Michel Foucault và hành trình tái tạo lại lịch sử tính dục

Dương Thắng

Tính dục luôn là chủ đề luôn gây tò mò và tranh cãi trong xã hội. Trong nhiều thế kỷ, con người đã tìm cách hiểu và kiểm soát tính dục của mình thông qua việc nhờ cậy đến tôn giáo hoặc y học. Tuy nhiên, phải đến thế kỷ 19, tính dục mới trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học với sự ra đời của ngành tính dục học.

Trong cuốn Khao khát được biết (La Volonté de Savoir) (bản dịch tiếng Việt của Trịnh Huy Hóa, Trung Nguyễn hiệu đính, Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, 2024), Michel Foucault đã tái khám phá lịch sử tính dục và cách thức nó được sử dụng như một công cụ quyền lực. Theo Foucault, tính dục đã được sử dụng để duy trì trật tự xã hội và kiểm soát con người, tạo ra các chuẩn mực và hành vi được chấp nhận, những người không tuân theo các chuẩn mực này sẽ bị coi là lệch lạc hoặc bất thường. Tuy nhiên, Foucault cũng khẳng định rằng tính dục đồng thời có thể là một phương tiện phản kháng và giải phóng con người, đặc biệt là đối với những người bị thiệt thòi vì khuynh hướng tính dục hoặc giới tính của mình.

1. Lịch sử tính dục mà Foucault đã viết là lịch sử tư tưởng. Nó “không phải là lịch sử của hành vi hay của sự biểu hiện.” Do đó, ông không xem xét hành vi và thực hành tính dục qua nhiều thời đại. Ông cũng không đi phân tích sự kế thừa các ý tưởng triết học, tôn giáo và khoa học mà theo đó các hành vi được thể hiện. Theo ông, trạng thái và phạm vi hoạt động của những hành vi cũng thay đổi theo lịch sử. Chính lịch sử tư tưởng đã xác lập những điều kiện tiên nghiệm mà tại một thời điểm nhất định, các diễn ngôn được tạo ra và các thể chế được hình thành. Do đó, điều Foucault quan tâm không phải là lịch sử của các trạng thái tâm lý mà là các điều kiện trong đó các trạng thái này được hình thành. Đây không phải là câu chuyện về hành vi, mà là về những điều kiện mà hành vi này thể hiện. Do đó, chúng ta có thể nói về một thuyết tiên nghiệm lịch sử như một điều kiện cần cho khả năng hiểu biết sâu về một thời đại.

2. Foucault tiến hành cuộc điều tra tỉ mỉ của mình bắt đầu từ một câu hỏi đơn giản. Ông đặt câu hỏi về những điều có vẻ hiển nhiên. Tại sao hoạt động tính dục lại được coi là phạm trù đạo đức? Tại sao hành vi tính dục và các hoạt động liên quan đến nó lại là chủ đề gây quan ngại về mặt đạo đức? Liên quan đến câu hỏi này ông không coi lệnh cấm và việc đàn áp là giải pháp thích hợp. Vào năm 1976, Khao khát được biết, tập đầu tiên trong bộ bốn tập sách đồ sộ Lịch sử tính dục (Histoire de la Sexualité), của ông được xuất bản. Ngay ở phần mở đầu Foucault đã tuyên bố một quan điểm ngược lại với các quan điểm đang thống trị thời bấy giờ và phát triển một sự phản ánh mới về lịch sử tính dục, về các diễn ngôn liên quan và mối quan hệ của tính dục với quyền lực. Theo “giả thuyết đàn áp”, lịch sử tính dục từ thế kỷ 17 đến nay nên được đọc như một biên niên sử về sự đàn áp ngày càng tăng, sự đàn áp trùng hợp (sau hàng trăm năm thể hiện một thứ tính dục tự do) với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và một phần không thể thiếu của trật tự tư sản (tr. 13). Foucault đã phản bác lại luận điểm này và đặt câu hỏi về nghịch lý của một xã hội “đã và đang lớn tiếng tự trách mình vì thói đạo đức giả trong hơn một thế kỷ, nói dông dài về sự im lặng của chính mình và cố gắng trình bày chi tiết những điều nó không nói ra, tố cáo những quyền lực mà nó đã vận dụng” (tr. 18). Mục đích của Foucault không phải là phản bác lại giả thuyết “đàn áp” mà là chỉ ra thực tế rằng sự cấm đoán xung quanh hiện tượng tính dục không phải là yếu tố cơ bản (và thậm chí không phải là yếu tố duy nhất) mà người ta có thể dựa vào để viết nên Lịch sử tính dục. Do đó, phân tích của Foucault tập trung vào cái thực tế của những diễn ngôn tính dục tổng thể, các diễn ngôn về tính dục dưới mọi khía cạnh, những sức mạnh đang vận hành trong đời sống tính dục và khoái cảm được trải nghiệm hàng ngày.

3. Trong ba thế kỷ qua, theo Foucault, đã có một “sự bùng nổ diễn ngôn” thực sự về tính dục, càng đáng chú ý hơn vì nó xảy ra trong chính lĩnh vực thực thi quyền lực: sự khuyến khích mang tính thể chế để nói về nó, để nghe về nó và để làm cho nó nói – tuy nhiên, sự bùng nổ lại đi kèm với việc kiểm soát nghiêm ngặt nội dung các tuyên bố (ví dụ: những từ vựng bị hạn chế đề cập đến) và kiểm soát cách nói (cách nói “như thế nào, ở đâu và khi nào” về tính dục). Một trong những yếu tố cơ bản của phân tích này là việc mở rộng ngày càng tăng việc thực hành xưng tội về xác thịt: việc chăm sóc mục vụ Kitô giáo đặt việc thảo luận về tính dục như một nghĩa vụ cơ bản của mọi Kitô hữu tốt lành (trang 31-32). Hơn nữa, thế kỷ 18 chứng kiến sự xuất hiện của các động lực chính trị, kinh tế và kỹ thuật để nói về tính dục. Xã hội quan tâm nhiều hơn đến tỷ lệ sinh, độ tuổi kết hôn, sinh con hợp pháp và bất hợp pháp, hoặc thậm chí cả sự phát triển sớm và tần suất quan hệ tính dục. Bên cạnh đạo đức, vì thế còn có “diễn ngôn hợp lý” về tính dục nhằm mục đích quản lý Nhà nước tốt hơn. Có rất nhiều ví dụ khẳng định rằng những gì đánh dấu trong ba thế kỷ qua là sự khuếch trương của các trung tâm diễn ra thảo luận về tính dục, sự đa dạng hóa các hình thức của chúng, sự gia tăng của các công cụ được tạo ra để nói về tính dục. Nói tóm lại, như Foucault viết, có một “sự kích động diễn ngôn có quy củ và đa hình thái” (tr. 57).

4. Các cơ chế khác vẫn tiếp tục hoạt động vào cuối thế kỷ 17: gia tăng các bản án tư pháp, gộp những hiện tượng bất thường về tính dục vào bệnh tâm thần, xác định tiêu chuẩn phát triển tính dục, mô tả chính xác mọi sự lệch lạc (tr. 55). Cho đến cuối thế kỷ 17, các hoạt động tính dục được điều chỉnh bởi ba bộ luật: giáo luật, luật mục vụ Kitô giáo và luật dân sự, chúng thiết lập quy tắc phân biệt cho những gì hợp pháp và bất hợp pháp. Những quy tắc này tập trung vào quan hệ hôn nhân (nghĩa vụ vợ chồng và các phương thức thực hiện) và những gì được đưa vào xem xét (trong trật tự tôn giáo và dân sự) là nhữngthứ “phi pháp”, lên án một cách thờ ơ – hoặc gần như thờ ơ – tình trạng đồng tính luyến ái hoặc ngoại tình. Sự bùng nổ về diễn ngôn vào thế kỷ 18 và 19 đã mang lại hai sự thay đổi. Các cặp vợ chồng hợp pháp, với hoạt động tính dục “bình thường” của mình, có quyền tự do hơn, những khuynh hướng hoạt động tính dục của họ được xem như là một chuẩn mực: cái mà người ta đặt ra những câu hỏi nghi ngại, đó là các hoạt động tính dục ấu dâm, tính dục của những người điên và những kẻ tội phạm. Ngoài ra, người ta còn phân biệt giữa các hành vi lệch lạc (ví dụ như đồng tính luyến ái) và hành vi vi phạm pháp luật/đạo đức (ngoại tình). Về vấn đề này, Foucault lưu ý này rằng, nếu sự can thiệp của Giáo hội vào tính dục đã mất dần đi sự kiên trì kể từ thế kỷ 18, thì y học đã lại dần dần xâm nhập vào khoái cảm của cặp đôi, y học phát minh ra các hệ thống hoàn chỉnh về bệnh lý (hữu cơ, chức năng, tinh thần) và phân loại cẩn thận tất cả các hình thức thú vui bổ sung (tr.69). Vì vậy, thông qua việc phân loại, đánh giá, phán đoán, y học đã tham gia vào việc truyền bá các tiêu chuẩn, theo một cách nào đó, tiếp quản từ Giáo hội. Từ đó trở đi, tính dục không còn là vấn đề giữa các cá nhân và quyền lực tôn giáo nữa: nó trở thành vấn đề của toàn xã hội, qua đó thiết lập sự bình thường hóa về tính dục. Ở đây chúng ta tìm thấy một trong những cơ chế phản xạ (có vẻ ngoài mang tính nghịch lý) làm cơ sở cho sự phản ánh của Foucault: nếu, từ thế kỷ 18 và 19, nói một cách chính xác, chúng ta tạo ra những hình thức “biến thái” khác nhau (bằng cách phân loại chúng), thì những gì chúng ta đã cố gắng kìm nén là về phương diện xã hội, y tế… nhiều hơn là về phương diện pháp lý – sự kìm nén/đàn áp này cũng góp phần làm cho các hoạt động tính dục ngày càng “lộ sáng”. Trên thực tế, xuất hiện những phản ánh xã hội ngày càng đậm nét (thông qua các hoạt động sư phạm hoặc y học) về tình trạng thủ dâm, đồng tính luyến ái, chứng thích phô bày cơ quan sinh dục… do đó dẫn đến việc tạo ra cái cảm giác về “sự bùng nổ” của những hoạt động đồi trụy. Như Foucault đã nói, “xã hội tư sản của thế kỷ 19, và chắc chắn là xã hội của chúng ta hôm nay vẫn vậy, là một xã hội của sự trụy lạc trắng trợn và phân mảnh” ( tr.78).

5. Do đó, kể từ cuối thế kỷ 18, tính dục đã trở thành vấn đề nổi bật và được nhấn mạnh từ nhiều góc nhìn khác nhau: nó trở thành một vấn đề vừa riêng tư vừa công cộng, nó liên quan đến cả khoa học, y tế và xã hội. Do đó, quan điểm áp đặt về một “thời đại đàn áp” bắt đầu từ thế kỷ 17 có vẻ không chính xác: điều đáng chú ý hơn là sự khêu gợi hay xúi giục liên tục các cá nhân nói về tính dục, hiện tượng này cho thấy cái quyền lực được thực thi đối với tính dục – và do đó xuất hiện – chính xác thông qua một diễn ngôn. Và, nếu không có lời mời gọi giải thích ham muốn này, thì khoa học tính dục sẽ không thể được hình thành: theo Foucault, tâm thần học và phân tâm học đều kế thừa việc thực hành xưng tội của Cơ đốc giáo. Cả hai ngành này đều có một ý tưởng cho rằng các sự thật của từng cá nhân luôn bị che giấu trong cái lĩnh vực bí ẩn của giới tính và tính dục, và cả hai đều muốn thông qua một sự kích động mới để giải mã cái phạm trù bí ẩn này để tiếp cận với cái sự thật mang tính bản chất nhất trong mỗi con người. Quan điểm này hiện vẫn đang thống trị trong các xã hội phương Tây hiện đại.

6. Trong Khao khát được biết, Foulcault cũng đã tìm cách làm sáng tỏ cái ý nghĩa của khái niệm về khoa học tính dục. Theo Foucault, về mặt lịch sử sự khác biệt giữa nghệ thuật tình ái (ars erotica) và khoa học về tính dục (scientia sexualis) tương ứng với “hai quy trình bài bản tuyệt vời để tạo ra sự thật về tính dục” (tr. 92). Trong nghệ thuật tình ái – được biết đến ở Nhật Bản, Ấn Độ, La Mã và thậm chí cả trong các xã hội Hồi giáo Ả Rập – sự thật được rút ra từ chính niềm vui, được tiếp nhận như một trải nghiệm. Khoái cảm không được tính đến trong mối quan hệ với một quy luật tuyệt đối về những gì được phép và những gì bị cấm, mà trước hết là trong mối quan hệ với chính nó. Do đó, “Khao khát được biết” gắn liền với tính chất của khoái cảm, cường độ, thời gian của nó trong chính hoạt động tính dục; mối quan hệ với bậc thầy nắm giữ bí mật của khoái cảm là chính yếu nhất: ông ta sẽ truyền đạt kiến thức của mình theo một phương thức bí truyền mang theo toàn bộ kỹ thuật và sự huyền bí. Ngược lại, nền văn minh của chúng ta đã đoạn tuyệt với nghệ thuật tình ái và đang phát triển – kể từ thế kỷ 19 – một nền khoa học tính dục. “Bằng cách phá vỡ các truyền thống của nghệ thuật tình ái, xã hội chúng ta đã trang bị cho mình cho mình một khoa học tính dục” (tr. 109). Chính xác hơn khoa học tính dục được sinh ra để theo đuổi cái sứ mệnh tạo ra những diễn ngôn chân thực liên quan đến tính dục. Việc xưng tội là một nghi lễ quan trọng mà từ thời Trung cổ – đã từng được các xã hội phương Tây đã mong đợi là nguồn “sản sinh ra sự thật”. Quả thật là chính trong việc xưng tội mà sự thật và tính dục được liên kết với nhau: địa vị thống trị không nằm ở phía người nói, người biết, mà ở phía người lắng nghe và giữ im lặng. Giờ đây các xã hội hiện đại của chúng ta đã điều chỉnh “thủ tục xưng tội cổ xưa theo các quy tắc diễn ngôn khoa học” (tr. 109-110), hình thức “xưng tội” cổ xưa đã được tích hợp vào với các hoạt động sư phạm, trong mối quan hệ gia đình, các biện pháp điều trị y học và tâm thần học/ phân tâm học. Và chính nhờ việc tích hợp các “thiết bị” xưng tội này vào các phương pháp khoa học (đặc biệt là hoặt động lắng nghe lâm sàng của các nhà phân tâm học) mà một cái gì đó giống như “ tính dục” có thể xuất hiện, nằm ở điểm giao nhau giữa kỹ thuật xưng tội và diễn ngôn khoa học.

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.