Ngu Yên

Không có cảm xúc thì không có thơ. Trong thi ca không có gì đắt giá hơn cảm xúc. Những thứ khác có thể làm nên bài thơ hay, bài thơ giá trị nhưng cảm xúc làm cho bài thơ sống. Vì vậy, xưa nay trong dòng văn học Việt chưa có ai dám xúc phạm đến cảm xúc, nhất là nhà thơ.
Nhưng rồi hôm đó, câu thơ hỗn đã đến.
“Hãy vứt cảm xúc vào thùng rác.”
Kinh ngạc không? Thẩm mỹ thơ bị xâm phạm nhưng sự xâm phạm lại là câu thơ tạo sức di chuyển cho những câu thơ trước và sau nó trở nên sống động, làm cho bài thơ bước ra khỏi trang sách. Câu này đến từ bài thơ Cố quận của nhà văn Lê Thị Huệ.
Thiết lập “chân trời kỳ vọng”
Đầu thập niên chín mươi, thơ hải ngoại Việt Nam phần lớn vẫn còn là thơ nối dài từ năm 1975, vẫn xoay quanh một trục sáng tác quen thuộc, với chủ đề và nội dung thương nhớ quê nhà, thân phận lưu vong, nỗi buồn viễn xứ. Nhà thơ tranh nhau kể lại bằng một giọng điệu tiếc nuối, nhìn về phía sau, thường lấy hình ảnh quê hương làm tâm điểm cho sản xuất nỗi niềm. Cố quận của Lê Thị Huệ, ngay từ cái tên, tưởng như sẽ đi đúng con đường đó, cố quận là một từ rất cổ điển, gợi ngay không khí hoài hương của thơ chữ Hán, của những bài từ biệt cố hương trong văn học truyền thống. Nhưng đọc hết bài này, người ta nhận ra cái tên đó gần như một mồi nhử để đưa người đọc lên vòng chân trời kỳ vọng (Erwartungshorizont) rồi đảo ngược lại. Đây là điều mà Hans Robert Jauss đã đưa vào lý thuyết để giải thích giá trị cách tân của thơ. Khi nhà thơ gợi lên đúng chân trời kỳ vọng của độc giả, họ chờ đợi: một khúc hoài hương, điệu buồn đã cũ, nỗi nhớ lặp lại, nhưng không phải như họ tưởng, là thứ gì khác, không gây thất vọng mà gây ngạc nhiên.
Gần như toàn bộ bài thơ diễn ra ngay giữa lòng một thành phố Mỹ, tôi đoán là San Francisco, với bánh mì Ý, bốt điện thoại công cộng, một quán cà phê tên Le Café, một vở kịch sân khấu Mỹ, một người bán dù da đen, một chuyến metro. Quê nhà đáng lẽ phải là trung tâm của một bài thơ mang tên Cố quận, chỉ xuất hiện đúng một lần, và không phải bằng một hình ảnh đẹp, mà bằng một mùi hôi bốc lên từ lòng sông Thị Nghè.
Điểm dừng đầu tiên: ngửi mùi uế
Chúng ta dừng lại ở đây, ngẫm nghĩ, vì nó là chìa khóa phảng phất toàn bộ bài thơ. Thơ hoài hương truyền thống, kể cả phần lớn thơ hải ngoại cùng thời, thường nhớ quê bằng những hình ảnh đã được lọc sạch, đã được làm đẹp qua khoảng cách, ánh trăng, bến nước, hàng cau, mùi hoa bưởi, mẹ già, cha tù ngục. Lê Thị Huệ chọn nhớ quê bằng đúng một mùi hương uế, tức là một mùi bẩn, mùi ô nhiễm, từ một con kênh có thật ở Sài Gòn, kênh nước đen, vốn nổi tiếng là dơ. Đây không phải một sơ suất thẩm mỹ, đây là một lựa chọn có chủ đích, và tạo ra hai việc cùng lúc. Thứ nhất, nó từ chối tham gia vào quy ước tẩy trắng ký ức di dân, quy ước vốn đòi hỏi quê hương phải luôn được nhớ như một nơi chốn thuần khiết đã mất, một thiên đường đã đóng cửa. Thứ hai, và ác liệt hơn, mùi uế ấy không hề bị trưng bày như một điều đáng ghê tởm, ngược lại, chính nó “trộm gợi lòng thèm muốn”, khiến người kể chuyện muốn cúi xuống hôn lên niềm bí mật của đời sống.
Nói cách khác, cái bẩn, cái ô uế, ở đây không đối lập với ham muốn, nó chính là cánh cửa dẫn vào ham muốn. Đây là một động thái rất gần với cách phê bình nữ quyền đọc về sự ô uế và thân thể, sự khước từ buộc phải giữ mình sạch sẽ, trang nhã, đúng chuẩn mực để được yêu, để được nhớ tới, một phụ nữ ở đây cho phép mình khao khát ngay giữa những gì bị coi là dơ bẩn, không cần thanh tẩy trước khi cảm xúc được phép xảy ra. Một bước vượt thoát ra khỏi những mô hình sẵn có, được tán thưởng.
Đứng gặm mẩu bánh mì Ý ở ngã tư đường
Đứng sắp hàng sau những cột điện thoại
Tôi nhủ lòng thôi viết những bài thơ
Thử vứt cảm xúc vào thùng rác
Ném vào những thùng phuy
Và cứ đi nhịp một hai ba bốn như mọi người
Dù chân xa ngàn vạn dặm về đến nơi này
Đã khập khiễng
Đứng bơ vơ trước một hiên nhà
Chung quanh có tiếng huýt sáo
Và một bầy đàn ông âu yếm ôm nhau hôn
Tôi nghĩ đến một điếu thuốc
Không bao giờ chính mình tự đốt lấy
Ảo giác đánh lừa ảo giác
Tôi no nê cánh gió của những thiên thần
Đáp xuống trần gian ngửi mùi tục lụy
Tôi đã nếm những giọt nước mắt
Người anh em bấu cào da thịt tôi
Bắt tôi hóa lỏng thành thể tích máu
Để chia đều chiếc nhau đớn đau một mẹ
Bây giờ đứng lừa đuổi chiều cố quận
Lòng rưng rưng ngó những đại lộ lên đèn
Nhớ một mùi hương uế
Bay lên từ lòng sông Thị Nghè
Đã trộm gợi lòng thèm muốn
Cúi xuống hôn lên niềm bí mật
Của đời sống
Điểm dừng thứ hai: vất rác
Trong tiểu luận Sáu bước dạo trong khu rừng hư cấu, Umberto Eco đã dựng ra một loại người đọc, “độc giả mẫu”, một loại độc giả lý tưởng có thể nắm bắt những gì tác giả sâu lắng gửi vào văn bản mà độc giả bình thường không dễ dàng cảm nhận. Vào thời điểm mới mẻ đó, người kể chuyện tự thách thức, THỬ vứt cảm xúc vào thùng rác, tự nhủ lòng thôi viết những bài thơ. Thơ đang cố tự sát. Thi sĩ tự sát thì có nhưng chưa thấy thơ tự sát, là một cách cố phủ nhận hành vi làm thơ. Hầu như tôi chưa gặp hình ảnh diễn đạt mạnh vững như vậy.
Tự sát để nhà thơ có thể bình thường bước đi một hai ba bốn như mọi người, trở thành một cái máy. Đi một hai ba bốn là đi đồng phục như đoàn lính diễn tập.
Tứ thơ này đưa ra một quá khứ bị dằn vặt, cọ xát với đời sống, phiền muộn với nó mà nguyên nhân có thể là vì thơ. Sâu hơn là vì tính nghệ thuật, tâm tình nghệ sĩ. Giờ đây, nhìn về tương lai, muốn hòa tan hoàn toàn vào nhịp điệu cơ giới của đời sống đô thị Mỹ, không còn cảm xúc dư thừa, không còn thi ca dư thừa. Nhìn bằng tâm lý học, đây là một khát vọng đồng hóa rất cụ thể của người di dân, muốn được là một phần vô danh của đám đông, không còn bị đóng khung trong bản sắc kẻ lưu vong nhạy cảm, đa sầu đa thương.
Nhưng ngay sau câu ấy, bài thơ tự phản bội chính khát vọng đó bằng câu, dù chân xa vạn ngàn dặm về đến nơi này đã khập khiễng. Đôi chân, sau một hành trình di tản dài, không thể bước đều nhịp nhàng như người bản xứ, khập khiễng mang một vết thương vĩnh viễn của sự di chuyển bất ngờ không hài lòng. Cái cảm xúc mà Lê Thị Huệ muốn vất vào thùng phuy bên đường, độc giả mẫu chờ để lượm lên.
Đi khập khiễng: không chỉ là hình ảnh tổn thương, nó còn lan sang chính cách hành văn của toàn bài. Câu chữ ở đây liên tục có những cách dùng hơi lệch chuẩn ngữ pháp thông thường, lừa đuổi chiều cố quận, khua động môi cười đáp trả thanh xuân, hóa lỏng thành thể tích máu, những cụm từ này cưỡng bức ngôn ngữ đi theo một nhịp gập ghềnh, từ chối sự trơn tru mượt mà vốn là chuẩn mực của thơ trữ tình Việt nối dài. Nói cách khác, bài thơ không chỉ kể về một đôi chân khập khiễng, chính câu chữ của nó cũng khập khiễng theo, hình thức đang diễn lại đúng nội dung nó chuyên chở, một điều mà tôi nghĩ chúng ta nên quan tâm. Một trong vài phép cân đo giá trị thơ nằm vào nơi hình thức diễn nội dung và nội dung trở thành hình thức, tạo ra sứcc sống như một hình hài, khối duy nhất: thân xác và linh hồn.
Sự thất bại của khát vọng tự xóa cảm xúc ấy còn lộ ra ở một chi tiết nhỏ khác, đứng bơ vơ trước một hiên nhà, nghe tiếng huýt sáo, nhìn một bầy đàn ông âu yếm ôm nhau hôn, người kể chuyện nghĩ đến một điếu thuốc không bao giờ chính mình tự đốt lấy. Đây là một hình ảnh về ham muốn bị treo lại, quan sát mà không tham dự, một điếu thuốc tồn tại trong ý nghĩ nhưng không bao giờ được châm lửa. Người phụ nữ đứng giữa một khung cảnh thân mật của người khác, một cặp đôi nam giới đang hôn nhau công khai giữa phố, một hình ảnh khá táo bạo với một bài thơ viết đầu thập niên chín mươi, và bản thân cô chỉ có thể tưởng tượng ra một cử chỉ gần gũi cho riêng mình mà không bao giờ thực hiện được nó. Đọc theo hướng tâm lý học ham muốn, đây là một kiểu ham muốn bị khúc xạ, không trực tiếp, phải đi vòng qua hình ảnh của người khác trước khi quay về chính mình, đây cũng chính là cấu trúc cảm xúc bao trùm toàn bài, mọi ham muốn ở đây đều phải đi qua một vật trung gian, một mùi hương, một sân khấu kịch, một bờ vai người lạ, trước khi được phép chạm tới người kể chuyện.
Nắm tay cùng thanh xuân
Đi qua phố hoa đèn
Nhớ ngập lòng thanh xuân quá vãng
Ôm sợi tóc đã sướt thời gian
Ôi đường đêm diệu vợi
Hầm cà phê Le Café
Ngụm rượu ngậm chút tình
Bốc men từ một bờ vai ấm
Không lời
Tôi thả thời gian lùa mái tóc theo gió
Bay theo đêm tối ngập ngừng
Tôi vớt vội nụ tình muộn dễ thương
Chân thật nở quỳnh hương đêm
Bất ngờ giữa dòng thời gian vội vã
Có nỗi phấn đấu run rẩy của người đàn bà lỡ thì
Cố cầm cự những nắm tay rên xiết
Trên sân khấu A Streetcar Named Desire
Mun xanh man mác mờ ảo
Khi ngựa xe về ngang qua đường tình cũ
Tôi khua động môi cười đáp trả thanh xuân
Giữa phố đông người lúc hai giờ sáng
Điểm dừng thứ ba: lỡ thì trên sân khấu
Nỗi phấn đấu run rẩy của người đàn bà lỡ thì, một tứ thơ mang nặng áp lực văn hóa xã hội người Việt. Lỡ thì thường dành cho phụ nữ quá tuổi lập gia đình theo chuẩn mực truyền thống, một từ thường được dùng với hàm ý thương hại hoặc chế giễu. Điều đáng nói là Lê Thị Huệ không né tránh từ này, không tìm một cách nói giảm nhẹ khác, bà xác nhận, rồi đặt ngay bên cạnh cụm chữ phấn đấu và run rẩy, biến một nhãn hiệu vốn mang tính miệt thị thành một trạng thái đấu tranh nội tâm có thật, đầy sinh lực dù mong manh. Đây là một thao tác nữ quyền tinh xảo, không cố xóa bỏ hay phủ nhận cái nhãn hiệu xã hội gán cho phụ nữ lớn tuổi chưa hoặc không còn ràng buộc hôn nhân, mà nhận lấy nó, mặc nó vào, rồi cho thấy bên trong cái nhãn hiệu ấy vẫn còn nguyên một đời sống ham muốn đang run lên vì sức sống, không hề khô cạn như định kiến xã hội vẫn ngầm giả định: CƯỜI đáp trả thanh xuân.
Những tứ thơ liên hệ với lỡ thì là những chi tiết liên văn bản đáng được chú ý: cố cầm cự những nắm tay rên xiết; trên sân khấu A Streetcar Named Desire. Đây là vở kịch nổi tiếng của Tennessee Williams, xoay quanh nhân vật Blanche DuBois, một người đàn bà nhan sắc đang tàn phai, sống bằng ảo tưởng, bị xã hội xung quanh, đặc biệt là người đàn ông trong nhà, dồn đến chỗ sụp đổ tinh thần. Người kể chuyện tự nhận là đàn bà lỡ thì lại tự soi mình vào đúng hình ảnh Blanche DuBois, thay vì bất cứ một hình mẫu nào trong văn học Việt Nam, là một cử chỉ rất đáng xem xét về mặt liên văn hóa.
Nó cho thấy đời sống cảm xúc của người kể chuyện, đến thời điểm này, đã được cấu thành không chỉ bằng ký ức Việt Nam mà còn bằng chính kho tàng văn hóa Mỹ. Bà đang sống cùng, sân khấu kịch Mỹ trở thành tấm gương phản chiếu tự nhiên nhất cho tâm trạng của một người đàn bà Việt xa xứ, không cần phải mượn một điển tích Việt Nam nào để gọi tên nỗi niềm của mình. Đây cũng là một sự lựa chọn khá liều lĩnh, vì Blanche DuBois trong vở kịch cuối cùng bị đẩy đến chỗ điên loạn và bị đưa đi, một số phận bi thảm dành cho người đàn bà dám giữ ham muốn và ảo tưởng ở tuổi xế chiều. Gọi tên hình ảnh đó cho chính mình, người kể chuyện dường như biết rõ cái giá mà xã hội, bất cứ xã hội nào, vẫn thường bắt những người đàn bà dám ham muốn quá tuổi phải trả, nhưng bà vẫn chọn đứng vào đúng vị trí đó, cầm cự, chứ không rút lui. Độc giả mẫu cảm nhận ra tâm sự này.
Điểm dừng thứ tư: cái tôi không nói bằng ký ức Việt
Đặt bài thơ này vào đúng bối cảnh lịch sử sẽ thấy một điều quan trọng. Lê Thị Huệ sinh năm 1953, đến Mỹ tị nạn năm 1975, tức là bà rời Việt Nam khi mới hai mươi hai tuổi. Khác với phần lớn các cây bút hải ngoại thế hệ trước, những người đã hoàn thiện sự nghiệp, gia đình, bản sắc trưởng thành ngay tại Việt Nam trước khi buộc phải rời đi, và vì vậy thường viết về nước Mỹ như một nơi chốn tạm bợ, một khoảng trống cần lấp đầy bằng ký ức cũ, Lê Thị Huệ thuộc về một thế hệ khác, thế hệ đã thực sự trưởng thành, hình thành đời sống trí thức, tình cảm, nhục cảm của một người phụ nữ ngay trên đất Mỹ. Đây chính là lý do vì sao bài thơ của bà đầy ắp chi tiết cụ thể của đời sống mới, không phải như những vật trang trí ngoại lai, mà như chính chất liệu đã tạo nên con người bà, một quán cà phê có tên riêng, một người bán dù da đen với cử chỉ ân cần rất cụ thể, một buổi diễn kịch, một chuyến metro. Có một luận án tiến sĩ tại Berkeley từng gọi lối viết của bà là viết giữa cảnh lưu vong vô gia cư và một dạng du mục có định vị, một cách gọi tôi nghĩ khá chính xác, nhưng tôi muốn đẩy xa hơn một chút, tôi nghĩ bài thơ này không chỉ là du mục có định vị, nó là bằng chứng cho một thế hệ nhà văn nữ di dân đầu tiên dám thừa nhận nước Mỹ không còn là nơi lưu đày tạm bợ nữa, nó đã trở thành chính cơ thể sống của họ, đến mức khi ham muốn cần một hình ảnh để minh định, họ tìm đến sân khấu kịch Mỹ nhanh hơn cả tìm về một điển tích Việt Nam.
Chính vì lẽ đó, khoảnh khắc thực sự chạm tới quê hương, mùi hương uế từ sông Thị Nghè, trở nên quý giá và bất thường hơn hẳn so với một bài thơ hoài hương thông thường, nơi ký ức quê nhà là dòng chảy chính, liên tục, tràn ngập từ đầu đến cuối. Ở đây, ký ức quê nhà chỉ xuất hiện như một hương sét bất chợt, chen giữa hàng loạt chi tiết Mỹ, đúng như cách ký ức thực sự vận hành trong đầu một người đang sống ở nơi khác sau hai mươi năm ở quê nhà. Không phải một dòng chảy nhớ thương liên tục, mà một cú va chạm đột ngột, hiếm hoi, giữa vô số những cảm giác khác của đời sống hiện tại.
Người bán hàng da đen mặc cả chiếc ô dù
Rồi dịu dàng che cho tôi nửa đoạn băng qua đường
Khi trời thổi nước bay ngang thành phố
Tôi đứng ngó những sợi mưa che thưa bóng người
Tự hỏi điều gì đã lôi kéo đôi chân trở lại
Nhìn những lòng phố trĩu nặng hơi người
Nghe phèng la từ những hầm metro quỷ ma ới gọi
Có kiếm tìm được chút trối trăng nào từ
Đời sống trần truồng
Vốc lên từ thành phố
Phả vào mặt tôi
Cả niềm hoan lạc lẫn đau đớn
Điểm dừng sau cùng: trên ngưỡng cửa
Đoạn cuối bài thơ đáng được từ tốn cân nhắc. Có kiếm tìm được chút trối trăng nào từ đời sống trần truồng, vốc lên từ thành phố, phả vào mặt tôi, cả niềm hoan lạc lẫn đau đớn. Đây là một cách kết thúc từ chối dứt khoát việc phân định rạch ròi khổ đau và sung sướng, hai trạng thái vốn thường được văn học truyền thống, đặc biệt văn học viết về thân phận người đàn bà, tách bạch thành hai cực đối lập, người đàn bà chịu khổ ở một phía, người đàn bà được hưởng hạnh phúc ở phía kia. Lê Thị Huệ đóng bài thơ lại bằng việc để cả hai xảy ra cùng lúc, cùng một hơi thở của thành phố phả thẳng vào mặt, không thể tách rời niềm sướng khỏi nỗi đau, đúng như chính cấu trúc toàn bài, nơi mùi ô uế mang theo ham muốn, nơi đôi chân khập khiễng vẫn tiếp tục bước đi, nơi thân phận đàn bà lỡ thì vẫn còn nguyên sức run rẩy của khát khao.
Nếu phải tóm gọn điều làm nên sự khác biệt thực sự của Cố quận so với cả một dòng thơ hoài hương cùng thời, tôi nghĩ chính là ở đây, bài thơ từ chối cho người đọc một cảm xúc thuần khiết, nó buộc người đọc phải sống trong đúng trạng thái lưỡng phân mà người viết đang sống, vừa muốn quên vừa không quên nổi, vừa muốn sạch sẽ vừa bị mùi ô uế quyến rũ, vừa già vừa còn nguyên ham muốn của tuổi trẻ, vừa ở Mỹ vừa vẫn còn một mảnh Sài Gòn bốc lên từ đúng chỗ dơ bẩn nhất.
Cái tên Cố quận, đến cuối cùng, hóa ra không phải để chỉ một nơi chốn đã mất, mà để chỉ đúng cái trạng thái không thể nào chọn hẳn một bên, giữa cũ và mới, giữa sạch và bẩn, giữa đau và sướng, và có lẽ đó mới là cố quận thật sự của một người viết như Lê Thị Huệ, không phải một mảnh đất, mà là chính cái ngưỡng cửa lưỡng lự.
Qua phép nhìn An vị (Intellectual Reader Theory), Cố quận, về hướng quá khứ, là bài thơ mở ra một hướng khác cho thơ hải ngoại, một bắt đầu lẻ loi. Về hướng tương lai, Cố quận tạo ra những bài thơ nối tiếp của nhiều nhà thơ có cùng tầm nhìn. Khi dòng thơ thương nhớ quê nhà, thân phận lưu vong, nhẹ dần theo thời gian, dòng thơ mới lộ diện mạnh mẽ, có nguồn đóng góp của mùi hương uế, của người đàn bà lỡ thì, của thách thức vất rác cảm xúc.
(Trích: Lý thuyết văn học Tây phương và thực hành phê bình, cuốn 2.)