Trần Ngọc Trác
Hoạ sĩ Nguyễn Thái Tuấn sinh năm 1965 tại Quảng Trị, định cư ở Đà Lạt, từng công tác tại Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh Lâm Đồng, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Lâm Đồng, hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam, nhưng đã sớm quyết tâm rời đi để dành thời gian tâm huyết cho sáng tạo nghệ thuật.
Một người rất chịu khó đọc sách, dịch sách, lặng lẽ làm việc. Ít bạn, nhưng tình bạn rất sâu sắc.
Trong suốt một thời gian khá dài từ năm 1987 đến 2007, Nguyễn Thái Tuấn là cộng tác viên thường xuyên của tôi trong chuyên mục văn nghệ hàng tuần trên sóng phát thanh truyền hình của Đài Phát thanh Truyền hình Lâm Đồng. Đó là những ngày chưa có máy tính, Tuấn viết tay gửi bài cho tôi. Chữ viết của Tuấn rất đẹp. Những bài viết, bản dịch của Tuấn gắn liền với Mỹ thuật trong nước và nước ngoài.
Nghị lực vượt qua tất cả
Ít ai biết rằng, họa sĩ Nguyễn Thái Tuấn đã trải qua những dông gió của cuộc đời như thế nào. Một phần anh là người ít nói, ít thổ lộ bày tỏ với ai. Một phần anh không muốn cho người đời, bạn bè thương hại. Anh lặng lẽ vẽ, lặng lẽ dịch sách, lặng lẽ với phông toan để trải lòng mình, để bày tỏ quan điểm của mình qua tác phẩm. Anh không thích hội hè đình đám đông vui. Chỉ một mực đóng gian phòng lại và viết, và dịch sách, và vẽ.
Tuấn tốt nghiệp trường Mỹ thuật ở Huế. Ra trường, năm 1987, Nguyễn Thái Tuấn vào Đà Lạt nhận việc ở Trung tâm Văn hóa Thông tin của tỉnh, do anh Nguyễn Vũ Hoàng làm giám đốc. Công việc thường làm là vẽ pano, áp phích tuyên truyền… nhưng đó không phải là công việc Tuấn yêu thích.
Yêu một cô bạn cùng trường với một tình yêu bền vững. Hai người đến với nhau bằng một tình yêu thuần khiết, bằng một trái tim rung động thật sự và bằng cả tấm lòng trân trọng, yêu kính nhau. Không chỉ là tình yêu đôi lứa, tình yêu lãng mạn, tình yêu vợ chồng, nhưng lớn hơn hết, đó là tình yêu nghệ thuật – mà họ gắn kết với nhau cho đến phút cuối cùng của cuộc đời, của định mệnh. Năm 1990, Nguyễn Thái Tuấn nên duyên cùng Nguyễn Thị Tuyết Nga, dắt díu nhau lên Đà Lạt. Đà Lạt từng là nơi quyến rũ Tuấn, khi Tuấn còn ở quê nhà; khi mà cuốn sách Ý thức mới trong văn nghệ của Phạm Công Thiện rơi vào tay Tuấn. Tuấn mê mẩn, say đắm, cuồng yêu với Đà Lạt. Từng đã lên đây làm đủ thứ để mong tồn tại, nhưng Đà Lạt là nơi không dễ dàng ai đến lập nghiệp mưu sinh.
Nguyễn Thị Tuyết Nga – người tình, người vợ thủy chung – đã cùng họa sĩ Nguyễn Thái Tuấn vượt qua rất nhiều nghịch cảnh của cuộc sống để tồn tại. Lấy nhau ở quê nhà, lên Đà Lạt không có một đồng xu dính túi.
Căn phòng rất nhỏ như chái bếp, cơ quan dành cho đôi vợ chồng trẻ, sát bên nhà vệ sinh công cộng. Tường loang lổ nắng xuyên qua, được lấp đầy bằng những tờ báo cũ. Bằng những tấm ván thừa thãi người ta bỏ đi, vợ Tuấn đi nhặt nhạnh mang về đóng tạm một chiếc tủ đựng áo quần. Thật ra áo quần cũng không có nhiều; chủ yếu là sách vở. Ở khu tập thể, sáng sớm 5 giờ người ta đã ngắt nguồn điện. Muốn vẽ chỉ còn cách mở toang cửa sổ. Muốn nấu ăn phải chờ đến 17 giờ mới mong đỏ lửa. Nhưng cơ quan quy định không được nấu nướng, sợ tốn điện. Khó khăn bộn bề, phải nghĩ cách thôi. Có khi cũng phải “trộm” tý điện nấu ăn. Trung tâm Văn hóa tỉnh lập một cái “Ban”… nhà Tuấn được nhắm đến. Vậy là bị bắt quả tang. Hôm ấy, thay vì 17 giờ chiều khu tập thể mới có điện, nhưng 16 giờ 30 bóng đèn nhà đã lóe lên, mừng quá, cắm hai sợi dây diện bếp có lò xo, bắc chiếc nồi chỉ được 15 phút thì có tiếng gõ cửa. Vợ Tuấn vội rút hai sợi dây điện ra. Tuấn thì đang ngồi vẽ, mặc chiếc áo mai ô hàng chục lỗ chấm phá như nốt ruồi to. “Ban” vào nhà, đề nghị cho mượn cái bếp bằng lò xo mang đi. Bếp lò xo đang nóng. Tang vật sờ sờ chạy đâu cho thoát. Hai vợ chồng chỉ biết nhìn nhau; chuyến này xem như cơ quan đuổi vợ chồng ra khỏi nhà tập thể là cái chắc. Đêm nằm ôm nhau ngủ mà nước mắt thấm vào trong. Ngày mai về đâu, đi đâu giữa một thành phố nhiều hoa mà không người thân thích.
Chiều tối hôm sau, vợ chồng giám đốc sang nhà mời đi xem phim ở rạp. Thế rồi, mọi chuyện liên quan chiếc bếp lò xo cũng qua đi. Nhưng khó khăn vẫn đeo bám vợ chồng trẻ không dứt.
Một bận, Cơ quan yêu cầu Tuấn – một họa sĩ – phải ra khu Hòa Bình – trung tâm thành phố Đà Lạt – ngồi bán vé xem phim, như cán bộ viên chức khác ăn lương Nhà nước. Tuấn suy nghĩ nhiều; nhưng vợ Tuấn kiên quyết “giành” việc này cho mình. Vợ Tuấn bảo:
– Anh là họa sĩ, nhiều người biết. Em là kẻ “vô danh tiểu tốt” để em làm.
Vậy là vợ Tuấn mang theo một xấp vé, thay chồng ra ngồi bán vé. Cuối buổi, Tuấn ra với vợ, kiểm vé rồi giao tiền, giao cùi vé trả lại cho cơ quan. Vợ Tuấn nghĩ, nếu không làm, thì người ta có cớ đuổi mình đi, thì nhà không có mà ở; việc không có mà làm.
Với đồng lương èo ọp của viên chức Nhà nước; khó khăn vô cùng tận, nhưng Tuấn vẫn không muốn cho vợ đi làm. Tuấn thường bảo với vợ: Để anh nuôi em.
Không ai có thể tưởng tượng được, một thời gian gần nửa năm, Tuyết Nga – vợ anh – hằng ngày lên Thư viện tỉnh để đọc sách, trang bị kiến thức cho mình và làm một điều gì đó cho chồng. Lân la, tìm hiểu để kiếm việc làm là chủ đích mà vợ Tuấn hướng tới.
Trở về với căn phòng chật hẹp ở khu tập thể, vợ Tuấn suy nghĩ nhiều. Đúng lúc, Trường tiểu học Nam Thiên đang sửa chữa; các em học sinh phải sang học ở trung tâm. Vậy là vợ Tuấn mở quán nhỏ bán bánh kẹo, làm thêm xi–rô, mứt me, mứt cà rốt… Nhờ vậy mà vợ chồng Tuấn có thêm thu nhập, có tiền để mua sơn dầu cho Tuấn vẽ tranh. Tuấn biết chuyện, không muốn vợ làm việc và “dọa” sẽ vất hết đồ đạc buôn bán ra khỏi nhà.
Cũng dạo ấy, các anh lái xe của trường lái cũng về đây tạm trú. Chiều về các anh lên lửa bằng một chiếc nồi to, bằng những khúc gỗ lớn. Nấu nướng xong, các anh bỏ lại bếp và củi đang còn đỏ. Vợ Tuấn lại đem theo thau nhôm gom lại các cục than đang cháy dở mang về “nhốt” lại. Nhờ vậy, mà trong một thời gian dài, nhà có thêm cái đun không phải mua. Việc làm lặng lẽ của vợ, Tuấn không hề hay biết. Chàng họa sĩ chỉ đam mê vẽ và vẽ. Rồi một hôm, Tuấn nhận ra mùi khói từ áo vợ. Nghe vợ kể, Tuấn không cho vợ đi nhặt than. Nhưng với phụ nữ, việc lo toan cho gia đình thì khó ai ngăn cản nổi.
Vào mùa xuân năm 1994, một ký giả ngoại quốc tên Julia Wilkinson và một phóng viên nhiếp ảnh Richard Dobson đến Đà Lạt ghé thăm ngôi trường cũ được Pháp xây dựng trước năm 1950 – lúc này là Trung tâm Văn hóa Thông tin của tỉnh Lâm Đồng (nay là Trường Cao đẳng nghề Đà Lạt). Họ đi qua các ngôi nhà, các căn phòng, xuống tận nhà vệ sinh, và thấy căn phòng của vợ chồng Tuấn. Nhìn vào trong nhà thấy có treo tranh, ở đó có nhiều tranh khắc gỗ đang xếp ngổn ngang. Họ chụp ảnh, lấy thông tin, rồi về.
Bẳng đi một thời gian ngắn, thấy bài và hình ảnh họ viết về Tuấn đăng trên các báo và tạp chí nước ngoài. Đặc biệt là trên tập san của AIR THAI. Từ đó, bắt đầu có du khách nước ngoài đến hỏi mua tranh của Nguyễn Thái Tuấn.
Một bận, vợ chồng Tuấn lên gặp lãnh đạo Nhà khách Dinh 2 xin gửi tranh ký gửi. Nhà khách đồng ý. Và một ngày, Tuấn mang về 150 đô lô Mỹ (USD) trêu vợ. Vợ đi làm về, Tuấn “khoe”. Vợ Tuấn nghĩ, chắc ông chú ở Mỹ gửi về cho. Nhưng lại nghĩ, chú cho thì thường 50 đô la, nay cả 150 đô thì hơi lạ. Cuối cùng Tuấn cũng cho hay là bán được ba bức tranh ở Dinh 2. Vậy là mấy hôm liền, Tuấn mời anh em bạn bè nhậu ở nhà cho đến khi không còn đồng bạc nào.
Nhưng niềm vui chưa được bao lâu, thì một đại gia ở Đà Lạt cũng thích phô diễn nghệ thuật, sau nhiều lần “dụ” Tuấn vào nhóm của ông không thành công, nay lại biết Tuấn bán được tranh ở Dinh 2, nên quyết định thuê hẳn mặt bằng Dinh 2 với giá cao. Vậy là Tuấn không có cơ hội gửi tranh ký gửi ở đây nữa.
“Cái khó ló cái khôn”, vợ Tuấn một mình đi “tiếp thị” tranh cho chồng. Lặng lẽ mặc một chiếc áo đầm thật đẹp chồng mua từ mấy năm trước, thuê một chiếc taxi, mang theo các bài báo viết về chồng lên gặp Giám đốc Dalat Palace Hotel xin được ký gửi tranh. Đây là một việc làm hết sức liều lĩnh, nhưng lòng đã quyết, vợ Tuấn đã lên đường. Kết quả thật ngoài tưởng tượng. Ban giám đốc khách sạn đồng ý cho ký gửi tranh. Vậy là sản phẩm nghệ thuật đã được ghi nhận. “Tiến trảm, hậu tấu” – chỉ có cách này Nguyễn Thái Tuấn mới chấp nhận thôi.
Nghe vợ kể, Tuấn bảo: Em thật liều lĩnh, tiếng Anh nói chưa sỏi mà dám đi “giao dịch”. Thế nhưng, “tay hòm chìa khóa” bây giờ vẫn ở trong tay của vợ. Tuấn chỉ biết vẽ, còn mọi việc lo toan đều do vợ quán xuyến. Nhờ thế, mà vợ chồng Tuấn đã mua được đất, sinh được đứa con trai, và hai năm sau quyết định xây nhà. Trời không phụ người chịu thương, chịu khó.
Thành quả nghệ thuật đến từ sự đam mê và nỗ lực
Không bỗng dưng mà tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Thái Tuấn vươn ra biển lớn. Những tác phẩm đậm đặc một chiều sâu suy tưởng. Người sưu tập tranh nước ngoài đã chọn Tuấn.
Bắt đầu từ những bức tranh khắc gỗ, công chúng yêu nghệ thuật trong và ngoài nước biết đến một Thái Tuấn ở Đà Lạt với những sắc màu đằm thắm, chủ đề dung dị, đường nét dịu dàng trong loạt tranh về phố cổ Hội An, về xứ Huế mộng mơ…
Từ tranh khắc gỗ, Nguyễn Thái Tuấn đã có thêm kinh nghiệm, khi tự mình mày mò học hỏi hội họa qua các sách báo nước ngoài. Tự trang bị vốn liếng kiến thức nghệ thuật và ngôn ngữ tiếng Pháp, Anh, Đức, Nga. Cũng nhờ vậy mà Nguyễn Thái Tuấn đọc được, viết được, nói được cảm nhận được những gì mà các bậc thầy hội họa thế giới gửi gắm trong từng sách báo của mình.
Có một người bạn thân thiết với Nguyễn Thái Tuấn, cho rằng: “Thế giới trong tranh của Thái Tuấn là thế giới kịch câm. Những con người đi, đứng, nằm ngồi, ngáp vặt, hút thuốc, ngủ gật, đuổi ruồi, đập muỗi – rất thật, rất tự nhiên mà cũng rất lạnh lùng. Ta thấy chính mình trong những động tác, cử chỉ ấy nhưng lại không nhận ra mình. Những nhân vật kịch câm của Tuấn chỉ cho ta thấy một thế giới thực mà ta đang sống, đang hít thở nhưng không nhận ra vì chính ta cũng đang là những diễn viên trong cái thế giới đã điều kiện hoá này.
Khai tử cho lối biểu hiện đầy ý thức, anh để cho trực giác dẫn dắt con mắt, đưa lối bàn tay. Cái bát, đôi đũa, chiếc cốc… qua cái nhìn của anh bỗng mang một giá trị mới. Anh soi gương tự họa bản thân. Chính anh cũng là một thực thể khác mà anh mới thấy lần đầu. Những nhân vật kịch câm của anh chính là anh, cũng chính là bất kỳ ai ta gặp hàng ngày trên phố. Cụ thể đó mà lại trừu tượng. Rất lạ mà cũng rất quen. Ý nghĩa duy nhất mà Thái Tuấn muốn diễn đạt chỉ là cái đẹp. Người xem phải cùng sáng tạo với anh, cùng anh đi tìm sự đồng cảm. Nhờ kinh nghiệm tranh khắc giai đoạn ấy mà tranh sơn dầu của Thái Tuấn ngày nay mang một nét đặc biệt khó lẫn vào đâu được. Khi tự học và tìm cách thể hiện riêng với chất liệu acrylic và với sơn dầu, Thái Tuấn đã tạo cho mình một phong cách mới. Bề mặt của tranh Tuấn thường là những tảng màu phết bằng bay nhưng không hề sần sùi, nổi cộm. Từng nhát màu chồng lớp lên nhau và dường như lặng thầm tỏa sáng. Tranh sơn dầu của anh thường đơn sắc. Mỗi bức mang một một gam màu chủ đạo, rực rỡ hay u ám, hưng phấn hay trầm uất tùy theo ngẫu hứng của anh. Trên cái nền tranh dùng làm sân khấu ấy, anh đưa những nhân vật kịch câm đậm nét của mình ra trình diễn những hỷ nộ ái ố rất thực, rất bình thường. Và cũng chính bởi những điều rất bình thường ấy mà tranh Thái Tuấn trở nên độc đáo.” (bài Thái Tuấn: Sống để vẽ của Trần Đức Tài phát trên sóng phát thanh Lâm Đồng năm 2000).
Họa sĩ Nguyễn Trung từng nhận xét: “Hầu hết những tác phẩm của Nguyễn Thái Tuấn đều là những “chân dung tự họa”, nhưng không phải là vẽ cái bề ngoài mà vẽ cái điều anh biết, anh nghĩ về chính mình, về chính cuộc sống của mình. Còn hơn thế nữa, đó là những bức tranh tự chế giễu, vừa hài hước, vừa chua cay, vừa đau đớn. Cái nhân vật trong tranh anh dù đặt tên là tự họa hay là gì khác, cũng đều là một nhân vật hóa thân khỏi người vẽ ra mó, đối thoại với chính người vẽ, giễu cợt, đôi khi mắng mỏ, la hét, phẩn nộ hoặc than vãn và cũng có lúc bỗng nhiên câm lặng.” (Bài Một họa sĩ tự trào của Nguyễn Trung).
Trong bài viết Người vẽ chính mình đăng trên tạp chí “Tin tức nghệ thuật Châu Á” số 2 (tháng 3 và 4 năm 2001), Bradford Edwards đã nhận thấy:
“Tuấn là một hỗn hợp khác thường của một nghệ nhân tỉ mỉ, một người truyền đạt sôi nổi, một ẩn sĩ tận tâm, và một nhà tư liệu xã hội. Bản thân anh chính là một ẩn số khiến cho tác phẩm của anh thường bị ngộ nhận. Tuy nhiên một số thông điệp trong tranh của Tuấn rõ ràng đã cắm mốc xác định mối tương quan của anh với xã hội Việt Nam hiện đại. Đồng thời tranh của Tuấn cũng khác thường bởi vì chúng được đặt trong hiện thực hàng ngày của Việt Nam chứ không ngoảnh mặt trốn tránh trong những hoang tưởng điền viên.
Tuấn là một họa sĩ nguyên chất, một thương mại. người đã ý thức tránh né sức cám dỗ của khả năng dục vọng và tiền tài. Quan trọng hơn, Tuấn là một tài năng lớn, vượt xa hầu hết những họa sĩ cùng thời với anh – nhiều người trong số đó đã gặt hái những thành công thương mại. Một khi bụi đã lắng xuống sau “cuộc đổ xô đi tìm vàng” trong hội họa Việt Nam của thập niên 1990 gần đây thì chính những họa sĩ có tầm nhìn như Nguyễn Thái Tuấn mới là người tồn tại sau cùng”.
Anh em chúng tôi vẫn qua lại thường xuyên. Có khi hẹn nhau cà phê, chỉ thuần tuý nói chuyện văn nghệ. Có người cho rằng Tuấn sống khép kín, ít giao lưu. Nhưng tôi nghĩ, đó cũng là cách sống dành riêng cho mình những khoảng lặng cần thiết. Tôi vẫn hay gặp Tuấn chạy bộ quanh hồ Xuân Hương, chào nhau, rồi tiếp tục chạy bộ. Thỉnh thoảng hai anh em đi uống cà phê gần nhà.
Vậy mà một ngày (11.3.2023), tôi hay tin Tuấn đã ra đi. Tôi gọi điện thoại cho Nga – vợ Tuấn – mấy cuộc liền không bắt máy. Ghé nhà, cửa đóng im ỉm, tối om.
Mãi đến ngày 13.3.2023, mới hay tin: Tuấn bị ung thư giai đoạn cuối, điều trị bệnh viện Hoàn Mỹ. Về nhà, Tuấn vẫn tiếp tục đi bộ ở công viên. Khi không đi xa được, lại đi trong phòng khách, trong phòng ngủ, chống chọi gần bốn tháng thì ra đi vào ngày 10.3.2023 tại thành phố Hồ Chí Minh. Theo di nguyện của Tuấn là được hoả táng rải trên biển Nha Trang. Gia đình đã thực hiện theo di nguyện.
Vĩnh biệt Nguyễn Thái Tuấn – một hoạ sĩ tài hoa, một người bạn, một người em thân yêu của tôi. Mong em thênh thang trên con đường em đã chọn.

Chân dung hoạ sĩ Nguyễn Thái Tuấn

Hoạ sĩ Bùi Quang Ngọc, Nguyễn Thái Tuấn & tôi

Hoạ sĩ Nguyễn Thái Tuấn & hoạ sĩ Lê Huy Cầm

Hoạ sĩ Đỗ Duy Tuấn & hoạ sĩ Nguyễn Thái Tuấn






