“Chính sử” xét xử văn chương

Tino Cao

Ngày 12 tháng Mười 2025, Đài Tiếng nói Việt Nam gọi Hùng khí Đông A của Trần Thanh Cảnh là một bộ tiểu thuyết lịch sử đặc sắc, đồng thời ca ngợi lối viết hiện đại của tác phẩm. Ngày 23 tháng Bảy 2026, Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam thông báo dừng phát hành bộ sách ấy cùng cuốn Đức Thánh Trần để “thẩm định lại nội dung”, theo văn bản được tác giả công bố năm ngày sau đó. Những tình tiết bị lên án có gốc trong chính sử và được nhà văn viết tiếp bằng hư cấu. Đức Thánh Trần, xuất bản lần đầu năm 2017, về sau được tác giả chỉnh sửa và đổi tên thành Trần Quốc Tuấn. Bản mới này cùng hai tiểu thuyết Trần Thủ ĐộTrần Nguyên Hãn được in thành bộ Hùng khí Đông A. Một tác phẩm từng qua cấp phép, được truyền thông nhà nước tán thưởng, nay bị đưa ra xét lại trong bầu không khí chính trị thù địch của nhiều năm sau. Đây là kiểm duyệt hồi tố, một cuộc thanh lọc kí ức nhắm cả vào những gì chính hệ thống từng chấp nhận. Giấy phép chỉ có giá trị như một xác nhận cung cấp khoảng bình yên tạm thời; hồ sơ xuất bản của quá khứ vẫn có thể bị mở lại và bị trừng phạt bất cứ lúc nào.

Phương pháp săn lùng lặp lại theo công thức cũ của bảy mươi năm về trước, chỉ khác là bây giờ có thêm công cụ mạng xã hội trợ giúp đắc lực cho việc phát tán cuộc đấu tố. Vài trang sách được chụp riêng, gạch đỏ câu nhạy cảm rồi tung lên mạng; toàn bộ cuốn tiểu thuyết bị ép vào mấy tấm ảnh vừa khuôn màn hình điện thoại. Sách Đức Thánh Trần bị dán nhãn “tục tĩu” vì Trần Thanh Cảnh viết về Trần Quốc Tuấn với tình yêu, bản năng và đời tư. Tương tự, cuốn Chim ưng và chàng đan sọt⁠ của Bùi Việt Sỹ cũng bị đào quật trở lại⁠ từ cuộc tranh cãi năm 2018. Tiểu thuyết về Phạm Ngũ Lão từng nhận giải B của Hội Nhà văn và giải C Sách Quốc gia⁠, song mũi công kích dồn vào cảnh ái ân giữa Trần Khánh Dư với công chúa Thiên Thụy. Điều bị truy đuổi qua những cuốn sách ấy chính là quyền của tiểu thuyết được hư cấu về các nhân vật mà hậu thế đặt lên bàn thờ của ý thức hệ. Văn chương trả lại cho họ phần người, gồm thân thể, ham muốn, sai lầm và đời sống riêng tư từng bị chính sử bỏ qua. Lối đọc bảo thủ coi lựa chọn ấy như hành vi xâm phạm một thứ tài sản thiêng do nhà nước nắm quyền sở hữu và diễn giải. Từ đây, câu chuyện thẩm mĩ bị đẩy sang hình luật. Giá trị nghệ thuật của những đoạn văn lẽ ra cần phải được xem xét trong toàn bộ tác phẩm và tranh luận bằng các chuẩn mực văn chương. Điều 331 của Bộ luật Hình sự hoàn toàn xa lạ với công việc ấy. Khi vài trang sách bị cắt rời, chụp mũ, đủ làm căn cứ đòi bắt tác giả, biên tập viên và lãnh đạo nhà xuất bản, thì phán quyết tự cho mình cái quyền mặc nhiên đi trước việc thẩm định chuyên môn.

Trường hợp Nỗi buồn chiến tranh cho thấy quyền lực của phép hồi tố có thể đi xa tới mức nào. Tháng Mười Một 2025, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp tiểu thuyết của Bảo Ninh vào danh sách 50 tác phẩm tiêu biểu sau ngày thống nhất đất nước. Ngay sau lễ vinh danh, trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, cựu cục trưởng Cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng, cáo buộc tác phẩm “hạ thấp tính anh hùng”, “nhen nhóm sự lật sử” và đề nghị thu hồi quyết định. Đầu tháng Giêng 2026, Bộ Văn hóa đưa cuốn sách ra khỏi danh sách, viện dẫn thư xin rút của tác giả Bảo Ninh cùng việc rà soát kết quả bình chọn. Chưa cần suy đoán về hoàn cảnh của lá thư ấy, ta vẫn thấy một điều rõ ràng. Văn bản thì vẫn còn nguyên đó, nhưng phán quyết dành cho văn bản thay đổi theo sức ép chính trị. Đối tượng bị xét lại thực chất là cách nhìn. Sử thi chiến thắng đặt người lính trong đội ngũ tiến về ngày toàn thắng. Bảo Ninh nhìn người lính từ độ lùi của nhiều năm, giữa một kí ức tan vỡ, khi tiếng súng ngừng vang, còn chiến tranh tiếp tục trong tâm trí. Anh là một cá nhân sống sót, mang theo những thương tổn cùng phần đời còn mắc kẹt giữa những người đã chết. Suốt hơn ba thập niên, cuốn tiểu thuyết liên tục bị triệu hồi, thẩm vấn và kết tội vì khước từ trao lời phán quyết sau cùng về số phận người lính cho khúc ca khải hoàn.

Vụ Chuyện với Thanh của Nguyễn Thành Nam cho thấy cuộc trấn áp đã đi xa hơn việc thu hồi một cuốn sách. Trong tháng Sáu và tháng Bảy, tác phẩm bị thu hồi; Nhà xuất bản Hội Nhà văn bị xử phạt 100 triệu đồng và bị đình chỉ hoạt động hai tháng; Nguyễn Thành Nam bị bắt giam, ba viên chức của nhà xuất bản phát hành cuốn sách bị rút phép thông công khỏi tổ chức Đảng Cộng sản mà một thời họ có đảng tịch, rồi bị vướng vào lao lí cũng như chính tác giả, theo Điều 117 Bộ luật Hình sự. Hai mươi ba cơ quan báo chí bị xử phạt, hơn mười nhà báo và biên tập viên chịu kỉ luật.

Những nội dung liên quan đến nhân vật Hồ Chí Minh chiếm phần chủ yếu trong Chuyện với Thanh và là trọng tâm của các cáo buộc. Từ đó, việc truy cứu trách nhiệm nhanh chóng lan sang toàn bộ quá trình đưa cuốn sách ra công chúng. Trang thông tin xuất bản, vốn liệt kê tên tác giả, người biên tập, tổng biên tập, giám đốc nhà xuất bản cùng các đơn vị phát hành, bỗng biến thành danh sách có sẵn để cơ quan chức năng lần theo từng người. Những cái tên được in nhằm xác nhận trách nhiệm nghề nghiệp nay bị truy xét như dấu vết liên can. Một quy trình xuất bản được cấp phép và tiến hành công khai giờ bị dựng lại thành chuỗi hành vi phạm tội, chỉ vì phán quyết chính trị hôm nay phủ nhận điều mà chính hệ thống cho phép hôm qua.

Nhìn từ bốn vụ việc, đây có thể được xem là một đợt phản công của khuynh hướng bảo thủ chính sử. Hai gương mặt công khai hùng hổ nhất là trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, và Phan Trung Can, một người tự xưng là “cựu chiến binh”. Nguyễn Thanh Tuấn dùng thẳng ngôn ngữ tuyên huấn để đọc văn chương, từ “mùi phản trắc”, “lật sử”, “xét lại” đến “hạ thấp phẩm chất anh hùng của quân đội”. Ông yêu cầu rút Nỗi buồn chiến tranh khỏi danh sách vinh danh, rồi đề nghị các cơ quan trung ương can thiệp vụ Chuyện với Thanh. Phan Trung Can đảm nhận phần truy tìm từng tác phẩm và từng người liên quan. Ông gọi Chuyện với Thanh là “cuốn sách dơ bẩn cần thu hồi, tiêu hủy”, sau đó lục lại Đức Thánh Trần của Trần Thanh Cảnh và Chim ưng và chàng đan sọt của Bùi Việt Sỹ, tách các đoạn nhạy cảm khỏi văn cảnh rồi đăng lên Facebook kèm tên biên tập viên, tổng biên tập và lãnh đạo xuất bản. Cùng tham gia còn có các cựu quân nhân, cán bộ hưu trí, nhiều tài khoản nhân danh lòng yêu nước và trang Comrade Commissar, thường gọi ComCom. Tư liệu hiện có cho thấy một chuỗi tiếp sức mang dáng dấp hồng vệ binh, cuồng tín trong niềm tin và hung hãn trong cách truy lùng đàn áp đối tượng, hơn là một bộ máy thống nhất cùng nhận mệnh lệnh. Nguyễn Thanh Tuấn cung cấp ngôn ngữ kết tội, Phan Trung Can chọn mục tiêu, các trang mạng tạo áp lực dư luận, còn đại biểu HĐND thành phố Hồ Chí Minh Trần Thành Trọng đưa yêu cầu “xử lí hình sự” Nguyễn Thành Nam vào nghị trường. Trong vụ Chuyện với Thanh, sức ép từ Cục Xuất bản, Cục Báo chí, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Công an Hà Nội sau đó chuyển thành các biện pháp hành chính và hình sự.

Động cơ của các nhóm tham gia có sắc độ khác nhau, song đều quy về việc bảo vệ một cách nói duy nhất về lịch sử. Nguyễn Thanh Tuấn và Phan Trung Can viện dẫn danh dự lãnh tụ, anh hùng dân tộc, hình ảnh “bộ đội cụ Hồ” và nền tảng tư tưởng của đảng Cộng sản, đồng thời cảnh báo về “xét lại”, “tự diễn biến”, “cách mạng màu”. ComCom nói thẳng hơn khi xem sự cởi mở trong văn hóa và giáo dục như một nguy cơ đối với sự tồn tại của chế độ. Chính sử vừa nuôi dưỡng tính chính danh của nhà nước, vừa bảo toàn vốn liếng đạo đức của lớp người gắn sự nghiệp với quân đội và bộ máy tuyên truyền. Bốn vụ việc cùng đụng tới hai khuôn mẫu được xem là bất khả xâm phạm. Một khuôn mẫu dành cho Trần Quốc Tuấn, Trần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão và Hồ Chí Minh, những nhân vật phải giữ đời tư nghiêm cẩn, phẩm chất nhất quán và hình ảnh sạch sẽ. Khuôn mẫu kia dành cho người lính chiến thắng, hiện diện trong giọng kể sử thi. Khi tiểu thuyết trả lại cho họ thân thể, dục vọng, sợ hãi, thương tổn và phần đời bị chính sử lược bỏ, lối soi xét của tuyên giáo xem sự gần gũi ấy như hành vi hạ bệ. Tình dục cung cấp cái cớ đạo đức để huy động công chúng. Nỗi lo sâu hơn nằm ở viễn cảnh văn chương giành lại quyền kể quá khứ. Quy định 207-QĐ/TW ngày 26 tháng Bảy vừa rồi do Tổng bí thư Tô Lâm kí đưa quan niệm ấy vào kỉ luật đảng viên qua việc cấm cả hành vi “cổ xúy” sáng tác, xuất bản, lưu giữ hoặc phát tán tác phẩm bị quy là xuyên tạc lịch sử hay bôi nhọ lãnh tụ. Hai chữ “lật sử” cũng giúp người tố cáo mặc nhiên bỏ qua việc đối chiếu tư liệu, chứng minh sai lệch và phân tích thủ pháp hư cấu. Chỉ sau một bài đăng, họ có thể tự nhận đồng thời vai sử gia, nhà phê bình, công tố viên và quan tòa.

Cái đáng ngại nhất trong đợt truy xét văn chương này là việc chính hệ thống quay lại phủ nhận những gì từng được mình cho phép. Đức Thánh Trần từng qua kiểm duyệt. Chim ưng và chàng đan sọt từng được trao giải. Nỗi buồn chiến tranh từng được vinh danh. Chuyện với Thanh từng được nhiều cơ quan báo chí giới thiệu. Vậy mà chỉ sau vài đợt tố cáo trên mạng, các quyết định ấy lần lượt bị xem xét lại, kéo theo thu hồi, kỉ luật, xử phạt và bắt giữ. Từ đây, giấy phép chỉ còn giá trị tạm thời. Giải thưởng cũng có thể bị rút khi cách nhìn chính trị đổi khác. Người làm nghề buộc phải tự đoán điều gì sẽ bị kết tội trong tương lai, rồi tự kiểm duyệt cả trước khi được yêu cầu. Hậu quả lâu dài nằm ở chỗ ấy.

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.