn chung tội của ông Duật ông Phú là sáng tác theo suy nghĩ cá nhân, không đi đúng đường lối quan điểm “ta tốt địch xấu, ta thắng địch thua”, “lãng mạn cách mạng”… nên phải phê phán triệt để, làm gương cho kẻ khác.

Cả một thời, văn nghệ bị quản lý, lãnh đạo bằng những cái đầu, bộ óc rất ấu trĩ, thủ cựu, u mê.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.