Tino Cao
Hai tuần trước, nhà báo Đinh Quang Anh Thái tặng tôi bộ tác phẩm Ký của ông. Riêng Ký 2, ông dặn rất rõ rằng cuốn này chỉ cho mượn, đọc xong phải trả. Tôi đoán ngay nó hẳn có một giá trị đặc biệt nào đó. Mang sách về nhà, tôi đọc trước Ký 2. Ký 2 khắc họa nhiều chân dung nhân vật. Đến phần viết về nhà văn Dương Thu Hương, lí do ấy hiện rõ ngay trên những trang sách. Xen giữa phần chữ in của sách là bút tích mực đỏ của Dương Thu Hương, chỗ sửa năm sinh 1948 thành 1947, chỗ chỉnh tên người, bổ sung địa danh, gạch bỏ một chữ, thêm một câu, có đoạn viết dài ra ngoài lề. Cuốn sách mang tư cách của một văn bản đã được nhân vật trực tiếp đối thoại và hiệu đính. Đinh Quang Anh Thái dựng lại hình ảnh Dương Thu Hương từ kí ức, tiếp xúc và quan sát riêng của ông, còn Dương Thu Hương quay trở lại văn bản để xác nhận, sửa chữa hoặc bổ sung những gì liên quan đến chính cuộc đời của bà. Sự có mặt của hai lớp chữ làm cho Ký 2 có giá trị đặc biệt về phương diện thể loại. Người viết và người được viết cùng tham gia vào quá trình kiến tạo chân dung, nhưng từ hai vị trí khác nhau, một bên là kí ức của người quan sát, bên kia là ý thức tự nhận diện của nhân vật. Chính sự giao cắt ấy làm nổi rõ tính chất phức tạp của kí, một thể loại nằm giữa chứng thực, hồi ức và nghệ thuật khắc họa nhân vật. Với Dương Thu Hương, những nét mực đỏ cho thấy một phẩm chất nhất quán trong con người bà, sự cẩn trọng đối với sự thật của đời mình và nhu cầu tự bảo vệ quyền diễn giải về chính quá khứ.
Xét từ đặc tính thể loại, những bút tích mực đỏ ấy nói lên một vấn đề căn bản của ký, quan hệ giữa đời sống đã xảy ra và đời sống sau khi được chuyển thành văn bản. Philippe Lejeune, nhà lí luận văn học người Pháp chuyên nghiên cứu tự truyện, nổi tiếng với khái niệm “khế ước tự truyện”, từng nhấn mạnh yêu cầu xác tín trong quan hệ giữa tác giả, người kể và nhân vật được kể. Ký 2 của Đinh Quang Anh Thái thuộc một trường hợp khác, nhưng tuân thủ một đòi hỏi về tính khả tín của văn bản dựa trên sự quy chiếu với đời sống. Ở đây, người viết sử dụng tên thật, sự kiện thật, những cuộc gặp có thật và lời kể của những người còn đầy đủ năng lực xác nhận hoặc bác bỏ điều ông viết. Bút tích của Dương Thu Hương khiến quan hệ ấy đặc biệt rõ ràng, bởi nhân vật trực tiếp tham gia vào việc kiểm tra những dữ kiện liên quan đến tiểu sử của họ.
Tính xác thực, tuy nhiên, mới là điều kiện đầu tiên của ký. Một đời người không thể được chuyển nguyên vẹn vào vài chục trang sách. Mọi văn bản đều hình thành qua sự lựa chọn, cắt bỏ, sắp đặt và xác lập tương quan giữa các dữ kiện. Hayden White, sử gia và nhà lí luận sử học người Mĩ, nổi tiếng với các nghiên cứu về cấu trúc tự sự của diễn ngôn lịch sử, từng nhấn mạnh rằng quá khứ khi đi vào văn bản luôn phải qua sự lựa chọn và tổ chức của người kể. Đặt vấn đề ấy vào thể ký, có thể thấy phẩm chất của người viết nằm ở khả năng lựa chọn những chi tiết vừa đáng tin về mặt sự kiện vừa có sức khái quát về nhân vật. Đây là một điểm mạnh trong cách Đinh Quang Anh Thái viết ký nói chung, và đặc biệt là viết về Dương Thu Hương. Ông không tạo dựng hình ảnh của bà bằng những nhận định trực tiếp về tính cách. Một giọt nước mắt ở Sài Gòn năm 1975, cách bà giành trả tiền cho bạn ở Paris, sự áy náy trước chiếc áo dính sơn, những phát biểu quyết liệt về đảng cộng sản, chuyện con cái hay pho tượng Phật trao lại cho người bạn, khi được đặt trong cùng một mạch kể, tạo nên một chân dung nhiều phương diện mà vẫn nhất quán về cốt cách. Tài của người viết ký trước hết nằm ở năng lực lựa chọn những chi tiết vừa xác thực về mặt tiểu sử, vừa có khả năng khái quát về lịch sử và tính cách. Đinh Quang Anh Thái nhận ra trong những sự việc cụ thể đâu là điểm có thể quy chiếu tới cả một quãng đời, lập trường chính trị hay sự chuyển biến tinh thần. Vì vậy, giá trị chứng thực và giá trị văn chương trong ký của ông gắn chặt với nhau. Dữ kiện không dừng ở chức năng thông báo mà qua cách lựa chọn, sắp xếp và liên kết, trở thành chất liệu trực tiếp làm bộc lộ sắc nét cấu trúc tính cách và chiều sâu đời sống của nhân vật.
Một trong những phẩm chất đáng chú ý trong lối viết ký của Đinh Quang Anh Thái là khả năng tiếp cận nhân vật với cự li rất gần mà vẫn giữ được độ tỉnh táo cần thiết của người quan sát. Với Dương Thu Hương, ông không bắt đầu từ lối định danh đã thành quen thuộc, kiểu như người ta thường nói về Dương Thu Hương: nhà văn bất đồng chính kiến, người bị khai trừ khỏi đảng cộng sản, từng bị bỏ tù, tác giả có tác phẩm bị cấm lưu hành trong nước nhưng được phổ biến rộng rãi ở nước ngoài… Những dữ kiện ấy chỉ dựng nên bộ khung của một tiểu sử. Phần làm nên chiều sâu của chân dung nằm trong những chi tiết đời thường mà ông chọn và đặt cạnh nhau, từ một buổi gặp ở Paris, một bữa ăn, chiếc áo vô tình dính sơn, đến cách bà nói về con cái, pho tượng Phật, cách bà đối xử với bạn bè. Qua những chi tiết ấy, tính cách hiện ra từ hành vi cụ thể. Dương Thu Hương giành phần trả tiền cho người bạn từ Mĩ sang; khi chiếc áo của Đinh Quang Anh Thái bị quệt sơn, bà lập tức nghĩ đến chuyện đền bù cho ông một chiếc khác. Sự hào sảng và trọng tình kiểu bậc đàn chị của bà tự bộc lộ trong những phản ứng đời thường, không cần người viết đứng ra phẩm bình. Chính ở đây thấy rõ tay nghề của Đinh Quang Anh Thái. Ông hiểu rằng ký chân dung thuyết phục nhất khi chi tiết tự mang ý nghĩa và người kể biết tiết chế lời giải thích. Một hành vi tưởng rất bình thường được nhìn đúng chỗ và đặt đúng chỗ, tự nó bộc lộ đầy đủ cả một cấu trúc tính cách.
Khả năng ấy còn thể hiện trong cách ông giữ lại ngôn ngữ nguyên thủy của Dương Thu Hương. Bà nói năng trực diện, sắc bén, nhiều lúc thô kệch, có những phát biểu cố ý phá bỏ toàn bộ phép lịch sự của diễn ngôn chính trị. Đinh Quang Anh Thái không cố gắng làm dịu đi thứ ngôn ngữ ấy để đưa nhân vật vào một khuôn thước thẩm mĩ dễ chấp nhận. Ông hiểu rằng ở Dương Thu Hương, lời nói không chỉ là phương tiện biểu đạt mà còn là một bộ phận của tư thế chính trị. Sự thô ráp trong ngôn ngữ của bà gắn liền với thái độ phản kháng, chống lại thứ diễn ngôn nghi lễ đã bị quyền lực sử dụng đến mức công thức hóa, với những khái niệm như nhân dân, lịch sử, lí tưởng, đạo đức hay vinh quang thường xuyên được nâng lên thành những giá trị bất khả chất vấn. Dương Thu Hương đáp lại bằng cách hạ thấp khoảng cách giữa người nói và đối tượng bị nói tới, tước bỏ vẻ trang nghiêm mà quyền lực thường tự kiến tạo quanh mình. Ở phương diện này, ngôn ngữ của bà mang chức năng giải thiêng. Nó kéo nhân vật chính trị ra khỏi vị trí biểu trưng và trả họ về tư cách một con người cụ thể, có thể bị phê phán, chế giễu hay khinh miệt. Dĩ nhiên, sự cực đoan của cảm xúc đôi lúc khiến lời nói của bà đi quá mức cần thiết, nhưng chính việc Đinh Quang Anh Thái tôn trọng cái sự thật thô mộc xù xì ấy, giữ lại cả phần “quá lời” ấy làm cho chân dung của bà có độ trung thực sắc nét. Ông không chỉnh sửa nhân vật để làm cho bà dễ mến hơn. Ông bảo tồn cả sự sắc nhọn, nóng nảy và cả những chỗ gây khó chịu, bởi đó chính là những thành tố cấu tạo nên Dương Thu Hương như một cá tính văn chương và chính trị. Ở đây, năng lực xây dựng hình ảnh người của Đinh Quang Anh Thái nằm trong sự tiết chế của người kể. Ông biết khi nào cần im lặng để ngôn ngữ, cử chỉ và tình huống tự bộc lộ con người, đúng như tính cách ngoài đời thật của ông.
Từ những chi tiết đời thường, Đinh Quang Anh Thái đưa người đọc vào phần phức tạp nhất của Dương Thu Hương, một con người chính trị hình thành qua nhiều năm tự xét lại chính quá khứ của mình. Ông không tạo dựng hình ảnh của bà như một người đột nhiên thay đổi phía sau một biến cố. Dương Thu Hương đi vào chiến tranh khi còn rất trẻ, thuộc thế hệ phải gánh trên vai những khái niệm lớn lao trước khi có đủ trải nghiệm để tự kiểm chứng chúng. Tổ quốc, cách mạng, hi sinh, chiến thắng khi ấy mang sức nặng gần như tuyệt đối của một mệnh lệnh đạo đức. Người ta có thể đem tuổi trẻ đi theo những khái niệm ấy, chịu thương tích, nhìn bạn bè chết và vẫn tin cái chết ấy có ý nghĩa. Dương Thu Hương cũng đã đi qua chiến tranh trong niềm tin đó. Bà chứng kiến sự giày xéo của bom đạn, chết chóc, mất đi bạn bè, rồi đến Sài Gòn ngày 30 tháng Tư năm 1975 trong tư cách người thuộc phía chiến thắng. Chính ở cái ngày tưởng như khép lại một hành trình, câu hỏi về ý nghĩa của cả hành trình mới lại bắt đầu xuất hiện.
Hình ảnh Dương Thu Hương ngồi khóc bên đường Sài Gòn trong ngày chiến thắng là một trong những chi tiết sắc nhất mà Đinh Quang Anh Thái giữ lại. Đồng đội vui, bà khóc. Chỉ một tương phản ấy đã đủ phá vỡ lối phân chia cảm xúc quá giản đơn của sử thi chính trị. Điều bà nhìn thấy ở Sài Gòn, sách báo, sinh hoạt đô thị, đời sống văn hóa và những dấu hiệu của một xã hội khác với những gì bà từng được nghe về miền Nam, tạo ra một cú va đập mạnh vào nhận thức. Ý nghĩa của cảnh ấy nằm ở khoảng cách giữa kinh nghiệm trực tiếp và thế giới từng được dựng lên trong ý thức bà. Từ khoảng cách ấy, nghi vấn xuất hiện. Đinh Quang Anh Thái kể một giọt nước mắt, nhưng phía sau là một biến cố tư tưởng. Ông nắm được đúng thời điểm một niềm tin bắt đầu mất tính tuyệt đối.
Đây cũng là chỗ ký của ông đi xa hơn việc ghi lại tiểu sử chính trị. Dương Thu Hương từng tin, từng đi vào chiến tranh, từng chịu bom đạn, từng mất bạn bè. Khi về sau bà xét lại những điều mình từng tin, người đầu tiên phải chịu sự xét lại ấy chính là Dương Thu Hương của tuổi hai mươi. Bởi thế, sự đoạn tuyệt này ray rứt hơn chuyện rời bỏ một tổ chức. Một người có thể thay đổi quan điểm trong một thời gian ngắn; khó hơn nhiều là thừa nhận rằng phần đời mình từng hiến dâng bằng tất cả nhiệt thành có thể đã dựa trên những tiền đề sai lạc. Ở Dương Thu Hương, phản kháng chính trị luôn mang theo phần tự vấn. Bà không đứng ngoài quá khứ để phán xét quá khứ. Bà từng thuộc về nó, đã trả giá cho nó và buộc phải tự giải quyết món nợ ấy trong phần đời còn lại. Từ đây mới hiểu được con người văn chương của Dương Thu Hương. Bà từng nói viết là cách trả món nợ với những người bạn đã chết. Câu nói ấy soi khá rõ văn nghiệp của bà. Chiến tranh trong văn chương Dương Thu Hương trước hết là kinh nghiệm của người sống sót. Bà không dừng lại ở khoảnh khắc chiến thắng mà đi tiếp vào phần đời sau chiến thắng, khi lịch sử còn tiếp tục trong gia đình, trong hôn nhân, trong số phận đàn bà, con cái và những người bị bỏ lại. Kí ức chiến tranh ở bà không phải một đề tài lựa chọn từ bên ngoài. Nó nằm trong thân thể, trí nhớ và cảm giác mắc nợ. Bởi vậy, câu hỏi đạo đức trong văn chương bà thường gay gắt hơn câu hỏi thắng thua. Điều cần truy đến cùng là trong khi nhân danh những lí tưởng lớn, con người đã đối xử với con người ra sao.
Cũng trong mạch ấy, nhận định của Dương Thu Hương rằng “đảng phải biết ơn nhân dân chứ nhân dân không mắc nợ đảng” có sức công phá lớn hơn nhiều lời công kích trực diện. Câu nói ấy đặt lại mối quan hệ giữa quyền lực chính trị và quyền sở hữu kí ức lịch sử. Sau chiến thắng, một đảng cách mạng thường có xu hướng kể lể quá khứ theo cách đặt mình vào vị trí trung tâm, từ đó biến sự hi sinh của hàng triệu người thành một phần vốn chính danh của tổ chức. Dương Thu Hương trả phần lịch sử ấy về cho dân chúng, những người chết, những người bị thương, những gia đình mất con, những con người đã đem chính thân thể mình trả giá cho chiến tranh. Ở đây, điều bà chất vấn không còn là một chính sách hay một cá nhân cầm quyền mà là quyền chiếm hữu ý nghĩa của chiến thắng. Ai có quyền nhận phần công lao ấy về mình. Ai có quyền lấy sự hi sinh của người khác làm vốn liếng chính trị. Và một tổ chức có thể đòi lòng biết ơn của dân chúng đến bao giờ.
Đinh Quang Anh Thái tỉnh táo ở chỗ không để phần chính trị che lấp con người. Sau chiến tranh, tù đày và xung đột với đảng cộng sản, ông đưa Dương Thu Hương trở về với gia đình, với con cái, với những hệ lụy mà lựa chọn của bà trực tiếp gây ra cho người thân. Bà hiểu con cái có thể thấy mẹ quá cực đoan, khó sống, tự kéo phiền toái về nhà. Nhưng bà vẫn giữ quyền lựa chọn con đường của mình. Ở đây, tự do mất hết vẻ trang trí của một khái niệm đẹp. Nó có giá bằng sự bất an của con cái, bằng nỗi mệt mỏi của gia đình và những khoảng cách vời vợi trong những mối quan hệ huyết thống. Đinh Quang Anh Thái không bênh vực bà bằng những lời dễ dãi. Ông giữ nguyên mâu thuẫn ấy. Một người có thể trung thành với lương tâm của mình và đồng thời khiến những người thân cận phải chịu hệ quả từ sự trung thành đó. Chính những mâu thuẫn như vậy làm chân dung Dương Thu Hương có chiều sâu hơn mọi lời ca ngợi.
Câu chuyện pho tượng Phật gợi mở một phần khác trong đời sống tinh thần của bà. Trong căn hộ của Dương Thu Hương có bàn thờ Phật Thích Ca. Bà từng nói với Đinh Quang Anh Thái rằng đạo Phật giúp mình “định được tâm”, rồi vẫn giữ cái lối nói pha chút nghịch ngợm quen thuộc mà đùa, “anh Phật quả là đẹp giai thật”. Nhưng phía sau câu đùa ấy là một niềm tin nghiêm túc vào nhân quả và đạo đức cá nhân. Bà nói mình hoàn toàn tin vào thuyết nhân quả, tin vào kiếp sau, và điều căn bản bà đòi hỏi ở các con là phải sống tử tế. Đáng nhớ hơn cả là lần Đinh Quang Anh Thái sang Paris gặp bà. Sau cuộc trò chuyện tại nhà, ông nhìn lên bàn thờ. Đinh Quang Anh Thái kể lại rằng khi thấy ông “chăm chăm vào pho tượng Phật”, bà nói, “Tôi thờ pho tượng này sáu năm rồi. Nay Phật đã nhập tâm tôi rồi. Âu cũng là duyên, nếu chú thích thì tôi tặng chú”. Đinh Quang Anh Thái chắp tay vái rồi ôm pho tượng xuống. Sau khi ông đi, bà còn viết cho ông rằng bà chợt nghĩ, “phải chăng ta chấp nhận giao du với con người này vì ở một kiếp xa xôi nào đó cậu ta đã từng là đồng tu dưới cùng một mái chùa?” Chi tiết ấy cho thấy một chuyển biến đáng chú ý trong hệ quy chiếu đạo đức của Dương Thu Hương. Tuổi trẻ Dương Thu Hương gắn với một thời đại mà các hệ tư tưởng và đại tự sự của đất nước như lịch sử, giai cấp, cách mạng, tương lai và chủ nghĩa vô thần thường đòi hỏi cá nhân tự cống hiến đời mình cho những mục tiêu tập thể to lớn. Ở giai đoạn về sau, trong lời kể và lựa chọn của bà lại nổi rõ hơn những vấn đề về nhân quả, món nợ với người chết, trách nhiệm cá nhân và cách con người đối xử với nhau. Sự dịch chuyển ấy cho thấy trọng tâm đạo đức đã chuyển từ những cứu cánh lịch sử mang tính khái quát về trách nhiệm gắn với từng hành vi cụ thể. Ở đây, ý niệm nhân quả có ý nghĩa như một nguyên tắc quy trách nhiệm cá nhân, theo đó con người phải chịu phần hậu quả đạo đức của việc mình làm, thay vì viện dẫn một mục tiêu tương lai để biện minh cho hiện tại. Đinh Quang Anh Thái không diễn giải câu chuyện pho tượng Phật thành một luận đề triết học. Ông giữ nguyên chi tiết và để từ đó hiện ra một phương diện khác trong đời sống tinh thần của Dương Thu Hương, cho thấy con người bà không thể chỉ được hiểu qua kinh nghiệm chính trị hay lập trường đối kháng.
Điểm mạnh trong nghệ thuật ký của Đinh Quang Anh Thái còn nằm ở khả năng phát hiện quan hệ giữa những chi tiết tưởng rời rạc. Một câu nói tiếp nối một cử chỉ, một cơn giận gắn với một kí ức, một chuyện nhỏ ở quán cà phê soi rõ cả một tính khí, pho tượng Phật lại dẫn tới một chuyển biến tinh thần. Qua cách tổ chức ấy, Dương Thu Hương hiện ra từ chính logic nội tại của đời mình. Chiếc áo dính sơn, một bữa ăn, một giọt nước mắt, một pho tượng đều là những chi tiết nhỏ, nhưng khi được chọn đúng, chúng có thể chuyên chở cả tính cách, tư tưởng và một quãng lịch sử. Tài của Đinh Quang Anh Thái trước hết nằm ở con mắt biết giữ lại những chi tiết giàu khả năng gợi dẫn, đủ để từ một việc rất nhỏ người đọc nhận ra nhiều phương diện của một con người mà người viết không cần ôm đồm hay giải thích thay nhân vật.
Bản Ký 2 với những nét mực đỏ của Dương Thu Hương cho thấy rất rõ quan hệ đặc biệt giữa người viết và nhân vật. Đinh Quang Anh Thái không giữ độc quyền đối với chân dung mình xây dựng. Dương Thu Hương đọc, gạch, thêm, hiệu đính, trực tiếp tham gia vào quá trình xác lập lại những chi tiết thuộc về đời bà. Văn bản vì vậy chứa đồng thời kí ức của người quan sát và ý thức tự nhận diện của nhân vật, với cả khả năng sai lệch, bổ sung và đối chứng. Chính cấu trúc ấy làm cho Ký 2 có giá trị vượt khỏi một tập hồi ức báo chí thông thường. Sự thật của một đời người ở đây không được trao trọn cho một tiếng nói mà hình thành trong sự cọ xát giữa nhiều kí ức và nhiều quyền diễn giải. Qua cách tổ chức chất liệu ấy, Đinh Quang Anh Thái khắc họa một Dương Thu Hương thống nhất trong ba phương diện. Đời sống riêng cho thấy một người đàn bà hào sảng, nóng nảy, trọng tình và tin sâu vào nhân quả; đời sống chính trị cho thấy một người từng đi theo cách mạng rồi tự xét lại hệ thống mình từng thuộc về; văn chương cho thấy một người sống sót mang món nợ với người chết vào chữ nghĩa. Câu nói dữ, giọt nước mắt ở Sài Gòn, chuyện con cái, pho tượng Phật, những nét bút đỏ trên sách đều quy về cùng một logic tính cách.
Điều đáng giá nhất trong chân dung Dương Thu Hương của Đinh Quang Anh Thái là ông không hề biến một đời sống nhiều đổ vỡ thành một câu chuyện được tô hồng. Ông giữ nguyên tư thế tự chất vấn của nhân vật, một người sau mỗi trải nghiệm buộc phải xét lại chính mình. Những nét bút đỏ trên Ký 2 mang ý nghĩa gần như một hậu từ do chính Dương Thu Hương viết tiếp vào đời mình. Bà hiện diện trong lời kể của Đinh Quang Anh Thái, đồng thời trực tiếp can dự vào cách lời kể ấy được xác lập. Nhờ vậy, Ký 2 đạt tới một phẩm chất hiếm của thể ký, sự thật về nhân vật được hình thành ngay trong cuộc đối thoại giữa người viết và người được viết.

