Nguyễn Phượng
Bài thơ Đàn ghi-ta của Lorca của Thanh Thảo được viết theo phong cách thơ tượng trưng có pha màu sắc siêu thực, do đó, trước khi tiếp cận bài thơ, thiết tưởng chúng ta cũng nên nắm vài nét khái lược về thơ hiện đại nói chung và thơ viết theo phong cách tượng trưng, siêu thực nói riêng.
Thơ hiện đại thế giới dòng tượng trưng và siêu thực là một trào lưu nghệ thuật ra đời vào những năm 20 của thế kỉ trước trong văn chương Pháp với người khởi xướng và dán nhãn hiệu cho nó là Guillaume Apollinaire nhưng linh hồn của trào lưu nghệ thuật này lại là André Breton. Nhờ sự cổ vũ nhiệt tình của André Breton, phương pháp siêu thực đã thu hút nhiều người cầm bút trẻ tuổi lúc bấy giờ và nhanh chóng biến thành một trào lưu mạnh mẽ với những cái tên như: Paul Claudel, Paul Valéry, Charles Baudelaire, Blaise Cendrars, Pierre Jean Jouve, Jules Supervielle, St John Perse, Paul Eluard, René Char, Henri Michaux, Francis Ponge, Yves Bonnefoy,…
Tin rằng nghệ thuật cổ điển và lãng mạn đã cầm tù con người quá lâu trong sự kiểm soát chặt chẽ của lí trí, khiến họ tự hạn chế mình trong những lề thói rập khuôn của ngôn ngữ sáo mòn, Breton kêu gọi thế hệ thi nhân đương thời đập vỡ bức tường chắn giữa con người với phần vô thức, tác hợp, pha trộn mộng với thực để giành lại toàn bộ quyền lực của tri năng sáng tạo. Các nhà siêu thực nhấn mạnh đến lối viết tự động (automatic writing), cổ vũ liên tưởng tự do (free assosiation) và thừa nhận có sự tham gia của vô thức trong quá trình sáng tạo. Các nhà siêu thực cho rằng, sự trộn lẫn mơ với thực trong đời sống cảm nhận và tri giác của con người đã là một thực tế. Thực tế ấy, Breton gọi là siêu thực và định nghĩa: “Siêu thực là thao tác tự động thuần tuý tâm lý, qua đó, con người diễn tả bằng lời nói, bằng chữ viết hoặc bằng cách này hay cách khác diễn trình thực tại của tư duy. Đó là bài chính tả do tư duy thể hiện, không phải chịu bất kì sự kiểm soát nào của lí trí và các thành kiến của đạo đức hay thẩm mĩ”[1]. Với quan niệm này, chủ nghĩa siêu thực đề xuất một thế cách nhìn cuộc đời không theo những kinh nghiệm cũ. Với tinh thần phóng túng của những người sở hữu tự do, các nhà thơ siêu thực giải thể các lối viết trước đó bằng việc tạo ra những hình ảnh độc đáo, không tưởng, sắp đặt những thực thể dường như không có bất cứ một mối liên hệ nào cạnh nhau tạo nên tính phi lí cao độ gây ngạc nhiên đối với công chúng. Tuy vậy, nếu đọc một cách chủ động và cởi mở cũng như suy ngẫm kĩ người ta sẽ thấy tính phi lí lui dần, nhường chỗ cho những gì có thể chấp nhận được. Và thực ra, những hành động sáng tạo có vẻ “ngược đời” ấy, suy cho cùng lại chứa đựng một nỗ lực đáng trọng của các nhà siêu thực, bởi họ muốn phản ánh thực tại ở chiều sâu. Nghệ thuật siêu thực chứa đựng niềm mong mỏi của con người hiện đại, khao khát được thâm nhập sâu vào nội giới của vật thể, do đó, nó tích cực khai thác các tiềm năng của vật liệu nhằm đề xuất một hướng tiếp cận mới, hữu hiệu hơn. Nhờ chủ trương này, chủ nghĩa siêu thực đã thúc đẩy những tiến bộ khá đáng kể trong văn học nói chung và cho thơ nói riêng.
Cho dù ngày nay, chủ nghĩa siêu thực không còn tồn tại như một trào lưu văn học nhưng dư ảnh của nó không phải là không còn hấp dẫn đối với những người cầm bút nơi các xứ sở có nền văn chương đang phát triển.
Tác giả bài thơ Đàn ghi-ta của Lorca, nhà thơ Thanh Thảo, được công chúng đặc biệt chú ý bởi những bài thơ và trường ca mang diện mạo độc đáo viết về chiến tranh và thời hậu chiến với các tập: Những người đi tới biển (1977), Dấu chân qua trảng cỏ (1978), Khối vuông ru-bic (1985), Từ một đến một trăm (1988), Những ngọn sóng mặt trời (1994)… Những năm gần đây, Thanh Thảo vẫn tiếp tục làm thơ đồng thời viết báo, tiểu luận phê bình và nhiều thể loại khác, nhưng đóng góp quan trọng và đặc sắc nhất của ông vẫn là thơ ca.
Thơ Thanh Thảo là sự lên tiếng của người trí thức nhiều suy tư, trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại. Tuy nhiên, ông muốn cuộc sống phải được cảm nhận và thể hiện ở bề sâu nên luôn khước từ lối biểu đạt dễ dãi. Ông được coi là một trong số không nhiều những cây bút luôn nỗ lực cách tân thơ Việt với xu hướng đào sâu vào cái tôi nội cảm, tìm kiếm những cách biểu đạt mới qua hình thức câu thơ tự do, giải phóng mọi ràng buộc nhằm mở đường cho một cơ chế liên tưởng phóng túng, xoá những khuôn sáo bằng nhịp điệu bất thường và đề xuất một mĩ cảm hiện đại cho thơ bằng thi ảnh và ngôn từ mới mẻ.
Bài thơ Đàn ghi-ta của Lorca rút trong tập Khối vuông ru-bic (1985) là một trong những sáng tác tiêu biểu cho kiểu tư duy thơ của Thanh Thảo: giàu suy tư, mãnh liệt và phóng túng trong xúc cảm và đương nhiên không dễ hiểu vì ít nhiều nhuốm màu sắc siêu thực mà ông học tập ở chính nhà thơ hiện đại Tây-ban-nha: Garxia Lorca.
Bài thơ viết về cái chết của Fedérico Garxia Lorca, nhà thơ, nhạc sĩ, kịch tác gia, nhà hoạt động sân khấu thiên tài người Tây-ban-nha vào năm 1936, khi ông mới 38 tuổi.
Cái chết của Lorca là sự kiện gây chấn động lớn không chỉ ở Tây- ban-nha mà còn với toàn thế giới, không chỉ với lúc bấy giờ mà còn âm vang tới nhiều năm sau. Thanh Thảo muốn phục sinh thời khắc bi tráng đó, tỏ thái độ ngưỡng mộ, đau xót và qua đó xây dựng biểu tượng nghệ thuật Lorca qua một hình ảnh quen thuộc mà độc đáo: đàn ghi-ta.
Với Lorca, người được coi như một trong những bậc thầy của thi ca hiện đại thế giới, đại diện tiêu biểu cho một thế hệ nghệ sĩ mới đầy tinh thần công dân và ý thức cách tân nghệ thuật nên với bài tưởng mộ của mình Thanh Thảo không muốn dừng lại ở hình thức thông thường, ông thể nghiệm một hình thức mới, gần gũi với dòng mạch tượng trưng và siêu thực (mà F.G. Lorca là một thành viên) tạm gọi là kết hợp và giao hoà: kết hợp giữa tự sự và trữ tình, giữa thơ và nhạc, giữa màu sắc thơ viếng phương Đông và chất bi tráng trong nhạc giao hưởng phương Tây, giữa hệ thống thi ảnh Lorca và hệ thống thi ảnh của chính tác giả. Tất cả lại được đưa vào một cấu trúc mới cũng mang tính chất kết hợp và giao hoà: giao hoà giữa tính liên tục trong cốt tự sự với tính gián đoạn trong suy cảm và ngôn ngữ thơ.
Bước vào bài thơ là chân dung chàng nghệ sĩ Gaxia Lorca được giới thiệu bằng những nét chấm phá:
những tiếng đàn bọt nước
Tây-ban-nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la
những hình ảnh tương phản, phần nào chịu ảnh hưởng lối thể hiện của họa phái ấn tượng, vừa để hình dung về con người Lorca và nghệ thuật Lorca vừa gợi liên tưởng đến khung cảnh của một đấu trường. Nhưng ở đấy không phải đấu trường với cuộc đấu giữa võ sĩ với bò tót mà là một đấu trường đặc biệt với cuộc đấu giữa khát vọng dân chủ của công dân Lorca với nền chính trị độc tài, của khát vọng cách tân nghệ thuật trong chàng nghệ sĩ Lorca với nền nghệ thuật rối rắm và già nua.
Như thể trêu ngươi, câu thơ mô phỏng tiếng đàn li-la li-la li-la vang lên như một thách thức, như một hiện diện ngạo nghễ của người nghệ sĩ và nghệ thuật của anh ta. Nhưng chàng nghệ sĩ yêu tự do và khao khát cách tân nghệ thuật kia đâu đã chịu dừng lại ở đó? Chàng chọn cái lối sống cô đơn và phóng túng, buông thả và bất chấp của kẻ chán đời, của tên nổi loạn khi tự trong sâu thẳm trái tim nghệ sĩ chàng nghe được tiếng gọi tên mình từ miền của cái đẹp đích thực. Và cuộc lên đường của chàng có nét phảng phất người đồng hương nổi tiếng hidalgo Don Quijote thuở nào:
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn…
Tuy nhiên, nếu bốn thế kỉ trước, Don Quijote được tha thứ, vì rốt cục, Don Quijote chỉ chiến đấu cho những cái đẹp phi tưởng và vô hại thì giờ đây, người ta thấy thật bất an và nguy hiểm trước hành vi “ngạo ngược” của Lorca. Và cái gì phải đến, đã đến:
Tây-ban-nha hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lor-ca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du
Cái chết bất ngờ đến với Lorca. Con người trong sạch và vô tội ấy dù luôn bị ám ảnh về cái chết của chính mình, vẫn không thể nghĩ là nó lại đến sớm thế và đến vào lúc chàng không ngờ nhất. Cảnh Lorca bị hành hình với những diễn biến phũ phàng lúc đầu được diễn tả bằng hình ảnh thực: áo choàng bê bết đỏ, sau đó sự kiện thảm khốc ấy tạo những cú sốc dây chuyền được diễn tả theo lối tượng trưng, liên tục chuyển đổi cảm giác, qua hệ thống những âm thanh vỡ ra thành màu sắc, thành hình khối, thành dòng máu…
tiếng ghi-ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi-ta ròng ròng máu chảy
Màu sắc tượng trưng trong cách diễn tả tiếng ghi-ta trong đoạn thơ trên lẽ cố nhiên không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa là các thao tác mang tính kĩ thuật mà gợi ta liên tưởng tới nhiều thông điệp sâu xa khác. Đó là những suy tư đau xót và đầy phẫn nộ về thái độ của nhà cầm quyền đương thời đối với nghệ thuật Lorca, một thứ nghệ thuật được sinh ra nhằm ca tụng tình yêu, ca tụng sự sống và cái đẹp mong manh trong cõi người. Hà cớ gì người ta phải tìm cách triệt hạ, hủy diệt cho bằng được nó?
Niềm xót thương Garxia Lorca và nỗi xót tiếc những cách tân nghệ thuật của Lorca không ai tiếp tục được diễn tả bằng những câu thơ cô đọng:
không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng
Di chúc “Khi tôi chết, hãy chôn tôi với cây đàn” của Lorca được lấy làm đề từ của bài thơ giờ được triển khai thêm một nhánh nghĩa phụ khiến ta ngỡ như đã có được một thứ “chìa khoá” để hiểu thông điệp của bài thơ hóa ra lại mơ hồ hơn vì tính đa nghĩa của nó. Di chúc này, trong nhận thức của một người đọc bình thường, hiển nhiên bộc lộ tình yêu say đắm của Lorca với nghệ thuật? Không chỉ có vậy, còn là tình yêu tha thiết với xứ sở Tây-ban-cầm? Nhưng Lorca không phải là một nghệ sĩ sinh ra để nói những điều đơn giản. Do đó, di chúc của Lorca còn những ý nghĩa sâu xa khác. Nhà thơ cách tân là Lorca biết thi ca mình một ngày nào đó sẽ án ngữ, ngăn cản những người đến sau trong sáng tạo nghệ thuật nên đã dặn lại cần phải biết chôn nghệ thuật của ông để đi tới. Nhưng vì quá ngưỡng mộ Lorca người ta đã không biết vượt qua Lorca[2].
Chẳng phải do ngẫu hứng khi Thanh Thảo viết: “không ai chôn cất tiếng đàn – tiếng đàn như cỏ mọc hoang…”. Câu thơ mở ra nhiều hướng diễn dịch: là nỗi xót thương cái chết của một thiên tài; là nỗi xót tiếc hành trình cách tân dang dở không chỉ với bản thân Lorca mà còn với nền văn chương Tây-ban-nha. Bởi lẽ, nhà cách tân Lorca đã chết, nghệ thuật vắng thiếu kẻ dẫn đường. Nghệ thuật thành thứ cỏ mọc hoang? Nhưng ý thơ đâu chỉ dừng lại ở đó. Dường như còn có cả nỗi buồn của người nghệ sĩ ham tìm tòi cách tân người phương Đông vì, rốt cuộc, không ai thực sự hiểu di chúc của Lorca. Nỗi xót đau trước cái chết của Lorca và trước sự dang dở của một khát vọng cách tân đọng lại thành những hình ảnh đẹp và buồn được viết theo lối sắp đặt (installation), dựa trên nguyên lí cốt lõi của cấu trúc gián đoạn:
Giọt nước mắt vầng trăng
Long lanh trong đáy giếng…
đồng thời, tạo lập một hệ hình ảnh trùng phức, giao thoa, ánh xạ vào nhau gợi những suy tư đa chiều…
Đoạn thơ cuối đóng vai trò của phần kết trong thơ viếng phương Đông, tương tự như phần vĩ thanh trong khúc nhạc vĩnh quyết:
đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lorca bơi sang ngang
trên chiếc ghi-ta màu bạc
chàng ném lá bùa cô gái di-gan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng im bất chợt
li-la li-la li-la…
Cái chết thực sự của một nhà cách tân là khi những khát vọng của anh ta không có ai tiếp tục. Nhưng cái chết đau đớn hơn của một nhà cách tân còn là khi tên tuổi và sáng tạo của anh ta được đem lên bệ thờ và trở thành một bức tường kiên cố cản trở sự cách tân văn chương của những kẻ đến sau.
Vậy, nhân danh lòng kính trọng Lorca, hãy để cho Lorca có được một sự giải thoát thực sự. Thôi đành chấp nhận định mệnh phũ phàng. Đường chỉ tay bé nhỏ, dòng sông rộng mênh mang hay là phận người thì ngắn ngủi mà thế giới thì vô cùng. Lorca đi vào cõi khác với hình ảnh:
Lorca bơi sang ngang
trên chiếc ghi-ta màu bạc
Trong đó, các hành động ném lá bùa, ném trái tim vào xoáy nước, vào cõi lặng im đều mang nghĩa tượng trưng cho sự giã từ và giải thoát, chia tay thực sự với những ràng buộc và hệ luỵ trần gian…
Tuy nhiên, có thể trong suy tư của tác giả, cái chết ấy dường như mang tính chủ động từ phía Lorca. Động từ “bơi” và, đặc biệt, động từ “ném” được nhắc lại hai lần mà chủ thể là Lorca gợi ta liên tưởng chính Lorca đã chủ động biến cái chết của chính mình thành một tiếng vang thức tỉnh. Có thể Lorca biết rõ sự hiện diện của chàng tự nó đã là một thách thức với chế độ độc tài và cả nền nghệ thuật già nua. Chàng hẳn cũng biết rằng DÁM SỐNG như chàng hiển nhiên cần rất nhiều bản lĩnh nhưng DÁM CHẾT một cách có ý nghĩa nhằm mở đường cho sự tiến bộ còn cần rất nhiều sự tinh anh và sáng suốt hơn.
Và chàng chắc đã “ngộ” ra sứ mệnh của cái chết mà chàng sẽ phải đảm nhiệm.
Nói cách khác, chàng được sinh ra là để chết một cái chết như thế. Một cái chết mang ý nghĩa hứa hẹn những tái sinh hơn là chỉ đơn thuần gợi ám ảnh thảm khốc của một sự hủy diệt.
Để kết thúc, có lẽ cũng nên nói đôi điều về yếu tố âm nhạc trong bài thơ.
Đàn ghi-ta của Lor-ca ngoài cấu trúc tự sự còn được chồng thêm một cấu trúc khác: cấu trúc nhạc giao hưởng, gợi liên tưởng một bè trầm basso ostinato có phần nhạc đệm của ghi-ta. Các chuỗi âm: li-la li-la li-la… luyến láy sau hai câu thơ đầu, gợi liên tưởng tiếng vang của chùm hợp âm sau tấu khúc hoặc ca khúc mở đầu. Chuỗi âm li-la li-la li-la… kết thúc bài thơ gợi liên tưởng tiếng vang của chùm hợp âm vĩ thanh, sau khi phần chính của bản nhạc đã được diễn tấu xong hoặc khi ca khúc đã dừng lời. Việc “cấy” nhạc vào một bài thơ trong trường hợp tưởng mộ Lorca, nhà thơ, nhạc sĩ, hoạ sĩ, nhà cách tân sân khấu sẽ mang ý nghĩa của một sự kính trọng và tri âm.
[1] “SURREALISME, n. m. Automatisme psychique pur par lequel on se propose d’exprimer, soit verbalement, soit par écrit, soit de toute autre manière, le fonctionnement réel de la pensée. Dictée par la pensée, en l’absence de tout contrôle exercé par la raison, en dehors de toute préoccupation esthétique ou morale”. (André Breton [1924], Manifestes du surréalisme, Gallimard, 1966, tr. 37).
[2] Theo Hoàng Ngọc-Tuấn (Vấn đề cái mới trong tiểu thuyết thế kỷ 20, http://www.tienve.org/home/viet/viewVietJournals.do?action=viewArtwork&artworkId=241), Borges, người mà cả dân tộc Argentina hãnh diện xem là “biểu tượng của văn hoá dân tộc” khi ông nhận giải thưởng Cervantes – danh dự cao quý nhất về văn học của Tây Ban Nha – và hiện vẫn đang được coi là nhà văn vĩ đại nhất của đất nước Argentina. Thế nhưng, năm 1963, khi Gombrowicz, nhà thơ lớn người Ba Lan rời Buenos Aires để đi châu Âu và những nhà văn trẻ Argentina, thế hệ đàn em của Borges, đang đứng dưới bến vẫy tay đưa tiễn, ông chợt hét lớn từ boong tàu: “Jóvenes, matad a Borges!” (Hỡi tuổi trẻ, hãy giết Borges).
“Câu nói có vẻ như đùa cợt của Gombrowicz chứa đựng một thông điệp tối quan trọng đối với tất cả những ai thực sự muốn sáng tạo cái mới. Thông điệp này nói rằng: bạn hãy dũng cảm vượt qua tất cả những thần tượng cũ để làm nên cái mới. Đồng thời nó cũng nói rằng: một khi bạn đã làm xong việc của mình và sức sáng tạo đã hết, bạn phải biết lui vào quá khứ để những thế hệ mới được tự do làm cái mới, đừng muốn và đừng để bóng mình đè mãi xuống tương lai. Đó là đạo đức của con người sáng tạo”. Liệu câu nói trên có liên quan gì đến di chúc của Lor-ca “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” và của Trần Dần nhà thơ cách tân Việt Nam với câu: “Hãy chôn thơ Mới”?