Về mối quan hệ giữa Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Ái Quốc và Lê Hồng Phong

Nguyễn Ngọc Giao

Trong chính sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, người ta chỉ viết vắn tắt Nguyễn Thị Minh Khai (1910-1941) và Lê Hồng Phong (1902-1942) đã kết hôn năm 1934 ở Thượng Hải (một vài văn kiện lại viết 1935 ở Moskva). Ông Lê Hồng Phong (tên thật là Lê Huy Doãn, bí danh Litvinov, Hải An, rồi La Anh) được cử làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1935, về nước năm 1936, bị giam và chết trong tù). Nguyễn Thị Minh Khai (tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, bí danh là Duy, Phân Lan, Năm Bắc, Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn) bị bắt năm 1940, kết án tử hình và xử bắn ngày 28.8.1941.

Nhưng trong những thông tin truyền miệng và truyền mạng, Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Ái Quốc đã sống như vợ chồng vào đầu thập niên 1930 ở Trung Quốc.

Lời đồn này xuất phát từ một vài chứng tích đã được các nhà sử học công bố. Đặc biệt là hai nhà sử học Mỹ: Sophie Quinn-Judge (tác giả Ho Chi Minh: The Missing Years, 2002) và William J. Duiker (Ho Chi Minh: A Life, 2001); cũng như hai sử gia Pháp (Pierre Brocheux: Hô Chi Minh, du révolutionnaire à l’icône, Payot, 2003 và Daniel Hémery: Hô Chi Minh. De l’Indochine au Vietnam1990).

Hình từ bài của Brian Wu [1a]

Chứng tích mà các nhà nghiên cứu tìm ra là: 1/ Bản lý lịch viết tay của Nguyễn Thị Minh Khai khi tham gia Đại hội Quốc tế Cộng sản 1935 tại Moskva (khai có chồng, tên là “Lin” – một trong những bí danh của Nguyễn Ái Quốc); 2/ thư của Hà Huy Tập và Ban đại diện hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương, khi giới thiệu Nguyễn Thị Minh Khai, đều chú thích “vợ của Quốc”. Ngoài ra, họ không tìm ra nhân chứng hay tư liệu gì khác trong Văn khố của Quốc tế Cộng sản nói về quan hệ vợ chồng hay tình cảm nào giữa hai người. Chỉ biết năm 1931 (ít lâu trước khi hai người bị cảnh sát Anh ở Hồng Công bắt giam), Nguyễn Thị Minh Khai là một trong những cộng tác viên của Nguyễn Ái Quốc (lúc đó mang bí danh là Tống Văn Sơ / Song Man Cho). Trong một thông điệp Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản đầu năm 1931, có nói tới dự định kết hôn (không nói rõ với ai), được văn phòng Quốc tế Cộng sản trả lời là phải “báo trước hai tháng”, sau đó không có trao đổi tiếp theo: các nhà nghiên cứu cho đến nay vẫn chịu thua, không biết cuộc trao đổi thư từ ấy nói đến một dự định kết hôn thực sự hay chỉ là mật mã về một dự án công tác nào đó. Do đó, họ vẫn thận trọng, không kết luận, mà chỉ coi là những giả thuyết cần được kiểm chứng.

Một số người đọc vội vã, không thận trọng như vậy. Điển hình là ông Nguyễn Thành Nam, tác giả cuốn Chuyện với Thanh vừa gây ra sóng gió. Trong bài Về mối tình của Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai được viết trong tác phẩm Ho Chi Minh: A Life[1b]  tác giả Brian Wu đã đối sánh những đoạn nguyên tác của William Duiker và bản dịch (và diễn dịch) của ông Nguyễn Thành Nam, khẳng định Nguyễn Ái Quốc “mất vợ” vì bị Lê Hồng Phong “cưa” Nguyễn Thị Minh Khai. Diễn dịch theo kiểu Nguyễn Thành Nam hay kiểm duyệt, cấm “phạm húy” theo kiểu các nhà tuyên huấn chính thống đang đấu tố ông Nam (dẫn tới việc thu hồi Chuyện với Thanh), “quân ta đánh quân mình”; ở đây không cần bàn tới.

Các nhà nghiên cứu sử học nói trên có lý do để thận trọng về mối quan hệ giữa Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Ái Quốc. Khi viết, họ chưa tiếp cận những chứng từ và tư liệu được công bố từ đó.

Trước tiên phải kể chứng từ của bà Hồ Mộ La trong hồi ký Hồi tưởng về cha tôi Hồ Học Lãm (Nhà xuất bản Phụ Nữ, 2011, 260 trang).

Hồ Mộ La (giáo sư thanh nhạc, Nhạc viện Hà Nội) là con gái thứ nhì của chí sĩ Hồ Học Lãm (1884-1943) và bà Ngô Khôn Duy (1893-1980). Tham gia Phong trào Đông Du rồi tị nạn ở Trung Quốc, Hồ Học Lãm làm sĩ quan trong bộ tham mưu của Tưởng Giới Thạch, nhưng thủy chung lo việc nước và cưu mang các chiến sĩ cách mạng Việt Nam hoạt động ở Trung Quốc (bất luận Cộng sản, Quốc dân đảng hay Việt cách…) Nhà ông bà thường xuyên chứa chấp cả chục thanh niên Việt Nam, trong đó có “cô Duy” (Nguyễn Thị Minh Khai). Hồi ký của bà Hồ Mộ La (chương 5), có đoạn nói về “cô Duy” như sau:

Một buổi chiều rỗi rãi, mẹ tôi xuống ngồi chơi trò chuyện với các chú ở phòng ngoài, chú Lý Quang Hoa chơi cờ với chú Thược, chú Trình ngồi chầu rìa, chú Đông A đọc báo, mấy chú Đức, Giai, Lộc v.v… ngồi nghỉ mát cạnh quạt. Chú Đức hỏi mẹ tôi: “Chị ơi, bọn tôi nghe nói có ông Nguyễn Ái Quốc ở bên Pháp giỏi lắm, phải không chị?”. Được hỏi như cởi tấm lòng, mẹ tôi kể vanh vách các chuyện về nhân vật kỳ thú siêu phàm này. Nào là “Bản cáo trạng chủ nghĩa thực dân” làm chấn động dư luận thế giới; nào là thực dân Pháp ra sức lùng sục khắp mọi nơi, nhưng không làm sao bắt được ông. Nào là Lý Thụy tức Nguyễn Ái Quốc bất ngờ bị Anh bắt ở Hồng Công, cuối cùng một luật sư tiến bộ Anh đã cãi trắng án cho Lý Thụy v.v… Các chú há hốc mồm ra nghe, còn trong khối óc trẻ thơ của tôi hình dung Nguyễn Ái Quốc người cao lớn, đẹp trai, hoạt động đây đó như xuất quỷ nhập thần… Tất nhiên tôi không nhận thức được các vấn đề chính trị, bởi vì tôi mới khoảng năm, sáu tuổi. Một hôm, mẹ lại kể: “Thuận chơi thân với chị Duy, kể với tôi rằng Duy ngưỡng mộ Nguyễn Ái Quốc lắm, chỉ ước được gặp Nguyễn Ái Quốc… Một lần tổ chức bố trí Duy làm vợ chồng giả với một đồng chí ở Thượng Hải. Căn phòng chỉ kê được có một giường đôi. Đêm buộc hai người phải nằm chung một giường. Chị Duy lấy chăn xếp dọc để ở giữa giường và bật đèn sáng trưng để ngủ. Đồng chí đó cất chăn đi, chị Duy lại đặt chăn lại chỗ cũ, đồng chí đó tắt đèn đi thì chị Duy lại bật đèn lại, làm như thế vài lần, đồng chí đó để nguyên trạng. Hai người ở với nhau được một tháng thì tổ chức lại điều chị Duy đi làm công việc khác. Khi Thuận và Duy gặp nhau, Thuận hóm hỉnh hỏi: “Thế nào, có mang chưa mi?”. Chị Duy nói: “Con khỉ, người ta sống với nhau với tư cách vợ chồng giả cơ mà”. Và chị kể lại đầu đuôi sự tình cho chị Thuận nghe. Chị Thuận nói: “Trời ơi là trời, ngốc ạ, đó chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc đấy!”. Chị Duy chết lặng đi… Mấy chú tấm tắc khen: “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc cừ thật!”. Tôi hỏi mẹ: “Thế chị Thuận cũng ở Thượng Hải à?”. “Chị Thuận lấy anh Hồ Tùng Mậu, đẻ được hai thằng con trai ở Thượng Hải. Vì phải hoạt động cách mạng, vả lại cũng không có kinh tế nuôi con, cuối cùng cả hai đứa phải cho người ta làm con nuôi…”. Năm 1930, anh Hồ Tùng Mậu bị bắt trong nước, chị Thuận không chờ được, bèn lấy anh Bùi Hải Thiệu. Khi đẻ đứa con gái đầu lòng, chị đến ở nhờ phòng chị Lan vài tháng, sau đó chú Bùi Hải Thiệu đón hai mẹ con đi nơi khác, đi đâu mẹ tôi không rõ. Thời kỳ đó, chị tôi ở trường nuôi tằm, lúc đó khoảng đầu năm 1935, sau Tết âm lịch năm Ất Hợi.

Chứng từ của bà Hồ Học Lãm và con gái Hồ Mộ La xác nhận năm 1931, Nguyễn Thị Minh Khai là cộng tác viên của Tống Văn Sơ (bí danh lúc đó của Nguyễn Ái Quốc) và có thời gian được phân công đóng vai “vợ” giả của Tống Văn Sơ. Điều này có lẽ giải thích cụm từ “vợ của Quốc” trong báo cáo nói ở trên của Hà Huy Tập và Ban đại diện Đảng Cộng sản Đông Dương hải ngoại. Nó loại trừ câu chuyện “mối tình tay ba” trong trí tưởng tượng của một số người, và giải thích mối quan hệ suôn sẻ giữa Nguyễn Ái Quốc và Lê Hồng Phong.

 

Hình phải: Bà Hồ Mộ La tiếp người viết (tháng 10.2024 tại Hà Nội).

Mối quan hệ này được xác nhận trong nghiên cứu của Nguyễn Bá Ngọc (nguyên phó viện trưởng Viện bảo tàng Hồ Chí Minh) [2] Ban thẩm tra vụ việc NGUYỄN ÁI QUỐC ở Quốc tế Cộng sản” (Tạp chí Xưa & Nay, số 438, tháng 10.2013, toàn văn đã được đăng lại trên Diễn Đàn tại địa chỉ trên).

Vụ thẩm tra này diễn ra năm 1936, trung điểm của thời kỳ 1934-38 Nguyễn Ái Quốc ở Liên Xô, cũng là cao điểm của chiến dịch Stalin đàn áp, thủ tiêu đội ngũ cán bộ Quốc tế Cộng sản và ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô. Nguyễn Ái Quốc không bị đưa ra một “toà án Moskva”, nhưng phải ra điều trần trước một Ban thẩm tra gồm ba người: Cônxinna, Hải An (tức Lê Hồng Phong) và Krapxki. Đương sự phải trả lời về nhiều tội trạng, trong đó có:

– tháng 2 năm 1930 đã tự tiện hợp nhất 3 nhóm cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam mà không hề xin phép hay được Quốc tế Cộng sản cho phép (như mọi người đều biết, tháng 10 cùng năm, tổ chức này hoà tan trong Đảng Cộng sản Đông Dương, với đường lối tả khuynh của Stalin, với Trần Phú được chỉ định làm tổng bí thư).

– năm 1931, bị cảnh sát Anh bắt giam, xử án, tại sao chỉ bị “án nhẹ”?

– năm 1934, làm sao đi được từ Thượng Hải về Liên Xô? vân vân…

Cũng nên nhắc lại, thập niên 1930 là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc bị gạt khỏi vai trò lãnh đạo, và bị những tổng bí thư Trần Phú, Hà Huy Tập phê phán nghiêm khắc vì lập trường “dân tộc chủ nghĩa”, “cải lương”, “thoả hiệp giai cấp”…

May mắn là bị can đã được những nhân chứng bảo vệ: luật sư Loseby (người đã cứu Nguyễn Ái Quốc trước toà án Hồng Công), Paul Vaillant-Couturier, phái viên Quốc tế Cộng sản ở Viễn Đông (tổ chức cho chuyến đi Liên Xô từ Thượng Hải).

Cuối cùng, Nguyễn Ái Quốc thoát hiểm nhờ bản kết luận của Ban thẩm tra, mang chữ ký của đồng chí Hải An (hồ sơ lưu trữ của Quốc tế Cộng sản). Tác giả Bá Ngọc viết: “Trong lúc khó khăn nhất, bên cạnh Nguyễn có những người bạn, người đồng chí hết lòng giúp đỡ, như Vaxiliepna, Lê Hồng Phong, Vaillant Couturier, Manuinxki, Radumopva…”.

Chứng từ của bà Hồ Mộ La và những hồ sơ lưu trữ mà nhà nghiên cứu Bá Ngọc công bố đã soi sáng hồ sơ quan hệ Minh Khai & Ái Quốc & Hồng Phong. Dễ hiểu là các công trình của S. Quinn-Judge, W. Duiker, P. Brocheux và D. Hémery đã được công bố vài năm trước hai tác giả này, nên họ rất thận trọng. Khó hiểu hơn là sự im lặng của các tuyên truyền viên chính thống, hung hăng bảo vệ một lối kể chuyện thần thánh hoá, bất chấp sự thật lịch sử.

Chú thích

1a/1b/: Brian Wu,  Về mối tình của Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai được viết trong tác phẩm Ho Chi Minh: A Life

2/ Ban thẩm tra vụ việc NGUYỄN ÁI QUỐC ở Quốc tế Cộng sản

Nguồn: https://www.diendan.org/viet-nam/ve-moi-quan-he-giua-nguyen-thi-minh-khai-nguyen-ai-quoc-va-le-hong-phong

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.