Henri Bergson – triết gia của niềm vui sống

Dương Thắng

Trên phần mộ của nhà triết học, nhà thơ Paul Valery đã viết lời đề từ như một bản tổng kết các thành tựu triết học của Bergson như sau: “Trong khi phần lớn các nhà triết học, kể từ thế kỷ XVIII, chịu ảnh hưởng nặng nề của các quan niệm cơ học – vật lý thì thật may mắn người anh em nổi tiếng của chúng ta đã dâng hiến đời mình cho triết học và các khoa học của cuộc sống. Sinh học đã khích lệ ông. Ông nghiên cứu tỷ mỷ cuộc sống và đã hiểu rõ nó, đã nhận thức nó như là tác nhân của tinh thần. Trong sự quan sát ý thức của bản thân, ông không ngần ngại đi tìm các luận cứ làm sáng tỏ những vấn đề tưởng chừng không bao giờ được giải quyết. Ông có một công lao to lớn với sự phát triển lý tính của nhân loại nhờ vào việc phục hồi và bảo vệ trực giác là cái trực tiếp gần với bản chất của chúng ta. Vai trò đích thực của triết học là hướng tư duy vào bản thân mình Nỗ lực này đòi hỏi người muốn mô tả nó phải có một cách tiếp cận đặc biệt thậm chí phải sáng tạo ra một phong cách trình bày đặc biệt để có thể thích hợp cho mục đích đó. Bởi vì ngôn ngữ bao giờ cũng nhanh chóng cạn kiệt đi khi tiếp cận với nguồn gốc của mình. Toàn bộ sức mạnh thiên tài của Bergson đã bộc lộ ra chính là ở chỗ này”.

1. “Cuộc đời đơn giản” của một triết gia

Henri Bergson sinh ngày 18 tháng 10 năm 1859. Khi còn nhỏ ông đã từng là học sinh xuất sắc của trường trung học Condorcet (đứng đầu kỳ thi chung, giải thưởng danh dự về nghệ thuật hùng biện, giải đặc biệt về toán học). Ông là sinh viên của trường Sư phạm Cao cấp lừng danh (ENS. 1878-1881), thạc sĩ triết học (1881), giáo sư trung học (1881-1897), phó giáo sư tại ENS (1898) rồi làm giáo sư tại Collège de France, môi trường trí thức hàng đầu của nước Pháp (năm đó ông mới tròn 41 tuổi).

Henri Bergson có một cuộc đời rất đơn giản, đơn giản đến mức như ông tự nhận: “Đối với những gì được xem là những sự kiện quan trọng, trong suốt cuộc đời mình tôi đã không có những cái đó… ít nhất, khách quan mà nói, chẳng có gì đáng chú ý” (trích thư gửi William James, người viết tiểu sử của Bergson). Hoạt động giảng dạy của Bergson kéo dài liên tục cho đến 1914, ông giảng dạy cả ở Anh Mỹ và nhiều nước khác. Vào năm 1989 ông bảo vệ luận văn tiến sĩ với tiêu đề Ý thức luận. Khảo luận về các dữ kiện trực tiếp của ý thức (1), trong những năm tiếp sau, những tác phẩm trụ cột lần lượt ra mắt độc giả Vật chất và Ký ức (2), Tiến hóa Sáng tạo (3), Thời độ và đồng thời (4), Hai nguồn gốc của Đạo đức và Tôn giáo (5) cùng hàng trăm bài báo và các nghiên cứu khác.

Những tác phẩm của Bergson đã gây được những tiếng vang lớn. Ông thuộc vào một số hiếm hoi các nhà tư tưởng đi ngược dòng, chống lại tinh thần “duy khoa học” tới mức mù quáng đang thịnh hành và áp đặt cho những suy tư của thời đại ông. Đó chính là thời kỳ huy hoàng của chủ nghĩa thực chứng và triết học của Auguste Comte. Những người nổi lên chống lại tư tưởng thực chứng là Henri Bergson ở Pháp, Nietzsche ở Đức và Kierkegaard ở Đan Mạch. Họ đều nỗ lực chinh phục lại những mảnh đất vô cùng quan trọng và thiết yếu với đời sống tinh thần con người mà khoa học, hoặc đã lơ là bỏ qua, hoặc bất lực không nắm bắt được. Có một nghịch lý khá thú vị là sự thành công vang dội của Bergson trong thời đại của ông dường như lại có phần làm giảm đi ảnh hưởng của ông ngày hôm nay. Bởi nếu sinh thời Bergson đã dồn hết sức lực để công phá những lô cốt, những cánh cửa định kiến khép chặt và cài then kiên cố thì ngày nay chúng ta thấy chúng đã mở toang và tất cả đều dễ dàng thâm nhập vào.

Là một trí thức gốc Do Thái, Bergson không ngừng là đối tượng công kích của làn sóng bài Do Thái, nhưng nước Pháp và thế giới luôn đánh giá cao những đóng góp của ông và đã thay mặt ông đáp trả lại những lời khiêu khích đó. Từ năm 1914-1914 ông được cử vào Ủy ban Hợp tác Trí thức của Hội Quốc Liên, Chủ tịch Viện Hàn lâm các Khoa học Đạo đức và Chính trị, Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp. Nhà triết học cũng được trao giải thưởng Nobel Văn chương danh giá vào năm 1927. Năm 1941, quân Đức tràn vào chiếm đóng Paris và hầu hết nước Pháp, cũng giống như những người Do Thái khác, ông cũng phải ra trình diện và xếp hàng bất động hàng giờ dưới trời mưa tuyết, vì thế ông đã bị cảm lạnh và đã qua đời vào 4 tháng 1 năm 1941.

2. Thời độ: tự do và ký ức trong sự viên mãn

Trong lá thư gửi Höffding (Écrits et Paroles / Nói và viết, tập III, tr. 456), Bergson đã viết: “Theo tôi nghĩ, mọi cách tóm lược các quan điểm của tôi đều sẽ làm chúng bị biến dạng trong tổng thể, và do đó sẽ khiến chúng phải hứng chịu vô số phản bác, nếu ngay từ đầu những tóm lược này không đặt mình vào, và không ngừng quay trở lại với điều mà tôi xem là trung tâm của học thuyết của mình: trực giác về thời độ”.

Hai từ là thiết yếu ở đây là trực giác và thời độ (durée). Trực giác Bergson là một phương pháp triết học nghiêm ngặt, dựa trên một nghiên cứu được chuẩn bị hết sức tỉ mỉ. Bergson đã dành nhiều năm nghiên cứu các công trình khoa học trước khi đạt tới cái trực giác triết học. Trực giác ấy không thuộc trật tự của thị kiến, ngay cả thị kiến trí tuệ, như ở Platon, Aristote hay Descartes; chính vì thế Bergson đã do dự rất lâu trước khi chấp nhận dùng từ này. Hiển nhiên, nó cũng không thể là một ấn tượng chủ quan mơ hồ. Đó là “sự đồng cảm nhờ đó ta chuyển mình vào bên trong một đối tượng, để trùng hợp với cái mà nó có một cách độc nhất và do đó không thể diễn đạt được” (La Pensée et le movement/ Tư duy và chuyển động, tr. 205). Đó là một nỗ lực trí tuệ căng thẳng, mà thành công không bao giờ được bảo đảm trước; trong khi đó, phân tích “là thao tác quy đối tượng về những yếu tố đã biết, là chung cho đối tượng ấy và cho những đối tượng khác. Phân tích, do đó, là diễn đạt một sự vật bằng cái không phải là chính nó” (Tư duy và chuyển động, tr 206)

Loại trực giác đầu tiên là trực giác về kinh nghiệm cá nhân thường hằng nhất của chúng ta: “Có ít nhất một thực tại mà tất cả chúng ta đều nắm bắt từ bên trong, chứ không phải bằng phân tích đơn thuần. Đó là chính con người của ta trong dòng chảy của nó xuyên qua thời gian. Đó là cái tôi của ta đang kéo dài trong thời độ” (Tư duy và chuyển động, tr. 206).

Hành vi trực giác nắm bắt trực tiếp, nơi chính nó, thời độ của chúng ta. Vậy cần hiểu thế nào về thời độ ấy? Trước hết, phải hết sức tránh nhầm lẫn nó với thứ thời gian mà đồng hồ đo được, hay với bất kỳ chuyển động đều đặn nào khác; thứ thời gian ấy là một con số: “con số, hay thước đo của chuyển động”, như triết học kể từ thời Aristote đã nói như vậy.

Khám phá đầu tiên của Bergson, khám phá sẽ mở ra cho ông vương quốc của triết học, theo lời ông kể, được thực hiện trong khoảng từ hai mươi hai đến hai mươi bốn tuổi. Sau khi rời ENS, ông bắt đầu các nghiên cứu của mình trong triết học khoa học. Ông đọc Những nguyên lý căn bản của Spencer, cùng những công trình khoa học khác về cơ học, vật lý, sinh học – kể cả thuyết tiến hóa –; tất cả, không ngoại lệ, đều bàn đến thời gian; đó là khái niệm đầu tiên. Và đây là khám phá, thật bất ngờ: “Tôi nhận ra, với sự kinh ngạc lớn lao, rằng thời gian khoa học không có thời độ; rằng sẽ chẳng có gì phải thay đổi trong tri thức khoa học của chúng ta về sự vật nếu toàn bộ cái thực được triển khai tức khắc trong một khoảnh khắc duy nhất; và rằng khoa học thực chứng về bản chất cốt ở việc loại trừ thời độ” (Thư gửi W. James, Nói và viết, tập II, tr 294–295).

Giáo sư Bergson, trong quãng thời gian giảng dạy tại nhiều trường trung học khác nhau, sẽ dành toàn bộ sức mạnh trí tuệ của mình cho việc nghiên cứu một cách khoa học cái thực tại ấy. Năm 1889, luận văn Ý thức luận. Khảo luận về các dữ kiện trực tiếp của ý thức trình bày những kết quả cốt yếu của các công trình nghiên cứu này. Ông nói: hãy tìm xem, trong thực tế, một trạng thái ý thức mãnh liệt là gì. Đó không phải là một thứ lượng nào đó đã tăng thêm; chính bạn đã thay đổi: “Tất cả các cảm giác của bạn, tất cả các ý tưởng của bạn, dường như được làm tươi mới lại; đó giống như một tuổi thơ mới” (Ý thức luận. Khảo luận về các dữ kiện trực tiếp của ý thức, tr. 6).

Triết gia của chúng ta lấy ví dụ đầu tiên (và điều này rất quan trọng) là niềm vui: “Niềm vui nội tâm không phải là […] một sự kiện tâm lý cô lập, ban đầu chiếm một góc nào đó của tâm hồn rồi dần dần giành thêm chỗ. Ở mức độ thấp nhất, nó khá giống với một sự định hướng của các trạng thái ý thức của chúng ta về phía tương lai. Rồi, như thể sức hút ấy làm giảm bớt trọng lượng của chúng, các ý tưởng và cảm giác của chúng ta nối tiếp nhau nhanh hơn; các cử động của chúng ta không còn đòi hỏi cùng một nỗ lực như trước. Cuối cùng, trong niềm vui cực độ, các tri giác và ký ức của chúng ta thu nhận một phẩm chất không thể định nghĩa, có thể so sánh với một hơi ấm hay một ánh sáng, và mới mẻ đến mức, vào một vài khoảnh khắc, khi quay trở lại với chính mình, chúng ta cảm thấy như một sự kinh ngạc trước việc mình đang hiện hữu” (Ý thức luận. Khảo luận về các dữ kiện trực tiếp của ý thức, tr. 8).

Đó là niềm vui của hiện hữu, toàn vẹn và sâu xa; đó là một sự viên mãn, một sự hòa dung của những tình cảm được sống, của những phẩm tính. Trong sự hòa dung ấy, chúng ta thực sự là chính mình, và tự do: “Hành vi mang dấu ấn của con người chúng ta là hành vi thực sự tự do, bởi chỉ cái tôi của chúng ta mới có thể nhận mình là tác giả của nó” (Ý thức luận. Khảo luận về các dữ kiện trực tiếp của ý thức, tr. 130).

Cái tôi tự do ấy giống như một tác phẩm nghệ thuật; nó là sự duyên dáng: nó hướng về tha nhân với sự đồng cảm, nhẹ nhàng, với “một sự đồng cảm linh động, luôn luôn ở bên bờ của việc tự hiến mình, vốn là chính yếu tính của sự duyên dáng cao hơn” (Khảo luận về các dữ kiện trực tiếp của ý thức, tr. 10).

Ký ức là chức năng nhờ đó ý thức có thể sử dụng sự viên mãn ấy: “Một ý thức không giữ lại chút gì từ quá khứ của nó, không ngừng tự quên mình, sẽ tiêu vong và tái sinh ở mỗi khoảnh khắc: còn có thể định nghĩa vô thức cách nào khác? […] Mọi ý thức, do đó, đều là ký ức – sự bảo tồn và tích lũy quá khứ trong hiện tại” (L’Énergie spirituell / Năng lượng tinh thần, tr. 5). Khoảnh khắc hiện tại giống như một chiếc cầu giữa quá khứ và tương lai: “Hãy xét hướng vận động của tinh thần bạn vào bất kỳ lúc nào: bạn sẽ thấy nó bận tâm đến cái đang là, nhưng nhất là nhằm tới cái sắp là” (Năng lượng tinh thần. Tr 20)

Thời độ thực, được nắm bắt trong trực giác triết học, do đó chính là ý thức, “nghĩa là ký ức cùng với tự do […] một tính liên tục của sáng tạo trong một thời độ nơi thực sự có sự tăng trưởng” (Năng lượng tinh thần, tr. 17). Như vậy, sự suy niệm về thời độ làm cho chúng ta vui hơn và mạnh hơn: “Vui hơn, bởi vì thực tại đang tự phát minh ra dưới mắt chúng ta sẽ không ngừng đem lại cho mỗi người trong chúng ta một vài trong số những thỏa mãn mà nghệ thuật chỉ thỉnh thoảng mới mang lại cho những kẻ được số phận ưu đãi…” (Tư duy và chuyển động, tr. 133). Tự do và ký ức, trong sự viên mãn của chúng, chính là thành tựu và niềm vui: “Niềm vui bao giờ cũng báo hiệu rằng sự sống đã thành công, rằng nó đã giành thêm địa bàn, rằng nó đã đạt được một chiến thắng: mọi niềm vui lớn đều mang một âm hưởng khải hoàn […] ở đâu có niềm vui, ở đó có sáng tạo: sáng tạo càng phong phú, niềm vui càng sâu xa” (Năng lượng tinh thần, tr. 23).

3. Đà sống: sức mạnh và nguồn gốc của nó

Tiến hóa sáng tạo là nhan đề tác phẩm nổi tiếng nhất của Bergson, xuất bản năm 1907. Khi bàn luận về Bergson, chúng ta thường tiến hành khảo sát với từng tác phẩm một của ông. Thế nhưng giữa các tác phẩm ấy luôn có một sự thống nhất sâu xa, bởi sự diễn giải luôn luôn được triển khai từ một cặp thuật ngữ đối lập, chẳng hạn như không gian – thời gian và thời độ thuần túy, hay vật chất và ký ức.

Vậy Tiến hóa sáng tạo nói về điều gì? Tác phẩm này đối diện với các vấn đề của sự sống. Bergson kinh ngạc trước cái sống, trước sự đa dạng kỳ diệu và đáng khâm phục của các loài sinh vật, cũng như trước khả năng thích nghi của chúng với những nhu cầu sống còn. Sự kinh ngạc ấy, vả lại, đã không ngừng biểu hiện suốt lịch sử tư tưởng nhân loại và bất chấp những tiến bộ quyết định của vi sinh học trong thời hiện đại, sự kinh ngạc ấy vẫn tiếp tục. Nhưng Bergson còn kinh ngạc hơn nữa trước sự bất lực của chúng ta trong việc khám phá ra cái làm nên bản chất của sự sống vô cùng sáng tạo ấy. Dù chính chúng ta là những hữu thể sống, và dù sinh học vẫn tiếp tục tiến bộ, chúng ta hầu như vẫn không hiểu gì về sự sống xét như là tiến hóa sáng tạo. Đúng ra, chúng ta đạt được một số kết quả, nắm bắt được các cơ chế sinh học, vân vân. Nhưng sự sống vẫn còn là một bí ẩn. Vì sao?

Và một câu hỏi quan trọng nữa: một sự sống “đã đạt tới thành công” sẽ là gì? Với ông, đó là một năng lực năng động, một “đà”: đà sống (élan vital) (Tiến hóa Sáng tạo, chương 3). Thuyết tiến hóa thế kỷ XIX nhìn sự vật từ bên dưới, hình dung các loài được hình thành do tác động của ngẫu nhiên. Trong Tiến hóa sáng tạo, Bergson khảo sát giả thuyết này xuất phát từ các sự kiện. Trong vận động của sự sống, ông không thấy một sự tích lũy những biến đổi nhỏ ngẫu nhiên, mà là một “đà” thúc đẩy, làm sinh động các sáng tạo sống. Người ta đã hiểu sai nhan đề Tiến hóa sáng tạo: quyền năng hiện diện trong đó là một cái hoàn toàn khác với những biến đổi vật chất mà nó tạo ra khi chuyển từ loài này sang loài khác qua các thời đại. Những biến đổi ấy chỉ là cái mà nó để lại phía sau mình. Đối với nhà triết học, người đã khảo sát các sự kiện với tinh thần phê phán và khoa học không định kiến, sự nối tiếp của các hình thức này biểu lộ một quyền năng làm cho cái mới hiện hữu. Quyền năng ấy có khả năng tích lũy và biến đổi năng lượng đơn thuần vật lý: trên trái đất, đó là năng lượng của mặt trời nhờ thực vật. Chính một cách cụ thể mà ta thấy nó đang hoạt động: “Toàn bộ sự sống, động vật cũng như thực vật, trong cái cốt yếu của nó, hiện ra như một nỗ lực nhằm tích lũy năng lượng, rồi sau đó phóng thích năng lượng ấy vào những kênh mềm dẻo, có thể biến dạng, ở tận cùng các kênh ấy nó sẽ thực hiện những công việc vô cùng đa dạng. Đó là điều mà Đà sống, khi xuyên qua vật chất, muốn đạt được ngay tức khắc” (Tiến hóa Sáng tạo, tr. 254).

Vậy đà sống này không phải là một lực vật lý, cũng không phải chỉ là một năng lực năng động sinh học đơn thuần: “Sự sống, trong thực tế, thuộc trật tự tâm lý” (Tiến hóa Sáng tạo, tr. 258). Năm 1907, trên địa hạt rộng lớn hơn này, Bergson tiếp tục cái công việc đã được khởi đầu trong Luận về những dữ kiện trực tiếp của ý thức của hai mươi năm trước, cái công việc cũng đã được xác định rõ hơn trong Vật chất và ký ức mười năm trước đó: “Dù bàn đến vấn đề nào, Bergson bao giờ cũng trở lại với việc khẳng định rằng, ngay trong bản chất của nó, thực tại là một năng lực năng động mà tính phong nhiêu không thể bị quy giản thành tổng số các hiệu quả của nó. Trái tim ấy của cái thực, nguồn mạch và nguyên nhân của nó, để lại phía sau mình những hành vi và sự vật, giống như một nghệ sĩ sáng tạo đi qua và để lại một vệt dài các tác phẩm. Chừng nào còn sống, người nghệ sĩ vẫn luôn còn chuyển động để đi xa hơn, đến mức vũ trụ dường như là tác phẩm của một năng lượng, và như thể của một sức mạnh phát minh không thể cạn kiệt, mà tính phong nhiêu không bao giờ ngừng lại” (Gilson, Souvenir de Bergson / Ký ức về Bergson, Revue de métaphysique et de morale, 1959, tr. 136).

Tuy nhiên, ở đây có một chữ “nhưng”: hoạt động sáng tạo này, khi ta xem xét nó trong trật tự đơn thuần của sự sống, tự nó hàm chứa một giới hạn nội tại và cốt yếu. Như ta đã thấy, đà sống ấy xuyên qua vật chất; nó muốn đạt được ngay tức khắc một sự đa dạng vô hạn các hình thức luôn luôn mới: “Hẳn nó sẽ thành công, nếu quyền năng của nó là vô hạn, hoặc nếu một sự trợ giúp nào đó từ bên ngoài có thể đến với nó. Nhưng đà ấy lại là hữu hạn, và nó đã được ban cho một lần là xong. Nó không thể vượt qua mọi trở ngại” (Tiến hóa Sáng tạo, tr. 254). Một đà hữu hạn, đã được ban cho và đang chờ đợi một sự trợ giúp nào đó từ bên ngoài. Chính vì thế các loài sống giẫm chân tại chỗ, mỗi loài lặp đi lặp lại vô hạn cùng một giai điệu.

Ở Bergson còn có một lưỡng tính quan trọng khác, cần phải khám phá và thấu hiểu. Đà sống, vốn ở nguồn gốc là chung cho mọi thụ tạo, đã phát triển theo hai hướng phân kỳ: theo hướng tiến hóa của bản năng, và theo hướng tiến hóa của trí tuệ.

Dòng tiến hóa của bản năng đạt tới điểm cao nhất nơi côn trùng; dòng tiến hóa của trí tuệ đạt tới điểm cao nhất nơi con người. Bản năng là một phương thức của đà sống, nhờ đó hữu thể sống thích nghi một cách chắc chắn, nhưng mù quáng, với môi trường vật chất của nó. Đà sống đã trang bị cho côn trùng những cơ quan cho phép chúng thích nghi, với một sự chắc chắn mù quáng, với các điều kiện của thế giới xung quanh. Bản năng sống, hình thức ấy của đà sống, biết sản sinh ra, không cần đến ý thức, những cơ quan cần thiết cho việc thỏa mãn các nhu cầu sống còn. Sự đa dạng phi thường của côn trùng minh họa một cách đáng kinh ngạc cho năng lực cực kỳ phức tạp ấy của bản năng trong việc thích nghi với hoàn cảnh.

Mặt khác, dòng thích nghi của trí tuệ dẫn đến sự hình thành nhân loại. Vậy trí tuệ là gì? Cái trí tuệ tạo ra không phải là các cơ quan bên trong cơ thể, mà là những công cụ phải được dùng ở bên ngoài. Với tư cách là “kẻ” phát minh ra công cụ, trí tuệ phục vụ con người để họ có thể thỏa mãn các nhu cầu của mình; vì vậy, nó mang tính thực hành ở mức cao nhất. Nó tương ứng với định nghĩa con người như homo faber (kẻ chế tạo công cụ). Khác với bản năng, trí tuệ làm việc từ xa. Nó biết quan niệm, tưởng tượng, hoạch định. Nó tạo ra công cụ của mình từ các mảnh và bộ phận, để công cụ ấy có thể phục vụ cho cái mà nó được làm ra để phục vụ, thực hiện điều đã được quan niệm từ trước.

Theo Bergson: trí tuệ và bản năng không hề đối lập với nhau. Về nguồn gốc, chúng thống nhất với nhau; chúng thâm nhập lẫn nhau trong đà sống; và từ nguồn gốc chung ấy, chúng vẫn còn giữ lại một điều gì đó chung. Ta không bao giờ gặp bản năng hay trí tuệ, tách riêng nhau, ở trạng thái riêng biệt thuần túy. Bao giờ người ta cũng phát hiện thấy những dấu vết của bản năng trong trí tuệ, và những tàn dư của trí tuệ trong bản năng. Điều này không ngăn cản chúng khác nhau về bản chất, ngay cả nếu các thuật ngữ này chỉ những khuynh hướng hơn là những chức năng đã hoàn tất.

Bản năng thường vận hành một cách vô thức, cũng như những hành động chúng ta thực hiện do thuần túy thói quen cũng là vô thức. Khi đó, chỉ cần hành động, và không còn chỗ cho một biểu tượng về hành động ấy. Trái lại, trí tuệ mò mẫm, do tình trạng bất định của mình, phải viện đến ý thức. Bản năng sử dụng một “tri thức” vô thức và được diễn ra trong hành động, trong khi tri thức ấy được trí tuệ suy nghĩ một cách có ý thức. Bergson viết: “Có những điều chỉ trí tuệ mới có khả năng tìm kiếm, nhưng nếu bị bỏ mặc cho chính mình thì nó sẽ không bao giờ tìm thấy. Những điều ấy, bản năng sẽ tìm thấy; nhưng nó sẽ không bao giờ tìm kiếm.” Vậy những “điều” ấy là gì? Chính đó là cái sống trong cái sống: bản thân sự sống: đà sống.

Như vậy, chúng ta gặp lại ở đây một khái niệm trung tâm của triết học Bergson: trực giác. Đó là tên gọi của bản năng khi nó đạt tới khả năng “tách mình khỏi hoạt động riêng của mình” và nhờ đó có thể phản tỉnh về về đối tượng của mình và mở rộng nó ra không giới hạn. Tuy nhiên, ngay cả khi đó, sự thành công ấy của trực giác cũng không có nghĩa là một chiến thắng hoàn toàn đối với trí tuệ: trí tuệ vẫn có phần của nó trong đó, bởi nếu không có trí tuệ, bản năng sẽ vẫn bị giam kín trong hoạt động thực tiễn, hạn chế và vô thức của mình.

Bergson nhấn mạnh rằng con người khó biết bao khi phải tự giải phóng mình khỏi các nhu cầu và lợi ích thực tiễn, qua đó nó bị nô lệ hóa đồng thời vào trí tuệ cơ giới luận và bản năng mù quáng của mình, để đạt tới tri thức về cái sống mà chỉ sự đồng cảm vô tư, điều ông gọi là “trực giác”, mới cho phép. Để thành công, có thể nói con người phải chống lại chính mình, cho đến khi mở ra với một thực tại khác và với một tri thức thuộc một trật tự khác.

****

Chú thích:

(1) Essai sur les données immédiates de la conscience, PUF,1889. Bản dịch tiếng Việt: Ý thức luận. Khảo luận về các dữ kiện trực tiếp của ý thức. Cao Văn Luận dịch, Phạm Anh Tuấn hiệu chú. NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2018

(2) Matière et mémoire, essai sur la relation du corps à l’esprit, PUF 1896. Bản dịch tiếng Việt : Vật chất và Ký ức. Cao Văn Luận dịch, Phạm Anh Tuấn hiệu chú. NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2018

(3) L’Evolution créatrice, PUF 1907. Bản dịch tiếng Việt: Tiến hóa Sáng tạo. Nguyễn Anh Cường dịch. Mega+ và NXB Hà Nội xuất bản, Hà Nội, 2026

(4) Durée et simultanéité, à propos de la théorie d’Einstein, PUF 1922. Bản dịch tiếng Việt : Thời độ và đồng thời, về lý thuyết của Einstein. Đinh Trần Phương dịch. Mega+ và NXB Hà Nội xuất bản, Hà Nội, 2026

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.