Phan Tấn Hải
Làm thơ, viết truyện, soạn kịch, soạn nhạc, hay vẽ… chúng ta sáng tác, có thể hoàn toàn không mượn từ người xưa? Hiển nhiên là chúng ta đã học từ rất nhiều vị thầy, từ ca dao, từ truyện cổ tích, từ các vị thầy nơi trường lớp, từ vô lượng các sách chúng ta đã đọc. Tuy nhiên, tới mức nào thì một bài thơ, hay lời một ca khúc có thể bị xem là vi phạm tác quyền dể bị thưa kiện, đường biên hẳn rất là mong manh. Đặc biệt là khi sáng tạo từ những ký ức chúng ta không thể nhớ tới cội nguồn.
Các báo Hoa Kỳ hôm 7/7/2026 ghi nhận về phán quyết của thẩm phán Aileen Cannon của tòa liên bang tại Florida đã bác bỏ vụ kiện do nhà thơ Kimberly Marasco, cáo buộc nhạc sĩ Taylor Swift sao chép các chủ đề và ý tưởng của chính bà Marasco để sáng tác những ca khúc như “The Man”, “The Great War”, “I Can Do It with a Broken Heart” và nhiều bài khác.
Trong số các cáo buộc nhắm vào những ca khúc được cô Swift phát hành từ năm 2019 đến 2024, Marasco cho rằng Swift đã vi phạm bản quyền bài thơ “Ordinary Citizen” của bà – bài thơ có câu: “I’m running behind / You say it’s His word against mine” (Tôi đang chạy phía sau / Anh nói đó là lời của Ngài nghịch với lời của tôi) (Ghi chú: chữ Ngài viết hoa ám chỉ Thượng đế) – thông qua ca khúc “The Man” của Swift, bài hát có đoạn: “I’m so sick of running as fast as I can / Wondering if I’d get there quicker if I was a man” (Tôi quá mệt mỏi với việc phải chạy nhanh hết sức có thể / Và tự hỏi liệu mình có đến đích nhanh hơn không nếu tôi là đàn ông).
Nhà thơ Marasco nói rằng cả bài thơ lẫn ca khúc của Swift đều mô tả hình ảnh một người phụ nữ làm việc trong môi trường công sở do nam giới thống trị.
Nhà thơ Marasco cũng cáo buộc ca khúc “The Great War” của Swift (với lời bài hát “Diesel is desire, you were playing with fire” – Dầu diesel là ham muốn, anh đang đùa với lửa) chôm lời bài thơ “The Fire” của bà (có câu “Anger fuels our desire… I’m fighting fire with fire” – Cơn giận tiếp thêm nhiên liệu cho ham muốn của chúng ta… Tôi đang dùng lửa để chống lại lửa) vì cả hai đều sử dụng phép ẩn dụ coi “ham muốn là nhiên liệu và ngọn lửa”.
Vụ kiện của Marasco cũng liệt kê nhà sản xuất âm nhạc Jack Antonoff, hãng đĩa Republic Records, Universal Music Group và nhạc sĩ Aaron Dessner vào danh sách các bị đơn.
Trong phán quyết đưa ra vào thứ Ba 7/7/2026, Thẩm phán Aileen Cannon nhận định rằng đây là những “chủ đề, khái niệm và từ ngữ riêng lẻ mang tính điển hình” mà luật bản quyền không bảo hộ.
Thẩm phán Cannon đã chấp thuận yêu cầu bác bỏ vụ kiện của Swift, phán quyết rằng các bài thơ của Marasco “không chứa đựng nội dung thể hiện có thể được bảo hộ bản quyền, và dù thế nào đi nữa, Nguyên đơn cũng đã không đưa ra được lập luận thuyết phục về hành vi sao chép”.
Thế rồi, trong một email gửi đi vào thứ Ba, nhà thơ Marasco cho biết bà đã nộp đơn kháng cáo. Kiện tiếp sao? Chúng ta cũng thấy rằng, cô Swift là tỷ phú, nên mới bị kiện. Nhưng hình ảnh của lửa so sánh với tham sân si là hiển nhiên, cả nhạc sĩ và nhà thơ đều trộm hình ảnh đó từ Kinh Phật. Có ai tách rời hoàn toàn khỏi ký ức sáng tạo của nhân loại? Không dễ tí nào.
Một nguyên tắc cơ bản đến mức các nghệ sĩ thường quên mất: luật bản quyền không bảo hộ ý tưởng. Nó bảo hộ cách cụ thể mà các ý tưởng đó được thể hiện. Nên nhớ, tất cả các nghệ sĩ đều khởi đầu như một kẻ trộm.
Không phải kiểu người lẻn qua cửa sổ trong đêm tối mà không ai hay biết, mà là kiểu người nhẹ nhàng hơn: vay mượn nhịp điệu từ thuở ấu thơ, hình ảnh từ ký ức, giọng nói từ thầy cô, sắc màu từ hoàng hôn và những phép ẩn dụ từ những cuốn sách mà tác giả có thể đã qua đời từ hàng thế kỷ trước. Chúng ta thừa hưởng một thế giới đã cất tiếng nói trước khi ta thốt ra câu đầu tiên, đã nghe hát giai điệu trước khi ta sáng tác bản nhạc đầu đời, và đã thấy nét vẽ người xưa từ rất lâu trước khi ta đặt bút vẽ nét đầu tiên.
Tính nguyên bản, nguyên chất, thuần túy độc đáo chưa bao giờ đồng nghĩa với việc bắt đầu từ con số không. Chúng ta không rời các chữ của ca dao, Nguyễn Du, Bùi Giáng… Chúng ta sáng tác từ khối ngữ vựng của dân tộc. Và chúng ta cũng như người xưa đã có cùng các nỗi buồn, khi ý thức về các mối tình tan vỡ, về các đau khổ của đời người. Cõi người chúng ta có cùng các nỗi đau, cùng ý thức về cô đơn, lòng đố kỵ, tâm độ lượng tha thứ hay niềm hy vọng.
Lửa [dù là ẩn dụ khát vọng] không phải là riêng trong thơ hay nhạc của ai. Lửa đã tượng trưng cho niềm đam mê suốt hàng thiên niên kỷ. Dòng sông đã mang theo dòng chảy thời gian từ thuở xa xưa. Loài chim đại diện cho sự tự do trong mọi nền văn minh từng ngắm nhìn chúng bay vút vào bầu trời. Nếu những hình ảnh ấy có thể bị đánh bản quyền, thì văn học hẳn đã không thể tồn tại từ lâu rồi.
Luật pháp không bảo hộ ngôn ngữ chung của nhân loại, mà bảo hộ giọng điệu độc đáo biết sắp xếp ngôn ngữ ấy thành một tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân không thể nhầm lẫn. Đây cũng là những mơ hồ khó nhận biết. Thí dụ, chúng ta rất khó (hay gần như bất khả) làm thơ y hệt kiểu Nguyễn Du, Bùi Giáng.
Tương tự như hội họa, tranh vẽ và âm nhạc. Picasso không phải là người phát minh ra khuôn mặt người. Tranh in mộc bản Nhật Bản đã ảnh hưởng đến trường phái Ấn tượng. Nghệ thuật điêu khắc châu Phi đã làm thay đổi chủ nghĩa hiện đại châu Âu. Nhạc Jazz ra đời từ cuộc đối thoại phi thường giữa các truyền thống âm nhạc châu Phi, hòa âm châu Âu, thánh ca nhà thờ, ban nhạc quân đội và nhạc blues.
Dù vậy, chúng ta có thể thấy một số họa sĩ Việt Nam vẽ trong phong cách lập thể như Picasso nhưng họ vẫn có nét riêng. Về âm nhạc, chúng ta có thể thấy nhiều ca khúc bolero nghe gần gần nhau, nhưng không ai làm nhạc giống như Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương, Cung Tiến.
Thực tế, mỗi thế hệ đều chỉnh sửa bản thảo do thế hệ đi trước để lại. Bây giờ, chúng ta nhắc tới một hồ sơ vi phạm bản quyền vẽ thương hiệu.
Theo bản tin AP từ Hồng Kông hôm 7/7/2026, một phán quyết của tòa án tại Tô Châu (Suzhou) đã buộc chuỗi tiệm trà địa phương Molly Tea phải bồi thường 1,5 triệu USD cho thương hiệu xa xỉ Pháp Louis Vuitton vì hành vi vi phạm nhãn hiệu, cụ thể là liên quan đến thiết kế hình bông hoa bốn cánh. Vụ kiện đã châm ngòi cho một cuộc tranh luận trên các phương tiện truyền thông nhà nước Trung Quốc và trong cộng đồng mạng; nhiều người đặt câu hỏi liệu logo của Louis Vuitton có phải được lấy cảm hứng từ các họa tiết truyền thống của Trung Quốc có từ thời cổ đại hay không. Những người chỉ trích cáo buộc thương hiệu Pháp đang cố gắng độc quyền các họa tiết mang đậm dấu ấn văn hóa này.
Phán quyết trên – vốn đang thu hút nhiều sự chú ý trên các nền tảng mạng xã hội như Weibo – đã làm dấy lên những lo ngại về việc bảo tồn di sản cổ xưa của Trung Quốc. Tờ Beijing Daily bày tỏ sự tiếc nuối khi một công ty Trung Quốc phải chịu mức phạt nặng nề vì một thiết kế phản ánh truyền thống nghệ thuật hàng trăm năm của đất nước Trung Hoa. Tờ Global Times cũng chia sẻ quan điểm tương tự, phản ánh sự bất bình rộng rãi của người dân Trung Quốc trước việc các thương hiệu nước ngoài kiểm soát những thiết kế gắn liền với bản sắc văn hóa của họ.
Vụ kiện này cũng nằm trong bối cảnh rộng hơn về các tranh chấp sở hữu trí tuệ giữa các doanh nghiệp phương Tây và Trung Quốc, nơi các thương hiệu quốc tế thường xuyên khởi kiện tại thị trường Trung Quốc. Bất chấp phán quyết của tòa án, chuỗi tiệm trà Molly Tea vẫn tiếp tục sử dụng logo hình bông hoa bốn cánh trên trang web của mình và dự định sẽ kháng cáo.
Trong khi kỷ niệm 130 năm ra đời họa tiết monogram (chữ lồng) đặc trưng, Louis Vuitton khẳng định thiết kế này được lấy cảm hứng từ phong cách trang trí Tân Gothic và trào lưu Japonism (ảnh hưởng của nghệ thuật Nhật Bản), cho thấy sự giao thoa phức tạp giữa các luồng ảnh hưởng văn hóa. Đáng chú ý, cả LVMH và Molly Tea hiện vẫn chưa đưa ra bình luận công khai nào về vụ việc này.
Câu hỏi nơi đây sẽ rất phức tạp cho chúng ta: khi các họa sĩ Việt Nam vẽ logo và dùng hình ảnh trống đồng hay chim lạc có từ nhiều ngàn năm trước, chúng ta có vi phạm bản quyền của nhau không?
Vụ tranh cãi này đã hé lộ một vấn đề lớn hơn cả luật nhãn hiệu. Văn hóa thuộc về lịch sử chung của một dân tộc. Thương hiệu thuộc về thương mại riêng của một công ty. Chim lạc, trống đồng là hình ảnh chung. Có phải khi biến thành thương hệu riêng để kinh doanh thì sẽ cần giữ bản quyền. Thiệt là mập mờ đường biên vậy. Hay là chúng ta lấy cớ thương hiệu là để bảo vệ người tiêu dùng?
Vậy rồi còn AI (trí tuệ nhân tạo) thì sao? AI đã trộm chữ và hình từ cả triệu triệu trang web để làm ra sản phẩm riêng. Chúng ta nhìn hình AI thì thấy hao hao, nhưng không thể kiện AI về tội trộm hình ảnh khắp nơi để xào nấu. Chúng ta bực dọc vì AI làm thơ cũng đôi khi chữ nghĩa nghe được, nhưng hao hao như thơ của ai mà chúng ta không nhớ, nhưng cũng không níu áo AI mà kiện được.
Các trang AI giờ đây có thể viết tiểu thuyết, sáng tác âm nhạc, mô phỏng phong cách họa sĩ, tạo ra hình ảnh những người chưa từng tồn tại và viết các bài luận chỉ trong vài giây – những công việc từng đòi hỏi hàng tuần lao động. Một số người ca ngợi những bước tiến này như một cuộc Phục hưng mới. Số khác lại lo ngại chúng là khởi đầu cho sự tự động hóa văn hóa.
Cả hai phản ứng này có lẽ đều hơi thái quá. Nhưng AI hiển nhiên là cách mạng. Mỗi cuộc cách mạng công nghệ đều từng khơi dậy những nỗi lo âu tương tự.
Như trường hợp hội họa. Khi nhiếp ảnh ra đời, các họa sĩ từng lo sợ về sự chấm dứt của hội họa. Thay vào đó, khi được giải phóng khỏi nhiệm vụ sao chép thực tại đơn thuần, họ đã khám phá ra trường phái Ấn tượng, Lập thể và Trừu tượng.
Khi điện ảnh xuất hiện, tiểu thuyết vẫn tồn tại. Khi truyền hình len lỏi vào mọi phòng khách, sân khấu kịch vẫn đứng vững. Khi internet ra đời, số lượng sách thậm chí còn gia tăng. Kỹ thuật hiếm khi triệt tiêu nghệ thuật. Nó chỉ thay đổi những câu hỏi mà người nghệ sĩ đặt ra. Và AI sẽ đẩy người sáng tác phải tìm một chân trời mới.
Trí tuệ nhân tạo có lẽ đặt ra thách thức lớn nhất từ trước đến nay, bởi khả năng vận hành trôi chảy đến kinh ngạc của nó dựa trên việc xào nấu khối lượng khổng lồ các tác phẩm do con người tạo ra. Các nhà văn tự hỏi liệu sách của họ có đang trở thành những người thầy không công cho máy móc hay không. Các họa sĩ minh họa nhận thấy những hình ảnh do máy tạo ra mang dáng dấp của bao năm lao động miệt mài. Các nhạc sĩ nghe thấy những phong cách quen thuộc được tái tạo lại với sự dễ dàng đến mức đáng ngại.
Thực tế, chỉ riêng cơ chế bảo hộ bản quyền sẽ không thể duy trì nền văn hóa nghệ thuật. Đôi khi, chính luật bản quyền lại trở thành rào cản.
Bài viết nhan đề “How copyright law is holding back Australian creators” (Luật bản quyền đang kìm hãm các nhà sáng tạo Úc như thế nào) trên trang Conversation năm 2018 cho biết rằng luật bản quyền đặt ra những rào cản lớn cho các nhà sáng tạo Úc, có nguy cơ gây trì trệ thay vì khuyến khích sự sáng tạo. Các cuộc phỏng vấn với 29 nhà sáng tạo–bao gồm nhà làm phim tài liệu, nhà văn, nhạc sĩ và nghệ sĩ thị giác (họa sĩ và điêu khắc gia)–đã bộc lộ những bất mãn xoay quanh sự phức tạp và chi phí cao khi xin cấp phép sử dụng lại các nội dung có bản quyền. Nhiều người cảm thấy quá tải với quy trình cấp phép, thường xuyên phải đối mặt với thời gian chờ đợi kéo dài và mức phí cao, gây ảnh hưởng tiêu cực đến các dự án của họ.
Ví dụ, một nhà soạn nhạc đã phải chờ đợi suốt một năm để được cấp phép sử dụng một bài thơ, dẫn đến việc cuối cùng phải viết lại lời bài hát một cách đầy khó khăn. Tương tự, một nhà làm phim đã phải từ bỏ dự án phim tài liệu do chi phí cấp phép quá đắt đỏ–lên tới hơn 10.000 đô la–chỉ cho chưa đầy hai phút âm nhạc. Trời ạ, chỉ có 2 phút nhạc thôi đấy.
Các nhà sáng tạo tỏ ra bối rối về phạm vi của các trường hợp ngoại lệ trong luật bản quyền Úc, chẳng hạn như quy định “fair dealing” (giao dịch công bằng); các quy định này khá hạn chế so với khái niệm “fair use” (sử dụng hợp lý) rộng rãi hơn ở các quốc gia như Hoa Kỳ. Sáng tạo mà không dè dặt là vi phạm bản quyền. Mà làm sao bảo đảm là chữ nghĩa, tranh vẽ, phim ảnh của mình không giống với người xưa?
Các nhà nghiên cứu về giới sáng tạo tại Úc nói rằng một nghịch lý rõ ràng đang hiện hữu: pháp luật được thiết kế để khuyến khích sáng tạo, nếu bị áp dụng một cách cứng nhắc, lại có thể kìm hãm sáng tạo.
Có một hình ảnh cổ xưa, thường được cho là của nhà khoa học Isaac Newton, về việc nhìn xa hơn khi đứng trên vai những người khổng lồ. Hình ảnh ẩn dụ này vẫn là một trong những mô tả chính xác nhất về đời sống nghệ thuật.
Một nhà thơ nghiêm túc hiển nhiên cần đọc và nghiên cứu về thơ Homer, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Dante, Shakespeare, Emily Dickinson, Rabindranath Tagore, Pablo Neruda, và vô số những ngôn ngữ thơ khác để chúng ta có thể, nói theo Newton, đứng trên vai của các vị thầy của chúng ta đề nhìn xa hơn, nhưng không tự đánh mất mình để trở thành kẻ trộm thơ, kẻ đạo văn…
Họa sĩ, nhạc sĩ cũng rơi vào trường hợp tương tự như các nhà thơ… Học theo người xưa và sáng tác theo trái tim của mình. Biết ơn người xưa, nhưng không thể trộm của bất kỳ ai. Mỗi một tác phẩm nghệ thuật không bao giờ là lời độc thoại riêng, mà là một cuộc đối thoại kéo dài qua nhiều thế kỷ, nơi đó mỗi thế hệ học theo và nói lên những tiếng nói mới cho những thế hệ chưa đến.
Nơi đây, xin nói lời riêng: Tôi, một nhà báo đôi khi làm thơ, hoàn toàn đồng ý với tòa án liên bang Miami khi thẩm phán không tin rằng nhạc sĩ Taylor Swift đã “chôm” ẩn dụ hình ảnh “lửa” của nhà thơ Marasco, vì nếu nói là đạo văn, thì chúng ta có thể dò xa hơn nhiều ngàn năm để thấy hình ảnh “lửa của khát vọng” đã ghi rõ trong Kinh Phật.

Ca/nhạc sĩ Taylor Swift bị nhà thơ Marasco kiện bản quyền vài chữ. Tòa bác đơn kiện, nói không có gì vi phạm.

Hoa bốn cánh trên logo tiệm trà Molly Tea bị cho là giống logo của hãng thời trang Pháp.

Nhạc Cung Tiến và thơ Bùi Giáng thơ mộng có khi dịu dàng như ca dao, có nên nói là vi phạm bản quyền?