Mai An Nguyễn Anh Tuấn
Phần năm
ÂM BẢN: THEO BƯỚC HÀNH HƯƠNG TÌM PHẬT
(Truyện phim)
Âm bản I. NGƯỜI PHẬT TỬ VIỆT ĐẦU TIÊN
Trên một chiếc thuyền buôn lớn năm cánh buồm của người Hoàng Chi thời cổ đại (một lãnh địa thuộc nước Ấn xa xôi), chàng thanh niên họ Chử nhìn mãi về phía thuyền vừa xuất bến, nơi Tiên Dung vợ chàng chắc còn đang lưu luyến từ lúc đôi vợ chồng trẻ chia tay không thể hẹn đích xác ngày gặp lại… Bến thuyền bắt đầu chìm khuất trong sương mù. Ông thương gia trung niên người Ấn kín đáo nhìn chàng vẻ cảm thông. Nửa năm trời ông đã lưu lại nhà của vợ chồng này tại khu buôn bán phồn thịnh của thị trấn Hoa Xá gần một vịnh biển lớn nước Văn Lang. Ngoài việc trao đổi hàng hóa, ông còn chú tâm dạy tiếng nước ông cho đôi vợ chồng trẻ ham hiểu biết và đã thực lòng đề nghị ông truyền dạy tiếng nói cùng các phong tục tập quán xứ Ấn. Ông hiểu mơ ước thầm kín của họ là được đến thăm viếng quê hương của Đức Phật, mà sau hai thế kỷ, công đức của Đức Phật đã bắt đầu lan tỏa tới các vùng viễn Đông, qua các thương nhân Phật tử trên những thuyền buôn của Ấn hoặc thuyền nước ngoài giao thương với người Ấn…
Sau nửa năm làm khách quý, ông khách buôn người Ấn bảo vợ chồng Chử:
– Tôi biết hai người chẳng phải là thương nhân bình thường… Quý vị buôn bán là để mong sản vật nước Văn Lang được nhiều vùng xa biết tới, đồng thời giúp nhiều đồng bào nghèo của quý vị đỡ vất vả trong cuộc mưu sinh… Tôi sắp về nước, muốn đền đáp tấm lòng quý hóa của anh chị: Hãy xuất một thoi vàng theo tôi về Ấn để mua vải vóc, hương liệu, đồ trang sức… Quý vị sẽ được lời gấp đôi thậm chí gấp ba đó! Nhưng, điều này chắc quan trọng hơn với quý vị… – Ông nhíu cặp mắt hiền từ – Tôi sẽ đưa các vị tới đảnh lễ tại gốc Bồ đề, nơi thái tử Tất Đạt Đa đã thiền tọa và chứng đắc giác ngộ trở thành Đức Phật Thích-ca Mâu-ni.
Chẳng đợi chồng gật đầu đồng ý, Tiên Dung đã khuyến khích chồng bằng những lời chân thành ngọt ngào, rằng lang quân hãy đi một chuyến xa để thỏa chí ước nguyện của cánh chim bằng, ở nhà thiếp sẽ thay chàng lo liệu mọi việc ổn thỏa…
Sau một ngày thuyền căng buồm lướt sóng, Chử vẫn thấy thấp thoáng đất liền, rừng núi phía xa, chàng định hỏi thì ông người Ấn mỉm cười:
– Cậu đừng vội. Trước khi chúng ta ném mình vào biển khơi mênh mông mịt mù, tôi muốn đưa cậu tới thăm một chốn này đã…
Trước mắt họ là một vùng núi non hùng vĩ trùng điệp. Từ trên thuyền có thể nhìn thấy một cửa biển hoang vu mà nước sông đang ào ạt trào ra biển lớn.
Ông người Ấn chỉ tay:
– Đó là Cửa Sót… Dòng sông chảy men dãy núi thiêng Quỳnh Viên, còn gọi là Nam Giới sơn… Đây chính là điểm cuối cùng của nước Văn Lang…
Chử nhìn ông người Ấn vẻ kính phục. Ông cười xòa:
– Có gì đâu! Thuyền buôn phương xa chúng tôi cần hiểu rõ hình khe thế núi, địa lý phong thủy cùng phong tục tập quán nơi mình tới làm ăn mà… Nhưng chàng trai này, trước khi đến quê hương Đức Phật mà cậu hằng mong, thì cần tới thăm một đệ tử chân truyền của Ngài…
Thấy Chử ngẩn mặt ra, ông người Ấn từ tốn giải thích:
– Trên núi Mốc của dãy Long Ngâm – Quỳnh Viên sơn kia có một vị cao tăng nước tôi đã sang ẩn tu mấy năm nay… Lúc đầu ông theo một phái đoàn truyền giáo do vua A Dục sai đi, nhưng sau ông tách riêng ra để tới phương Nam này… Tên thực ông là gì tôi không rõ nhưng có biệt danh là But-đa-bra-ba (Buddabrabha), có nghĩa là “Ánh sáng của Phật”…
Chử thốt lên:
– Phật Quang! Còn But-đa, lâu nay dân tôi vẫn ngưỡng vọng Ngài và gọi thân quý là Ông Bụt…
Ông người Ấn gật gù, vẻ mừng rỡ:
– Tôi rất vui sướng khi biết đạo Phật đã lan tỏa ánh sáng của Ngài tới nhiều phương trời… Nào, ta hãy tới tiếp kiến sứ giả của Ngài… Nhưng cậu nên nhớ ông Phật Quang này còn được gọi là “ông Khoai”, vì đã mang giống cây khoai lang, cây mít nước tôi sang hướng dẫn dân vùng này trồng…
Hai người xuống một chiếc thuyền nan vừa được hạ từ thuyền buồm. Chử vất vả chèo thuyền và cập thuyền vào một bến vắng cách xa cửa sông. Rồi hai người trèo lên ngọn núi linh thiêng sẽ trở thành huyền thoại suốt nhiều thế kỷ sau. Hầu như không có đường, hai người phải thận trọng gỡ các cành cây, gai góc, dây leo um tùm để không gẫy cành và tổn thương dây leo. Ông người Ấn thỉnh thoảng ngước nhìn lên xác định phương hướng, chợt ông chỉ tay:
– Kia rồi!
Chử nhìn theo, những anh không thể nhận ra cái gì giữa vùng rừng rậm rạp âm u chứa đầy sự huyền bí. Anh cắm cúi bước theo người Ấn. Trên sườn núi có một khoảng không gian bằng phẳng, và một cái am tạo bằng tre nứa và cỏ in dấu vết mưa nắng đã hiện ra.
Hai người kính cẩn bước vào am cỏ, qua một lối cửa trống trơn. Sau một lúc định thần, họ mới nhận ra trong bóng tối om om có một dáng người đang tĩnh tọa với vẻ thư thái, thanh tịnh không biết đến ngoại cảnh. Ông ta trạc ngoại bốn mươi, khắc khổ, gầy, nhưng rắn chắc tựa lõi gỗ lim. Hai người chắp tay cúi đầu chờ đợi. Lát sau, nhà tu hành mà giờ ta sẽ gọi là Phật Quang từ từ mở mắt. Sư nói một câu như niệm chú bằng tiếng Pàli cổ xưa mà Chử chưa bao giờ được nghe từ ông thương gia Ấn, rồi sư nói bằng tiếng Ấn bình dân, Chử hiểu gần hết:
– Ngài trở về cố quốc, tới thăm bần tăng đó ư?
– Vâng, thưa Ngài. Con có đưa theo một người, mà con nghĩ duyên Phật sẽ cho người ấy có hạnh ngộ được Ngài khai mở cho về Phật pháp…
Nhà tu hành trên núi Quỳnh Viên giơ một bàn tay lên:
– Ta đã chờ đợi anh ta từ lâu… Mà đừng nói rằng: ta sẽ Khai mở điều gì cho người ấy, bởi đó là người đã tràn đầy Phật tính rồi… – Ông nhìn sang Chử – Này anh, sao giờ anh mới tới?
Hai người như há hốc miệng kinh ngạc. Nhà tu hành ẩn dật từ tốn tiếp:
– Đôi khi hạ sơn đi khất thực, ta đã được nghe các bác tiều phu, ngư phủ vùng này kể cho nghe về lai lịch cùng đạo hạnh của vợ chồng anh…
Chử thốt lên:
– Dạ thưa, chúng con đã có đạo hạnh gì đâu ạ?
– Chỉ riêng cái việc Công nương của Hùng Nghị Vương xóa bỏ ranh giới Sang – Hèn, Giàu – Nghèo để chấp nhận anh làm chồng, giữa khi anh không có một mảnh vải trên mình, đã rõ là phẩm hạnh của một người giàu tính Phật…
Chử kinh ngạc:
– Trời đất! Thầy biết cả chuyện nhân duyên trái khoáy động đến Qủy thần và Triều đình của chúng con!…
Sư mỉm cười:
– Câu chuyện này mà ở đất nước của ta, chắc hẳn sẽ có nghệ nhân biến thành trường ca để mọi người múa hát thâu đêm suốt sáng, và có học giả sẽ viết thêm vào Kinh Dục lạc Kama Sutra[140] dành cho tăng lữ quý tộc đó!
– Nhưng…
Nhà tu hành giơ tay ngắt lời:
– Anh định hỏi: sao gọi là Phật tính ư? Ta biết rằng, không ít kẻ cầm quyền phương Bắc luôn rêu rao bôi nhọ dân Giao Chỉ – Cửu Chân, nhưng chính họ phải cần học hỏi nhiều ở những người họ cố tình gọi là “cầm thú”, “không biết đạo nghĩa vợ chồng”! Họ biết rõ đó là những người “Thờ cha mẹ như thờ trời” giống y họ, nhưng lại hơn họ là biết sống theo một đạo lý Phật, cái đạo lý đương rất xa lạ với họ trong các cuộc chém giết tranh giành lẫn nhau, đó là: “cứu nghèo giúp thiếu, thương nuôi mọi người là đứng đầu của hạnh”… Công nương của anh đã nhìn thấy ở trong con người anh, giữa khi anh nghèo túng khốn quẫn nhất, cái Tình thương với nhân quần, với đồng bào anh… Và khi kết duyên trăm năm với anh trong cõi đời hữu hạn này cũng là kết với duyên Phật sẽ phải tồn tại trên mảnh đất này hàng ngàn năm nữa đó…
Thương gia người Ấn góp lời:
– Vâng thưa thầy, hai vợ chồng vị này đã dựng lên một khu buôn bán trù phú ở cảng biển Hoa Xá, trợ giúp bao người nghèo vật tư tiền của, công ăn việc làm, từ tiền bán thuyền bán nữ trang của Công nương Tiên Dung…
– Ta biết! Vợ chồng họ còn mở mang vài con đường buôn bán tơ lụa, trầm hương, đá quý xuyên nhiều vùng xa trên biển cả, trước mắt là giúp dân và sau đó sẽ góp vào công khố để lo nghiệp lớn triều đình…
Chử chắp tay cảm kích:
– Cám ơn thầy đã thấu hiểu! Nhưng chúng con chưa làm được bao nhiêu đâu ạ… Còn nhiều gia đình túng thiếu đang mỏi mắt trông chờ ở chuyến đi này của con sang đất Phật…
Sư lại ngắt lời:
– Không chỉ trông chờ ở chút lãi anh mang về đâu, chàng trai! – Chử mở to mắt dò hỏi, chờ đợi – Họ còn trông chờ điều anh sẽ mang về lớn hơn rất nhiều kia… – Sư trầm ngâm lúc lâu rồi mới tiếp tục – Anh biết không, Phật tổ thời tại thế cũng đã phải buồn phiền về không ít đệ tử của Phật mà không chuyên tâm tu tập chính pháp mà chỉ thích ăn ngon, thích được cúng tặng các vật dụng quý hiếm và những tấm y đắt tiền ở nhà các thí chủ giàu có – Ông giơ một tấm y ở bên một bình bát và một cây gậy lên – Hai thương gia có biết rằng: ta vẫn thực hành các hạnh tu buổi đầu của Phật tổ nhằm tìm đường Giác ngộ, bằng chính tấm y này đây…
Nhà buôn Ấn cầm tấm y ngắm nghía:
– Con đã được nghe nhiều, nay mới mục kích. Đây có phải là tấm y phước điền, tấm cà sa như thửa ruộng gieo trồng phúc đức, được chắp vá từ những mảnh giẻ nhặt về từ bãi tha ma hoặc vải thừa nhà thợ may, phải không thầy?
Nhà tu hành gật đầu, mắt ông long lanh như rớm lệ:
– Không ít vị sư thời trước và hiện tại ở quê hương Phật còn mưu toan sửa đổi giáo lý và giáo luật để dễ tu hành, để trục lợi nữa… Thật đau lòng!
Sư đứng dậy, bước ra ngoài am, tới chỗ có thể nhìn trọn vẹn từ trên cao về phía Cửa Sót đang cuốn nước về biển Đông xa tít tắp. Hai người đi theo ông. Khung cảnh hoang sơ, lộng lẫy và u buồn đang rực lên trong ánh chiều tà…
Sư chỉ tay về bên trái:
– Dưới kia, có ngọn suối mang tên Hiêu Hiêu đón nước ngọt thơm của đá núi dãy Quỳnh Viên sơn – Ông lại chỉ tay về phía phải – Ngọn núi kia chạy ra sát biển, đón sóng biển ầm ào đêm ngày như tiếng sấm nên được gọi là Long Ngâm… Hai nhà buôn hãy xem: Thiên nhiên sao mà tuyệt diệu, chúng như kêu gọi các giáo pháp trên đời chỉ cần thuận theo chúng thôi, bằng tu dưỡng Tự ngã, hãy kính cẩn trước Thiên nhiên bằng Thiền (zen), bằng Du-già (yoga). Điều đó giúp chúng ta không chán nản khi đau khổ, không trở nên sa đọa khi hạnh phúc… Chừng nào tìm được trong ta cái thế giới chân thật không có gì bất biến, không có gì trường tồn, không bị trói buộc bởi không gian – thời gian, thì tức là đã đạt cõi Niết bàn rồi đó!
Chử bất giác quỳ sụp xuống lạy nhà tu hành:
– Thưa thầy, lâu nay con đi tìm chân lý Phật, và đang trên đường đến quê hương Đức Phật… Nhưng gặp thầy đây là con đã thấy Phật rồi…
Nhà tu hành vội bước tới đỡ Chử đứng lên:
– Không đâu! Trong anh đã có sẵn Phật rồi, tìm đâu xa! Giữa ta và anh hình như đã có duyên tự kiếp trước, còn kiếp này gặp nhau, ta cảm thấy có bổn phận giúp anh, chỉ chút ít thôi… – Chử nhìn sâu vào mắt nhà tu hành mà cả con người ông như toát ra ánh sáng Phật vừa linh thiêng vừa ấm áp – … Phải, đó là bổn phận chỉ cho người đi sau ta con đường thật sự dẫn đến sự An Lạc của tâm hồn…
– Con xin được ở lại đây làm đệ tử thầy, để được thầy truyền pháp đến nơi đến chốn…
Nhà tu hành người Ấn không dấu được sự xúc động mà sau nhiều năm tháng ông đã gửi hết vào cây cỏ trăng sao vùng núi Quỳnh Viên. Ông chắp tay kính cẩn trước người đệ tử mới, và cũng là duy nhất của ông, vui vẻ nhận anh làm Phật tử của Am Quỳnh Viên – gốc của ngôi chùa Quỳnh Viên sau này.
Chử nhờ ông thương gia Ấn thay anh tiếp tục thực hiện công việc buôn bán mà họ đã giao ước, và nhờ ông: nếu khi quay lại, không muốn lên núi Quỳnh Viên đón anh thì tới thị trấn Hoa Xá kể cho vợ anh nghe mọi chuyện đã diễn ra tại đây…
Chử học được ở sư Phật Quang phương pháp tĩnh tọa, thiền quán, điều hòa hơi thở, và được nghe sư đọc giảng nhiều đoạn Kinh sách quan trọng bằng nguyên tác Phạn ngữ… Độ gần nửa năm sau, thuyền buôn của ông thương gia Ấn quay lại núi Quỳnh Viên đón Chử. Chàng bảo chưa muốn về. Mấy tháng qua, sau lúc học Phật pháp, chàng san nền, vào rừng chặt tre nứa và đã dựng lên một ngôi nhà tranh nhỏ gần Am Quỳnh Viên để có dịp sẽ đón vợ lên cùng tu tập. Sư Phật Quang khuyên:
– Lúc này thì trò cần về Hoa Xá, đem ánh sáng Phật pháp cho dân Văn Lang. Cô ấy đang mong trò đấy!
Sư Phật Quang đưa cho Chử chiếc gậy, cái nón và chiếc bình bát, với lời dặn: “Trò cần giữ gìn ba vật này. Các việc Linh Thông đều nằm trong đó cả”. Sư mang “Ánh sáng Phật” không cần giải thích rõ và cụ thể, việc “Linh Thông” ra sao, bởi gần năm tuần trăng làm bạn với người Phật tử đầu tiên này của nước Văn Lang, ông hiểu: những đoạn Kinh Phật gốc ông đọc cùng vài kỹ thuật hành pháp truyền dạy thực ra chỉ là sự chứng nghiệm sáng sủa trong trái tim chàng trai nước Việt thuần hậu, lương thiện, và đã sẵn Phật tính như ông nhận ra ngay từ buổi ban đầu…
Sau này, câu chuyện về ba bảo vật sư Phật Quang trao cho Chử sẽ thành truyền thuyết hấp dẫn đến say lòng: Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã hóa phép chúng ra Cung điện Thành quách Phố xá nhằm đánh lừa quan quân triều đình kéo đến hỏi tội đôi vợ chồng… Sự thật thì các việc “Linh Thông” của Phật giáo quyền năng mà sư dặn chỉ là chuyện “năm giới Cấm” và “mười điều Lành”, khả dĩ giúp người theo Phật pháp chân chính sẽ đạt được trạng thái “không lạnh, không nóng, không đói không khát, công nghiệp và phước đức hội tụ, đạp lửa không bỏng, đi dao không đứt, muốn đi thì bay, ngồi thì phóng quang, biến hóa không chừng, ẩn hiện vô chừng, mọi thứ độc không thể làm hại” – như Kinh sách từng nói rải rác mà ông đúc kết lại. Ông tin rằng chàng trai này sẽ có một sức mạnh tinh thần phi phàm để giúp gia đình chàng và đồng bào của chàng vượt qua mọi thử thách khốc liệt đang chờ đợi trên mọi nẻo đường. Nhưng ông không thể ngờ: bắt đầu từ những Phật tử đầu tiên như Chử Đồng Tử – Tiên Dung, đạo Phật Việt đã bắt đầu thấm vào lòng người dân đất nước này như một nguồn suối trong lành không bao giờ vơi cạn trước mọi thủ đoạn tàn độc, có khả năng giúp hồi phục mọi vết thương lòng đau đớn, hóa giải mọi hận thù, và nhân lên vô hạn tình yêu thương ngay cả khi nó có nguy cơ bị cạn kiệt, bị truy đuổi…
Âm bản II. TÌM PHẬT TRONG NGHĨA ĐỊA
Ở một ngôi chùa quê, Sư trụ trì đang ngồi kiết già trong am ở khá xa Tam Bảo, chú tiểu hớt hải chạy vào.
CHÚ TIỂU:
– Thầy ơi! Thầy…
SƯ TRỤ TRÌ:
– Mới sớm ra, ta chưa niệm trọn bài Kinh, cơn cớ gì con khuấy động chốn Thiền môn vậy?
CHÚ TIỂU:
– Thầy! Lạ lắm! Con ra Tam quan quét dọn, thấy một hình tướng lạ con tưởng ma, tĩnh tâm lại tới gần, hóa ra là một vị tu hành đang ngủ ngồi… Nhưng chắc là tu hành giả thôi, vì ăn vận khác lạ lắm ạ…
SƯ TRỤ TRÌ:
– Ta đã nhiều lần nói với con và các Phật tử rằng: không có ma nào hết đâu, trừ con ma người ta dựng nên để hù dọa người đời… Sao con không mời vị ấy vào nghỉ trong trong bản tự ta? Dù là ai chăng nữa, đã tới cửa Tam quan đều là những người “ăn mày cửa Phật”, mà không phải ai cũng có duyên để được “ăn mày cửa Phật” đâu!
CHÚ TIỂU:
– Vâng thầy
SƯ TRỤ TRÌ:
– Nào, con ra mời vị đó vào đi, bằng lời lẽ khiêm nhường để họ thấy vào chùa dù với bàn tay không, cũng là mang ơn huệ cho chùa chứ không phải chùa làm ơn cho họ…
Chú Tiểu định chạy đi, sư Trụ trì gọi lại:
SƯ TRỤ TRÌ:
– Thôi, để ta trực tiếp mời. Chắc đó là một hành giả lỡ độ đường nhưng không dễ mời được đâu con!
Nói rồi ông xốc lại y phục, bước ra cùng chú tiểu.
Tới Tam quan, sư Trụ trì thấy vị hành giả đang ngủ, ông chắp tay đứng đợi. Như có linh giác, hành giả bừng mở mắt thấy vậy thì đứng vụt lên, cung kính cúi đầu chắp tay.
HÀNH GIẢ:
– Nam mô A di đà Phật!
SƯ TRỤ TRÌ:
– Mô Phật! Bản tự có phước lành nào được gặp hành giả đây ạ?
HÀNH GIẢ:
– Thưa thầy! Con là hành giả đang thực hành hạnh Đầu đà của Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật… Không ngờ lại quấy quả sư thầy…
SƯ TRỤ TRÌ:
– Kính mời thầy vào trà thất của bản tự, để được đàm đạo về Phật pháp trong buổi tinh sương quê kiểng này…
HÀNH GIẢ:
– Đa tạ thầy! Đến chùa quê, con như được trở về nhà mình, và mong được học hỏi nhiều ở những bậc Chân tu…
Họ cùng vào chùa.
Hành giả hai tay bưng chén trà tỏa khói, trầm ngâm.
HÀNH GIẢ:
– Cám ơn thầy… Sáu năm nay con mới được thưởng trà, và sống lại với cảnh vật thân thương thế này… – Sư trụ trì chăm chú lắng nghe, vẻ cảm thương – Đêm qua, dưới mái Tam quan của chùa nhà, con bỗng nhớ về ngôi chùa nơi con đã xuất thế, nhớ lời truyền dạy của vị trụ trì đã nằm lòng trong con, và trở thành Hộ pháp che chở con qua bao sóng gió chông gai…
SƯ TRỤ TRÌ:
– Đồng đạo à, lời thầy nói vừa rồi giúp ta ngộ thêm đôi điều quý báu…
HÀNH GIẢ:
– Kính mong thầy đừng gọi con là “đồng đạo”, bởi con chưa phải là Tu sĩ được Giáo hội công nhận…
SƯ TRỤ TRÌ:
– Hành giả ơi, không chỉ là đồng đạo, Hành giả còn là người mà ta phải kính nể như một bậc thầy kia – Hành giả ngơ ngác – Bởi rằng tuy lẽ xuất xử như nhau song ta không có được cái dũng khí chân đạp đất đầu vá trời như Hành giả… Dù ngôi chùa quê này ở rất xa những khu Chùa kinh doanh to lớn, nhưng sự mê muội của dân chúng đã bắt đầu len lỏi tận hang cùng ngõ hẻm, bắt đầu đòi hỏi chùa ta phải thực hành những điều xa lạ với chùa Việt xưa nay, như bói toán, gọi hồn, dâng sao, giải hạn, làm thuyền bát nhã bằng giấy để chở các vong linh về Niết Bàn – phải làm sao giống như các Chùa to mấy năm qua đã treo gương… Phật tử thuần thành ít dần, ngày một nhiều người có tâm địa và hành xử khiến Diêm vương phải cau mày đã tìm đến chùa để sám hối vô vọng, mang tiền để hối lộ các đấng Thiêng liêng một cách khiến ta phải cúi đầu xấu hổ thay cho họ… Ta cũng đã mấy lần muốn giã từ Ban Tam Bảo ngày lễ chất ngất gà khỏa thân đầu lợn trợn trừng mắt – như người ta vẫn nói, để tìm về nơi hoang vắng ẩn cư, hay lên đường hành hương như Hành giả tìm lại bản nguyên Phật đương bị họ làm nhem nhuốc, để lánh xa mọi lời thị phi và cả lời nguyền rủa thường làm ta nghẹn họng không xứng đáng với một kẻ tu hành… Nhưng vì thương các bà vãi nghèo ở các xóm làng kiệt quệ quanh đây, họ chỉ biết tìm đến chùa để lấy lại sự bình yên, niềm an ủi trong cuộc giành giật mưu sinh mà bao giờ họ cũng thuộc phe yếu thế, bị thua đau thua nhục… Ta không nỡ gạt nước mắt chia tay họ… Vì vậy, được gặp Hành giả ta cảm động lắm, như gặp lại cố nhân, và lại thắp lên khát vọng Hành hương như hành giả đây…
Nói xong, sư trụ trì chắp tay vái lạy hành giả. Hành giả Minh Thành vội vã bước tới đỡ sư trụ trì lên.
HÀNH GIẢ:
– Chết thôi, sư thầy làm con tổn thọ mất… Đừng làm con phải xấu hổ và khó xử thế này nữa, thầy! Cả một ngày hành hương, con đã gặp biết bao nỗi khó xử, khi bao người – cả tâm thành lẫn tâm xấu đi theo con mà con không biết làm cách nào cả… Con chỉ muốn nói to với mọi người: Thưa các ông các bà, các anh các chị, hành giả con chỉ đang thực thi tâm niệm của Thầy con lúc sinh thời: “Sống đúng giới luật là sống đúng đức hạnh, sống đúng đức hạnh là sống thương yêu nhau, đem lại sự an vui cho nhau”. Con đâu phải là một con thú lạ cho các người quan sát nhìn ngắm, bình phẩm khen chê… Con chỉ là một người tầm thường, dám thật sự vứt bỏ Tham – Sân – Si như lời Phật dạy, để tu dưỡng bản thân trong gian khổ, để có dịp thấm hiểu nỗi khổ đau của nhân quần…
SƯ TRỤ TRÌ:
– Vậy là Hành giả đã làm theo mực thước của vị Đại Đầu đà Trúc Lâm đó, ngài từng dạy: “Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên; Đói cứ ăn no mệt ngủ liền; Của Báu trong nhà thôi tìm kiếm; Vô tâm trước cảnh hỏi chi Thiền”… Hành giả thực đáng ngưỡng vọng! Dân chúng đi theo thầy, chính là những Hộ pháp bằng hình tướng của thầy đó!
CHÚ TIỂU nài nỉ sư trụ trì:
– Thầy ơi, cho phép con được đi theo vị hành giả này nhé, con sẽ làm Hộ pháp nhỏ cho thầy…
Sư trụ trì cau mày lại, tìm lời đáp.
HÀNH GIẢ cười nhẹ ấm áp:
– Chú tiểu ơi… Đừng vội, để tới lúc có duyên tôi sẽ trở lại chùa này xin được tu tập cùng sư thầy, khi đó tôi chắc có đủ kinh nghiệm truyền lại cho chú để thực thi sứ mệnh hành giả Đầu-đà thay tôi. Và sư thầy sẽ chấp thuận đó!
Trời nhập nhoạng, ánh hoàng hôn cuối cùng lóe lên trên đường cái quan. Hành giả rời đường nhựa, bước vào một lối mòn. Một cô gái trạc 28 tuổi đeo túi xách và máy ảnh rảo bước theo hành giả.
NỮ NHÀ BÁO:
– Hành giả ơi, mong thầy chậm bước chút nào… Giờ chẳng còn ai theo ngài nữa đâu…
Hành giả vẫn lặng lẽ bước, hơi chầm chậm lại, nói mà không nhìn cô gái đi bên.
HÀNH GIẢ:
– Thưa cô, trời tối rồi đó, cô về nhà đi kẻo người nhà mong…
NỮ NHÀ BÁO:
– Thầy à, con đợi suốt ngày hôm nay để thoát khỏi dân Yu-túp-bơ, Tích-tốc-cơ lúc nào cũng như đỉa đói, để được trò chuyện riêng với thầy… Xin được tự giới thiệu: Con là nhà báo của một ngành có chức năng quản lý hoạt động Tôn giáo…
HÀNH GIẢ mỉm cười kín đáo:
-… Và quản lý những người tu tập Chánh pháp đạo Phật ngoài luồng, chưa được cấp môn bài hành nghề như con, đúng không ạ? Mà… cô chẳng cần giới thiệu kỹ vậy… Cô thật thà đấy, và cô cứ thực hiện nhiệm vụ cơ quan giao đi…
NỮ NHÀ BÁO hơi giật mình:
– Hình như thầy cũng đã từng ở trong cơ quan Nhà nước…
HÀNH GIẢ:
– Thì cô thật thà, con cũng phải thật thà thôi: Con đã từng tốt nghiệp Trung học chuyên nghiệp, làm cán bộ địa chính của huyện…
NỮ NHÀ BÁO:
– Thế thì hay quá rồi! Nhưng này, thầy đừng xưng “con” thế đi… Ngượng lắm!
HÀNH GIẢ:
– Thành thói quen rồi mà… Nhưng với nữ thí chủ… à, với nhà báo, có thể xưng hô thế nào cho hợp ý đẹp lòng?
NỮ NHÀ BÁO:
– Thầy cứ xưng “tôi” đi nhé?
HÀNH GIẢ:
– Và nữ nhà báo cứ gọi tôi là “ông” cho tiện. Còn cô sẽ là “bà”. Cho đỡ rắc rối khó xử
NỮ NHÀ BÁO:
– Vâng, cứ như ông tôi lúc còn sống, khách rượu đến, già trẻ gì thì cứ “Toa” – “Moa” hết! Tôi nhớ như in lúc còn bé, và hay kể chuyện cho lũ em để cùng cười rũ với nhau…
Họ chợi cùng cười vui.
HÀNH GIẢ:
Nhưng bà nhà báo này, tôi đang tới nghĩa địa để qua đêm. Bà hãy quay lại khi còn nhìn thấy đường…
NỮ NHÀ BÁO:
– Thì con cũng muốn theo thầy tới chỗ đó mà lại!
HÀNH GIẢ sửng sốt:
– Sao? Bà không nói đùa chứ? Định trêu kẻ tu hành chưa chính quả này sao? Bà không sợ ma trơi hồn người chết nghĩa địa à?
NỮ NHÀ BÁO:
– Vì những nhà tu hành như thầy không tin có ma, nên tôi mới dám đi theo. Với lại, nếu có hiểm nguy gì, thì thầy chẳng sẽ trở thành Lực sĩ hay sao? Lúc rảnh không bảo vệ Phật thì bảo vệ một đứa con gái vô tội, đó chẳng phải là phước của đạo các thầy à?
HÀNH GIẢ chợt bật cười khẽ:
– Chắp tay chịu lý lẽ của bà! Nhưng xin bà hứa cho: đây sẽ là chuyện chỉ mình bà biết, chớ đưa lên truyền thông làm gì, kẻo sẽ có người ác ý thêm thắt xuyên tạc… Tôi thì chẳng sao, nhưng thanh danh của bà…
NỮ NHÀ BÁO:
– Thầy khỏi lo. Sáu năm qua, không ít thế lực muốn bôi nhọ Thanh danh của thầy nhưng có làm gì nổi đâu! Vì thế, thanh danh của tôi khi gắn với thầy sẽ chẳng hề hấn gì… Nhưng tôi không có ý định theo đóm ăn tàn, ăn theo thanh danh của thầy đâu…
HÀNH GIẢ:
– Còn tôi thì cũng đã tin rằng bà không phải là nàng Điểm Bích năm xưa được cử ra gài bẫy thử thách Đức Huyền Quang tôn giả…
NỮ NHÀ BÁO:
– Nếu tôi có là bà Điểm Bích tái sinh, thì tin rằng thầy cũng sẽ như Đức Tam tổ Trúc Lâm chứng minh được tấm lòng trong sáng của mình, trước sự chứng giám của trời đất…
Một tiếng sét đánh ngang trời. Giông bão nổi lên cuồn cuộn, cát bụi mù mịt. Minh Thành bất giác nắm tay nữ nhà báo định kéo đi, rồi buông ngay ra.
HÀNH GIẢ:
– Bà mau theo tôi tìm chỗ ẩn náu…
Hành giả chạy trước, đôi lúc ngoái lại sau chờ nữ nhà báo. Họ chạy một đoạn dài, tới một cái lăng khá lớn thì chạy tọt vào.
Nữ nhà báo chắp tay trước ban thờ hương tàn, lẩm bẩm điều gì đó.
HÀNH GIẢ:
– Việc này lẽ ra là của tôi… Nhưng bà đã có lòng thành, vậy là làm thay cho cả nhóm xin phép được trú nạn…
Nữ nhà báo vun các lá khô trong lăng và ngoài lăng thành một đống rồi đốt lửa.
Bên ngoài trời đổ mưa lớn.
NỮ NHÀ BÁO:
– Tôi và nhóm bạn thân hay đi du lịch theo kiểu Tây Ba lô, nên luôn chuẩn bị đồ nghề của dân phiêu lưu… Tôi còn hẹn với bạn gái làm du lịch là sắp tới tiết kiệm được tiền sẽ rủ nhau sang thăm Thánh địa của Phật giáo…
HÀNH GIẢ chợt trở nên trầm ngâm, mơ màng:
– Núi Linh Thứu, nơi Đức Phật an trụ và thuyết giảng các kinh Đại thừa, cũng là trụ xứ của chư Phật Thánh tăng xưa nay!… Hồi còn làm ở Huyện, tôi đã nuôi ý định dành dụm tiền để đi du lịch nơi đó. Và lúc tu tập tại chùa Hương Mai, cũng vài lần mơ tưởng có ngày được về chiêm bái Thánh tích… Nhưng rồi vị trưởng lão trụ trì có dạy: “Ba nghìn đại thiên thế giới, không nơi nào là không có Phật và Bồ tát”, tôi đã dẹp được ước vọng thầm kín ấy bao năm rồi, cho tới lúc này thí chủ nhắc lại…
NỮ NHÀ BÁO:
– Còn bây giờ thầy có còn ước nguyện đó không?
HÀNH GIẢ cầm lên một cành cây khô ngắm nghía:
– Em xoã tóc cho cây khô sầu mộng/ Để cây khô mạch suối khóc thương nhau/ Ta cúi xuống trên nụ cười chín mọng/ Cũng mơ màng như phố thị nhớ rừng sâu… Bà nhà báo có biết thơ của ai không? – Nữ nhà báo lắc đầu vẻ ngượng – Đó là bài “Cây Khô” của thầy Tuệ Sỹ đó!
NỮ NHÀ BÁO:
– Chà! Thầy cũng có tâm hồn thi sĩ quá đi! Vậy là mấy năm qua thầy đã được thỏa chí ngao du sông núi như các vị thiền sư ngày xưa rồi… Thích quá! Biết đâu sẽ có lúc trên một đỉnh núi cao nhất mà hét to làm lạnh cả Thái hư…
HÀNH GIẢ:
– Thầy Tuệ Sỹ có lần nói về những bước chân rớm máu trên quê hương, khiến tôi xúc động ứa nước mắt, và có thể đó là động lực thầm kín cho tôi quyết rời chốn ẩn tu để được hành hương theo chí hướng của thầy…
NỮ NHÀ BÁO:
– Hành hương tìm Phật?
HÀNH GIẢ:
– Vâng, Phật đang trốn chạy… đang lẩn tránh mọi thị phi, giành giật, mua chuộc, lợi dụng…
NỮ NHÀ BÁO:
– Liệu thầy có tìm được Phật không? Và Phật thường lẩn trốn ở những nơi nào?
HÀNH GIẢ:
– Hôm trước, có mấy tu sĩ tình nguyện đi theo tôi có hỏi điều này… Tôi thật thà bảo: Nếu con nói là đến cuối thế kỷ này mới tìm thấy Phật, sẽ là lời nói dối đáng xấu hổ, một sự chống chế thiếu lương thiện…
NỮ NHÀ BÁO:
– À, phải chăng đó còn là loại lời hứa được gọi là Sậu lệnh, lời hứa không thể thực hiện – như thầy dạy lớp Hán Nôm của tôi từng nói đến?
HÀNH GIẢ:
– Nếu nữ thí chủ nói về cái “lời hứa không thể thực hiện” này, tôi xin kể lại một chuyện đau lòng Huyện tôi… Ông chủ tịch xã ăn tiền của đại gia bất động sản, hứa hẹn đền bù xứng đáng cho gia đình hàng xóm của tôi, nhưng cuối cùng đã đẩy cả nhà người ta vào cảnh màn trời chiếu đất, họ phải mang hàng chồng đơn về Trung ương kêu cứu nhưng chắc tới giờ chưa có kết quả gì…
NỮ NHÀ BÁO:
– Đúng là chuyện thường ngày ở Huyện, như tên một cuốn sách dịch tôi đọc năm thứ nhất báo chí…
HÀNH GIẢ (hồi tưởng lại những hình ảnh về ông bố mình):
– Cán bộ địa chính không tiền không quan hệ như tôi, định bảo vệ gia đình ấy thì bị đe dọa tứ bề…
(Tái hiện)
Tại nhà Hành giả ở quê, ông bố Minh Thành quỳ lạy trước con trai như Phật sống:
– Con ơi, chữ Nhẫn là chữ tương vàng, con hẵng tạm quên đi chuyện con gọi là công lý này đi, tránh mồm chó vó ngựa, để cả nhà yên thân…
Hành giả chạy tới đỡ bố lên:
– Sao bố lại làm thế? Là cán bộ nhà nước, trách nhiệm trong quyền hạn của con là phải bảo vệ quyền lợi của gia đình họ đang bị xâm phạm trái pháp luật…
– Bố van con, chờ tới lúc “vén mây giữa trời” đi con…
(Trở lại hiện tại)
NỮ NHÀ BÁO:
– Phải chăng đấy là một trong những động cơ để thầy bỏ nhà đi tìm Phật?…
HÀNH GIẢ sau một lúc im lặng:
– Thú thực là tôi đã khóc thầm cả một ngày, khi hoàn toàn bó tay tuyệt vọng trước tình cảnh của họ… Giờ này, cả nhà họ tan tác… Ông chủ lại là thương binh nữa mới tội, nằm bẹp cho cô con gái quá lứa không chồng chăm sóc, còn bà vợ đầu bạc xơ xác vẫn đang hành hương về các nơi tìm công lý, với chồng đơn nhàu nát… (Hình ảnh tái hiện) Những gian nan tôi trải qua mấy năm rồi, làm sao so được với gian nan khốn khổ của họ?
Nữ nhà báo chợt lau nước mắt.
HÀNH GIẢ:
– Mỗi bước đi trên đá sỏi, gai sắc, có lúc bật máu tươi, tôi đều tự an ủi rằng: biết đâu tôi đang gánh đỡ phần nào cái kiếp nạn cho gia đình khổ sở kia, để bù đắp cho tội lỗi của tôi đã ngậm miệng ăn tiền, vô tình tiếp tay cho kẻ hút máu mủ người lương thiện…
NỮ NHÀ BÁO:
– Trong một clip trên mạng, thầy từng tâm sự rằng thầy đi để những phiền não trong tâm thầy khởi lên để “tập chánh niệm”… Phải chăng, những phiền não trong tâm thầy lại khởi nguồn từ những phiền não của bà con làng xóm quê thầy?
HÀNH GIẢ:
– Tôi cho rằng đó là câu phỏng vấn hay nhất của nữ thí chủ nhà báo, ít ra là trong đêm nghĩa địa này… Có một vị trưởng lão hòa thượng tôi chưa được tiếp kiến, nhưng được đọc thầy thì thấm thía điều này: Người tu Phật thật sự là người biết ham mê tìm kiếm, biết suy tư trăn trở…
NỮ NHÀ BÁO:
– Đâu có như mấy vị sư gần đây hay kêu gọi cúng dường và tuyên truyền mê tín xa lạ với lời Phật dạy…
HÀNH GIẢ gật đầu:
– Đúng vậy, nhưng họ chỉ là con sâu làm rầu nồi canh, còn phần đông các vị sư của hôm qua và hôm nay đều là các bậc A La Hán đáng trọng…
NỮ NHÀ BÁO:
– Nghĩa là các bậc thầy của lòng ham mê tìm kiếm, suy tư trăn trở?
Minh Thành lại gật đầu, ánh mắt sáng lên cùng ngọn lửa lá khô.
HÀNH GIẢ:
– Các vị ấy đều xứng đáng là truyền thừa của Tam tổ Trúc Lâm… Từ bé, mẹ tôi một Phật tử thuần thành đã khiến tôi mê mẩn trước cuộc đời và đạo hạnh của các thiền sư Khương Tăng Hội, Thiền sư Không Lộ, Thiền sư Từ Đạo Hạnh, Thiền sư Vạn Hạnh, Thiền sư Thường Chiếu, Phật hoàng Trần Nhân Tông, Thiền sư Liễu Quán, Hoà Thượng Thích Quảng Đức, Hòa thượng Tố Liên, Thiền sư Tuệ Sỹ, Hòa thượng Thích Thông Lạc… Đó là các vị mà mọi phú quý danh lợi trên cõi tạm này chỉ là phù vân! Tìm được cuốn sách nào của các vị hay nói về các vị là tôi nghiến ngấu, đọc mòn cả gáy sách…
NỮ NHÀ BÁO:
– Con cũng mê đọc các loại sách đó lắm thầy nhé…
HÀNH GIẢ:
– Khi tôi ngỏ ý xin được vào chùa tu tập, bố tôi buồn lắm, mẹ tôi cũng lo lắng lúc đầu, sau thuyết phục bố tôi bằng lòng… Ngôi chùa đầu tiên thu nạp tôi là chùa Hương Mai. Và nhà báo đừng cười nhé, điều đầu tiên thu phục tôi hoàn toàn về đạo Phật chính là tâm hồn yêu thiên nhiên đất nước của Trưởng lão trụ trì chùa… Trước khi được học Kinh kệ, các trì giới tu tập, tôi đã được thả hồn trong những câu thơ thầy ngâm nga: Nước Non hẹn một lời thề…
NỮ NHÀ BÁO tiếp lời ngâm:
– Nước đi đi mãi không về cùng Non/ Nhớ lời hẹn Nước thề Non/ Nước đi ra bể lại mưa về nguồn…
HÀNH GIẢ:
– Thầy tôi bảo đệ tử: “Đạo Phật cũng là một nguồn suối trong lành nhất của dân tộc ta, tạo nên Hồn Non – Nước… Lắm khi Non – Nước bị chia lìa bởi chiến tranh, dịch bệnh, chém giết nội bộ, thì đạo Phật chính là nước Cam lồ giúp bồi bổ cho nhân tâm thường ly loạn… Chính thầy trụ trì đã cho tôi đọc nhiều bài thơ của thầy Tuệ Sỹ… Và có lần, thầy có kể về Hòa thượng Tố Liên dẫn đầu phái đoàn Phật giáo Việt đi Ấn Độ, Tích Lan, và ngâm thơ nhớ quê hương của cụ Tố Liên: Làng Yến Vỹ có non Hương Tích/ Bao khí thiêng đất Việt đúc nên…
NỮ NHÀ BÁO:
– Trời ạ! Thế mà có nhiều người thiếu hiểu biết thiếu tâm Phật dám bảo rằng: thầy là kẻ lập dị, đi hành hương khổ hạnh Đầu-đà để nổi danh, thậm chí đã phỉ báng thầy là kẻ Ba trợn!…
HÀNH GIẢ:
– Vậy sao? Có vị bảo tôi là kẻ Ba trợn?… – Cười buồn – Cũng chẳng khác gì hành động của một vị đã đấm tôi chảy máu mũi, rồi cướp Bình bát của tôi… Đáng thương cho họ quá! (Hình ảnh tái hiện).
Nữ nhà báo bất giác chùi nước mắt xót thương.
HÀNH GIẢ:
– Nhưng nhà báo có biết không? Chính cái vị hành hung tôi đó, mấy ngày sau tìm đến tôi đang thiền định gốc cây, quỳ xuống đảnh lễ và xin được đi theo làm đệ tử… Tôi bảo: “Không, tôi chưa đạt tới hạn tu tập có quyền thu nạp đệ tử. Anh lớn tuổi hơn, sẽ là Huynh, tôi là Đệ, chúng ta là huynh đệ, anh nhé? Ngờ đâu một người xăm trổ đầy mình ra dáng “đầu gấu” mà lại chảy nước mắt cầu xin kẻ rách rưới nhỏ thó như tôi cầu xin tha thứ, và tình nguyện đi theo làm Hộ pháp cho tôi… (Hình ảnh tái hiện). Anh ấy về quê có việc tang, mấy hôm nữa sẽ quay lại với tôi…Tôi chợt ngộ thêm: Phật pháp sẽ nhiệm màu khi thức tỉnh được phần thiện lương sâu thẳm trong con người ta… Đó cũng là trăn trở suốt đời của người thầy Phật pháp đầu tiên của tôi, được thể hiện trong hàng chục cuốn sách đã ấn tống… Tôi tin vị đã rủa tôi là “kẻ ba trợn” sẽ có lúc thấy xấu hổ…
NỮ NHÀ BÁO:
– Trời, con cũng thấy mê thầy quá… Thầy đừng nghĩ sai, con mê những suy nghĩ thuần hậu và trải nghiệm quý hơn vàng mười của thầy… Giờ thì chẳng giấu thầy nữa: mấy đứa bạn gái con, đứa chưa chồng đứa bỏ chồng để chí thú cho du lịch phiêu lưu đã thách đố con “cưa đổ” thầy trong Nghĩa địa này, với cá cược phần thưởng là tài trợ cho một chuyến về quê hương Đức Phật… Nhưng chỉ mới trò chuyện với thầy đầu nghĩa địa, con đã tịt ngóm ý định ngớ ngẩn đó. Và đến giờ, với con thầy là một vị Phật sống… Cuộc trò chuyện với thầy đêm nay quả ý nghĩa hơn nhiều so với được hành hương về Đất Phật…
HÀNH GIẢ mỉm cười:
– Nhưng thế là báo thua cá cược rồi, sẽ phải trả bằng gì đây?
NỮ NHÀ BÁO ngẩn ra một lúc:
– Ừ nhỉ… Nhưng con sẽ trả thua cá cược bằng một bài báo chân thật sinh động về cuộc hành hương khổ hạnh của thầy…
HÀNH GIẢ nghiêm mặt lại:
– Ấy, đừng đưa bài báo đó ra vội, nếu nhà báo muốn bảo vệ tôi… Có thể, nhà báo cung cấp tư liệu cho một nhà văn, hoặc một nhà biên kịch nào đó, viết thành truyện ký, kịch bản gì gì đấy, song đề nghị đổi tên, cái đó sẽ giúp ích cho mấy vị sư trẻ đang nguyện đi theo con đường của tôi, giúp mọi người hiểu thêm cái sứ mệnh mà chúng tôi đang mang vác…
NỮ NHÀ BÁO:
– Con đã nhìn thấy mấy vị sư trẻ đó rồi, họ hồ hởi tháp tùng thầy, nhưng chỉ được một, hai ngày được một ngày thì chân đã phồng rộp, không theo được nữa… Chỉ riêng thầy thì chân vẫn bước thoăn thoắt, miệng vẫn luôn mỉm cười…
HÀNH GIẢ:
– Nhà báo có biết: đôi khi nụ cười trên môi tôi lại để che dấu nỗi buồn, nỗi đau, mặc dù tôi đã cố rũ bỏ mọi Sân hận… Buồn vì sự chà đạp lên vẻ thâm nghiêm cao quý của đạo Phật bởi chính những người là đồng đạo của tôi, buồn vì những ngôi chùa rợp bóng cổ thụ, rêu phong thâm trầm, tượng gỗ chìm sơn ta cứ mất dần trên các nẻo đường hành hương, thay bằng nhiều ngôi chùa bị bê tông hóa, trơ trụi bóng râm, tượng Phật tượng La Hán to vật bằng xi măng bằng đá vô hồn vô cảm… Đau vì chợt nhận ra những bước chân rớm máu của mình sẽ trở nên vô nghĩa một khi Đạo Phật được chứng quả bằng đạo nghiệp của bao vị Thiền sư đáng kính lại trở thành một phương tiện để trục lợi, thành hàng hóa để mua bán trơ tráo suốt nhiều năm qua! Tôi mơ ước cháy lòng ngôi chùa trở lại đúng là chốn “bồng lai tịnh cảnh”, phụng sự chúng sinh trong tâm hoan hỉ và cần mẫn cúng dường Tam Bảo tuỳ tâm, tùy điều kiện gia cảnh…
NỮ NHÀ BÁO hào hứng:
– Con xin kể thầy nghe câu chuyện cúng dường của thi hào Ấn Độ Tagore nhé? – Không đợi Hành giả đồng ý, cô kể luôn – Sớm tinh sương, một vị khất sĩ đi trên đường phố sang trọng và rao: “Ai có gì quý báu nhất, hãy đem dâng lên Đức Phật”. Biết bao của cải châu báu bày ra, song vị khất sĩ cứ bước qua tất cả, rồi ông tới khu phố bình dân, và cũng rao như thế. Lại nhiều đồ đạc rải bên chân vị khất sĩ. Ông bước vào khu phố nghèo và lại rao lên… Một người đàn bà bước khỏi cánh cửa tồi tàn, gọi to: “Thưa ngài, xin ngài hãy đợi chút ạ”. Vị khất sĩ đứng im chờ đợi. Lát sau, có một bọc vo tròn ném ra từ sau cửa tới, cùng lời cầu xin nghẹn ngào của người đàn bà: “Thưa ngài! Tôi chỉ còn có độc nhất thứ này thôi… Mong Đức Phật thương tình”. Vị khất sĩ cầm vật đó lên: tấm váy chằng đụp của người đàn bà. Ông ta rưng rưng nói: “Thưa mẹ, đây quả là thứ quý báu nhất của mẹ dâng lên Đức Phật”…
Hành giả xúc động, đôi mắt ông long lanh rớm ướt
HÀNH GIẢ:
– Cảm ơn nhà báo nhiều… Người dân Việt ta vốn sùng đạo Phật, và hiện cũng không ít người nghèo không kém người đàn bà Ấn Độ kia. Chắc chắn là họ muốn dâng lên Đức Phật linh thiêng nhân từ niềm tin yêu sâu sắc của họ, cùng lời cầu mong được Bình An, Hạnh Phúc…
NỮ NHÀ BÁO cướp lời:
– Nhưng trừ đôi ba kẻ giàu có bằng cách trấn lột của Dân và Tài nguyên quốc gia đã cúng dường hậu hĩ cho các chùa lớn, thì phần đông chỉ lo được hai bữa ăn xoàng hàng ngày, lo học cho con cũng đã bạc cả tóc rồi, nên có lẽ cái thiêng liêng cao cả nhất của họ dâng lên Đức Phật chỉ là tấm lòng thơm thảo thôi, đúng không thầy?
Hành giả im lặng nhìn thật xa vào bóng đêm.
Khu Nghĩa địa lúc này như được bao phủ bởi một vầng hào quang ấm áp kỳ diệu toát ra từ hai trái tim hướng Phật.
Tại trụ sở Ban Trị sự giáo hội Phật giáo Tỉnh. Trong cuộc họp thường kỳ, một vị Đại đức bừng bừng phẫn uất:
SƯ A:
– Kính bạch các vị Trưởng lão! Con xin bày tỏ nỗi buồn phiền không đáng có với một kẻ đã từ bỏ Sân hận như con: Có một người tự xưng tu sĩ mặc ba y nhất bát lang thang trên nhiều nẻo đường, tự cho là đương hoằng dương Phật pháp, trong khi anh ta chưa được Giáo hội công nhận, chưa từng được học qua các bậc Phật học, thế nhưng lại được công chúng tôn vinh như Phật sống và hạ thấp Giáo hội ta…
Một vị Thượng tọa liền khoan thai đứng lên, trịnh trọng.
SƯ B:
– Thưa quý đồng đạo, tôi thiển nghĩ đạo Phật như một khu vườn hoa đẹp muôn sắc, ai cũng có thể có hạnh tu riêng của mình để làm phong phú thêm cho vườn hoa ấy… Thế là có thêm một Tín đồ đạo Phật đã có cách thực hành đạo Phật vừa cổ xưa lại vừa rất mới mẻ, mang đến an vui cho tất cả mọi người… Đáng hoan hỷ chứ ạ? Tôi còn thiển nghĩ: Lịch sử Phật giáo nước Việt ta giờ đây sẽ có thêm một trang rất đẹp, giàu ý nghĩa, Phật giáo các nước sẽ cung kính ngài Hành giả-khất sĩ này đó…
Trừ vị Đại đức nọ, tất cả các vị tăng – ni trong phòng họp đều chắp tay kính cẩn và niệm: “Nam mô A Di Đà Phật”.
Còn vị Đại đức trẻ vốn được tiếng là tu tập tinh tiến, chăm học Phật pháp bất chợt cảm thấy có một luồng năng lượng lạ lùng khó hiểu nào đó chợt xâm nhập tận đáy lòng mình, ông cúi đầu lặng lẽ và bỗng ngộ ra: lúc nãy mình đã bị Satan mượn lời để nói điều báng bổ. Ông bất giác chắp tay và niệm sau cùng, niệm thầm song mọi tăng – ni cấp bậc trên ông và ngang ông ở căn phòng này đều biết rõ là ông niệm gì.
SƯ A:
– Nam mô A Di Đà Phật…
Tại Công ty “Nguyệt Phương”, nữ Giám đốc vừa giở ra bản báo cáo do cô thư ký đưa định xem, thì cô thư ký chạy vào hớt hải.
THƯ KÝ:
– Chị ơi! Chị…
NGUYỆT PHƯƠNG:
– Gì thế em? Báo cáo có chi lầm lẫn à?
THƯ KÝ:
– Không ạ… Chị ra đây mau… Đoàn của Hành giả Minh Thành sắp đi qua khu ta… Nhiều bà vãi ở mấy đạo tràng tỉnh ngoài cũng đang xếp hàng cầm hoa sen đón đợi các vị ấy, ở sát Công ty ta… Chị ra đi, dịp may hiếm có để tận mắt thấy nhà sư mà chị vẫn nhắc…
Nguyệt Phương xúc động, chắp tay lại và nhắm mắt.
NGUYỆT PHƯƠNG:
– A Di Đà Phật… Quý hóa quá… Các Hành giả và các bà vãi, đáng quý làm sao… – Bà mở mắt ra, ngấn giọt lệ trên mi – Chị hàng ngày nghe tin, xem hình của ông ấy và các đồng đạo mà thương… Chị những mong có dịp được tới gần ông ấy để đảnh lễ, cúng dường, sờ tay lên tấm y người tu hành để bày tỏ lòng kính trọng…
THƯ KÝ:
– Thế thì chị dẹp hết đi, ra luôn cùng em… Em sẽ gọi bảo vệ của Công ty tạo một khoảng không rành riêng cho chị đón tiếp ông ấy…
NGUYỆT PHƯƠNG:
– Nhưng em à, em không thấy là quá nhiều người đeo bám theo ông ấy khiến ông ấy mệt mỏi, khó thực hiện được hạnh tu của mình, và chính ông ấy cũng phải than vãn rằng: Con đâu phải là diễn viên để mọi người xem ngắm… Rồi bao người cúng dường đủ thứ, cả tiền nữa, nhưng ông ấy chỉ nhận chút ít đồ chay đủ dùng cho một bữa… Thôi em à, nếu ta thật sự yêu quý kính trọng ông ấy thì hẵng để trong lòng, lấy đức độ và nghị lực của ông ấy làm bài học thấm thía cho riêng ta… Bớt cho ông ấy chút Sân Hận vì bị quá nhiều sự quấy rầy, tức là đã ủng hộ ông ấy đó em…
THƯ KÝ:
– Em không hiểu?…
Lúc đó ông Phó Giám đốc đứng tuổi bước vào, nghe được mấy câu cuối của Giám đốc và lời Thư ký, ông ta cười khẩy.
PHÓ GIÁM ĐỐC:
– Có gì mà không hiểu! Cô không thấy à: Giám đốc sang trọng của chúng ta, trang phục kiểu mẫu thế kia, mà lại ra đầu đường nghênh đón một kẻ bụi bậm lang thang bẩn thỉu ư? Để làm trò đùa cho thiên hạ ư? Sao cô xui dại Giám đốc thế?
Nguyệt Phương sững người, song nhanh chóng kìm hãm lại cơn giận cứ chực bùng ra.
NGUYỆT PHƯƠNG:
– Anh Hùng ạ, anh phải cám ơn cái người mà anh gọi là “kẻ bụi bặm lang thang bẩn thỉu” đó đấy! – Hùng và thư ký ngạc nhiên – Bởi thế này anh ạ, nếu như lúc trước, khi tôi chưa biết đến ông hành giả Minh Thành, nghe những lời báng bổ miệt thị như vừa rồi của anh, tôi sẽ nổi cơn tam bành và đuổi anh ra khỏi Công ty này – dù anh đã đóng góp nhiều thế nào cho Công ty hoặc có quan hệ gì với cấp trên…
PHÓ GIÁM ĐỐC:
– Tôi miệt thị báng bổ một kẻ xứng đáng được nhận như vậy! Còn cô, lẽ nào một Phật tử thuần thành, một người mẹ tốt, một lãnh đạo gương mẫu của Công ty này, lại đi bênh vực hắn ta?
NGUYỆT PHƯƠNG:
– Một người từng trải như anh, đã lăn lộn thương trường, và bằng đạo đức kinh doanh đã cùng Ban Giám đốc duy trì hoạt động Công ty, giúp Công ty vượt qua nhiều sóng gió để phát triển, vậy sao lại quên cái đạo lý này: Khi chưa hiểu rõ về một ai đó, đừng vội đả kích, lên án – thậm chí người ta đã vô tình phạm phải một sai lầm chết người…
PHÓ GIÁM ĐỐC:
– Cô vòng vo gì khó hiểu thế?
NGUYỆT PHƯƠNG:
– Anh ngồi xuống đi đã – Với thư ký – Cả em nữa, ngồi lại đây, em cũng cần phải nghe những điều này… Anh và cô em hãy nhớ lại về những nỗi oan ức tôi đã trải qua, khi đó sẽ có cơ hội, dù chỉ chút ít, để hiểu rằng mình đã bất công với ông hành giả nọ, vâng, trở thành kẻ bất công một cách đáng xấu hổ trong khi bản chất ta không phải thế…
PHÓ GIÁM ĐỐC:
– Sao cô lại néo cái chuyện cô bị oan ức liên hệ với cái kẻ… phải, cái ông mà cả xã hội đang bàn tán đủ kiểu kia?
NGUYỆT PHƯƠNG:
– Có liên quan đó, thậm chí rất khăng khít… Đấy là chuyện Quả Báo ngay trong cõi này… Giữa khi tôi tự tin rằng tôi có chân lý, có lẽ phải, tôi đã coi thường bất chấp thế lực xấu, và tôi đã đơn thương độc mã đứng lên chống chọi với ma quỷ, tôi đã bỏ quên những người tốt xung quanh có thể làm bệ đỡ cho mình khi vấp ngã… Thế rồi, sự hiếu thắng của tôi lại trở thành đồng minh của kẻ xấu, đã quật tôi ngã… Mấy năm mất tự do, tôi lại được một bài học lớn về thái độ Buông Bỏ… Không phải là sự thỏa hiệp đâu, mà là một cách bảo vệ chân lý và lẽ phải bằng sự khôn ngoan, bình tĩnh, bằng lòng kiên trì thậm chí nhẫn nhục… Ông Minh Thành đã giúp tôi thấm thía thêm điều đó… Nhất là khi biết ông ấy đáp trả kẻ đấm ông tóe máu mũi bằng lời cám ơn, bằng lời chúc phúc người ấy sớm quay đầu thành Phật – Nguyệt Phương lau giọt nước mắt, đứng lên, đi ra phía cửa sổ nhìn ra xa – Một Phật tử được gọi là thuần thành như tôi, chỉ trong những ngày ngã ngựa đó, tôi mới dần thấm hiểu: lòng Từ bi của Phật không chỉ là biết thương người, làm nhiều từ thiện, mà cái chính là một sự thấu hiểu tận đáy bản tính con người để có thể tìm được cách hữu hiệu nhất cảm hóa họ theo hướng Thiện, và nhiều khi con đường ngắn nhất lại là con đường vòng…
PHÓ GIÁM ĐỐC lẩm bẩm:
– “Nhiều khi con đường ngắn nhất lại là con đường vòng…” Đó chẳng phải là câu của nhà toán học Polya mà mấy năm trước tôi nói cho cô hay sao?
NGUYỆT PHƯƠNG:
– Đúng vậy, tôi biết ơn anh đã cho tôi biết nhiều câu triết lý có ý nghĩa, song chính anh lắm lúc đã không áp dụng được cho bản thân! Anh đừng vội tự ái. Ấn tượng của anh về ông Hành giả nọ cùng lời phỉ báng của anh, khiến anh đã hiện ra trước những người lòng lành biết suy nghĩ như một kẻ hồ đồ, hời hợt, và nhất là chứa đầy lòng Sân hận Si muội…
PHÓ GIÁM ĐỐC:
– Chính cô và những người tung hô ông ta mới là những kẻ Si muội hạng nặng…
NGUYỆT PHƯƠNG:
– Anh lầm to rồi! Mà ngay cả những người tán tụng ông ta quá lên là Thánh nhân, là Phật sống cũng không đáng gọi là Si muội, anh ạ! Chỉ có thể gọi là tình cảm thái quá, một sự sùng kính quá mức thôi! Nhưng cũng từ đó mà thiên hạ càng thấy nổi bật lên phẩm hạnh của ông Hành giả: ông ta thành thực từ chối mọi sự tán tụng, tự nhận mình là kẻ đang học Phật, đang thực hành Giáo pháp một cách vất vả, không dám nhận là Sư – dù ông ấy đã làm lễ xuất gia và hành đạo trong chùa…
PHÓ GIÁM ĐỐC:
– Thế cô chưa đọc công văn của Giáo hội Phật giáo ư?
NGUYỆT PHƯƠNG:
– Tôi đã đọc! Và cũng nghe nhiều vị tăng cao cấp trong Giáo hội tán thán bằng những lời trân trọng, kính nể hạnh tu của ông ấy… Tôi biết nhiều Phật tử, cũng như tôi, không thể đi theo được con đường ông Minh Thành, song nếu để trở thành Phật thì đâu chỉ có một con đường, và cớ gì lại chê bai phản bác con đường của ông ấy, trên một đất nước tự do tôn giáo?…
PHÓ GIÁM ĐỐC:
– Từ ngày tu Phật tại gia, cô trở nên lắm lý lẽ quá… Và, xin lỗi, hầu như toàn là những lý lẽ trên trời rơi xuống, xa lạ với bản tính cô, xa lạ với công việc cô đang làm là điều hành một guồng máy sản xuất mấy trăm con người…
NGUYỆT PHƯƠNG cười buồn:
– Anh Phó Giám đốc ạ! Tôi kính trọng anh về kiến thức khoa học kỹ thuật, song với nhận thức như thế về bản tính của tôi – cũng là bản tính thật sự của người Phật tử hôm nay, thì anh quả là đáng thương quá! Và, xin lỗi, cũng thực đáng giận… Cái mà anh gọi là “Lý lẽ trên trời rơi xuống” đó thật ra là Sự giác ngộ, là Trí Huệ trong đạo Phật, là Con thuyền Bát nhã đưa người ta vượt qua mọi sóng gió tâm tư lẫn sóng gió đời thường… Anh theo dõi đi, hàng triệu người là Phật tử và không phải là Phật tử, ở trong nước và nước ngoài, bình dân và trí thức, có không ít tu sĩ nhiều đạo khác đã nói về ông Hành giả Minh Thành kính cẩn, cảm phục ra sao! Họ đâu phải là u mê, si muội? Còn bản tính của tôi ư? Sau mấy năm bóc lịch trong tù oan ức, tôi đã học được chữ Thiền, đã xóa bỏ được gần hết thói đời ô trọc Tham – Sân – Si, và cuộc hành hương tìm Phật của ông Minh Thành đã giúp tôi gột bỏ nốt những gì xa lạ với từ bi hỷ xả còn dính lại trong Tâm trí cũng như tập quán sinh hoạt… Anh nhìn xem, hàng trăm công nhân ở Công ty này, có ai không phải là đồng bào của chúng ta? Đã bao giờ anh hạ cố như một kỹ sư hàng ngũ quý tộc chưa từng biết đói khát, bước tới một gia đình công nhân nghèo đông con để xem bữa cơm nhà họ có những gì, đã trăn trở điều gì mong giúp họ thoát cảnh cùng khổ chưa? Những người tu chùa, hay tu tại gia như tôi, hoặc tu khất sĩ như ông Minh Thành, xét cho cùng đều từ một cái nguồn của Phật pháp lâu nay, là tìm đường thoát khổ cho bản thân và nhân quần… Họ đều quên bản thân mình, quên mọi thú vui trần thế, chấp nhận cuộc sống Buông bỏ dục lạc, hận thù, tranh chấp – ông hành giả Minh Thành đang hiển hiện là một người như thế, lại nổi bật rỡ ràng trong hàng ngũ Tăng Ni – Phật tử. Lẽ nào anh nỡ phỉ báng, miệt thị họ? Ông ấy đi tìm Phật trong nghĩa địa, nơi hoang vu sỏi đá, chứ không tìm Phật nơi nguy nga lộng lẫy dát vàng – người ấy không đáng kính trọng sao?
Ông Phó Giám đốc bất giác hơi cúi gằm mặt.
NGUYỆT PHƯƠNG
– Những ai nói rằng: hành giả Minh Thành không phải là tu sĩ, cần biết tới bài Kệ này của vua Lý Thái Tông (Lý Phật Mã), người đã cho dựng chùa Một Cột: Trí tuệ bát nhã không thuộc tông phái nào/ Không phải người, cũng không phải ta/ Các vị Phật của quá khứ, hiện tại và tương lai/ Vốn cùng chung một Pháp tính[141]. Anh Hùng ạ, một trí thức như anh rất cần tham khảo một quan điểm về Vòng Luân Hồi (Samsãra) như một nguyên lý Nhân sinh căn bản của một nhà Phật học người Nhật Bản, trong cuốn Tinh hoa triết học Phật giáo, do Thiền sư Tuệ Sỹ dịch từ nửa thế kỷ trước làm giáo trình cho sinh viên Phật học, tôi mới mượn được: “Trên thực tế, khi tất cả các trường phái tư tưởng (cả ở Đông Phương lẫn Tây Phương) bắt đầu với một nguyên lý tối sơ tĩnh, thì Phật giáo bắt đầu với thế giới động, hiện thực; và cá nhân, bằng cách tự tài bồi, nỗ lực để thể hiện lý tưởng trong cứu cánh. Samsãra, các đợt chìm nổi của đời sống, không phải là một dòng nước trôi xuôi, mà là một chu kỳ ba động, mỗi đợt sóng là một chu kỳ của đời sống xuất hiện trên quỹ đạo vĩ đại của Vòng Luân Hồi”[142] – Nguyệt Phương bước tới giá sách lấy ra mấy cuốn sách đặt trên bàn – Anh nên tranh thủ đọc mấy cuốn sách sưu tầm khảo cứu tử công phu của thầy Thích Trí Siêu đi, sẽ bất ngờ tìm thấy từ trong các bước đường lịch sử của Phật giáo nước nhà hiển hiện bóng dáng và đạo hạnh của sư Thích Minh Thành hôm nay – Bà giở một cuốn – Đây anh xem, ngay mở đầu ‘Lời Tựa’ cuốn Kinh pháp kính (Gương pháp) của thiền sư Việt đầu tiên Khương Tăng Hội ở thế kỷ III SCN, ta có thể đọc thấy điều này: “Rằng Tâm là cội nguồn của mọi pháp, là căn của thiện ác, cùng ra khác tên, họa phúc chia dòng, lấy thân làm xe, đi khắp mười phương, vốn không ngưng nghỉ”.[143] Còn khi sư Thiện Hội hỏi: “Thế nào là Phật?”, sư Cảm Thành trả lời: “Phật ở khắp mọi nơi”.[144] Anh thử nghĩ, phải chăng đó cũng là những dòng dành riêng để nói về con đường tu tập 6 năm qua của hành giả-khất sĩ Minh Thành? Phó Giám đốc Hùng bất giác cầm cuốn sách trên tay Nguyệt Phương, ông lấy kính ra đọc chăm chú.
Âm bản III. SỰ HÌNH THÀNH NGÔI CHÙA VIỆT
Đang ngắm nhìn cái chòi cũ nay là ngôi chùa đơn sơ của tu sĩ Thích Minh Thành ở Gia Lai qua mạng xã hội, thì con gái ở phòng dưới gọi điện bảo: “Con bỗng nhớ đến ngôi chùa Từ Tôn mà ông Quách Giao[145] đưa bố con mình tới thăm, bố ạ!”
Bố giật mình, như có sự giao cảm kỳ lạ – không chỉ của hai bố con mà của tất cả những ai đang quan tâm đến số phận tu tập của ông Thích Minh Thành …
Và bố chợt nghĩ tới sự hình thành của những ngôi chùa Việt xưa nay…
Nhưng trước hết hãy trở lại chùa Từ Tôn con mới nhắc.
Chùa này nằm trên Hòn Đỏ, cận kề danh thắng Hòn Chồng – chỉ cách đất liền khoảng 300m – không chỉ là nơi sinh hoạt của các Phật tử mà còn là điểm du lịch tâm linh thiêng liêng và yên bình bậc nhất tại thành phố biển Nha Trang – nơi có ý định và đang nỗ lực trở thành địa chỉ mang tên “Thành phố Điện ảnh”.
Sở dĩ đảo có tên gọi là Hòn Đỏ là bắt nguồn từ hiện tượng tự nhiên của những khối đá tại đây, khi ánh nắng mặt trời chiếu rọi xuống những phiến đá trên đảo ánh lên sắc đỏ. Nhiều ngư dân cũng thường neo đậu ghe tàu ở đây khi đánh bắt. Khi có sự xuất hiện của chùa, nơi đây mới bắt đầu có sinh khí và tươi đẹp dần lên.
Ông Quách Giao đã kể cho bố con ta nghe về lai lịch nhiều ngôi chùa ở Khánh Hòa, mà theo nhà thơ Quách Tấn trong cuốn Xứ Trầm hương thì Khánh Hòa là tỉnh có nhiều chùa hơn tất cả các tỉnh miền Nam Trung Việt, và các Tổ khai sơn đều là người Việt…
Nhưng sự hình thành ngôi chùa nhỏ Từ Tôn trên Hòn Đỏ vốn là nơi hoang vu giữa biển khơi, chỉ có đá tảng và cỏ gai, được mệnh danh là “đảo chết”, với công phu thấm mồ hôi nước mắt của nhà sư Thích Viên Mãn đã khiến nhiều người cảm động hơn cả. Và nhà nghiên cứu Quách Giao đã kế tục sự nghiệp tôn vinh Xứ Trầm hương của cha mình bằng nhiều công trình văn hóa – nổi bật là cuốn ký sự Người gánh nắng, trong đó tái hiện toàn bộ ý chí, khát vọng cao đẹp của một nhà sư đã tạo nên một danh lam thắng cảnh giữa trời biển thẳm xanh, trên cõi đời bát ngát này…
Nhưng những danh lam thắng cảnh đó, khởi đầu bao giờ cũng chỉ là hoang sơ, cỏ dại, với Tâm hướng thiện cao cả – giống như ngôi chùa nhỏ hôm nay ở Gia Lai khiến bao người xúc động…
Lúc đó, khi lần đầu thăm chùa Từ Tôn, con đã tập làm Phật tử nhí bằng cách chắp tay lạy Phật trong chùa mà bố chụp trộm được khá nhiều ảnh ngộ nghĩnh, lát nữa lục lại kho tư liệu sẽ gửi con hết.
Cuốn Người gánh nắng do ông Quách Giao tặng, cùng những cảm xúc của bố con mình về chùa Từ Tôn sẽ là cơ sở cho một Âm bản điện ảnh về sự hình thành Chùa Việt theo hình bóng Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá – Sư cụ nằm chung với khói mây[146] mà chúng ta cần phải thực hiện.
HẾT
[140] Kama Sutra: tác phẩm kinh điển của Ấn Độ cổ đại, do thiền sư Mallanaga Vatsyayana viết bằng chữ Phạn.
[141] “Bát nhã chân vô tông/ Nhân không, ngã diệc không/ Quá hiện vị lai Phật/ Pháp tính bản tương đồng” – Thơ văn Lý-Trần, tập 1, Nxb Khoa học Xã hội, 1977.
[142] Junjro Takakusu – The Essentials of Buddhist Philosophy, Nxb Phương Đông, 2008.
[143] Lê Mạnh Thát – Tổng tập văn học Phật giáo VN tập II, Nxb TPHCM, 2001.
[144] Lê Mạnh Thát – Lịch sử Phật giáo VN, Tập II, Nxb Đồng Nai, 2023.
[145] Ông Quách Giao – con trai đầu nhà thơ Quách Tấn, một trong “Bàn Thành tứ hữu” (Quách Tấn, Yến Lan, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên).
[146] Thơ Nguyễn Khuyến.