Những ngộ nhận của chúng ta khi đọc và đánh giá tác phẩm văn học, khi đọc và đánh giá Nỗi buồn chiến tranh

Đặng Chương Ngạn

Sau những tranh luận dữ dội vừa qua, đã đến lúc Hội Nhà văn Việt Nam và các cơ quan quản lý văn hóa cần tổ chức những cuộc hội thảo, tọa đàm hoặc diễn đàn nghiêm túc về Nỗi buồn chiến tranh. Những người đồng tình cũng như những nhà văn, nhà thơ, độc giả… đang có quan điểm khác với Hội Nhà văn cần được mời tham dự, trình bày và bảo vệ nhận định của mình bằng văn bản.

Một sự đánh giá mới, khách quan, đầy đủ và có căn cứ không chỉ cần thiết đối với Nỗi buồn chiến tranh và nhà văn Bảo Ninh, mà còn cần thiết đối với đời sống văn học. Nó có thể giúp các nhà văn, nhất là những người viết trẻ, có thêm một điểm tựa cho sáng tạo nghệ thuật, tránh hoang mang, lo sợ…

Đánh giá đó đành chờ Hội Nhà văn, các cơ quan quản lý.

Ở bài viết này, tôi chỉ muốn cùng bạn đọc nhìn lại một số hiện tượng, một số dư luận và cả những ngộ nhận mà có thể ít nhiều chúng ta từng mắc phải trong cơn cuồng phong vừa qua.

I. CHÚNG TA KHÔNG NÊN ĐÁNH GIÁ TÁC PHẨM BẰNG LÝ LỊCH HOẶC BẢN ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI VIẾT.

Năm 2022, khi Nỗi buồn chiến tranh bị phận dư luận quy kết là “phản động”, “trở cờ”, trên mạng xuất hiện một bài viết của cựu binh GS Nguyễn Cảnh Toàn, người tự nhận từng là đồng đội của nhà văn Bảo Ninh.

Bài viết đưa ra một số thông tin bất lợi về thời gian Bảo Ninh làm việc tại một cơ quan nghiên cứu sinh học, trong đó có chuyện ông bị cho là đã phá hoại thí nghiệm của đồng nghiệp và bị xử lý kỷ luật.

Những thông tin ấy có xác thực hay không cần được kiểm chứng bằng hồ sơ và chứng cứ đáng tin cậy. Nhưng điều đáng nói là chúng đã tác động mạnh đến cách một số bạn đọc tiếp nhận tác phẩm. Có người cho rằng: Nếu tác giả từng có một hành vi không tốt trong đời sống thì tác phẩm của ông cũng không thể hay, không thể lành mạnh và không đáng được vinh danh.

Có lẽ đây là một sai lầm mà chúng ta rất dễ mắc phải: biến việc đánh giá tác phẩm thành việc lập một bản lý lịch hoặc một bản kiểm kê đạo đức của người viết.

Dĩ nhiên, nhân cách của nhà văn không phải chuyện hoàn toàn không liên quan. Một tác giả có đời sống mẫu mực sẽ tạo thêm thiện cảm và sự kính trọng. Nhưng trong văn chương, tác phẩm sau khi ra đời có đời sống tương đối độc lập. Không thể vùi dập một tác phẩm chỉ bằng những đánh giá tốt xấu nhân thân người sáng tạo.

Trường hợp Victor Hugo là một ví dụ đặc biệt rõ.

Victor Hugo đại văn hào của nước Pháp, tác giả của Những người khốn khổ, Nhà thờ Đức Bà Paris, Chín mươi ba và nhiều tác phẩm lớn. Nhưng đời tư của ông không hề là một bản tiểu sử đạo đức mẫu mực.

Đời sống tình cảm và tình dục của Hugo rất phóng túng; ông vừa có vợ, vừa có người tình lâu năm nhưng vẫn liên tục ngoại tình với những phụ nữ khác.

Vụ tai tiếng lớn nhất xảy ra năm 1845. Hugo bị bắt gặp trong quan hệ ngoại tình với Léonie d’Aunet, một phụ nữ đã có chồng. Hai người bị phát hiện tại một căn hộ ở Paris. Nước Pháp thế kỷ 19 rất nghiêm khắc với việc ngoại tình: Léonie d’Aunet sau đó phải chịu tù giam và bị đưa vào tu viện một thời gian.

Các tài liệu tiểu sử còn cho thấy Hugo có quan hệ với những phụ nữ ở vị thế xã hội yếu hơn mình, trong đó có người giúp việc, nữ công nhân nghèo và phụ nữ mại dâm.

Nhưng nước Pháp không vì thế mà đánh giá thấp Những người khốn khổ, Nhà thờ Đức Bà Paris.

Nước Pháp không vì đời tư phóng túng của Hugo mà phủ nhận Jean Valjean, Fantine, Cosette, Gavroche hoặc tiếng nói nhân đạo của tác phẩm.

Nhiều bạn đọc chúng ta hẳn rất yêu thích truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng. Nhưng tác giả truyện ngắn đó O. Henry cũng từng bị kết án năm năm tù vì tội liên quan đến biển thủ tiền của ngân hàng và thực tế đã thụ án hơn ba năm.

Văn chương không có nhiệm vụ cấp giấy chứng nhận đạo đức cho tác giả. Phê bình văn học cũng không thể thay thế việc phân tích tác phẩm bằng một bản điều tra đời tư.

Vì vậy, nếu muốn phê phán Nỗi buồn chiến tranh, chúng ta cần trở về với chính văn bản tác phẩm.

II. CHÚNG TA KHÔNG THỂ NÓI: “TÔI KHÔNG NHÌN THẤY, VẬY SỰ VIỆC ẤY KHÔNG CÓ THẬT”

GS. Nguyễn Cảnh Toàn cũng bằng mối quan hệ với tác giả Bảo Ninh trong quá trình tại ngũ, đã lên tiếng cho rằng: cuốn tiểu thuyết không viết đúng sự thật.

Người sống cạnh nhà văn có thể biết một phần cuộc đời nhà văn, nhưng không thể biết hết những gì nhà văn đã chứng kiến, nghe kể, suy ngẫm, tưởng tượng và chuyển hóa thành nghệ thuật. Hơn nữa, tiểu thuyết không phải biên bản hiện trường, hồ sơ hành chính hay bản báo cáo lịch sử. Tiểu thuyết là một thế giới hư cấu được xây dựng từ những chất liệu của hiện thực.

Không ai từng nhìn thấy một xã hội trong đó con người công khai ăn thịt người như trong Nhật ký người điên của Lỗ Tấn. Không ai có thể tìm thấy nguyên mẫu hoàn toàn trùng khít với Chí Phèo, Thị Nở hay lão Hạc tại làng Vũ Đại. Quasimodo trong Nhà thờ Đức Bà Paris cũng không cần phải tồn tại ngoài đời với đầy đủ mọi chi tiết như trong tiểu thuyết.

Các nhân vật của Gabriel García Márquez không phải những bản sao nguyên xi của cư dân Colombia. Người mẹ trong Báu vật của đời của Mạc Ngôn cũng là một hình tượng văn học, dù nhân vật và lịch sử gia đình ấy được tạo dựng từ nhiều lớp chất liệu đời sống.

Chúng ta không thể đi tìm ngoài đời ở Trung Quốc một người phụ nữ hoàn toàn giống nhân vật Thượng Quan Lỗ Thị, sinh chín người con với những người đàn ông khác nhau, rồi vì không tìm thấy mà kết luận Mạc Ngôn đã bịa đặt vô căn cứ.

Vấn đề của văn chương không chỉ là:

“Sự việc ấy có xảy ra đúng như thế ngoài đời hay không?”

Vấn đề còn là:

Thế giới nghệ thuật ấy có khiến chúng ta tin vào tính chân thực của nó hay không?

Một câu chuyện có thể là hư cấu nhưng vẫn đạt tới sự thật về tâm lý, thân phận và hoàn cảnh lịch sử. Ngược lại, một câu chuyện có thật hoàn toàn, khi kể lại, người đọc vẫn cảm thấy nó không thật.

Chúng ta cần phân biệt giữa sự thật sự kiện và sự thật nghệ thuật.

Sự thật sự kiện đòi hỏi ngày tháng, địa điểm, nhân chứng, hồ sơ và chứng cứ.

Sự thật nghệ thuật đòi hỏi tính hợp lý của tâm lý, hoàn cảnh, số phận và quan hệ giữa con người với thời đại.

Một nhân vật có thể không tồn tại ngoài đời, nhưng nỗi đau, sự sợ hãi, cô độc hoặc bi kịch mà nhân vật ấy mang lại vẫn có thể rất thật.

Vì vậy, việc một đồng đội của Bảo Ninh nói rằng mình không từng chứng kiến những sự việc như trong tiểu thuyết chỉ cho chúng ta biết về trải nghiệm của người ấy. Nó không đủ để phủ định toàn bộ trải nghiệm của những người lính khác, càng không đủ để phủ nhận quyền hư cấu của nhà văn.

III. CHÚNG TA KHÔNG NÊN CHỈ THỪA NHẬN MỘT HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH

Một số cựu chiến binh và bạn đọc phản ứng với Nỗi buồn chiến tranh bằng lập luận:

“Người lính thời chúng tôi không như thế. Chúng tôi ra trận hào hùng, lạc quan và tin tưởng.”

Trải nghiệm ấy hoàn toàn có thật và đáng trân trọng. Nhưng đó không phải là trải nghiệm duy nhất của tất cả những người từng đi qua chiến tranh.

Trong một nghìn người lính ra trận, có thể phần lớn ra đi trong tinh thần hào hùng, tin tưởng và sẵn sàng hy sinh. Có người lập công, trở thành anh hùng, sĩ quan, tướng lĩnh, giáo sư, tiến sĩ hoặc cán bộ quản lý.

Nhưng cũng có những người không trở về.

Có người hy sinh khi chưa kịp bước vào trận đánh đầu tiên.

Có người thương tật nặng, đi thẳng từ chiến trường về bệnh viện, trại điều dưỡng hoặc cơ sở nuôi dưỡng thương binh và ở lại đó suốt phần đời còn lại..

Có người bị mất ngủ, hoảng loạn, gặp ác mộng, né tránh đám đông hoặc sống trong những ký ức không thể giãi bày.

Trong bất cứ cuộc chiến nào cũng có thể có người đào ngũ, hoảng sợ, suy sụp hoặc không chịu đựng nổi áp lực chiến trường. Những số phận ít phổ biến hơn ấy không vì thế mà nằm ngoài phạm vi của văn học.

Văn chương không chỉ viết về số đông.

Bất cứ thân phận nào cũng có thể trở thành đối tượng của nghệ thuật, miễn là người viết khám phá được trong đó một vấn đề có ý nghĩa đối với con người.

Một tác phẩm viết về người lính anh hùng có thể là một bản hùng ca.

Một tác phẩm viết về người lính bị chiến tranh hủy hoại tâm hồn có thể là một bi ca.

Không thể vì bi ca khác với hùng ca mà cho rằng bi ca xuyên tạc lịch sử.

Hầu hết văn học cách mạng Việt Nam đã viết rất nhiều về những người lính anh hùng. Những tác phẩm ấy phản ánh một phương diện chân thực, cao đẹp và lớn lao của cuộc chiến.

Chính vì vậy, tôi đã khẳng định: Nỗi buồn chiến tranh không nên được chọn trong lễ hội “anh hùng ca”, kỷ niệm 50 năm, vì không viết về số đông những người lính anh hùng ra trận.

Nhưng điều đó không có nghĩa văn học chỉ được phép viết về phương diện ấy.

Nếu chín trăm người lính nhận ra mình trong những bản hùng ca, thì một hoặc vài người lính khác cũng có quyền nhận ra mình trong một tác phẩm về sợ hãi, mất mát, thương tổn hoặc cô độc.

Nỗi buồn chiến tranh có thể được đọc như câu chuyện về một người lính sống sót trở về nhưng không thực sự thoát khỏi chiến tranh. Kiên bị ký ức chiến trường đeo bám, thường xuyên hồi tưởng, gặp ác mộng, cô lập với đời sống chung quanh và không thể xây dựng một cuộc sống bình thường.

Dưới góc nhìn của lý thuyết văn học chấn thương, các biểu hiện ấy có nhiều điểm gần với rối loạn căng thẳng sau sang chấn, thường được gọi là PTSD.

Kiên không đại diện cho tất cả người lính.

Nhưng Kiên có thể đại diện cho một số số phận người lính.

Vì vậy, chúng ta nên nói:

Nỗi buồn chiến tranh viết về một dạng số phận của người lính sau chiến tranh.

Chúng ta không thể nói:

Nhân vật ấy không giống tôi, nên tác phẩm không viết đúng về người lính.

Nhiều tác phẩm lớn của văn học Việt Nam cũng mang âm hưởng bi ca. Nhiều tác phẩm chỉ viết cho một số số phận riêng lẻ, không đại diện cho số đông vào giai đoạn lịch sử đó, như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc hay Truyện Kiều.

IV. NHIỀU NGƯỜI CHÚNG TA, CÓ CẢ NHỮNG NHÀ VĂN, NHÀ THƠ ĐÃ ĐÁNH GIÁ TÁC PHẨM QUA NHỮNG ĐOẠN BÔI XANH, BÔI ĐỎ.

Thời gian qua, nhiều đoạn văn trong Nỗi buồn chiến tranh được chụp riêng, tô màu rồi truyền đi trên mạng như những “bằng chứng” cho thấy Bảo Ninh bôi đen người lính, quân đội và cuộc chiến. Không chỉ độc giả bình thường, nhiều nhà văn khi đọc các đoạn tô màu xanh, đỏ cũng đã nhìn nhận tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh có vấn đề.

Một nhà văn lớn tuổi, gửi cho tôi đoạn bôi đỏ (hình 2) đấy là nội dung nằm ở trang 10 bản in của NXB Trẻ năm 2018.

Nhà văn ấy nói: “Bảo Ninh đúng là phản động. Hắn bôi đen quân đội! Hắn viết lính chúng ta bắn chết đồng bào dân tộc!”.

Lại một ai đó nếu không cố tình bôi đen nhà văn Bảo Ninh thì đã đọc một đoạn văn rồi rồi quy chụp, buộc tội.

Để hiểu đoạn văn ấy, hãy đọc đủ các trang trước đó, những người lính mùa mưa đến náu ở truông gọi hồn, một cánh rừng âm u, ma quái, đầy huyền thoại rùng rợn, man rợ… Ở đấy, có một làng hủi đã bị thiêu cháy, những hồn ma lởn vởn… Nhưng người lính hầu như bị chứng PTSD, tâm lý bất ổn… Họ đi săn đã bắn nhầm một người đàn bà hủi gần như đã biến thành người rừng…

Không có người lính nào bắn chết người thượng ở đây!

Trong chiến tranh, quân ta còn bắn lẫn quân mình, còn ở đây những người lính thần kinh đã không còn bình thường, bất ổn và họ đang đói đến mờ mắt…

Quy kết: những người lính bắn chết đồng bào Thượng hoàn toàn sai với bản chất câu chuyện.

Cũng vị nhà văn lớn tuổi trên khi tôi hỏi: “Anh đã đọc Nỗi buồn chiến tranh chưa?”, đã trả lời: ” Mình đọc mà chưa hết!”. Tôi biết các nhà văn, nhà thơ nói “đọc mà chưa hết” là thực ra chưa đọc cuốn tiểu thuyết này, chỉ hóng hớt xem các đoạn tô màu và cứ thế phát ngôn như thật.

Nhà văn, nhà thơ chúng ta còn vậy thì trách gì bạn đọc! Trách gì những người họ không có cơ hội để đọc, nhưng trong lòng đang chất chứa sự bất bình…

V. CHÚNG TA TIN VÀO TRÍCH DẪN ÁC Ý VÀ CỐ TÌNH TRÍCH DẪN SAI!

Nhiều nhà văn gửi cho tôi bản chụp:

Câu đầu trong bản chụp nội dung như sau:

“Hừ, hòa bình! Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình, để chừa lại chút xương.”

Họ hết sức phẫn nộ: “Thằng Bảo Ninh đúng là phản động! Bao nhiêu xương máu mới có hòa bình mà nó dám nói vậy! Sư bố nó!”.

Tôi nhớ rõ câu nói này, đó là câu nói của nhân vật Trần Sơn một người lính lái xe Zil trong đội quy tập. Một người lính bất bình với hiện trạng đất nước sau chiến tranh, tâm trạng khá tiêu cực. Câu đó Trần Sơn phát ngôn trong một chuỗi dài đối thoại với Kiên.

Khi Kiên nói với anh ta:

“Nhưng dù sao thì cũng đã hòa bình. Giá mà giờ phút hòa bình là giờ phục sinh cho tất cả những người đã chết trận nhỉ.”

Trần Sơn đã nói:

“Hừ, hòa bình! Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình, để chừa lại chút xương. Mà những người được phân công nằm lại gác rừng le là những người đáng sống nhất.”

Nghe vậy, Kiên đã phản đối:

“Nói ghê thế. Người tốt còn khối. Và người tốt còn được sinh ra ở các thế hệ sau. Còn những thằng sống sót thì phải gắng sống cho tử tế, sống cho ra sống. Chứ không thì chiến đấu để làm gì?”

Thái độ của Kiên thể hiện ở câu nói này. Một câu nói đầy trách nhiệm và hướng tới tương lai. Một câu nói trân trọng, nâng niu Hòa Bình. Nhưng ở đây, họ cố tình nhét vào miệng nhà văn Bảo Ninh câu tiêu cực của Trần Sơn để quy chụp ông phản động, trở cờ. Kiểu quy chụp đó, không khác gì lấy lời Bá Kiến coi là quan điểm của Nam Cao; lời Nghị Hách coi là quan điểm của Vũ Trọng Phụng.

***

Hai câu nói sau trong hình trên:

“Chiến tranh là cái lò mổ, nơi con người được đưa vào để chặt ra từng mảnh.”

“Tiểu đoàn trưởng của tôi, sau một cơn đau đầu, đã giơ súng tự kết liễu trước mặt cả trung đội.”

Họ để trong ngoặc kép, có nghĩa là họ trích nguyên văn từ tác phẩm, nhưng có tìm đến đỏ mắt cũng không tìm thấy hai câu đó trong Nỗi buồn chiến tranh.

Không lẽ, họ bịa ra để quy chụp cho tác giả. Nhiều câu trích dẫn về Nỗi buồn chiến tranh lan truyền trên mạng tương tự như vậy.

VI. CHÚNG TA KHÔNG NÊN ĐỒNG NHẤT NHỮNG ĐOẠN VIẾT VỀ TÍNH DỤC VỚI VĂN HÓA PHẨM DÂM Ô

Tôi đã viết về vấn đề này,trong bài viết: “Bàn về sự “sa đọa” tình dục trong “Nỗi buồn chiến tranh”!” các bạn có thể xem theo link dưới phần bình luận.

Một số người chỉ dựa vào những đoạn có từ ngữ nhạy cảm để kết luận Nỗi buồn chiến tranh là một tác phẩm “sex”, “đồi bại” hoặc “giường chiếu”.

Sự khác biệt giữa văn học nghệ thuật và văn hóa phẩm dâm ô không nằm ở việc tác phẩm có miêu tả cơ thể hoặc tình dục hay không, mà trước hết nằm ở mục đích và chức năng của sự miêu tả ấy trong toàn bộ cấu trúc tác phẩm.

Văn hóa phẩm dâm ô lấy việc kích thích bản năng tình dục làm mục đích chính.

Nỗi buồn chiến tranh: Dùng hình thể và cảm xúc bản năng để soi chiếu nỗi đau nhân phận, bi kịch của chiến tranh.

Mối quan hệ giữa Kiên và Phương không phải một câu chuyện tình yêu bình thường. Tình yêu ấy bị chiến tranh chia cắt và làm tổn thương ngay từ lúc họ còn rất trẻ. Những trang viết về sex trong Nỗi buồn chiến tranh không khơi gợi ở độc giả sự ham muốn tính dục, mà là những ký ức đau thương, nuối tiếc. Với nhân vật Kiên buổi chiều bên hồ, tấm thân trinh nữ của Phương trở lại với anh rất nhiều lần trong những năm tháng chiến tranh, đó như là một điểm tựa tinh thần, một sự an ủi vỗ về…

VII. CHÚNG TA HÃY NHÌN LẠI TRƯỜNG HỢP BÁU VẬT CỦA ĐỜI CỦA MẠC NGÔN TRUNG QUỐC

Tôi không muốn viện dẫn Trăm năm cô đơn của Gabriel García Márquez hay Phía Tây không có gì lạ của Erich Maria Remarque, bởi có người sẽ nói đó là những tác phẩm thuộc một không gian chính trị và văn hóa khác, là văn chương ở mấy nước tư bản.

Chúng ta có thể nhìn vào Phong nhũ phì đồn, thường được dịch sang tiếng Việt là Báu vật của đời, của Mạc Ngôn Trung Quốc, một quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về lịch sử, cơ chế quản lý văn hóa.

Nếu dùng đúng phương pháp tô xanh, bôi đỏ đang được áp dụng với Nỗi buồn chiến tranh, độc giả Trung Quốc có thể quy kết Báu vật của đời là một cuốn sách:

– phủ nhận đạo đức truyền thống;

– đề cao bản năng và tính dục;

– văn chương dâm dục, đồi trụy;

– tô đẹp địa chủ hoặc Quốc dân đảng;

– bôi đen Đảng Cộng sản và lực lượng cách mạng;

– vu khống cộng sản là “cộng sản cả vợ”;

– phủ nhận cách mạng và bóp méo lịch sử;

– xóa nhòa ranh giới chính nghĩa và phi nghĩa;

– bôi nhọ hình tượng người mẹ;

– hạ thấp lịch sử dân tộc thành chuyện đàn bà, sinh nở và thân xác.

Xét về mức độ miêu tả tính dục, bạo lực và những mặt tối của lịch sử, Báu vật của đời còn quyết liệt gấp nhiều lần Nỗi buồn chiến tranh.

Mạc Ngôn lại không phải một nhà văn dân sự đứng ngoài hệ thống. Ông từng là quân nhân, là nhà văn quân đội, hưởng lương và mang quân hàm.

Khi Báu vật của đời xuất bản vào giữa thập niên 1990, tác phẩm lập tức gây tranh cãi mạnh về lịch sử, chính trị, tình dục. Mạc Ngôn phải chịu nhiều sức ép, bị yêu cầu kiểm điểm và việc phát hành tác phẩm có thời gian bị gián đoạn.

Nhưng:

Báu vật của đời không bị xóa khỏi đời sống văn học;

Giới văn học Trung Quốc, nhiều nhà văn Trung Quốc đã lên tiếng bảo vệ tác phẩm và tác giả.

Sau đó, Báu vật của đời giành Giải văn học Đại Gia – Hồng Hà với số tiền thưởng 100.000 nhân dân tệ, khi ấy được xem là một giải thưởng có giá trị tiền mặt rất cao.

Từ những năm 2000, tác phẩm được tái bản, lưu hành rộng rãi và dần được nhìn nhận như một tiểu thuyết sử thi về lịch sử hiện đại Trung Quốc.

Mạc Ngôn tiếp tục viết những tác phẩm lớn khác như Đàn hương hình, Sống đọa thác đày, Ếch

Năm 2012, Mạc Ngôn được trao Giải Nobel Văn học cho toàn bộ thành tựu sáng tác.

Nếu Báu vật của đời, ngay từ đầu bị cấm và những nhà quản lý, độc giả Trung Quốc không thay đổi quan điểm với tác phẩm theo thời gian, liệu văn học Trung Quốc có phát triển như ngày nay

Có những tên tuổi như: Mạc Ngôn, Dư Hoa, Lưu Chấn Vân, Cách Phi, Tàn Tuyết…

VIII. CHÚNG TA TỪNG QUY CHỤP QUÁ NHIỀU NHÀ VĂN LÀ “PHẢN ĐỘNG”, “BÔI ĐEN”, “TRỞ CỜ”, “PHẢN NƯỚC”

Chúng ta từng phê phán Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Phùng Cung và nhiều văn nghệ sĩ liên quan đến phong trào Nhân văn – Giai phẩm phản động, bôi đen xã hội…

Chúng ta từng quy kết Hà Minh Tuân và tiểu thuyết Vào đời là bôi đen hiện thực.

Chúng ta từng phê phán Hoàng Cát vì truyện ngắn Cây táo ông Lành.

Chúng ta từng phê phán Việt Phương vì tập thơ Cửa mở.

Chúng ta từng phê phán Ngô Văn Phú vì Sẹo đất.

Đến cả nhà thơ số 1 bộ đội Trường Sơn Phạm Tiến Duật, cũng bị chúng ta phê phán vì bài thơ Vòng trắng.

Văn chương, nghệ thuật, ngôn ngữ vốn đa nghĩa, đôi khi, các nhà phê bình lý luận, các độc giả có thể diễn giải theo một ý nghĩa nào đó về tư tưởng, chính trị, tác giả sẽ bị quy tội.

Họ bị biến thành những kẻ bôi đen xã hội, phản động, phản quốc.

Thực tế, thời gian đã chứng minh: Họ không hề phản động, phản quốc, họ vẫn sống với nhân dân, với đất nước: Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm không phản động. Phạm Tiến Duật, Hoàng Cát, Việt Phương không phản động.

Năm 2007, bốn nhà văn Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm và Phùng đã chính thức được trao tặng và truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học, nghệ thuật cho các tác phẩm tiêu biểu của họ.

Đó là một sự ghi nhận quan trọng.

Chúng ta có thể trao một giải thưởng.

Chúng ta có thể phục hồi tên tuổi.

Nhưng chúng ta không thể trả lại cho họ thời gian.

Chúng ta không thể trả lại những năm tháng họ còn trẻ, còn khỏe, còn minh mẫn và đang ở độ sung sức nhất của sáng tạo.

Và, đáng tiếc hơn, chúng ta không thể trả lại cho văn học Việt Nam những tác phẩm lẽ ra họ đã viết…

Quá khứ, cho chúng ta quá nhiều bài học: Hãy cẩn trọng khi đánh giá các tác phẩm văn học, khi đánh giá một tác giả…

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.