Sau nửa đời, đọc lại Nẻo về của ý

Tino Cao

Ngày mới vào đời, tôi đọc No v ca ý như một ước vọng. Gần nửa đời sau, đọc lại, tôi nhận ra trong đó một lời từ biệt. Trang cuối ghi Sài Gòn, ngày 11 tháng Năm năm 1966. Thầy Nhất Hạnh viết rằng chiều hôm sau ông phải đi xa; lòng hơi xao xuyến, ông vẫn tự trấn an. “Tôi đi rồi tôi lại về thì có sao đâu.” Ông tưởng đó chỉ là một chuyến đi xa. Người đọc hôm nay biết chuyến đi vận động cho hòa bình ấy khởi đầu cho một cuộc lưu vong kéo dài gần bốn mươi năm. Biết trước phần lịch sử ấy, ta bỗng thấy rừng Phương Bối, hạt dưa ngày Tết, mùi hoa bưởi trong thư viện và những lá thư gửi bạn đều bàng bạc cảm thức của những gì sắp mất mà người trong cuộc có thể chưa từng nghĩ đến. Lần đọc trước, tôi đi tìm một cuốn sách thiền và bị quyến rũ bởi văn chương. Lần đọc lại này, tôi gặp một người trẻ đang tự dựng lấy con đường của mình giữa quá nhiều đổ vỡ. Nhất Hạnh trong sách ở tuổi ba mươi mấy, trước khi thế giới biết đến ông như một bậc thầy an nhiên. Ông đau ốm, cô đơn, tranh luận với xã hội, với giới lãnh đạo Phật giáo và với chính cái tôi do xã hội tạo ra trong mình. Ông nấu ăn cho Steve, cắn hạt dưa một mình giữa mùa đông nước Mĩ, mơ những giấc mơ kinh hoàng về quê nhà và lo mái Phương Bối có trụ nổi qua mưa gió. Tôi gặp tư tưởng của Nhất Hạnh khi tư tưởng ấy còn mang mùi đất, mồ hôi và nỗi sợ. Cách trò chuyện trong sách cũng lạ. Từ Pomona, Princeton hay New York, ông viết cho Nguyên Hưng ở Việt Nam và cứ theo dòng nhớ mà quay lại Phương Bối. Khi về nước, ông lại viết cho Steve bên Mĩ, kể chuyện làng quê và chiến tranh. Nguyên Hưng giữ một đầu của quê nhà; Steve giữ một đầu của thế giới bên ngoài. Người viết đứng bên nào cũng hướng lời về một người vắng mặt. Hai tiếng gọi “Nguyên Hưng ơi”, “Steve ơi” khiến suy tưởng mang hình thức của tình bạn. Chân lí ở đây được nói với một người cụ thể, trong sự tin cậy của tình bạn. Phương Bối đẹp, song vẻ đẹp ấy sinh ra từ thất bại. Tờ Phật Giáo Việt Nam bị đình bản; ý hướng xây dựng một nền Phật giáo nhân bản, dân tộc và thống nhất gặp sức cản ngay trong nội bộ Phật giáo; những tăng sĩ trẻ quanh ông thiếu tiền, thiếu chỗ đứng, lại đau đớn trước tình trạng đất nước. Họ lên rừng Đại Lão mua đất, dựng nhà, khai lối, trồng trà, khiêng hàng vạn cuốn sách qua đường núi lầy lội. Họ ngồi thiền, đọc, viết, bình văn, nấu bánh chưng và thử sống với nhau theo một cách khác. Phương Bối là chỗ dưỡng sức, học tập và sửa soạn cho những người muốn đi vào đời. Nhìn từ hôm nay, dễ nhận ra trong đó dáng dấp đầu tiên của Làng Mai. Trong trang sách, Phương Bối vẫn rất mong manh, được vài người trẻ giữ ấm bằng lao động, tình bạn và một niềm tin. Cụm chữ làm nên tựa đề No v ca ý xuất hiện trong đoạn Nhất Hạnh bàn về cách theo dõi đường đi của tâm ý qua từng động tác hằng ngày. Tâm chuyền từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác nhanh như vượn chuyền cành; người tu học lần theo dấu chân ấy qua việc nấu cơm, rửa bát, quét sân, nhặt củi. Chữ v bàng bạc khắp cuốn sách và mang nỗi niềm xa cách. Tâm ý người viết đi từ tuyết Princeton về rừng Đại Lão, từ trái blueberry về trái sim, từ Giáng Sinh về giao thừa, từ một mùi hương trong thư viện về cả mùa hoa bưởi quê nhà. Kí ức trong cuốn sách có da thịt, hương vị, thời tiết. Quê hương trong cuốn sách được viết bằng một thứ ngữ pháp của giác quan. Người sống xa xứ hiểu điều này. Đất nước nhiều khi trở lại trong một mùi thức ăn trước khi được hình dung bằng tư tưởng. Song nẻo về ấy chẳng thể đưa con người trốn vào hoài niệm. Những bài tập nấu cơm, quét sân, gánh nước được Nhất Hạnh xem như công phu chuẩn bị cho người muốn xuống núi. Ông chế giễu các “dũng sĩ” thiếu bản lĩnh, phải vay tiền bạc, danh vọng và thế lực làm khí giới; ông cũng nhận ra sự bận rộn có thể che giấu khoảng trống trong lòng. Lời phê bình ấy hướng vào cả thế hệ của ông và hướng vào ngay cả chính ông. Người sốt ruột cứu đời rất dễ mang nguyên sự hỗn loạn của mình vào công cuộc cứu đời; lí tưởng tốt đẹp vẫn có thể sinh ra độc đoán, háo thắng và cay nghiệt. Quay về với ý, theo mạch suy tưởng này, là sửa soạn cho hành động. Con người tập giữ tự do nội tâm trước thành bại, tiếng khen, nỗi nhục và lòng hiếu thắng. Các chương viết từ Việt Nam cho thấy công phu ấy được kiểm nghiệm qua hành động. Nhất Hạnh kể với Steve về làng tự nguyện, lớp học, trạm y tế và sự ngờ vực của nông dân sau quá nhiều lời hứa cùng những dự án áp đặt từ trên xuống. Ông tả gánh hủ tiếu của bà Tư kĩ đến từng miếng thịt nhỏ trong chiếc vá. Chuyện tưởng chỉ để kể chơi ấy chứa cả một quan niệm về dấn thân, theo nghĩa engagement mà ông từng bàn trong Đạo Pht đi vào cuc đời. Muốn giúp một cộng đồng, người ta phải sống đủ gần để biết dân chúng quý điều gì, e ngại điều gì, tin ai và vì sao họ không còn tin. Dân làng góp công dựng trường, tổ chức sinh hoạt và tự quyết định việc cần làm. Một đạo Phật dấn thân bắt đầu từ sự hiểu biết vi tế ấy. Tinh thần Tiếp Hiện cũng được thực hành theo cách đó, tiếp xúc trực tiếp với thực tại và đem sự tu học vào từng việc trước mắt. Đại ngôn cứu thế thì giúp được gì nếu chưa hiểu nổi một bát hủ tiếu giá một đồng? Đoạn khép, viết ngay trước ngày lên đường, đưa cuốn sách đến câu hỏi khó nhất hồi ấy. Giữa một đất nước bị xé nát bởi chiến tranh, Nhất Hạnh nói về đại bi, về cái nhìn thoát khỏi các cặp đối nghịch, tả và hữu, bạn và thù, thân và sơ. Ở Sài Gòn năm 1966, khi chính ông nghĩ tới khả năng bị giết bởi sự độc ác của con người, đại bi mang ý nghĩa của niềm tin vào lương tri. Đại bi vẫn cho phép chỉ ra đâu là điều ác và làm sao chống lại cái ác; tình thương ngăn ta đồng nhất trọn vẹn một con người với hành vi của họ. Giữa cuộc chiến mà phe nào cũng muốn độc quyền lẽ phải, giữ được cái nhìn ấy vừa là công phu tâm linh vừa là khí phách chính trị. Thắng một cuộc tranh luận khá dễ. Nói như Kundera, mọi cuộc phản kháng đều mang theo một cám dỗ kín đáo, nó biến ta thành bản sao của chính điều ta muốn phủ nhận. Ngày trẻ, tôi tưởng Phương Bối là chỗ tìm đến sau khi mệt mỏi với cuộc đời. Bây giờ tôi hiểu Phương Bối còn là chỗ sửa soạn cho một lần xuống núi. No v cũng vậy. Con người trở về để nhìn rõ sợ hãi, kiêu hãnh và oán giận trong mình, rồi đi tiếp về phía tha nhân. Phần đường còn lại, như lời Nhất Hạnh dặn Nguyên Hưng, mỗi người phải tự lo liệu lấy. Rốt cuộc, No v ca ý vẫn chỉ là nẻo về với cuộc đời, nhỉ!

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.