Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (24)

Mai An Nguyn Anh Tun

Trên xe, Thế hình dung ra một lớp kịch anh vừa chạy cho đội kịch CLB quận và sẽ phải diễn ra sao:

Tiểu đồng đang tưới cây. Tuệ Tĩnh bước tới, cầm lấy bình tưới từ tay Nồng.

– Ngươi để ta.

Tuệ Tĩnh bắt đầu tưới cây. Thỉnh thoảng ông ngồi xuống xem xét một thân cây. Nữ quan Chiêu Anh bước tới.

NỮ QUAN CHIÊU ANH:

– Thưa thần y! Ông có thể cho tôi tưới cây cùng không ạ?

Tuệ Tĩnh ngỡ ngàng nhìn nữ quan như dò hỏi. Rồi ông đưa bình tưới cho nữ quan.

TUỆ TĨNH:

– Mời nữ quan!

NỮ QUAN CHIÊU ANH:

– Nhà tôi ở cuối Giang Nam cũng có một mảnh vườn trồng rau và hoa… Sau này được về quê, nhất định tôi cũng sẽ trồng các loại cây dược liệu như thần y…

TUỆ TĨNH:

– Xin nữ quan đừng gọi tôi là “Thần y” nữa… Tôi không xứng với danh hiệu này đâu… Nhưng nếu nữ quan có ý định trồng cây dược liệu, tôi xin được tham vấn cho bà một số kinh nghiệm của tôi, mà hồi trong nước tôi đã tham vấn cho nhiều chùa trồng cây dược liệu…

NỮ QUAN CHIÊU ANH

– Phải chăng đó cũng là lý do ông còn được gọi là “Thánh dược nước Nam”?

TUỆ TĨNH:

– Thánh dược gì đâu bà! Thật xấu hổ! Điều ân hận lớn nhất là trong lúc tôi đang nghiên cứu để phát triển một số loại cây thuốc quý, sắp có kết quả, thì bị bắt sang đây làm “cống nhân”…

NỮ QUAN CHIÊU ANH:

– Và tôi được biết: ông đã dùng chính thân thể mình để thí nghiệm một loài thuốc có độc tính, rồi tự bào chế ra thuốc giải…

TUỆ TĨNH bất ngờ:

– Trời! Ai đã kể cho bà thế?

NỮ QUAN CHIÊU ANH:

– Một cống nhân Đại Việt sang sau ông mấy tháng… Ông ta còn kể: mấy người làng ông ta được ông chữa khỏi bệnh, đã chung tay xây đền thờ sống ông để tỏ lòng biết ơn…

TUỆ TĨNH:

– Tôi biết ơn bà… Bà quả là một tri âm tri kỷ của tôi… Nhưng…

NỮ QUAN CHIÊU ANH:

– Ông đừng nói!… Ông lại từ chối chữa bệnh cho Vương phi chứ gì… Đêm trước, tôi bắt đầu nghiền ngẫm bộ “Nam dược thần hiệu” của ông. Tôi mở đọc ngay cuốn “Y luận” viết về âm dương ngũ hành tác động vào con người ta, trong tiết khí bốn mùa, sự ảnh hưởng đến bệnh tật, lẫn cách điều trị lâm sàng… Như vậy, sự tìm kiếm dược tính từ hàng trăm loài cỏ cây của ông, từng được áp dụng vào chính bản thân ông, hóa ra có nền tảng Y luận hàng ngàn năm nay… Các vị Ngự y của Thái y viện mà coi thường ông, thì họ thực có mắt như mù…

TUỆ TĨNH tròn xoe mắt kinh ngạc:

– Không ngờ, y lý của bà sâu sắc thế, xúng đáng là một nữ quan chuyên đảm nhiệm dược liệu Hoàng gia!

NỮ QUAN CHIÊU ANH:

– Tôi chịu ảnh hưởng của ông nhiều lắm… Tôi vẫn từ xa lặng lẽ quan sát ông, hỏi han tỷ mỉ mọi điều về ông, và không ai trong cái Hoàng cung giá lạnh này hiểu tâm tư của ông bằng tôi… Tôi vẫn thường đặt mình trong nỗi niềm cố quốc tha hương của ông…

TUỆ TĨNH chợt lấy tay áo lau vội nước mắt lăn trên má mình:

– Chao, tôi phải khóc trước nàng, thực đáng xấu hổ quá! Từ thời trai trẻ, tôi nguyện sống như Thiền sư Quảng Nghiêm nước tôi: Làm trai phải có chí khí chọc trời, không nhất thiết phải đi theo con đường mà Như Lai đã đi (Nam nhi tự hữu xung thiên chí/ Hưu hướng Như Lai hành xứ hành thể), vậy mà hôm nay nàng đã khiến tôi phải rơi lệ nhi nữ thường tình thế này!

NỮ QUAN CHIÊU ANH:

– Thần y ơi, ngay cả lúc ông rơi lệ đau buồn cũng có Quỷ Thần trên hai vai ông chứng giám, và đòi hỏi cõi đời này cần biết sống bằng Tình Thương…

Trên xe, Mai nhìn xa xa, mắt cô chợt mờ đi trong nỗi nhớ thương. Mai nhớ lại buổi cùng Lan chơi ghẹ tại cầu lông nhà Thể thao quận. Sau đó, về tới phòng trọ của Lan, Lan vứt cặp sách ra giường, hai tay ôm đầu. Mai hốt hoảng:

– Sao thế ? Mới có vài hiệp thôi mà

– Ăn thua gì! Nhưng tớ bỗng dưng hơi bị chóng mặt. Nhưng không sao, thỉnh thoảng thế thôi, lại như trâu đằm ngay mà! Hè tới, cậu phải về quê tớ tắm biển, tớ sẽ trình diễn cho cậu xem tớ bơi thế nào! Hứa nhé ?

Mai gật đầu. Lan bước tới giá sách lục một lát thấy cuốn sách cần tìm, đưa cho Mai.

– Tớ đi tắm đây. Cậu tắm cùng tớ nhé ?

– Tớ về nhà tớ tắm thích hơn.

– Tùy cậu! Cậu là dân thành thị mà, dân biển tớ chẳng dám so bì…

Mai ra về, còn Lan thì vào buồng tắm. Tiếng đóng cửa buồng tắm vọng tới Mai khi cô ra khỏi phòng trọ. Ở nhà, Mai đang đọc sách thì có tiếng điện thoại của Quyết bạn trai Lan báo tin Lan bị ngất, cô đến phòng trọ Lan, thấy Lan nằm tím tái trên giường. Hai người vội đưa Lan vào bệnh viện quận. Mai báo ông Huân biết, ông bảo: “Yên tâm, bác sẽ chạy thuốc hồi sức ngay nhé! Thuốc gia truyền người Mường…”

Trên xe, Huân mắt lim dim như ngủ, tâm trí ông cuốn về một nơi tuyệt vọng nhất của đời ông… Đêm ấy, từ chiếc xe khách ngược Tây Bắc dừng dọc đường cái, Huân vội vã xuống, đeo túi vải hấp tấp bước vào một con đường mòn dẫn tới một bản người Mường. Gương mặt ông ngơ ngác, càng thêm tái nhợt trong ánh trăng… Huân bước tới một ngôi nhà sàn như đã từng quen thuộc, vội vã trèo lên thang. Một ông lão tóc bạc như cước lấy ra mấy thứ thuốc lá, bọc vào và đưa cho ông. Ông tới đường cái để đón xe đêm về Hà Nội… Huân đi vội vào nhà lúc trời còn tối, cập rập vào phòng, đổ thuốc vừa xin được vào ấm bật điện sắc thuốc… Ông đổ thuốc sắc vào phích nhỏ, rồi vội vã bước ra khỏi nhà khi trời hửng sáng. Khi Huân tới phòng bệnh của Lan, thấy trống không. Ông hỏi một y tá, họ chỉ tay ra phía nhà xác. Ông đến nhà xác, thấy Quyết và Mai ủ rũ bước ra. Mai thấy ông, liền ôm chầm lấy ông òa khóc…

Lúc này trên xe, Mai quay hỏi bố:

– Bố ơi, vở kịch bố đang dựng tới đâu rồi ạ?

– Bố đang cho tập lần cuối để chạy toàn vở…

– Có kịp tham gia Liên hoan nghệ thuật cấp Thành phố tháng tới không bố?

– Cũng may có chú Lập trợ lý làm thay bố lúc sóng gió này…

– Cái Lan nghe con kể về vở kịch bố đang dựng, nó thích mê đi, đòi hôm nào phải đến xem diễn tập… Riêng con, con tiếc phải bận ôn thi tốt nghiệp, chứ không vai bà Nữ quan không ai cướp nổi của con đâu!

– Gớm nhỉ? To quyền hơn tác giả và đạo diễn cơ đấy! Vai Nữ quan đó, thì con phải trải 10 năm trường đời – trường tình nữa kia, và phải đọc cả một đống sách Đông y – Trung y gần như bác Huân thì mới có thể nhập vai được!

Mai bĩu môi:

– Bố chả từng bảo: Muốn hiểu tâm trạng của một miếng mỡ rán thì không nhất thiết phải nằm trong chảo mỡ là gì?

– Con nói phải, và câu đó là của ông nhà văn Lỗ Tấn! – An chợt trầm ngâm như quên hẳn con gái ở bên cạnh – Không hiểu Thánh y Tuệ Tĩnh, trước tính mệnh của bậc mệnh phụ triều đình danh vọng chót vót liên quan đến sự sống còn của kẻ lưu vong khốn khổ, cụ đã nghĩ gì, đã làm gì? Phận người như mây nổi, như ngọn cỏ lau bên đường. Hơn sáu trăm năm trước, giữa cõi tạm vô thường này, cụ đã lấy điều gì làm trụ đỡ cho linh hồn phiêu bạt khi tương lai mờ mịt nhân ảnh?… Bà bệnh nhân quý tộc nọ, cao sang tột bậc thế nhưng cũng chỉ được người đời sau biết đến nhờ trái tim thương người như thể thương thân của một tù nhân mà sinh mạng nằm trong tay bà ta…

Xe khách dừng bến cuối. Mọi người xuống xe. Thế gọi taxi. Lúc đó Huân mới như bừng tỉnh “giấc mộng Hoàng lương”, hỏi độc một câu vô nghĩa; “Thế là… sắp đến nơi rồi ư?” Thấy con gái cứ đứng nhìn quanh quẩn, Thế sốt ruột: “Mai, con làm gì thế?” – “Con tìm chỗ bán hoa” – “Cứ làm như đang ở phố thị không bằng! Tìm hoa gì?”

Mai im lặng bí hiểm.

Mấy người bước trên con đường làng quê, giữa lúc đội kèn đồng Nhà thờ đang tấu nhạc di quan hạ huyệt của một ai đó. An và Huân bất giác bỏ mũ cúi đầu đợi đám tang đi qua. Một người cầm bát hương đi trước linh cữu, tiếp sau là người cầm di ảnh người đã mất – một ông già. Rồi đến quan tài và con cháu cùng đám đông đưa tiễn người khuất núi…

Mấy người đi tới một ngôi nhà có vườn hoa, Mai chạy tọt vào. Từ xa, An thấy con gái nói chuyện gì đó với một ông lão tóc trắng cước đang làm vườn, và ông ta cẩn trọng ngắt vài bông hồng bạch trao cho nó. Khi Mai đưa tiền, ông xua tay. Nó rối rít cảm ơn rồi hớn hở ôm bó hoa nhập trở lại vào đoàn “hành hương” bất đắc dĩ về một xứ đạo…

Thấy vẻ rầu rĩ mệt mỏi của Huân, Thế tìm cách phá tan không khí nặng nề.

– Anh thấy không, đoàn chúng ta là đoàn của những “kẻ Ác tạm thời” đối lập với những “người Công chính”; nhưng nếu họ là những người lương thiện, sẽ mau chóng nhận ra chúng ta chẳng khác gì họ cả…

Mai bấu tay Thế và lườm nguýt như nhắc bố rằng câu đùa không đúng chỗ.

Họ hỏi thăm một chị đang gánh hàng đi chợ về, chị ta chỉ tay. Họ tới một ngôi nhà rìa làng, ngoài cổng tre treo cờ báo tang và một tấm vải dài thêu tên giáo xứ, tên thánh của người đã khuất. Thế đọc cái tên thánh đang bay trong gió biển. Chữ: “Rosa My Lan”. Anh chợt vỡ lẽ và gật đầu như thầm cám ơn con gái.

Một anh thanh niên bước ra chào hỏi và đưa đoàn vào nhà. Họ gặp ngay ông Mậu, hai bên cung kính chào nhau. Ánh mắt trìu mến của ông Mậu nhìn theo mấy người khách vào nhà.

Bên cạnh Ban thờ Chúa khang trang, có bàn thờ kết hợp “Đông Tây” mới lập, khá giản dị, có di ảnh Lan, một bát hương có cắm hương nghi ngút, một bình hoa huệ trắng, 6 cây nến đang cháy. Phía sau có bức hình chúa Giêsu với dòng chữ Latin: “Tôi xin xác loài người ngày sau sống lại”. Trong khung cảnh gợi linh thiêng, gương mặt cô bé tựa thiên thần dường như được lấp lánh thêm ánh sáng bình yên và tha thứ…

Mai đặt bó hoa hồng trước ảnh bạn và chợt khóc òa lên, hai tay bám vào mép ban thờ. Mai nức nở hồn hậu như đang ở nhà mình, quên phứt rằng đang ở nơi lạ với những ánh nhìn xa lạ. Mấy người phụ nữ lớn bé cũng bước tới, chùi nước mắt. Mấy người đàn ông già trẻ từ phòng bên và từ ngoài nhà bước vào, lặng lẽ cúi đầu trang nghiêm trước sự bộc lộ cảm xúc của đứa con gái bằng tuổi người xấu số… Những ánh mắt buồn rầu, giữa một không gian tràn ngập tình thương của Đức Chúa Trời văng vẳng qua lời cầu kinh và tiếng chuông nhà thờ xứ, thêm tình thương của Tổ tiên quấn quýt giữa hương trầm và tiếng khóc nhớ thương bạn… Thế đốt bó hương, chia cho Trần Huân và con gái, rồi ba người đứng lặng tưởng niệm hồi lâu. Cặp mắt Trần Huân rưng rưng lệ…

Bữa cơm đạm bạc do gia chủ mời khách, một chị phụ nữ tiếp.

Bên ấm trà tiếp khách, Thế mở đầu câu chuyện.

– Thưa các ông các bà, các anh chị và các cháu! Cháu Lan nhà ta là bạn thân của cháu Mai nhà tôi, và vợ chồng tôi đã coi như con cháu của mình… Cháu Lan không may qua đời, đó là nỗi đau buồn của cháu Mai và của những bậc làm cha mẹ chúng tôi… Trước Chúa và ban thờ Gia tiên, chúng tôi đã cầu nguyện cho cháu Lan được thanh thản trên cõi Trời và được an ủi mãi mãi nơi quê cha đất mẹ…

Mấy người ngồi quanh lặng lẽ làm dấu Thánh. Người phụ nữ tên Lam hôm nào căng thẳng trong nhà Trần Huân và nhà Thế, giờ có thái độ khác hẳn. Chị nhẹ nhàng:

– Thú thực với bác và anh, mấy hôm vừa rồi chúng tôi đã tới chỗ các vị như để canh giữ, nóng lòng tra hỏi bác Huân đây như tội phạm… Rồi qua bệnh viện, qua hàng xóm bác Huân, qua cháu Mai, chúng tôi dần hiểu bác Huân là người tốt, một lương y đáng kính trọng… Chúng tôi rất ân hận…

Mậu chêm ngay:

– Nhất là, bác ấy biết thương người, thương bệnh nhân… Một ông lão trông xe gần nơi chúng tôi ở trọ, là bệnh nhân của bác Huân kể: nhiều lần bác ấy tìm cách không nhận tiền thù lao chẩn bệnh, bớt nhiều tiền thuốc cho ông, còn tìm cớ tặng ông một chiếc kính lão mới mà không để ông có mặc cảm chịu ơn…

Huân xấu hổ:

– Ôi chao, mấy chuyện vặt ấy mà, có đáng gì đâu ạ! Thương người nghèo, là điều tối cơ bản của người làm nghề chữa bệnh cứu người bọn tôi thôi mà…

Một người đàn ông:

– Nhưng thưa bác, điều bác gọi là cơ bản đó bây giờ ngày một ít đi rồi! Ra tới bệnh viện công hay tư cũng đều phải lo nơm nớp bị đòi lót tay, lo phong bì có dày hay mỏng…

– Vâng, y đức bây giờ xuống cấp quá rồi… Nhưng thưa các bác, đó chỉ là con sâu làm rầu nồi canh thôi! Còn tôi tin rằng: phần đông bọn tôi đều là những kẻ tôn thờ Thánh y Tuệ Tĩnh… – Huân tiếp lời.

Một người phụ nữ:

– Bác vừa nói Thánh y Tuệ Tĩnh, ông ấy là ai thế ạ? Sao mà lại được tôn là Thánh vậy ạ?

Thế từ tốn:

– Thưa các bác các anh chị, ông anh tôi đây cả đời làm thuốc Đông y, và ông chú tâm nghiên cứu thực hành các bài thuốc từ cây cỏ của Thánh y Tuệ Tĩnh… Những phương thang mà Thánh y tìm tòi cốt để dành cho đông đảo dân nghèo, cụ gửi gắm vào đó ý nghĩa “hiền triết” và “minh triết” cao quý nhất – như cụ hằng tâm niệm: “Thương nhân dân chết chóc/ Chọn hiền triết phương thang. Và cụ tìm thấy chúng trong cây cỏ vườn nhà, ở vườn hoang mà cụ coi là “vườn hạnh” – nghĩa là khu vườn mong giàu sang, may mắn, hạnh phúc, vườn hạnh ngộ chứa đầy lòng yêu thương dành cho người yếu thế, nghèo đói, bất hạnh… Mấy ngày qua, trước cái chết của cháu Lan, ông anh tôi trăn trở lắm, và ông cảm thấy rất có lỗi… Vâng, lỗi lớn nhất là một đời làm thuốc Nam, có bao kinh nghiệm vậy mà chưa tìm ra được nguyên do nỗi bất hạnh của cháu…”

Mọi người chăm chú nghe. Trong khi nói, Thế kín đáo chú ý thái độ của một người thanh niên. Lúc đầu, anh ta đến với cái nhìn lạnh lùng soi mói như của quan tòa, với tâm thế sẵn sàng buông ra những câu hỏi giăng bẫy hoặc phán xét đanh thép, nhằm lôi ra lời thú tội cưỡng ép hay thành khẩn… Ánh mắt của anh ta dịu dần trước lời tâm tình chân thật không phải với mục đích thanh minh. Tới câu: “vườn hạnh ngộ chứa đầy lòng yêu thương dành cho người yếu thế, nghèo đói, bất hạnh” thì mắt anh ta mở to, lấp lánh vẻ hào hứng, sau đó nhẹ nhàng cất tiếng:

– Cám ơn bác! Câu chuyện về ông Tuệ Tĩnh hay quá, giờ tôi mới được biết! Sao mà gần gụi thân quen với sứ vụ Bác ái mà các Thánh Tông đồ bên chúng tôi luôn răn dạy về đức tin, sự trông cậy, và điều trọng hơn cả là tình yêu thương… Tôi và gia đình em Lan đây hiểu rồi: bác đã cho em Lan dùng thuốc của “vườn hạnh” như thế. Bác quả là bậc “cứu nhân độ thế”… Nhưng, sao em lại phải ra đi, vào đúng hôm uống thuốc của bác? Em là người Công chính, lòng lành… Em chắc gặp phải sự cố gì ghê gớm lắm…

Trần Huân ngỡ ngàng trước tình huống không ngờ. Ông đang lúng búng tìm cách trả lời thì Thế nhảy vào cuộc.

– Thưa các ông bà và các anh chị. Chính chúng tôi phải cám ơn gia đình và bà con làng xóm cháu Lan đã lắng nghe lương y Trần Huân anh tôi – Nhìn sang cán bộ xã – Và rất biết ơn đồng chí, với sự tỉnh táo của lương tri, sự sáng suốt của người cán bộ, đồng chí đã nhận rõ bản chất lương thiện của anh tôi bao năm nay làm nghề cắt thuốc chữa bệnh cứu người bằng thuốc Nam… Còn nguyên nhân sự ra đi đau đớn thương tâm của cháu Lan, chúng tôi đang cố gắng tìm hiểu. Nhưng dám cam đoan rằng: những thang thuốc bổ của anh tôi là vô hại! Đúng như quả quyết của đồng chí đây: chắc cháu Lan gặp phải sự cố gì thực ghê gớm! Chúng tôi nguyện cùng gia đình tìm cho ra sự cố ấy…

Trần Huân lấy lại tinh thần tự lúc nào, mạnh dạn góp chuyện.

– Thưa các vị, mấy hôm liền cháu Lan rất chăm uống thuốc bổ do tôi cắt… Cháu còn bảo: cứ mỗi lần vào kỳ tháng, cháu rất đau, rất khổ sở, có lúc đau quằn quại. Tôi khuyên cháu: qua đợt bồi bổ sức khỏe này, bác sẽ cắt cho thuốc điều kinh, chẳng qua cháu mắc thể hàn thôi… Cháu bảo: vườn nhà cháu rộng mênh mông có thể trồng được nhiều cây thuốc Nam quý, mời bác về thăm, bác phải nói chuyện với bố mẹ cháu về việc trồng thuốc Nam…

Bố của Lan tới bây giờ mới khẽ khàng góp chuyện.

– Gia đình chúng tôi rất cảm kích trước sự chăm sóc của các bác đối với cháu Lan trong những ngày cuối đời… Ý lành của cháu Lan, chúng tôi xin gắng thực hiện ạ…

Mẹ Lan tiếp lời luôn:

– Cháu Lan là con gái đầu của chúng tôi. Gia đình tôi làm nghề thủ công sản xuất đồ thờ, cháu là niềm hy vọng của cả xứ đạo, được cả làng quý mến. Cứ mỗi lần cháu về quê, bọn trẻ con chạy bám theo để được phân chia kẹo bánh… – Chị nghẹn ngào, chỉ tay sang Lam – Đây là cô của cháu Lan, sẽ kể thêm về cháu nó…

– Dạo cháu học cuối năm lớp 11, vợ chồng tôi đưa ra Hà Nội lo cho ăn học hết THPT. Khi biết cháu yêu âm nhạc và muốn học đàn Organ, chúng tôi hứa sẽ phụ đạo thêm cho cháu về nhạc lý và thỉnh thoảng đưa tới một nhà thờ xứ ngoại thành để thực tập đàn. Sau khi chồng tôi được cử sang Tây Âu học Thần học, tôi thuê cho cháu nó một chỗ trọ rồi trở về quê… Ngờ đâu, chưa đầy năm… – Chị gạt nước mắt, rồi chỉ tay sang Mai nói với mọi người trong nhà – Cháu Lan chơi thân với cháu Mai con nhà báo nhà viết kịch đây – Chị nói với An – Đôi lần em được nghe cháu Mai kể về bố… Lần ấy cùng các anh tới nhà bác Huân, em đã có thái độ không phải, mong anh và bác thứ lỗi cho…

Thế vội vàng xua hai tay:

– Không sao đâu, thưa chị… Trong hoàn cảnh của chị, chắc là chúng tôi cũng thế mà…

Một cô bé khoảng 10 tuổi lúc đó mạnh dạn bước tới chỗ Mai, và nép người vào chị vẻ âu yếm, tin cậy.

Trần Huân chơm chớp mắt xúc động.

– Hai cháu hợp nhau có lẽ vì đều thích đọc truyện… Cháu Mai có lần dẫn cháu Lan tới nhà tôi mượn sách… Tôi đã nghe được hai đứa hò hẹn về quê nhà cháu Lan tắm biển…

Lúc đó, một người đàn ông trẻ chạy thốc vào, đến chỗ bố Lan.

– Bác ơi, bác gọi giúp cho ông bạn y sĩ của bác ở Huyện đi ạ, vợ cháu bỗng dưng băng huyết ghê quá…

Bố Lan đứng phắt dậy:

– Gọi taxi ngay, đưa nó đi luôn! Nhưng để bác gọi điện báo trước đã…

Ông bấm điện thoại nghe, mấy lần đều không được, vẻ thất vọng. Trần Huân bước tới anh thanh niên vừa vào, hỏi han điều gì đó với anh ta một lúc. Tồi ông quay lại nói to với tất cả.

– Thưa các quý vị! Cô vợ của anh bạn trẻ đây mới sinh con đầu lòng, chắc là đang bị hậu sản…

Thế thốt lên:

– Phải chăng chính là bệnh của bà Vương phi?…

Trần Huân dường không chú ý đến lời của anh, ông trở nên linh hoạt.

– Cái bệnh này không phải nan y đâu, thưa các vị, song lúc này cần tranh thủ thời gian. Nếu đưa sản phụ tới bệnh viện lúc nửa đêm, đường xá xa xôi trắc trở, không ổn chút nào – Ông nói với người đàn ông trẻ như ra lệnh – Anh làm ơn đưa tôi tới chỗ vợ anh thăm bệnh ngay!

Bố Lan xuýt xoa:

– Quý hóa quá! – Ông chỉ tay vào anh thanh niên – Đây là cháu ngoại tôi, anh họ cháu Lan… May gặp thầy lúc hoạn nạn…

Anh thanh niên vẻ ngập ngừng nói với bố Lan:

– Nhưng, cháu nghe nói ông này là người đã cắt thuốc làm chết em Lan… Chi bằng, cháu cứ đưa vợ cháu ra trạm xá trước, rồi liên hệ với y sĩ bạn bác trên huyện sau… Chắc chắn hơn ạ…

Bố Lan gắt khẽ:

– Cháu không biết gì thì đừng nói bậy! Đây là lương y nổi tiếng ở Thủ đô, và là người công chính như tất cả những người công chính chúng ta đó!

Ông gạt anh thanh niên ra, hấp tấp đưa Huân đi, theo sau là Thế, Mai và mấy người nhà Lan. Anh thanh niên ngẩn ra, rồi cũng vội chạy theo mọi người. Họ đi nhanh trong đêm, trên đường cát vùng duyên hải. Phía xa là biển đêm nhấp nháy đèn câu mực.

Trong nhà sản phụ, Trần Huân cầm tay người phụ nữ trẻ xem mạch, vẻ mặt ông chăm chú. Gương mặt bệnh nhân tái nhợt, xanh xao. Mọi người đứng quanh nhìn lo lắng, chờ đợi.

Trần Huân quay sang hai bố con Thế nói nhỏ đủ hai người nghe:

– Cậu và cháu Mai chắc không quên bài thuốc chữa hậu sản trong vở kịch chứ? Cùng gia đình họ đi tìm ngay cho tôi! – Thấy anh ngơ ngác nhớ lại, Huân gằn giọng nói nhỏ nhưng rõ – Lá tre, lá sen già, ngó sen, hoa kinh giới… Nhớ chưa?

Anh gật đầu và lập tức quay sang nói chuyện với bố mẹ Lan và chị Lam. Rồi hai bố con Thế chạy ra ngoài… Sóng biển dâng lên trong đêm bão biển gầm thét, mây đen và sấm chớp thử thách con người…

Trần Huân lấy ống tay áo lau mồ hôi trán sau một đêm chăm bệnh cho sản phụ. Thế nhìn ông thương cảm, kính phục.

– Đến hôm nay em lại có thêm dữ liệu và cảm xúc để hoàn thiện vở kịch…

– Và tôi cũng hoàn hồn để có thể nghĩ thêm cho vở kịch của cậu đây… – Thế chờ đợi – Sau khi chữa khỏi bệnh cho Minh quý phi, thể nào bà nữ quan Chiêu Anh cũng sẽ ca ngợi cụ Tuệ Tĩnh, và vô tình hạ thấp Thái y viện nhà Minh…

– Vâng, về lozich tâm lý là thế… Em cũng đang suy tính đây…

– Vậy cậu cho tớ tham gia chút nhé?

Thế gật đầu vui vẻ.

– Thế thì còn gì bằng!

– Cụ Tuệ Tĩnh cần nói điều này: Thái y viện đều là những vị xuất thân Khoa bảng, lại có truyền thống y gia lừng lẫy nhiều đời, xứng đáng là hậu thân của các đại y sư muôn đời kính trọng như Biển Thước, Hoa Đà… Có điều… họ không được may mắn như tôi, là đã tìm được, và hiểu được cái kho báu nằm trong biết bao cây cỏ tầm thường trong dân dã…

– Nếu vậy bà Chiêu Anh cần nói: Phải chăng chính vì thế mà ông đã được dân chúng Đại Việt coi là “Vị thánh thuốc Nam”? – Thế tiếp luôn.

Huân gật đầu:

– Thưa nữ quan, để tôi nói tiếp về cái kho báu này… Các ngự y hoàng cung lâu nay chỉ quen với các cây thuốc đắt tiền, quý hiếm tồn tại chốn hoang vu, nguy hiểm, quanh năm sương mù, hoặc mua hay cướp được từ các vùng Tây Tạng, viễn Đông, phương Nam xa xôi… Trong khi đó, mới chỉ dạo bước vài con đường dân dã chốn này, tôi đã nhìn thấy biết bao loài cây hoang dại chính là nguồn dược liệu có khả năng cứu sống con người…

Thế lấy giọng nữ quan:

– Tôi kính trọng ông vì lẽ đó, và coi trọng ông chẳng kém các Thái y lừng lẫy tên tuổi trong Hoàng cung…

Huân lắc đầu:

– Bà quá lời rồi đó! Bá Tĩnh tôi còn đang trên đường học y thuật, y đạo, và đã học được ở các danh y nước bà vô số điều bổ ích…

Hai người bật cười. Mai cũng cười thích chí và vỗ tay bôm bốp trước đoạn kịch miệng của bố và bác Huân. Thế gật gù:

– Thì ra, cụ Tuệ Tĩnh đã ám ảnh anh từ những ngày anh học Đông y ở Trung Quốc…

Huân trầm tư lúc lâu:

– Cậu có biết, giọt nước làm đầy tràn cốc nước khiến tôi quyết định trở về là gì không, khi Học viện bên ấy chân thành tha thiết mời tôi ở lại lâu dài?… – An và Mai chăm chú chờ đợi – Đó là ngày, trong Hội thảo “Tiên dược phương Đông” của các học viên, ông Viện trưởng cho làm cái biển đặt trên bàn tôi: “Giáo sư Trần Huân”… Sau đó, tôi đã từ chối khéo lời đề nghị của Viện trưởng, lý do: Em không thể và không bao giờ muốn đứng ngang hàng với các Giáo sư Đông y của Viện… Em rất biết ơn những giá trị Y học của đất nước giáo sư mà em được tiếp thu dành cho người dân nước em…

Bố Lan dẫn mấy người trong đoàn Thủ đô về đi trên khu vườn mênh mông. Ông hồ hởi:

– May quá, có bác Huân về đúng lúc cháu gái chúng tôi lâm bệnh… Từ đêm qua tới giờ, cháu nó đã yên…

Huân gật đầu:

– Tôi đã dặn người nhà thực thi tiếp những điều cần thiết cho sản phụ rồi… Thế là cụ Tuệ Tĩnh phù trợ đó, ông à!

Thế cười:

– Và cụ giúp chúng ta “phá án” thành công đó!

Huân liếc mắt nhìn Thế vẻ khó chịu. Bố Lan chỉ tay ra:

– Khu vườn này… Chúng tôi sẽ thực hiện mong ước của cháu Lan… Các anh các bác giúp chúng tôi cây giống dược liệu nhé?

Huân gật đầu xúc động vô hạn:

– Vâng… Lời hứa thiêng liêng với cháu gái yêu quý của chúng tôi…

Mấy người đi trên dải cát phẳng lỳ sóng dạt từng đợt của biển duyên hải. Mai chợt giơ hai tay ôm mặt khóc hu hu.

– Lan ơi, sao bạn vội đi… Mai đã về quê Lan rồi đây… Mai không bao giờ được tắm biển cùng Lan nữa rồi… – Mai chợt lau nước mắt, quay sang bố – Bố ạ, con rất ân hận là hôm ấy, con đã từ chối Lan một điều… Con thật ích kỷ quá… – Thấy mọi người mong ngóng chờ đợi, Mai nói nhanh – Con đã từ chối tắm cùng với nó…

Thế giật mình, lờ mờ nhận thấy một đầu mối quan trọng. Quên phắt mọi người chung quanh, anh hỏi gấp.

– Sao lại từ chối bạn? Mà tắm ở đâu? Tắm vào lúc nào?

– Thế này ạ: sau khi uống thuốc sắc của bác Huân, Lan rủ con ra chơi ghẹ cầu lông ở sân vận động Quận. Chơi gần một tiếng, áo chúng con ướt đẫm… Không ngờ buổi chiều bạt gió ấy lại là buổi chiều cuối cùng của Lan…

Thế chợt sững người. Màn ảnh trí nhớ của anh như một tia chớp chợt hiện câu đầu mục PHONG, sách Hồng Nghĩa giác tư y thư mà anh luôn luôn cặp kè trong giai đoạn viết kịch bản điện ảnh Thánh y Tuệ Tĩnh. Các trang chữ của bộ Tuệ Tĩnh toàn tập: “Phong (gió) là đầu mối khởi phát các thứ bệnh”. Ngay sau mục PHONG gồm mấy mục nhỏ độ nửa trang, là mục HÀN gồm các ghi chép lên tới hai trang sách… Thế chộp ngay.

– Thế chơi bóng xong, hai đứa làm gì? Về đâu?

– Con về chỗ trọ của Lan mượn cuốn “Muôn dặm không mây” nó hứa tuần trước…

– Khi về tới nhà, nó có biểu hiện gì không?

– Nó kêu hơi bị nhức đầu chóng mặt, nhưng vui lắm, và bắt con hứa sẽ về quê với nó dịp hè này, cùng đi tắm biển…

Anh hồi hộp ngắt lời:

– Thế hai đứa có tắm ngay không?

– Đưa sách xong, nó rủ con cùng tắm. Con bảo: Tớ về nhà tớ tắm thích hơn.

– Thế… Lan vào tắm luôn à ?

Mai ngạc nhiên:

– Vâng. Đang mồ hôi mồ kê nhễ nhại mà bố, chịu sao nổi!

Anh dồn dập:

– Thế nào? Con có tắm cùng với Lan không, hay đi về ngay? Hay là đợi nó tắm xong mới về?

– Con đợi thế nào được! Bọn con gái chúng con thường bảo nhau: chuyện tắm gội của nữ giới là thử thách kinh khủng đối với những anh chàng đang yêu mà thiếu kiên nhẫn…

– Vậy là, nó thì vào tắm ngay, còn con thì về nhà luôn?

Nước mắt còn lưng tròng, Lan tròn mắt nhìn bố giây lát như nhìn một thám tử kỳ dị, rồi lặng lẽ gật đầu.

– Vậy con biết Lan phải vào viện lúc nào?

– Ngay tối hôm đó, bạn trai nó tới thăm, thấy nó nằm sốt li bì. Anh ấy gọi điện cho con, cho cả bác Huân, rồi chúng con đưa nó vào bệnh viện… Ngay đêm đó, Lan đi, chẳng kịp trăng trối với ai điều gì… Sớm hôm sau, bác Huân mang thuốc tới thì không kịp nữa…

Mắt Thế hoa lên như sắp bị ngất. Và đầu anh vang lên: “Đây rồi, “đích danh thủ phạm”! Lời Trần Huân hôm trước bỗng thành thác dội trong anh và như tiếng sấm trên Biển động: “Thế có biết, trong Đông y, “quỷ thần” chứng giám cho hai bờ vai con người ta là gì không? Đó chính là hai Kinh Tâm và Kinh Phế. Nếu hai Kinh lạc này bị xúc phạm, thì tất cả phủ lục ngũ tạng có nguy cơ sẽ bị phá hủy! Có là “thuốc Tiên” cũng phải bó tay!” Thế bất giác ôm đầu thốt lên:

– Trời ơi!…

Thấy bố Lan và mọi người nhìn mình chăm chú căng thẳng, Thế cố tự trấn tĩnh để lý lẽ đang ứ trào khỏi bị cuốn trôi mất điều nào:

– Thưa các ông bà, các bác các anh chị… Tất cả chúng ta vừa tình cờ được biết nguyên nhân thật sự… nguyên nhân sự ra đi tức tưởi của cháu Lan… Đó là chứng cảm PHONG HÀN… Nó cực kỳ nguy hại… Thánh y Tuệ Tĩnh và nhiều danh y xưa nay đã nói tới… Chúng tôi sẽ gửi tài liệu cho gia đình để cùng chúng tôi quảng bá rộng điều này làm phúc, giúp con em nhiều gia đình khác tránh khỏi sai lầm chết người… Vâng, cháu nhà ta đã tắm nước lạnh lúc mồ hôi còn đầy khắp người… Trước đó, mồ hôi đã gặp gió rồi… Phải, chứng cảm PHONG HÀN đã phạm vào thân thể cháu khi đang bốc hỏa gặp phải gió lạnh và nước lạnh, gây ra sự tàn phá nặng nề toàn bộ Tâm – Can – Tỳ – Phế – Thận, hủy hoại sự sống của cháu!… Tiếc thay, chưa ai bảo cho cháu điều tối kỵ này!… Thương quá, cháu ơi…

Mọi người đều chợt òa khóc. Thế thầm nói với mình:

– Anh Huân ạ! Giờ đây em sẽ phải tiếp tục viết những lớp kịch chân thực hơn, xứng đáng hơn về cuộc đời vinh quang và đau đớn của Thánh y Tuệ Tĩnh… Nhưng dưới sự chứng giám nghiệt ngã của “Quỷ Thần hai vai”… Và sự chứng giám này chắc hẳn còn có cả ánh nhìn vừa nhân từ vừa nghiêm nghị rọi đau đáu vào cõi đời phù du của một cô bé đã về với thiên nhiên vĩnh cửu…

Vở diễn “Vọng cố hương” được hoan nghênh nhiệt liệt trong buổi công diễn đầu tiên kết hợp duyệt vở, sau đó được giải nhì trong Hội diễn văn nghệ toàn Quận (Giải nhất dành cho một vở chèo nói về một nhà cách mạng tiền bối). Thế sẽ bàn với con gái, đúng hơn là “đặt hàng” nó, kẻ đang học nghề, một kịch bản điện ảnh có tên tạm là “Thần y phá án”…

13.

Vào mùa Ban nở, một đoàn thầy trò trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội đã lên đường đến với xứ sở hoa Ban, để “săn tìm” hoa Ban. Các sinh viên trong đợt tham quan thực tập này phải thực hiện những bài tập nhiếp ảnh theo yêu cầu của chương trình. Tới Thành phố Sơn La, đoàn đã được Ban giám hiệu trường Đại học Tây Bắc tiếp đón nồng nhiệt và tổ chức một cuộc giao lưu thân mật giữa sinh viên hai trường. Đoàn đã tổ chức chiếu bộ phim vừa đoạt giải Cánh Diều vàng của Hội Điện ảnh VN – bộ phim chưa phát hành rộng rãi: Mùi cỏ cháy. Hôm sau, cả một ngày ròng, các tay máy của đoàn Đại học SK-ĐA đã mải mê “săn” vẻ đẹp của hoa Ban vời vợi trên núi cao hoặc cheo leo bên vực thẳm, bên cạnh 6 nữ sinh khoa văn người Thái người Mường được trường ĐHTB chọn cử đi theo giúp đoàn làm mẫu chụp…

Mùa hoa Ban nở, cũng là mùa đói, nhưng lại là mùa của những chàng trai cô gái thổ lộ tâm tình. Ta yêu nhau không tính tháng tính năm/ Không tính mùa Ban nở… (Dân ca Thái). Những người lính sinh viên trẻ măng ngày nào ra trận bước vào các Đồi thịt băm[114] và chia tay với những cô gái chưa kịp trao lời hò hẹn cũng thuộc lứa tuổi những sinh viên bên rừng Ban và dưới chùm ánh sáng phim bây giờ. Những ngọn khói đốt nương mịt mù khắp các ngọn đồi trọc nham nhở cũng ném vào không gian mùi cỏ cháy khét lẹt, nhưng không phải là mùi chết chóc của một thời mà là mùi của đói nghèo muôn thuở mà hai thế hệ tuổi trẻ chiến tranh hôm qua – hòa bình hôm nay có thể tìm thấy sự đồng điệu? Và những sinh viên của các học đường, các thế hệ, trong cuộc hành trình cùng dân tộc, với ước vọng Tình yêu & Hạnh phúc nồng nàn trong trái tim trẻ, họ đã không ít lần gặp phải cảnh ngộ của nhà văn Nga Kôrôlenkô trong truyện ngắn “Những đốm lửa”: một ngọn lửa phía trước mới nhìn thì tưởng rất gần, thế nhưng càng đi tới đó càng thấy xa tít tắp. Cũng như một vài tay máy sinh viên khi không mang theo ống kính zoom tiêu cự lớn để chộp được hoa Ban chìa ra dọc đường đã tìm mọi cách kéo cành Ban lại gần để rồi phải thở dài bất lực. Bên một gốc Ban già cô đơn như thế, anh đã đọc cho các sinh viên của mình và sinh viên Đại học Tây Bắc nghe:

Thứ cây nào như Ban, quẩn quanh gai góc

Từ lưng vực sâu dâng tới ngang đèo

Ta ngỡ tưởng vươn tay hái được

Mà ngàn năm còn đứng giữa cheo leo...

Lúc đó vào mùa hoa Ban nở, tại thủ đô Hà Nội và nhiều thành phố – thị trấn trên miền Bắc, hoa Ban đang hiện diện tạo nên một vẻ đẹp hiếm có, đầy mê hoặc, thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế… Nhưng chắc không có nhiều người quan tâm đến điều này: quê hương thực sự của hoa Ban chính là vùng rừng núi Tây Bắc (chủ yếu là Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ).

Cách đây gần 40 năm, lần đầu tiên những cây Ban ở Sơn La đã được đưa về trồng ở Hà Nội… Còn trên Tây Bắc, lúc đó cũng lác đác có người/ tổ chức đã đưa thứ cây vốn quen sống trên núi cao, vực thẳm về trồng ở các đường phố, khuôn viên trường học, công sở, vườn nhà… Cũng từ đó, hoa Ban dần thoát cảnh mà Thế có lần ngậm ngùi: Tôi chạnh nhớ vệt Ban rừng Tây Bắc/ náu mình trốn chạy trận đốt rừng đốt nương/ cánh hoa ngậm nỗi buồn thiếu nữ/ đi qua nghèo đói suốt thời gian…

Từng đến một vài nơi trên thế giới và sống qua nhiều vùng Đất Nước, đã từng sống gần hết tuổi trẻ ở xứ sở hoa Ban, Thế dần hiểu ra giá trị Văn hóa & Sinh thái của hoa Ban trong đời sống con người hiện đại. Thời dạy học ở nơi đây, học sinh của anh có một số em người dân tộc Thái là con cán bộ (và cũng có vài em ở các bản ra thị trấn học); và chính các em này đã là những “người thầy đầu tiên” của anh về văn hóa Thái – trong đó có nhiều kiến thức về các loài hoa cỏ, đặc biệt là về hoa Ban trắng vốn được coi là bà Chúa của các các loài hoa rừng! Em gái lớn thì kể: người Thái có phong tục các chàng trai thường gửi người yêu đem về tặng bố mẹ vợ tương lai cành hoa Ban đầu mùa. Nhà nào có con gái lớn mà chưa từng hẹn hò gì, bố mẹ thường nhắc khéo: sao chẳng có ai gửi tặng bố mẹ hoa Ban thế? Em gái nhỏ hơn thì hay lén đem cài trong phòng thầy dạy văn một nhánh Ban nở rộ hái sau mỗi lần đi nương… Hoa Ban gắn bó khăng khít với đời sống đồng bào các dân tộc Tây Bắc, nhất là đồng bào Thái – lúc đi nương, đi chợ, làm bếp, dệt vải, múc nước, thêu thùa; trong các lễ hội Sên bản Sên mường, hát Hạn Khuống… Nơi đây, chỗ nào và việc gì cũng mang bóng dáng hoa Ban – biểu tượng của tình yêu, lòng chung thủy, khát vọng sống, lòng hiếu thảo, sự biết ơn, mặc dù nó ẩn chứa một câu chuyện thực buồn về tình yêu dang dở…

Tuy hoa Ban trong tiếng Thái có nghĩa là “hoa ngọt”, song số phận và đời sống của nó thực chẳng ngọt ngào chút nào! Sau bao đợt phá rừng đốt nương dữ dội, giờ đây lên Tây Bắc không còn thấy Ban ngợp trời dọc Quốc lộ 6 như cách đây vài chục năm! Nhưng trên núi cao, trong rừng sâu, và nhiều đoạn đường cheo leo hiểm trở vẫn còn có hoa ban, có điều chúng giống như sự lẩn lút!

Với thời gian và sự giao lưu phát triển văn hóa, mặc nhiên hoa Ban không còn chỉ là “đặc sản” của riêng Tây bắc, mà đã đi vào đời sống tinh thần của nhiều lớp người, ở nhiều địa phương toàn quốc. Ở Hà Nội, hoa Ban Tây Bắc được đem về trồng ở vài địa điểm từ mấy chục năm trước. Hoa Ban đã sống trong nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật… Có không ít đoàn ca múa nhạc trung ương và địa phương mang tên Hoa Ban. Hoa Ban từng được dùng làm nhãn hiệu cho một hội chợ hàng tiêu dùng toàn quốc tại Thủ đô. Có cả một nhà hàng đặc sản ở Hà Nội của một người nổi tiếng lấy tên Hoa Ban… Hoa Ban ở đâu và ở lĩnh vực nào cũng đều có thể gợi lên sự hoang dã, nguyên sơ, trinh trắng, sự lãng mạn bay bổng đã bị cuộc sống đô thị hiện đại lấn át. Nhưng mọi việc cũng chỉ dừng lại ở sự tôn vinh mang tính chất khoa trương và thậm chí vụ lợi như vậy! Còn số phận thực sự của hoa Ban hiện ra sao lại không nằm trong sự quan tâm của chính những đối tượng đang/ đã xử dụng “thương hiệu” Hoa Ban!… Một nhà báo mới đi Mỹ về kể: anh tận mắt nhìn thấy cả hàng ngàn cây Anh đào được đem từ Nhật tới trồng tại Thủ đô Oa-sinh-tơn, và anh cùng tôi chợt buồn khi nghĩ về hoa Ban Tây Bắc… Tại các khu tái định cư giải phóng lòng hồ Sông Đà hiện giờ, sau khi ổn định cuộc sống, chắc chắn đồng bào các dân tộc sẽ thấy sự cần thiết của cảnh vật thiên nhiên quen thuộc, sẽ tìm cách khôi phục lại nhiều cảnh vật đã chìm sâu trong nước lạnh mà trước hết là hoa Ban! Một trí thức người Thái ở Thái Lan khi sang Tây Bắc Việt Nam đã phải ngẩn người xúc động trước sự hoang sơ gần như nguyên vẹn của cảnh vật thiên nhiên, và đặc biệt là sự tồn tại của hoa Ban. Trong khi đó, ở nước ông, tất cả đã biến thành đường cao tốc, nhà cao tầng, khu công nghiệp, không còn đâu những mái nhà sàn cổ, những dòng suối nhỏ chảy róc rách, những thung lũng yên bình đẹp như mơ, và lấy đâu ra những vạt hoa ban trắng ngần long lanh trong nắng sớm…! Cũng may mắn là, ở nhiều thị trấn, thị xã, thành phố Tây Bắc hiện nay như Thành phố Sơn La, Thành phố Điện Biên Phủ, thị xã Nghĩa Lộ, hoa Ban hiện đã được đem về trồng tại nhiều công viên, trường học, công sở, đường phố… tạo nên sắc thái riêng biệt khó trộn lẫn của các Phố Núi và tăng thêm sức hấp dẫn thi vị cho việc tham quan du lịch. Và tuy hoa Ban đã được nhiều nơi ở nước ta biết đến, say mê, duy trì sự sống của nó, nhưng hoa Ban trước hết phải tồn tại, phát triển, và được tôn vinh đúng mức ngay chính trên quê hương xứ sở của mình!

14.

Mùa hoa ban năm nay Thế da diết nhớ Bình – chàng nhà giáo, thi sĩ lãng tử, người hay phải chia tay để “mai em đi lấy chồng” như bài thơ tặng Thế, là “ông mối” của anh dạo nào…

Sau những đợt gió lạnh cuối cùng, nơi dốc đứng của những đoạn đường cheo leo hiểm trở hoặc ở tận tít tắp những hẻm núi xa mờ, những cánh ban rừng – đặc sản của riêng Tây Bắc bắt đầu lặng lẽ thi nhau nở… Sau khi đưa sinh viên “săn hoa ban” trở về, anh lại vác máy quay lên rừng lên bản để thực hiện nốt bộ phim tài liệu “Đi tìm hoa ban”. Chỉ có điều, anh đi lần này đã không còn Bình nữa… Bình đã rời xa bạn và Thơ sau một trận đột quỵ, ở tuổi 53…

Mùa hoa ban hai năm trước, do điều kiện thời gian, Thế và Bình mới chỉ đi tới Mộc Châu, Thụân Châu, và quanh thị xã Sơn la. Hai người dự định mùa xuân năm nay sẽ cùng đi vào tận Sông Mã, Quỳnh Nhai, Bắc Yên, v.v. thâm nhập sâu hơn vào cuộc sống của đồng bào Thái, Mông, Dao, Khmú, Sinhmun… Đã có dấu hiệu của gió Lào, cùng với sương mù, khói đốt nương, không gian trở nên mờ ảo, đôi lúc nhạt nhoà, tựa nước mắt lau vội của người con gái trong truyền thuyết hoa ban khi lang thang qua rừng sâu núi thẳm mà không tìm được người yêu… Những kỷ niệm về bạn ào ạt cuốn về như lũ ống… Hoá ra, Bình cũng mắc “cơn nghiện” miền núi như Thế, thậm chí còn nặng hơn. Mỗi lần lên Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, anh lại có thêm những người bạn mới – ở các trường đại học, trung học dạy nghề, phổ thông, cán bộ trẻ ở địa phương… – những người đã hâm mộ anh qua các chuyên mục Tầm Thư, Tiến sĩ giấy, và trân trọng nghe anh nói chuyện, đọc thơ. Tại Sơn La, anh và Bình thường ôn lại kỷ niệm về những người bạn sư phạm dạy văn đã từng sống nơi đây. Có lần, anh lên Tây Bắc thuê nhà trọ cả tuần để ngồi hoàn chỉnh một cuốn sách com-măng của một nhà xuất bản. “Tôi mê rừng núi… Chúng giúp tôi có cảm hứng – không phải để làm thơ, mà để vượt qua những trang bản thảo cần nộp đúng hợp đồng”. Bình đã lý giải thế. Song, những lần lang thang cùng Bình trên đất Phù Yên, Bắc Yên, chợ tình Khau Vai, cùng nhiều địa điểm của Sơn La, Hà Giang, Hoà Bình, Cao bằng… để tham dự một lễ hội nào đó, để lấy tư liệu viết báo, hoặc chỉ để xả hơi, để đỡ “cơn nghiền” nhớ miền núi, trong những lần ấy, Thế đã nhận biết được bao dự định, bao sự ấp ủ cho văn học của Bình! Giữa những cuộc vui, nếu để ý, thường thấy một vài khoảng lặng kín đáo ở Bình – phải chăng đó là những ý thơ vụt hiện, những trải nghiệm đang tìm từ ngữ thích hợp? Bình – con người của công chúng, thường xuyên “bơi” trong công chúng lại thường tạo một con đường đi ngược lại đám đông để tìm về với chính mình, đặng làm một cái gì đó thực đích đáng cho văn chương – và việc hay tìm đến miền núi Tây Bắc của anh chính là một biểu hiện cụ thể…

Quả vậy, bao năm qua, Bình đã là một “lãng tử” say đắm cần cù góp nhặt cái Đẹp cùng lý do tồn tại của chúng, để dành dụm cho Thơ. Và, thời gian lãng du của anh dành cho vùng núi – đặc biệt vùng núi Tây Bắc là đáng kể nhất. Anh ngẩn ngơ trước một cánh hoa mắc-cọoc ngược sáng trong vườn nhà thơ Vương Trung, hay trước một vệt ban rừng ngập nắng sớm dọc đường miền Tây. Bình mê mải trước một phiên chợ lộng lẫy sắc màu vùng cao, hoặc bên một chiếc túi thổ cẩm đơn sơ quà tặng của bạn… Anh rất thích bài bài dân ca Xá Tây Bắc và đòi Thế chép lại cho anh làm tư liệu: Cây trong rừng cây nào đắng nhất/ Rễ trong rừng rễ nào cằn nhất/ Cũng không đắng bằng cuộc đời người Xá/ Cũng không cằn bằng cuộc đời người Xá làm tôi đòi… Người vẫn mô phỏng dân ca Mông và đọc một cách say sưa cho bè bạn nghe: Lời anh sẽ về bên gối lạnh/ Bao dịu dàng cay đắng đêm nay… cũng là người Quỳ trước núi mà tin thôi em ạ/ Ai trong đời chẳng có một Khau Vai, và có nỗi “luyến tiếc” đủ sức mê hoặc nhiều người chưa hề đặt chân tới Tây Bắc: Sao luyến tiếc một nơi chưa hề đến/ Này Lai Châu mưa ướt hết thơ rồi… Trong ngày Hội hoa Anh đào tại Hà Nội cách đây vài năm, Bình đã khiến Thế ngạc nhiên, không phải chỉ vì sự phẫn nộ hiếm hoi của anh. Anh căng thẳng nói: “Chỉ với hai cây Anh đào thật mà người ta làm nên cả một lễ hội, còn biết bao rừng hoa Ban tuyệt đẹp trên Tây Bắc thì đang bị đốt, bị chặt phá, và chẳng mấy ai thấy có trách nhiệm phải bảo tồn chúng…”. Thế đã yêu cầu anh nói lại điều bức xúc ấy trước ống kính máy quay, bên những cành hoa Anh đào xa lạ và ào ạt đám đông “xẻ thịt” chúng…

Mùa xuân này, Thế đã không có Bình đi bên cạnh để cùng nhau xuýt xoa trước một cành ban chơi vơi bên vực thẳm, hay cùng lặng người trước những lời “khắp” Thái da diết ân tình bên mâm cơm hiếu khách của đồng bào: À…ới…ì…Rượu này là rượu tình rượu nghĩa, không phải rượu phản rượu thù… Bữa ăn dù chỉ có củ mài măng đắng, hãy coi như cơm trắng cá thịt… Dù có ăn hay không cũng đừng nên oán trách…” (dịch từ tiếng Thái). Miền rừng núi Tây Bắc từ nay mãi mãi vắng bóng chàng nhà báo – thi sĩ “lãng tử”… Nhưng trong cánh hoa ban trắng muốt có vệt tím bầm ở giữa – thứ hoa kỳ lạ tượng trưng cho Tình yêu đôi lứa và cũng là món ăn đỡ đói lòng ngày giáp hạt cũng đã kịp lưu giữ một giọt lệ vui sướng của anh – một tâm hồn nặng nghĩa tình với Tây Bắc, để truyền thuyết về nó giàu thêm xúc cảm, và có thêm một đôi cánh thơ nhỏ đưa con người ta đến cõi mộng, cõi đẹp – nơi chỉ có tình người chân thật…


[114] Tên một bộ phim phản chiến làm về chiến tranh Việt Nam của đạo diễn Mỹ Oliver Stone.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.