Thơ Hồ Minh Tâm – “Muốn nói chi thì nói”!

Đinh Thanh Huyền

 

Hồ Minh Tâm

 

“Điều bạn tìm kiếm cũng đang tìm kiếm bạn.”

Jalal al-Din Rumi

Câu nói trên được cho là diễn giải ý tưởng của Jalal al-Din Rumi (nhà thơ Ba Tư thế kỉ 13). Tôi thích câu ấy vì nó phù hợp với niềm tin của tôi về những mối duyên bí ẩn xảy ra trong đời chúng ta. Những khát khao tìm kiếm của chúng ta không phải một chiều, càng không phải định mệnh. Nếu ta nhớ ai đó thì không chỉ là ta nhớ mà chính nỗi nhớ đang vẫy gọi ta. Nếu ta thiết tha chờ đợi những bài thơ mang vẻ đẹp của sự sáng tạo thì có nghĩa chính những bài thơ ấy cũng đang tìm ta. Vì thế, việc một bài thơ “chạm” được đến ta chính là sự đáp ứng giữa một khát vọng bên trong người đọc và một khả năng đang chờ được đánh thức ở tác phẩm.

Tôi tin điều ấy khi gặp thơ Hồ Minh Tâm.

Đã từ lâu tôi chờ đợi những bài thơ có thể khiến tôi hạnh phúc, những bài thơ có thể mang tôi đi qua biên giới của sự sống và cái chết, những bài thơ có thể nhẹ nhàng đặt tôi xuống mặt đất bình dị, để biết rằng dẫu đời có mạt đến đâu cũng vẫn có mầm mống hi vọng chống đỡ.

Tôi có được điều ấy khi gặp thơ Hồ Minh Tâm.

Và bạn của tôi ơi! Đừng vội đọc thơ ông nếu chưa nghe tôi nói rằng đó là thứ thơ không dễ “vào”. Không phải tất cả thơ của Hồ Minh Tâm đều hay nhưng không có bài dở. Thơ ấy không phô diễn kĩ thuật bởi kĩ thuật đã chín trong máu thịt, trong từng tế bào thơ, hơn nữa, kĩ thuật không được chọn trước mà sinh ra trong từng quyết định nhỏ. Thơ ấy được viết bằng độ nhạy cảm đặc biệt với những tiềm năng của ngôn từ trong mỗi tình huống sáng tạo. Ngôn từ thơ Hồ Minh Tâm tự nhiên như không cần cố gắng nhưng có độ chính xác rất cao, có khả năng vượt qua những lối biểu đạt quen thuộc bằng những chuyển động ngôn ngữ bất ngờ. Đó là thứ ngôn từ đa thanh, một hiện tượng thuộc vào loại hiếm trong thơ đương đại Việt Nam. Và ở bài viết này, tôi đặc biệt chú ý đến khả năng vừa “ghi bàn” vừa “kiến tạo” của thơ Hồ Minh Tâm: vừa tạo diễn ngôn vừa đưa người đọc vào vùng tạo nghĩa. Vì lẽ đó, những điều tôi đọc được ở thơ Hồ Minh Tâm, phần nào là của tác giả, phần nào của tôi, có lẽ khó phân định rạch ròi. Nhưng, nếu người đọc không được đặt chân vào lãnh địa của bài thơ, không tự tạo được dư vang từ quá khứ âm u của chính mình, không tự mở được những chân trời xa xôi của tâm trí mình, thơ còn có nghĩa lí gì!

Thơ Hồ Minh Tâm khiến tôi không tránh khỏi một phản ứng khiếm nhã: muốn hiểu về con người đằng sau thơ. Vốn dĩ tôi ít quan tâm đến từng tác giả như một con người với đời sống cá nhân và tính cách cụ thể. Nhưng trong thơ Hồ Minh Tâm, ai thấy sao thì thấy, tôi thấy một con người phơi mình ra một cách thành thật nhất và cũng từ tốn nhất. Buồn đến mấy cũng từ tốn, tổn thương đến mấy cũng từ tốn. Người không bao giờ nhìn đời sống trong hình hài trực tiếp của nó mà luôn nhìn thấy những nghịch lí của tồn tại. Nhưng người không bao giờ phủ nhận đời sống, không xem nó là thứ cần đả phá hay ruồng bỏ. Đó là thơ từ một trí tuệ minh mẫn, biết rõ không có gì là tuyệt đối. Không đúng sai tuyệt đối, không xấu tốt tuyệt đối, không hay dở tuyệt đối. Đi đến tận cùng của nhận thức, người thấy được vạn sự trên đời này đều cũng chung số phận, đều chia sẻ một hành trình của những linh hồn lang thang đang tìm lối đi giữa nghĩa địa sống. Một người sống đời đô thị, tham dự vào mọi chuyển động của những đô thị lớn nhất đất nước và để cho cái trống rỗng đô thị xâm chiếm mình. Hoặc cái trống rỗng đó sẵn có, chỉ là đô thị làm cho nó trương nở, nứt tung khỏi lớp vỏ bình ổn bên ngoài, thoát ra. Tôi đi như mình đang sống/ như cái đinh vít xuyên rách ngày/ neo cái gì đó/ tôi gọi là vá víu/ cũng để không cho cái gì (Ngày, cũng muốn nói chi thì nói).

Thế giới ta một mình quơ tay như mù thoải mái (Mùa, lại muốn nói chi thì nói)

Thế nên/ 6h kém, sáng mai nhất định kéo nhau ra quán cũ/gọi ly đen đá, uống xong/ về/ vậy thôi/ là đủ tình yêu để sống sôi động đến chiều (Rồi ngày nữa cũng sắp qua… trò chuyện với con thằn lằn không sướng mấy!)

Nếu nhìn sâu vào đời sống nhân loại, ta sẽ thấy không ai, dù thành công đến mấy mà thực sự thấy mình là máu thịt của cõi thế này. Khi loài người bận rộn tranh cãi với nhau về việc đời sống này là duy nhất hay có tái sinh luân hồi, người ta vẫn không thể phủ nhận nỗi cô đơn thăm thẳm của mỗi cá nhân giữa đời. Nếu con người có thể tìm thấy vị thế thực sự của mình trong cõi nhân sinh thì nỗi cô đơn ấy từ đâu ra? Cái trống rỗng ấy từ đâu ra? Vì sao ngay cả lúc hạnh phúc nhất, con người lại bất chợt thấy mọi sự vô nghĩa. Thứ cảm xúc lạc quẻ đó cứ nhằm những lúc người ta lơ là để trỗi dậy, khiến niềm vui không bao giờ trọn vẹn, khiến sau tiếng cười là một khoảng hao hụt mênh mông mở ra làm gân cơ trí não uể oải. Như một vực thẳm cứ chực chờ buộc con người phải tập dần cho quen, khiến người ta chỉ có thể bùng nổ trong giây lát rồi lại cúi mặt lầm lũi đi.

Đời sống trong thơ Hồ Minh Tâm đập vào giác quan với những kệch cỡm, thô thiển, trần trụi sặc mùi tiền, nó hiện ra méo mó, ngột ngạt và đầy tính trình diễn: chỉ có chúng ta chỉ có nhâng dzâng ta mới làm nên kỳ dzỹ ấy/ lông ngỗng xưa là điều tầm bậy/ (tầm bậy hơn cả Thánh Gióng về trời vui thú điền viên)/ ao ta dài cả dặm/ áo dài ta dài từ đó đến giờ/ trời tròn đất vuông trời vuông đất tròn/ không nơi nào oai như bánh chưng tấn chúng ta/ bom tấn còn sợ/ nhâng dzâng ta không dám sợ/ ta, đương nhiên không dại gì mà sợ/ một dãy không không không chừng ấy số không sợ gì!? (94000000000000 hạt mưa);

vỗ tay đi bà con, nhưng nhớ nhé chỉ vỗ tay độc lập!/ cấm guitar, cấm violon, cấm hát hò ở vườn hoa/ cấm lưỡi/ hai bàn chân phố, bốn bàn chân quê, ngàn vạn bàn chân/ lúa ngô đã cụt con đường/ hai cái gậy chống/gồng ngôn tự/ hai mũi tên quay đầu vào quá khứ/ vỗ tay đi bà con nhưng nhớ nhé chỉ vỗ tay độc lập (11);

Đó là đời sống mà khẩu hiệu lấn át con người: mùa băng rôn/ nhiệt. thần. diệt. bất. liệt. tinh… gì đó/ đường đất trắng vắt ngang đồng làng/ như chiếc khăn số khổng lồ cho vong hồn dân tộc/ lúa xanh nhè nhẹ/ tôi đi tìm/ bà tôi chết thời bệnh hoạn/ băng rôn chả liên quan gì/ ê hề/ chán/ mùa này đếch viết được (mùa băng rôn);

Hồ Minh Tâm có một bài thơ cao tay về thủ pháp: Có hai việc cụ thể đặt ra cho chúng ta và phải làm bằng được dứt điểm trong kỳ này/ việc thứ nhất có ý nghĩa vô cũng quan trọng vô cùng quyết định/ nó đánh dấu nó định hướng nó định chế không chỉ cho ngày hôm nay mà cho cả ngày mai ngày kia nó khái quát lại ngày hôm qua vâng, tôi cho rằng là cho cả một giai đoạn lịch sử/ ta phải giải quyết triệt để quyết liệt một cách có hiệu quả việc thứ nhất này/ tất nhiên là vâng tất nhiên/ muốn đạt kết quả cao khả quan công việc tôi vừa nói/ chúng ta phải năng động phải duy một cách có biện chứng, có khoa học, có đột phávề lịch sử!/ thế nào là lịch sử/ thế nào là lịch sử/ …/ thế nào là lịch sử/ vâng thế nào là lịch sửcác vị, đúng không?/…/ Việc thứ hai là đánh giá một cách khách quan, dân chủ công minh phải thông qua ý kiến tập thể, ý kiến nhân dânmọi tầng lớp công dân nhìn nhận rõ việc này là công việc thứ nhất chúng ta vừa đạt được/ tôi đánh giá cao công việc này/ việc thứ ba là còn một việc quan trọng này nữa/ mời các vị giải lao (Nhắc việc). (Bài thơ khiến tôi liên tưởng đến sự kiện Duchamp mang chiếc bồn tiểu vào bảo tàng). Hồ Minh Tâm đã “bê” nguyên một phát biểu/huấn thị/chỉ đạo của lãnh đạo trong một cuộc họp nào đó. Ở bài này, thơ được tạo ra bằng cách tìm thấy một văn bản có sẵn trong đời sống rồi đặt nó vào bối cảnh nghệ thuật. Hành ngôn quyền lực nhuốm màu hành chính bành trướng, phô trương như một thiết chế từ đầu đến cuối, tự nó hoạt động như một kí hiệu có tính áp đặt tuyệt đối. Hồ Minh Tâm đã biến một diễn ngôn chức năng thành một đối tượng thẩm mĩ. Khi bị tách khỏi môi trường quyền lực thực tế và đặt vào không gian thơ, ngôn ngữ hành chính tự phơi bày ra cái giáo điều, sáo rỗng, vô nghĩa của diễn ngôn quyền lực. Sự vắng mặt của chủ thể phát ngôn khiến diễn ngôn quyền lực được vật thể hóa thành một “nhân vật”, có nhịp điệu, có quán tính, có não trạng riêng. Đồng thời sự rút lui của chủ thể trữ tình khiến người đọc trở thành người hoàn tất ý nghĩa của bài thơ.

Không thể giản đơn coi những dòng/ bài thơ trên của Hồ Minh Tâm là thơ thế sự/thơ phản tư/thơ phản biện xã hội. Ngay cả những thông tin xác thực được cố ý đưa vào bài thơ cũng không nhằm mô tả cái đang đang hiển thị. Sâu bên trong lời thơ, ta thấy ở đây một cái nhìn thật bén vào tính chất phi lí của đời sống vượt lên trên tính sự kiện. Giọng thơ có khi là giễu nhại, ngông nghênh; có lúc chán chường, bức bối, lạnh lùng, mỉa mai đầy ngao ngán và nhiều khi căng cứng, bức nghẹn sự phản kháng ngầm. Sâu bên dưới là cảm giác mệt mỏi, bất an và mất kết nối với các giá trị thật của đời sống.

Nhân vật trữ tình nhìn đời sống đó trôi đi, xa lạ. Nhưng nó không trôi đi dễ dàng đến thế. Đời sống khiến con người như biến thành kẻ lạ trong chính thân thể mình. Trong người ấy có khu rừng thâm u mỗi ngày một lớn lên. Khu rừng tối ấy là thế giới không ai hay biết, nó nguyên sơ và im lặng cùng với con người đi qua cuộc đời ô trọc. Và “tôi” nhìn mình như một khách thể lại như một linh hồn bất lực chìm dần trong chính mình: Tôi nợ con mắt, nlỗ tai, nợ cơn ho/ tôi nợ khu rừng thâm u trong tôi/ tôi thừa nhận minh bạch với con mắt, l tai, cơn ho và khu rừng: tôi là con nợ/ may, chủ nợ tử tế/vẫn cứ dâng tặng mỗi ngày một lời khuyên: nếu chưa chết được thì cứ/cố bịt mắt bịt tai bịt mồm mà phát triển/khu rừng ngày một lớn lên (Tùy thích có mức độ).

Mỗi sự kiện của đời sống xuất hiện trong thơ Hồ Minh Tâm đều có thể tải lên một chiêm nghiệm nào đó: tháng giêng tới/ nghĩa là năm đã mới/ hiển nhiên như một block lịch mới trên bức tường cũ/ và rồi sẽ bỏ từng ngày cho vào sọt rác/ rách nát ngày sau đè tên rách nát ngày trước/ tháng giêng (Tháng Giêng). Bắt đầu của năm mới nhưng lời thơ lại trào lên nỗi ngao ngán, cay đắng về những giá trị giả: vui buồn thật giả/ thiện ác thật giả/ anh minh ngu đần thật giả/ kẻ cướp anh hùng thật giả/ (chẳng biết đâu mà lần). Sự liệt kê gần như vô cảm lại tạo nên giọng mỉa mai, khiến người đọc cảm nhận một hiện thực mà mọi giá trị đều bị nghi ngờ. Còn cái thật, chỉ xuất hiện trong sáu chữ: bàn dân/ khóc thật/ cười thật nhưng trĩu xuống, nặng gấp ngàn vạn lần cái giả đang nổi bềnh trên bề mặt. Cuộc chơi trào lộng chữ nghĩa giấu phía sau nó nhịp đập uất nghẹn trước bóng tối phận người. Nhưng không chỉ nặng bởi niềm tin đổ nát, bài thơ còn nặng ở lòng biết ơn tiếng hát của người nghệ nhân già Quách Thị Hồ: cám ơn cụ/đã ngâm nga bao nỗi trầm luân từ thế hệ này đan sang thế hệ khác/ làm mới những nỗi buồn không cũ. Ca trù cũng như nhiều làn điệu dân ca cổ không cất lên từ niềm vui, ngược lại từ ca từ đến giai điệu đều mang nỗi buồn truyền kiếp sâu hút. Dân ca không gì khác ngoài tiếng của khổ đau nhân thế. Khổ đau là điều rất cũ nhưng diện mạo thì luôn mới bởi mỗi ngày sống là một ngày khổ đau hiện ra trong muôn vạn hình hài. Lời thơ, cảm xúc của Hồ Minh Tâm rất điềm tĩnh, tỉnh táo. Chính sự tiết chế cảm xúc, không kể lể than vãn, giọng điệu hòa quyện giữa chất triết luận, chất trào lộng và lòng trắc ẩn khiến thơ càng trở nên sắc bén, ám ảnh hơn.

Thơ Hồ Minh Tâm là cuộc truy tìm khả thể tồn tại của con người hiện đại: từ đô thị, quê hương, tình yêu, cái chết đến thơ, mọi chủ đề cuối cùng đều quy tụ vào câu hỏi về cách con người tiếp tục sống và nhận diện chính mình trong một thế giới phân mảnh. Trong chùm 6 bài Bóng tối, bóng tối là khởi đầu và kết thúc của vạn vật. Trong bóng tối, không thể phân biệt được bất cứ thứ gì: một cơn gì đó (có thể như là cơn mưa)/ lơ lửng/ nước (có thể như vậy)/ lửa (có thể)/ những hạt bụi (có thể)/ không biết sẽ đi đâu. (Khởi đầu là bóng tối)

Bóng tối làm cho tất cả mất phương hướng: bóng tối/ tiếng chuông đi mãi đi mãi phương trời nào cũng giao thoa cực đại lẻ loi. (Bóng tối 1)

Bóng tối có khi như trẻ nhỏ, như mới lớn, dễ chạnh lòng, dễ buồn rầu, hay nghĩ ngợi: đom đóm thì làm sao sáng bằng ánh điện!/ nhưng bóng điện thì không thể bỏ vào ống đu đủ cho trẻ con chơi/ bóng tối buồn rầu/ Bóng tối lớn lên từ xấp vải nâu/ mẹ bóng tối trồng dâu/ bóng tối nghĩ đời mình trước sau sẽ lụa/ bóng tối nằm chờ ánh sáng/ bóng tối đủ ngày đủ tháng (Bóng tối 2)

Bóng tối tinh quái/tai quái chơi xỏ mọi cuộc tranh đấu, dập tắt cơn huênh hoang của những bản ngã phì đại. Bằng cách nhấn chìm tất cả, bóng tối cho thấy rốt cuộc có chi trên đời là quan trọng? Nào có chi! (Bóng tối 3)

Và bóng tối đánh thức tự do, nỗi buồn, tình quê hương trong con người (Bóng tối 4)

Bóng tối là một sinh thể đầy quyền năng, cũng là một linh hồn nhạy cảm. Bóng tối mang trong nó ánh sáng, nuôi dưỡng ánh sáng, không có bóng tối cũng không có ánh sáng. Bóng tối là thực thể không thể kiểm soát được kể cả khi nó ở ngoài hay ở trong con người. Viết về bóng tối, dường như nhà thơ đang khơi dậy cả nỗi sợ hãi và sự thân thuộc trong tâm thức. Rằng không ai từ chối được bóng tối nhưng ai cũng có thể từ bóng tối mà nhìn thấy chính mình. Bóng tối trong thơ Hồ Minh Tâm không màu, chỉ là một cái gì sâu thẳm, trong suốt như quang minh. Trước bóng tối, trong bóng tối, những giả trá rụng dần như lớp vảy bong ra, để lộ tấm thân trần trụi nhưng mạnh mẽ vô ngần.

Trong bài thơ Đếm, Hồ Minh Tâm viết: Mỗi ngón tay là một bộ mặt/ một hai ba bốn năm sáu bảy tám chính mười/ mười chín tám bảy sáu/ năm bốn ba/ hai một/ không/ tôi rơi ra ngoài những gì mình có/ mỗi ngón tay là một đoạn đường/ mười ngón thì sao/ bao nhiêu ngón tay thì mình không về nữa? Đếm ngón tay, một hành động có vẻ gì lẩn thẩn. Vòng đếm từ một đến mười rồi lại từ mười đếm lùi lại, nhưng kết thúc là không. Người ta không rảnh rỗi đến thế để chỉ đếm ngón tay mình. Mỗi ngón tay là một đoạn đường đời nhưng mười ngón tay chắc chi đã là mười đoạn. Sống chỉ là đếm xuôi đếm ngược những đoạn đời đã qua và tự hỏi bao nhiêu ngón tay thì mình không về nữa? Tất cả những tiếng đếm đều đều, buồn tẻ, rời rạc và câu hỏi như có như không cuối bài thơ vẽ nên một cảnh tượng dị thường mà chỉ kẻ làm thơ mới hiểu nổi. Sóng gió nào cuộn lên trong tâm để buông xuống cái hài hước  pha lẫn ngậm ngùi nhìn đời mình như đời ai đó?

Nhiều khi, nhân vật trữ tình tự quan sát mình, tự vẽ chân dung mình bằng những nét kì dị, một bức chân dung phi lí (Chân dung): đôi khi/ ta nhìn vào mặt người/ không thấy mặt người/ chỉ thấy một hố sâu/ hình như là miệng/ con mắt/ chẳng biết chạy đâu/ chắc đang chạy tìm một câu gì đâu đó/ mũi người giờ chỉ còn một lỗ nhỏ/ sự đời chen chúc vào ra. Chính tác giả của nó cũng khó mà nói được nguyên mẫu hay chân dung, cái nào là mình: đôi khi/ ta gặp ta/ kẻ đối diện buông lời/ hình như bọn mình quen biết/ đểu thật! Bức chân dung được tạo ra bằng sự phủ định liên tiếp. Gương mặt vốn là dấu hiệu căn bản của nhân tính và căn cước nhưng ở đây không thấy mặt người, thay vào đó chỉ còn một hố sâu. Gương mặt đã trở thành một khoảng rỗng. Cái phi lí vì thế không phải sự méo mó của hình hài mà là sự biến mất của chính điều làm nên con người. Ở đó, mọi cơ quan đều đánh mất chức năng tự nhiên của nó. Con mắt không còn để nhìn mà chạy tìm một câu gì đâu đó –  hoạt động sinh học bị thay thế bằng một cuộc truy tìm ngôn ngữ. Ngược lại, mũi không phải để thở mà chỉ còn một lỗ nhỏ/ sự đời chen chúc vào ra như thể toàn bộ hiện thực đi xuyên qua cơ thể mà không còn bất kì bộ lọc nào. Các cơ quan không còn phục vụ cơ thể, chúng vận hành theo một logic khác, vừa độc lập vừa vô nghĩa. Đó là một thế giới nơi quan hệ giữa hình thể và chức năng đã bị cắt đứt. Đoạn kết đã đẩy sự phi lí từ hình thể sang bản thể: đôi khi/ ta gặp ta/ kẻ đối diện buông lời/ hình như bọn mình quen biết/ đểu thật! Thông thường, tự gặp mình phải là khoảnh khắc nhận ra mình. Nhưng ở đây, cái tôi chỉ hiện diện như một người xa lạ đang nói: hình như bọn mình quen biết. Mối quan hệ giữa chủ thể với bản thân bị hạ xuống ngang với cuộc gặp tình cờ giữa hai người không chắc đã từng quen. Câu cảm thán đểu thật! – một khẩu ngữ –  phá nốt cái tất yếu như thể chính cái tôi cũng cười cợt trước sự bất khả của việc tự nhận diện. Ở đây, chuỗi liên tưởng liên tục trượt khỏi logic thông thường. Người đọc không thể quy chiếu những hình ảnh thơ vào một hiện thực cụ thể mà buộc phải theo dõi chính quá trình ý nghĩ tự phát sinh, tự lệch hướng. Cái phi lí ở thơ Hồ Minh Tâm không giống phi lí của chủ nghĩa siêu thực, nơi các hình ảnh được giải phóng khỏi logic hiện thực, cũng không hoàn toàn giống phi lí kiểu Franz Kafka, nơi con người bị một thế giới vô nghĩa áp đảo. Ở đây, sự phi lí nảy sinh ngay trong hoạt động tự ý thức. Chủ thể tự quan sát mình, nhưng càng quan sát thì chân dung càng tan rã, càng cố nhận diện thì khoảng cách giữa ta và ta càng lớn. Từ đó, đoạn thơ đặt ra một câu hỏi căn bản: nếu ngay cả khi nhìn vào mình, ta cũng chỉ gặp một kẻ xa lạ nói hình như bọn mình quen biết thì liệu còn có thể tin vào một cái tôi thống nhất và ổn định hay không? Chính ở điểm này, cái phi lí của Hồ Minh Tâm đã trở thành một chiến lược biểu đạt: ông dùng sự phi lí để phủ nhận ảo tưởng về một bản ngã hoàn chỉnh, thay vào đó phơi bày cái tôi như một thực thể luôn trượt khỏi chính khả năng nhận diện của mình.

Nhưng thơ không phải trí năng (điều này, tôi đã nhiều lần khẳng định). Thơ là tiếng nói của phần trực giác, cái làm nên ý nghĩa và phương hướng của cuộc đời con người. Thơ không thu thập tri thức và thông tin. Thơ mở ra một sự thấu suốt giản dị, nơi con người có được chìa khóa dẫn đến sự mặc khải về tinh thần. Trong thơ Hồ Minh Tâm, hiện thực càng phì đại, vụn vỡ, phi lí bao nhiêu thì con người càng gắng tìm về với những giá trị bản chất của sự sống bấy nhiêu. Hồ Minh Tâm có viết về tình yêu không? Có chứ! là thứ tình yêu lặng lẽ được giấu sau giọng thơ ngông nghênh, làm như tình yêu là cái gì bất chợt. Nhưng đừng để thi sĩ đánh lạc hướng. Tình yêu trong thơ Hồ Minh Tâm có những dấu không thể phai mờ: trong từng xó xỉnh/ từng dấu xếp đặt/ từng khoảng trống đã từng là em…/ có đường vân tay chết lặng (Hương cũ mình về đâu em); Có những trống vắng đầy ăm ắp: chưa/ chưa khi nào như thế/ mình nhớ mình đến tệ/ có gì đó như cánh buồm ngược gió/ chở trời này/ về em (Bên cạnh chỗ ngồi của trống); Có những cơn đau làm tê tim liệt óc: bầu trời đêm đông đặc/ nhuộm đen cái nhìn vô định/ tôi không tin tất cả màu đen này đều là tóc/ là tròng đen của mắt em/ bởi thuộc về em/ là sự sống/ em giết tôi/ bằng chính cái mà tôi cần để sống/ tất cả màu đen còn lại/ tôi không thấy, không đọc, không hiểu được gì/ em đi (Vậy là tôi đã chết); Và, dầu có hai người, tình yêu cũng bơ vơ như cái chết: đường dài xác chết/ vờ như vừa buột miệng: mình về đâu em?

Cái chết là một vùng đầy ám ảnh khác trong thơ Hồ Minh Tâm: Xa lắm rồi./ dòng sông đêm, dòng sông đen trôi tôi đi mãi. Linh hồn đầy mạn/ thuyền hương ngập ngừng bay/ trước là địa ngục, ngoái đầu sau thiên đàng./ ngày hôm qua đã mất, ngày hôm nay vừa qua/ mai. ừ! còn ngày maivà sau ngày mai, sau nữacòn gì? (Nhảm). Bài thơ có đề từ “cho Lưu Minh Hà – ham chơi xa 21 ngày”. Tôi không biết Lưu Minh Hà là ai, lời đề từ nghĩa là gì và cũng không định tìm hiểu bởi tôi cảm thấy bài thơ dường như viết về cái chết. Tưởng tượng về cái chết là tưởng tượng ngọt ngào nhất mà tâm trí con người hướng tới. Trước khi xả thân về tứ đại, ai cũng có vài lần chìm vào vị ngọt đắng của giấc mơ về cái chết của mình. Dù người ta cố nói về sự sống thì trong thâm tâm, họ đều hiểu sống là hành trình đi về cái chết: sống là khế ước ngắn hạn của cái chết/ đúng không cà/ đôi khi tôi nghĩ/ khác/ vì xác thân tôi vẫn ngoan ngoãn là con ngựa thồ chở giấc mơ chết phi chơi/ hôm qua/ trở trời/ tôi mơ giấc mơ mình sống (nợ). Bài thơ có câu thơ như một phát hiện đầy ngạc nhiên về cái chật vật khốn khổ của việc sống:  Tóc trên đầu vừa nhuộm/ chẳng gì hơn là tự bôi đen tuổi tác của mình/ góc tọa độ [Ô] một quả đầu đang đương đầu sống… Trong tương quan ấy, cái chết xem ra nhẹ nhàng hơn rất nhiều: Xa lắm, xa lắm rồi/ ngón tay cong vẽ dở cuộc tròn/ nửa chừng/ ngắt…/ thế là xong! Ai đã từng muốn nằm xuống rồi không bao giờ tỉnh dậy nữa sẽ hiểu điều câu thơ ấy gợi ra. Và cũng trong tương quan ấy, sống chỉ là những vector gió, vector nắng qua kẽ hờ vút vụt. Tên bài thơ là Nhảm, ừ thì nhảm, nhưng khó có gì nghiêm túc hơn cái nhảm này. Cũng vậy, sống thì nực cười nhưng không có gì nghiêm túc như cái chết: bạn đừng buồn/ tôi viết về nó non lắm, vì… thiếu kinh nghiệm/ tuy thế, có lời khuyên này giờ tôi mới nói/ chết – nên hạn chế (Chết – nên hạn chế).

Hồ Minh Tâm là người Quảng Bình, phần lớn cuộc đời ông gắn với các công trình điện lớn nhỏ từ Bắc chí Nam. Trong thơ ông, có một bài cực hay về tình yêu quê hương – một cụm từ đã bị dùng đến sáo mòn rỗng ruột, người ta nói/nghe/viết đến thành vô cảm. Trách chi! cái gì bị lạm dụng cũng trở nên trơ lì. Nhưng đọc Cho không của buồn, mấy chữ ấy sống lại bằng nguyên tính của nó. Mà có gì to tát đâu, chỉ là mấy địa danh thuở thiếu thời kẹ đờng, kẹ hạ, kẹ thạng, kẹ chuông chợt vang lên giữa Sài Gòn náo nhiệt. Những địa danh xa lạ với bạn bè. Những địa danh vô nghĩa với Gugồ đến mức ứng dụng này ngu ngơ hỏi lại: có phải bạn muốn kẹt đường? Những địa danh một thời bị chính đứa con xa quê chối bỏ. Nhưng những cái tên ấy lại là khói hương cho hồn người bộ hành về quê cũ.

Tôi đã lặng đi rất lâu trước câu thơ này: Tôi không nói nữa, chỉ cúi đầu xác nhận: Tôi đã mọc lên từ vùng đó! Không phải sinh ra mà là mọc lên với tất cả nhọc nhằn và khăng khít của hai chữ ấy. Cũng bởi mọc lên mà từng sợi rễ vô hình cứ tìm về chốn cũ, truyền thông một định tính phong nhân mãi mãi cho quê nhà. Còn đứa con lưu lạc, sau tất cả những Sài Gòn, Hà Nội, ngày mưa, ngày nắng, ngày không mưa không nắng nhận ra: Tôi muốn khác. Con người bị ném vào cuộc náo động nhân sinh mới có thể hiểu được cái muốn của hôm nay thực ra lại là cái đã có, chỉ là đã quên. Nỗi niềm tha hương ấy quen lắm nhưng chưa bao giờ thôi gây xúc động: Phía bên kia tha phương/ phía bên kia/ phía bên kia/ tiếng gọi/…/ quê đâu/ gọi ai đâu/ mà nghe giọng quê mình . (Bóng tối [4] và con gà mót gáy)

Có một hiện tượng rất đáng chú ý trong sáng tạo nghệ thuật: một số nhà thơ không chỉ làm thơ mà còn làm thơ về thơ. Việc thơ trở thành đối tượng trữ tình là biểu hiện của mức độ tự ý thức cao trong hoạt động sáng tạo. Khi nhà thơ bắt đầu suy tư về bản chất của thơ, về ngôn ngữ và hành vi sáng tác, thơ đã đạt được năng lực tự phản tư. Ở những nhà thơ xuất sắc, sự tự ý thức này hiếm khi dừng ở việc bàn luận về nghề; nó thường trở thành một phương thức khám phá bản chất của ngôn ngữ, của sáng tạo và của chính sự tồn tại con người thông qua thơ. Vì thế, hiện tượng này xuất hiện với tần suất đặc biệt cao ở những nhà thơ có ý thức nghệ thuật sâu sắc, nhất là những người luôn đổi mới thi pháp hoặc kiến tạo một quan niệm mới về thơ. Trong thơ Hồ Minh Tâm, những câu hỏi về thơ, về việc làm thơ, về nghĩa lí của sự viết rất tự nhiên trở thành thơ. Đôi khi nhà thơ để cho người đọc thấy được những do dự, những lựa chọn, sự thất bại, sự nghi ngờ, cách hình thành của bài thơ:  Thực ra tôi đang làm thơ đấy chứ/ thình lình chiếc xe rác chạy ngang qua cửa/ nó ch tháng tư ra rìa phố/ tôi đôi cái dở dang câu chữ/ và kịp ném ngày mười lăm lên đó/ bác nhìn tôi (bác tài): ê, ông làm thế e chốn này thiếu tháng/ vâng/ then kìu/ à quên, then xờ (nếp gấp). Lúc ấy, bài thơ không chỉ là kết quả mà còn là quá trình sáng tạo được biểu hiện ngay trong văn bản. Có khi, nhà thơ giải bỏ cái cao đạo của thơ: hắn lại muốn kéo dài sự lắng của thơ/ bằng cách tự coi mình là đất/ nằm ôm và rúng động theo sự ngúng nguẩy của chú giun/ ơ hay con giun đất/ ăn đất ỉa ra đất/ sao không tự gọi mình là đất/ dễ bề tịch lặng/ cứ ngo ngoe/ ngo ngoe/ thì ra thơ là vậy. (Thơ là vậy)

Thế là lại nhắm từng món làm thơ/ (làm thơ làm gìđiù cộ đừng hỏi khó!)/ làm thơ như là động tác khởi động của người già/ ngẩng lên, cúi xuốngxoa lòng bàn tay bàn chân/ trước khi lên đường/giường. (Qua một đêm đến ngày… sướng chi lạ!)

Chẳng biết những con hươu cao cổ cất giấu văn chương của nó vào đâu/ biết rằng mặt trời của ông bò đực mọc lên từ dưới cuống đuôi nàng bò cái/ sự hiểu biết + trí tưởng tượng + thói tò mò = đầy đọa chính họ…/không liên quan gì!/thật đấy/ nhưng đó lại là những điều cần giải quyết trong hội thảo về thơ lần này/ giấc mơ quái quỷ (Chả liên quan gì).

Bài Lại nói về thơ như một mảnh nhỏ xíu ngắt ra từ đời sống. Một bài thơ không có mở và kết để được là một ngữ pháp bình thường. Một bài thơ không có quá khứ gần để hiểu nó gắn vào đâu, không có gợi ý để biết nó sẽ đi đâu. Và điều ấy – lạ thay – lại thực sự phù hợp trong trường hợp bài thơ này. Ông ấy – chắc là một nhà thơ –  người luôn tôn thờ những vẻ đẹp cũ, những nơ-ron thẩm mỹ đã đến thời băng bó nhưng lại nói về mình rằng: thấy không/ mình viết rất mới. Cái giọng tâm tình thân mật của hai câu thơ cuối mới tinh quái làm sao. Bài thơ rất ngắn nhưng hàm chứa một nhận thức nghệ thuật lớn: kẻ không thể thoát ra khỏi từ trường của thơ cũ làm sao có thể viết mới. Nhưng không kẻ làm thơ nào lại không khao khát cái mới như khát khao sự sống. Họ thừa sức hiểu cái giá của sự sáo mòn nhưng muốn là một chuyện, làm được là chuyện khác. Nếu làm mới mình mà dễ như nói thì đâu có thơ hay thơ dở. Thế nên câu cuối bài thơ vĩnh viễn chỉ là mơ tưởng của người biết rõ mình đã ở lại với tên hoa cũ/ mùi cũ của những nhà thơ cũ. Đôi khi, điều người ta khẳng định lại chính là điều người ta không có được. Và tất nhiên, thơ về thơ có lúc chìm vào thơ về yêu đến nỗi chính thi sĩ cũng không biết đích thực cái gì là trọng yếu khi đuổi theo cơn mơ bất tận ngoài tầm tay: một dấu chấm giữa đời/ ta nhặt được/ ai đã kết thúc một bài thơ, một câu chuyện cổ/ lại vụng về đánh rơi/ ta đọc em/ đọc bài thơ chỉ bằng một dấu chấm/ kết thúc?/ không!/ nối tiếp?/ không!/ sống là luôn luôn bắt đầu (Ta muốn viết gì đó).

Tôi đọc lại rất nhiều lần chùm thơ Ta muốn viết gì đó của Hồ Minh Tâm. Đọc chỉ để mường tượng một con người cứ tha thẩn sống, tha thẩn buồn, tha thẩn nhớ nhung cây khế của mạ, đồng cỏ, đàn ngựa, đàn dê, thuở chăn bò, mót lúa, đuổi chim cun cút trên đồng, thằng bạn phì nộn thời thơ ấu. Có bài thơ khơi lên một niềm thương cảm ngậm ngùi trước cái quẩn quanh buồn bã của người một đời “dính” với cơm tập thể (Cơm bụi). Đọc để nhâm nhi những triết lí bật ra từ mọi xó xỉnh đời sống trong thơ: Mẹ tôi nói: ngày mạ về mần du hắn đã to như ri rồi!/ sống bằng vỏ (không phải vỏ bọc)/ già rỗng ruột (chắc có chi trắc ẩn) (Phần 1: Cây khế); nhỉ/ mong manh chỉ một hai mặt giấy/ huống chi trắng đen triệu triệu mặt người… (Phần 2: Giấy); nhưng giống trên đời biết làm sao tách rời bếp núc/ bếp núc tái sinh/ bếp núc tái sống/ bếp núc để à ơi/ cho mình (Phần 3: Cơm bụi).

Bài viết đi đến lúc này mà tôi vẫn có cảm giác mình chưa nhúc nhích được bước nào khi nói về thơ Hồ Minh Tâm. Thì bạn thân mến! Hãy đọc, hãy cho mình những cảm nhận riêng về thơ ông, bạn sẽ thấy được những điều tôi không nói nổi. Đọc thơ, nếu cứ cố gắng hiểu điều nhà thơ viết, chúng ta sẽ không bao giờ đến được bến bờ. Tôi không thể làm điều ấy! Tôi chỉ đi theo sự dẫn dắt của thơ, chỉ lắng nghe những rung động đời sống mà bài thơ gợi ra. Sự bất lực của tôi trước thơ là hoàn toàn dễ hiểu, có thế, thơ mới là thế giới âm thầm nổi loạn trước con mắt trần thế của mình.

Với riêng tôi, Hồ Minh Tâm là nhà thơ đáng đọc nhất ở thời điểm này. Không chỉ đáng đọc bởi những phẩm tính hiếm trong sáng tạo, thơ ông còn cho tôi gặp gỡ một con người với những bước chân bất lực giữa đời: Hắn đi/ hắn chạy/ và,/ hắn bắt đầu nhận ra, phía trước càng chạy càng thấy con đường dài ra, và phía sau càng đi càng… (muốn nói gì thì nói). Phải chăng đó cũng là cảm giác của Cao Bá Quát thuở xưa: Trường sa phục trường sa/ Nhất bộ nhất hồi khước. Đi mãi trên đường đời cũng chỉ thấy mình như đứng yên, như vì sao cô đơn cuối trời. Quay mặt lại, nhìn vào đời mình, không biết ngày tháng nào đã đi qua: hắn sống khi 10 tuổi/ không, phải là 20 cơ/ à không… (muốn mấy thì mấy vì sống không phải ngồi đấy để mà chấm công). Và khi hắn nhìn mặt đất, bầu đang thiêu đốt nhau, những kí tự cuối cùng trắng màu trang giấy, như Chúa đã bỏ loài người. (Những kí tự đã nhảy ra khỏi lòng trang giấy). Cái bất lực vô vọng ấy, tôi cũng có!

Hà Nội, tháng 7 năm 2026

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.