Nguyễn Thông
Suốt mấy tháng (tháng 3 – tháng 7. 2026), nhất là hơn tuần nay (từ đầu tháng 7) thiên hạ cực kỳ nhộn nhạo, thậm chí căng hơn chiến tranh, đấu về… văn chương, sách này sách nọ. Ca ngợi, tung hô, dè bỉu, lên án, kéo lên đỉnh núi, vùi tận bùn đen… đủ cả.
Hai cuốn sách được/bị lôi ra khen-chê là Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn cự phách Bảo Ninh và Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng của tác giả Nguyễn Thành Nam. Phe khen có lý của khen, còn chê có lập trường cách mạng của chê, chỉ có điều khi nhà chức trách ra tay thì kết cục xấu cho cả sách lẫn tác giả. Chuyện này để viết sau, cuối loạt bài án văn.
Nhân vụ việc ấy, bỉ nhân đăng lại loạt bài Án văn được viết cũng đã lâu để mọi người cùng chiêm nghiệm những chuyện tương tự đã diễn ra ở xứ này.
Xưa và nay đều bi thảm
Án văn, nói nôm na là những vụ án liên quan đến văn chương, văn nghệ, nhà thơ nhà văn, văn nghệ sĩ, sách báo, ấn phẩm. Có khi nạn nhân chết chỉ do một chữ chứ không cần cả bài, cả tập, cả đời. Chết mà không biết vì sao mình bị.
Phải công nhận xứ ta nhiều án văn, có những án kinh hoàng, thê thảm, đại bi kịch. Triều Lê Thái Tôn thế kỷ 15, con người bậc nhất của thời đại – Nguyễn Trãi – đã chết bởi sự ganh ghét, đố kỵ của đám tiểu nhân đắc chí, trong đó một phần từ án văn.
Kẻ hoạn quan Lương Đăng được vua tin dùng vốn sẵn từ lâu ghét Nguyễn Trãi nên tìm mọi cớ vùi dập ông. Mỗi điều Nguyễn tiên sinh viết ra đều được Lương tiểu nhân săm soi vạch vòi, Nguyễn có né cách mấy cũng bị quy thành tội. Lời tâu của cụ Nguyễn Ức Trai về nhã nhạc là ví dụ, chẳng những không được vua lắng nghe mà còn bị vua xem thường, bỏ qua, bởi Lương Đăng đã xúc xiểm, cho rằng Nguyễn Trãi lên mặt dạy vua, coi thường bậc minh quân, bôi xấu thời đại dưới sự cai trị của đấng thiên tử chí tôn…
Một khi vua đã loại ai đó ra khỏi mắt khỏi óc thì người đó chỉ còn cách chết. Vì vậy, thời điểm Nguyễn Trãi và ba họ chịu án tru di tam tộc lên đoạn đầu đài cũng là lúc báo hiệu triều đại nhà Hậu Lê bắt đầu lung lay mục ruỗng, chỉ còn chờ ngày sụp đổ. Khi Lê Tư Thành lên ngôi, hiệu Lê Thánh Tông, ông đã cố hết sức giữ vững cơ nghiệp ông cha, trong đó có việc chiêu tuyết, giải oan cho Nguyễn Trãi, nhưng dù gì đi chăng nữa thì án oan Nguyễn Trãi đã thành vết nhơ cực kỳ tệ hại trong lịch sử dân tộc, trong một triều đại có nhiều chiến công hiển hách chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc.
Thời tôi sống, từ lúc trẻ thơ học trong nhà trường tới khi lặn ngụp mưu sinh trong cõi đời, tôi đã nghe, đã biết, chứng kiến nhiều án văn, có những vụ cho đến bây giờ vẫn là dấu hỏi lớn của lịch sử. Có những vụ, văn chương vốn dĩ vô tình nhưng qua bàn tay kẻ thủ ác đã thành cớ vùi dập, giết hàng loạt người lương thiện, trong đó có những con người đẹp đẽ, tài hoa bậc nhất thời đại. Vụ Nhân văn giai phẩm là ví dụ điển hình.
Ai muốn biết bản chất vụ án văn Nhân văn – Giai phẩm, chả cần tìm đâu xa, chỉ cần vào địa chỉ Facebook của nhà văn Thái Kế Toại thì rõ. Ông Toại là công an văn hóa, hàm đại tá, công tác tại A25 (cục chuyên về văn hóa tư tưởng của Bộ Công an), được giao thụ lý hồ sơ vụ án văn này.
Nhưng càng tìm hiểu, đi vào góc khuất, khám phá ra những điều mà chính quyền cố tình che giấu, ông Toại càng thấy đó là tấn bi kịch văn nghệ kinh hoàng, oan sai, oan trái, không chỉ tàn hại một thế hệ văn nghệ đầy công tích trong chiến tranh chống Pháp mà còn phủ cái bóng thảm khốc đen tối của nó ám ảnh cả nền văn nghệ dân tộc suốt thời gian dài về sau.
Những số phận đại bi kịch như Phan Khôi, Trương Tửu, Nguyễn Hữu Đang, Trần Đức Thảo, Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Đào Duy Anh, Tử Phác, Đặng Đình Hưng, Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc, Trần Duy, rồi cả Nguyễn Bính, Hữu Loan, Văn Cao, Cao Xuân Huy, Nguyễn Sáng, Phùng Cung… đã thành mồi ngon cho bộ máy cường quyền đắc thế. Dính án, nói theo kiểu Nam Cao, cuộc đời họ cứ mòn đi, mục đi, không lối thoát, kể cả trong nhà tù đằng đẵng 15 năm như Nguyễn Hữu Đang, hay được tại ngoại như Phan Khôi, Trương Tửu…
Nghĩ lẩn mẩn, nếu những con người tinh hoa ấy không bị dòng thác nhân danh cách mạng kia vùi dập xuống tận bùn đen thì số phận dân tộc, đất nước này chắc chắn sẽ khác rất nhiều. Dù mãi về sau, “người ta” cũng âm thầm sửa sai, lặng lẽ phục hồi danh dự, ban phát đền bù cho người này người nọ nhưng đó cũng chẳng qua là động tác vớt vát cứu vãn uy thế của nhà cầm quyền chứ cũng chả phải phục thiện, ăn năn hối lỗi gì. Điều dễ nhận thấy nhất là cho đến bây giờ, chính quyền chưa hề chính thức lên tiếng xin lỗi về vụ Nhân văn – Giai phẩm, cũng như chưa hề có cuộc xin lỗi đầy đủ những nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất mà họ đã tiến hành.
Tôi được biết tới vụ Nhân văn – Giai phẩm khi đã hơn 10 tuổi, lúc miền Bắc bước vào cuộc chiến tranh chống lại máy bay Mỹ. Không biết ai đã cho thày tôi cuốn tạp chí (bị mất bìa nên tôi cũng không nhớ là tạp chí gì), số tổng kết cuộc đấu tranh chống lại “nhóm phá hoại Nhân văn – Giai phẩm”. Đọc những bài của Tố Hữu, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Công Hoan, Như Phong, Hà Xuân Trường… bốc lên mùi binh khí gươm đao, sắt máu, tanh tưởi, hận thù, giờ nhớ lại vẫn rùng mình.
Ngay lúc này đây, trên tay tôi là cuốn Phấn đấu vì một nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa (NXB Sự thật, 1982) của Tố Hữu, trùm văn nghệ cách mạng, một trong những trụ cột chính tạo ra vụ Nhân văn – Giai phẩm. Trong bài Qua cuộc đấu tranh chống nhóm phá hoại Nhân văn – Giai phẩm trên mặt trận văn nghệ, ông Lành (Tố Hữu) viết: “Lật bộ áo Nhân văn – Giai phẩm thối tha, người ta đã thấy cả một ổ phản động toàn những mật thám, gián điệp, lưu manh, trốt-kít, địa chủ, tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm” (trang 84, sách đã dẫn).

Còn ông Nguyễn Công Hoan chửi cụ Phan Khôi “Nhắn bảo Phan Khôi khốn kiếp ơi/Thọ mi mi chúc chớ phiền ai/Văn chương, đù mẹ thằng cha bạc/Tiết tháo, tiên sư cái mẽ ngoài/Lô gích, trước cam làm kiếp chó/Nhân văn, nay lại hít gì voi/Sống lâu thêm tuổi cho thêm nhục/Thêm nhục cơm trời chẳng biết toi” (bài này có trong cuốn tạp chí mất bìa, đọc xong mấy anh em tôi thích quá, thấy chửi đã quá, khổ, hồi ấy trẻ con nào có biết gì).
Nếu đúng như Tố Hữu và các đồng chí của ông kết án bọn “gián điệp, lưu manh, gái điếm” phong trào Nhân văn giai phẩm thì có lẽ nhà nước đã hoàn toàn sai lầm khi phục hồi cho họ hồi thập niên 90, thậm chí còn trao cả Giải thưởng Hồ Chí Minh hoặc Giải thưởng Nhà nước cho những “lưu manh, gái điếm” ấy.
Chuyện cũ như mới
Nhân nhắc lại vụ án văn nghệ kinh thiên động địa Nhân văn – Giai phẩm, tôi lục tìm đống sách nhà mình tòi ra mấy cuốn có giá trị tư liệu, giấy đã ố vàng theo thời gian, quý nhất là cuốn Phấn đấu vì một nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa nhắc ở bài 1. Quý ở chỗ muốn nói thì phải có sách, mách có chứng, kẻo ai đó lại bảo mình phịa, bịa đặt, xuyên tạc với ý đồ xấu.
Lẩn mẩn giở đọc mấy bài, cứ giật thon thót. Giời ạ, làm sao mà ngày xưa người ta lại có thể tung hô bốc lên tận may xanh cái giọng điệu đao phủ, côn đồ như vậy; coi nó như thánh chỉ. Thầy giáo Vy bạn tôi sinh thời bảo rằng không tung không hô cũng chẳng được, có khi còn bị để ý, mang vạ vào thân, nhẹ thì mất chức mất việc, nặng chỉ có nước đi tù.
Lạ ở chỗ, khá nhiều vụ án văn nghệ có dính dáng, liên quan tới ông Lành (Tố Hữu) nhưng về sau người ta cố gắng chiêu tuyết cho ổng, thậm chí bảo ông không có lỗi, không can dự gì vào những số phận bị vùi dập, chẳng hạn với Phùng Quán (cháu họ, gọi ông bằng cậu), Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu Đang (nhóm Nhân văn – Giai phẩm), Hoàng Cát (vụ Cây táo ông Lành), Phạm Tiến Duật (vụ Vòng trắng), Việt Phương (vụ Cửa mở)… Người ta biện hộ, nếu muốn quy trách nhiệm cho ông Tố Hữu thì phải có chứng cứ, văn bản, lệnh của ông. Có những bài bênh ông còn viết rằng ông rất quý Phùng Quán, ông tình cảm với Hoàng Cát, ông khen Việt Phương…, thế mà cứ đổ vấy cho ông, v.v.
Xin nhớ rằng, trong bộ máy cầm quyền, chả riêng trong lĩnh vực văn nghệ, lệnh miệng nhiều khi còn ghê hơn lệnh giấy. Không vừa ý cái gì, người ra lệnh chỉ nói vài ba câu, cấp dưới cứ thế mà quắn đít thực hiện. Cấm cãi. Chả đứa nào dám cãi. Ông Phạm Tuyên viết nhạc, công lao với cách mạng ít ai bằng, nhưng mấy lần xét giải thưởng Hồ Chí Minh đều trượt (mãi về sau, qua mấy lần xét nữa thì mới được vớt), nghe đồn do lệnh miệng, khẩu thiệt vô bằng. Xứ này, biết bao người, trong đó có văn nghệ sĩ, chết bởi những câu vu vơ kiểu vậy.
Cũng như sau này có vài người bênh ông Lê Đức Thọ, nói ổng nhân tình với các nạn nhân vụ Xét lại chống đảng lắm, đừng vu oan, nói quá cho ông ấy. Vâng, có nhân tình hay không, cứ hỏi con cháu cụ Vũ Đình Huỳnh (cụ thể là ông Vũ Thư Hiên, còn sống), nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Giang, nhà văn Bùi Ngọc Tấn, nhà báo Tuân Nguyễn… là rõ ngay. Họ là người trong cuộc, máu và nước mắt đọng đầy trên mặt, gạt đi cũng chả hết, vu cáo làm gì.
Thế hệ chúng tôi, chả mấy ai không biết những vụ án văn liên quan đến Hữu Loan, Quang Dũng. Hai ông nhà thơ này là cái gai trong mắt tuyên giáo. Nào có tội tình chi, chỉ đem cái tình cảm chân thật, riêng tư vào thơ. Ông Hữu Loan viết Màu tím hoa sim, ông Quang Dũng viết Tây tiến, nhiều người đọc khen hay, nhưng quan lãnh đạo tuyên huấn, văn nghệ thì bảo không hay, thậm chí độc hại. Theo họ, phải trừng trị. Đã không viết về thời đại anh hùng, cuộc sống anh hùng, con người anh hùng, khí thế cách mạng, đã không chịu ca ngợi đảng bác, mà lại còn ủy mị, sướt mướt, bi lụy, riêng tư, cá nhân, gây mất sức chiến đấu… thì cứ phải dẹp.
Phải ngon như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông… thì mới cho vào sách giáo khoa được. Sách giáo khoa môn văn, từ cấp 2 đến hết cấp 3, ngồi chễm trệ chiếu trên là thơ Tố Hữu, tất nhiên thơ văn cụ Hồ Chí Minh ở hàng đầu, sau đó là thơ văn của những ông ngoan.
Học sinh, sinh viên tha hồ học thơ, ngâm thơ, làm bài thi tốt nghiệp, thi học sinh giỏi về thơ Tố Hữu và thơ của những ông ngoan, còn “băng” Hữu Loan, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Phùng Quán… bị cấm tiệt, không cho bén mảng vào sách, nếu có nhắc tới thì cũng chỉ nhắc trong bài khái quát với lời chê bai, phê phán kịch liệt. Cho chừa cái thói không đi theo đường lối văn nghệ của đảng. Ông Hữu Loan phải bán xới khỏi Hà Nội bỏ về quê xứ Thanh làm ruộng, khai thác đá, ông Quang Dũng về xứ Đoài ẩn thân, tiệt đường văn chương, có viết cũng chả ai dám đăng, sợ bị liên lụy; ông Phùng Quán viết bất cứ bài nào đều phải nhờ người khác đứng tên, v.v.
Điều trớ trêu là, mãi về sau, khi cuộc sống biến thiên, bãi bể nương dâu, thơ các ông Hoàng Cầm, Hữu Loan, Quang Dũng lại ùa vào sách giáo khoa, còn thơ mấy ông Tố Hữu, Xuân Diệu… lui dần. Âu cũng là sự trả lại giá trị đích thực của văn chương.
Những gì đáng được tồn tại thì dù có bị vùi dập, khủng bố mấy đi chăng nữa cũng vẫn có ngày trở về vị trí tương xứng, còn mấy thứ văn nghệ chính trị áp đặt, một chiều đương nhiên sẽ lụi tàn.
Việt Phương và Hoàng Cát
Những năm 1971 – 1972, giao thời chiến tranh và hòa bình, bỗng dưng nổi lên mấy vụ án văn nghệ. Có lẽ thời điểm này người ta ngại sự chao đảo, ngả nghiêng về tư tưởng nên săm soi kỹ.
Ngoài vụ tập thơ Cửa mở của cụ Việt Phương vừa phát hành được thời gian ngắn thì bị thu hồi, báo Nhân Dân và tạp chí Học tập đánh cho tơi tả, thì làng văn dậy lên vài vụ khác. Cơ quan tuyên huấn ra sức mò mẫm các ngóc ngách, siết thật chặt, giương kính lúp lên soi từng chữ từng dòng. Họ mà phát hiện ra điều gì trái ý, lập tức thành án ngay.
Năm 1972, khi lứa chúng tôi vào đại học, thấy xôn xao vụ Việt Phương, tìm khắp nơi không đâu còn cuốn Cửa mở. Nhà xuất bản, nhà in, hệ thống hiệu sách nhân dân đều trong tay đảng, có mà tìm trên giời. Nghe thầy Hà Minh Đức kể đến cả ông Phạm Văn Đồng thấy họ đánh dữ quá cũng chả dám bênh vực đồng chí thư ký thân thiết của mình.
Cửa mở bị tội gì? Người ta kết “tội” nó “rằng hay thì thật là hay/nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào”, không thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối vào phe xã hội chủ nghĩa, vào đường lối chính sách của đảng và nhà nước, sa vào chủ nghĩa nhân đạo chung chung trìu tượng phi giai cấp, bị ảnh hưởng bởi trào lưu xét lại hiện đại, khi cuộc chiến tranh ác liệt “ai thắng ai” một mất một còn lại rơi vào yêu đương nam nữ, yếu đuối ủy mị không có lợi cho cuộc chiến đấu, nhìn cuộc sống còn rất mơ hồ, v.v.
Sách không bị cấm (không có lệnh cấm nào, cả lệnh giấy lẫn lệnh miệng) nhưng báo chí nhà nước phê phán quyết liệt, tổ chức cả những hội thảo góp ý, và lặng lẽ thu hồi, không cho tái bản. Nó chịu những dị nghị, xì xào, chê bai, nói xấu trong thời gian mấy năm đầu, sau đó thì chết lặng lẽ không kèn không trống, tưởng như bị chôn vùi vĩnh viễn trong đời sống xã hội cũng như văn nghệ.
Ngài đổng lý văn phòng Phủ Thủ tướng còn bị “thi hành án” như vậy, dạng tôm tép như Hoàng Cát, Ngô Văn Phú, Phạm Tiến Duật… đừng có cãi đảng mà thêm nặng tội.
Chỉ có điều, đã là ngọc thì vẫn sáng dù bị gây tì vết. Phải đến mấy chục năm sau, Cửa mở của Việt Phương lại được tái bản, những bài thơ ông viết về sau này lại được phép xuất bản. Những người tử tế vẫn yêu mến kính trọng Việt Phương, say mê Cửa mở, không thèm quan tâm tới những gì đã xảy ra với tác phẩm này.
Năm 1974, đám sinh viên Văn khoa Đại học Tổng hợp Hà Nội nghe xôn xao chuyện ông Tố Hữu giận lắm, có tay thương binh Hoàng Cát nào đó, được ông Xuân Diệu nhận làm em nuôi, viết truyện ngắn Cây táo ông Lành đăng trên báo Văn nghệ. Anh Bùi Trọng Cường học cùng lớp với tôi có quan hệ rộng lần ra được số báo ấy, cho tôi mượn xem. Tôi còn nhớ đó là một truyện thiếu nhi, in trên trang thiếu nhi nhân ngày 1.6, cũng ngắn thôi, dàn chữ từ trang trái sang trang phải, ở phía trên. Đọc thấy cũng bình thường, nhẹ nhàng, nhân văn, mang cái nhìn của một người yêu trẻ thơ.
Đùng một cái, chả biết lệnh miệng từ ông nào (thời ấy nhiều ông có quyền ra lệnh lắm, họ như tướng quân siêu hạng, như Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Tố Hữu, Hoàng Tùng…), thương binh cụt chân Hoàng Cát bị đánh tơi tả. Ghê nhất là tạp chí Học tập (sau này đổi thành tạp chí Cộng sản, ông Nguyễn Phú Trọng có thời là Tổng biên tập) nã đại bác vào thành trì thứ văn nghệ mà họ gọi là rác rưởi.
Trong bài phê phán Hoàng Cát và truyện Cây táo ông Lành, tạp chí Học tập dõng dạc: “Truyện ngắn về thiếu nhi đăng trên tuần báo Văn nghệ trong thời gian qua thuộc loại nấm độc nguy hiểm. Với lối viết kiểu “biểu tượng hai mặt” truyện này gieo rắc hoài nghi trong quần chúng đối với sự lãnh đạo của đảng ta, gieo rắc tư tưởng chống lại đường lối cách mạng chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa và nền chuyên chính vô sản của chúng ta.
Miêu tả cuộc sống heo hút tâm trạng u buồn của một ông già có người vợ chết vì bom, người con trai độc nhất “vào bộ đội đợt đầu tiên kể từ sau khi có lệnh hòa bình”, truyện này không những bộc lộ quan điểm sai lầm của chủ nghĩa nhân đạo tư sản trong vấn đề chiến tranh mà còn có tác dụng như một lời kêu gọi phản đối chiến tranh cách mạng có hại cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước của nhân dân ta.
Trong điều kiện chuyên chính vô sản, cuộc đấu tranh giữa hai con đường ở miền Bắc tiếp tục diễn ra gay go phức tạp, tác giả truyện ngắn đưa ra hình ảnh cái đầu lâu khủng khiếp và nói về việc “từ bỏ con đường này đi theo con đường khác” có dụng ý gì? Phải chăng đây là sự phản ứng giai cấp trước một số biện pháp như kiểm tra hành chính thu lại ruộng đất bị lấn chiếm, chống bọn ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và bọn làm ăn trái phép bọn đầu cơ móc ngoặc, v.v. mà nhà nước dân chủ nhân dân đã áp dụng để bảo đảm thắng lợi của chủ nghĩa xã hội trong việc giải quyết vấn đề “ai thắng ai” ở miền Bắc?
Cùng với lối viết bóng gió xuyên tạc “nhà mới mà đã dột vì chuột bọ” tác giả đe dọa “bỏ” con đường mà tác giả cho là “con đường tắt” để đi con đường khác! Đó là một sự thách thức chế độ ta. Chuyện đã không chân thật chủ đề lại lấp lửng chi tiết, lại đáng ngờ gieo rắc những quan điểm tư tưởng sai trái, đây rõ ràng là một truyện xấu và có hại” (tạp chí Học tập, số tháng 8. 1974).
“Tòa đại hình” của đảng đã kết án như thế, có mà chạy đằng trời. Hoàng Cát đành ngậm cười dù anh từng hiến dâng tuổi xuân và một phần (chân) cơ thể mình cho nó.