Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (27)

Mai An Nguyn Anh Tun

31.

Hò hẹn mãi rồi mới có dịp đưa con gái trở lại nơi gắn bó với cả tuổi trẻ của bố… Con im lặng khoác tay bố đi trong đêm phố Huyện vắng lặng. Con không muốn hỏi gì, có lẽ bởi chưa hết ngậm ngùi sau lá thư tuyệt mệnh của một cô giáo sinh từng thầm yêu bố mà bố cho con đọc hôm trước… Sáng mai, có mấy cô cậu học trò cũ hẹn đưa xe đón hai bố con vào Mường La thăm nhà máy Thủy điện… Nhưng trước khi vào đó, con cần biết một tâm trạng của bố thời với chiếc máy quay lang thang trong những bản vắng đã di dời dành cho lòng hồ Thủy điện…

GIỮA BẢN VẮNG

Tôi đã đi hết tuổi trẻ của mình. Đi gần hết những đắng cay, tủi hận, khát thèm, mơ mộng.

Để đến với một bản hoang vắng bên sông Đà.

Để cảm thông hết với người con trai trong chuyện kể sau nhiều tháng năm lặn lội đi tìm người yêu, tìm lại được nàng, sống cạnh nàng trong bảy ngày bảy đêm rồi vỡ lẽ: nàng chỉ là một xác chết lạnh tanh…

Để giữa khi không còn cảm giác đói thấm được vị ngọt đê mê của hạt gạo nương đầu vụ – những hạt gạo đổi bằng máu của rừng, bằng thắt ruột thắt gan chờ đợi, bằng cả sinh mệnh…

Mấy con khỉ mặt đỏ bạo dạn ùa tới những khu vườn hoang, bới tìm củ đậu, quả cà, bắp ngô còn sót lại

Chàng trai đi cùng tôi định cầm hòn gạch vỡ ném đùa.

Tôi ngăn lại, vì biết đâu, trong số những con khỉ ấy có lũ con thơ buộc phải bỏ rơi trong rừng bởi đôi vợ chồng xưa trong chạn không còn gì để ăn…

Tôi đã sống qua bao trăn trở, hoài niệm, khát khao bay bổng, quên rằng cái ăn là nỗi lo thường trực của nhiều người kể cả tôi, và tôi đã thi vị hoá cái nghèo, cái đói, tệ hơn, lẩn tránh vào sách vở và đủ loại triết lý siêu hình.

Và cứ thế, tôi đến với hôm nay

Với bản vắng sắp chìm trong nước lạnh…

32.

Mấy hôm nay, mọi người trên mạng xã hội sôi nổi bàn luận về chuyện “Đọc Sách”, bố chỉ nghĩ: Nếu quả thực có người tuyên bố rằng họ không cần đọc sách mà vẫn thành công về tiền tài sự nghiệp, vẫn hạnh phúc như ai và thậm chí hơn ai – thì nhiều người sẽ nhìn họ như người từ hành tinh nào lạc xuống trái đất và sẽ phải băn khoăn rằng nên dùng thứ ngôn ngữ – tín hiệu nào để liên hệ với họ…

Bố có đọc đâu đó W. Shakespeare bảo: Nếu một kẻ nào đó không yêu âm nhạc thì kẻ đó không đáng tin… Bố chợt sực nhớ một truyện ngắn khá kỳ lạ của A. Chekhov. Truyện này bố đọc được từ hồi sinh viên năm nhất, trên một tập tư liệu tham khảo văn học ngước ngoài in ronéo đen xì, không nhớ rõ người dịch, sau đó không thấy in trong bất kỳ một tuyển tập dịch nào của Chekhov… Thiên truyện ám ảnh bố suốt mấy chục năm, cho đến tận giờ…

Một chàng thanh niên (bố chẳng nhớ nghề nghiệp, thân thế) yêu một cô gái con ông chủ trang trại giàu có. Khi biết được chuyện yêu đương lén lút này, bố cô gái gọi chàng trai đến và yêu cầu anh ta thực hiện một giao ước: anh phải tự giam mình đọc hết số sách trong phòng khách của ông, rồi hẵng nghĩ đến chuyện yêu con gái ông… Thế là, suốt mấy tháng ròng, chàng trai được cung phụng như khách quý chỉ để “nghiền” tủ sách nọ… Tới một ngày, ông chủ qua gia sư biết rằng chàng trai đã đọc đến cuốn cuối cùng thì rất vui, tìm đến gặp anh ta để đồng ý thực hiện lời giao ước. Nhưng ông ta chỉ thấy căn phòng trống không với sách ngổn ngang, cửa sổ mở toang: chàng trai đã biến mất…

Con hãy suy ngẫm về hành động của chàng trai nọ. Và thử viết một kịch bản phim mi-ni từ ý tưởng của truyện ngắn trên xem sao nhé…

33.

Sau một đợt công tác phía Nam, Thế bị, đúng hơn là tự nhốt mình trên tầng ba – để bảo vệ gia đình anh: vợ trẻ, hai đứa con gái chưa trưởng thành và bà mẹ đang gần đất xa trời… Trước đợt anh đi xa, cả Hà Nội nháo nhác lên vì F0, ở đâu cũng thấy F0, bạn bè anh liên tục báo tin bị F0! Cho nên, lúc trở về, anh tình nguyện cách ly với mọi người, kiểu “i-sô-lê” (isolé) mà anh sực nhớ ra khái niệm được biết từ hồi viết kịch bản phim về một người tù số vuông bị lao ở ngục đá Sơn La. Sau 4 hôm bình thường, người bỗng mệt mỏi, họng đau rát. “Thế là ông bị rồi! Đi như ngựa vía mà không bị mới tài!” – vợ anh kêu lên như cha chết, như hồi sinh nghề Cải lương của cô ta. Thế là anh đương nhiên thành đối tượng bị cách ly chính thức, bắt buộc, chịu sự quản lý nghiêm ngặt, hoàn toàn mất tự do và bắt đầu nuôi mặc cảm là con sâu lớn hóa thân Samsa của F. Kafka bị nhốt trong phòng mình! Với kinh nghiệm hàng ngày “buôn dưa lê” với đủ họ hàng, bè bạn thân sơ về chữa Covid-19 và các biến thể của chúng, vợ anh trang bị như người phun thuốc trừ sâu công cộng mang lên cho anh hàng đống thuốc các loại, cùng lời dặn dò người lâm bệnh như với một cậu học trò mẫu giáo khiến anh ong hết cả tai. “Vâng, vâng ạ, biết rồi, biết rồi” – “Im! Ông không được nói gì cả, bắn hết vi trùng ra rồi”… Anh đang vắt óc nghĩ ra thứ ngôn ngữ kịch câm (chứ không phải phim câm tức là thứ “phim điếc”) để đối phó, thì may thay, được yên ổn trong vài tiếng đồng hồ – dù sau đó bị “tra tấn” trên Zalo hình, cũng đỡ phần nào nỗi khổ nhục bởi sự lo lắng săn sóc thái quá của một kiểu “tình yêu mệt mỏi”…

Nhưng sống vào thời của những người “tham sống sợ chết”, anh cũng chịu khó thực hiện khá nghiêm chỉnh các “phác đồ” dân gian trị F0 do bà xã sưu tầm xào xáo mà cái nào cũng “hiệu nghiệm” như quảng cáo – nào là xịt họng Xuyên tâm liên, viên nhộng Xuyên tâm liên, dung dịch vệ sinh mũi Vesim, nước Listerine, thuốc Multivitamine, nào là nước Natri Clorid, xông lá, v.v. Khổ nhất là thỉnh thoảng bị đòi đè ra chọc mũi, anh buộc phải thông minh đột xuất và lên giọng hệ trọng: “Này, nhỡ ra là đồ ngoáy của bọn Việt Á đang trôi nổi thì sao? Lợn lành chữa thành lợn què! Tiền mất tật mang! Với lại giờ thiên hạ bỏ kiểu đo mũi phập phù đó rồi, không chính xác nữa!” Thế là tạm thoát cái vụ chọc ngoáy. Song vụ mua máy đo nồng độ ô-xy máu mới gây ra cãi nhau. “Tôi là thằng thở như bò ấy, cần gì phải đo vớ vẩn!” – “Đừng chủ quan nhé! Anh Thơm đấy, vẫn thở bình thường, ra viện mới biết là thiếu ô-xy nặng!” Đưa ông hàng xóm – chồng của cô bạn “buôn dưa lê” hạng nặng ra thì anh đành chịu xuống thang một lần, để minh chứng bằng thực tế cho rõ ràng!

Nhưng điều anh phấp phỏng lo sợ là những cuộc cãi cọ quanh chiến sự Nga – Ukraine sẽ nổ ra trong ngôi nhà này, ngôi nhà bé nhất trong ngõ song cũng được gọi là “ngôi nhà hạnh phúc” hay “ngôi nhà tạm hạnh phúc”, hay “hạnh phúc trong giờ nhất định”. Tuy vậy, nhờ giời, cuộc cãi cọ bằng điện thoại, bằng lời la hét ném từ tầng trên xuống tầng dưới tới độ mạt sát, lăng mạ nhau về cái vụ thời sự nóng kia – như anh nghe được từ bên hàng xóm – đã không xảy ra với vợ chồng anh. Cũng bởi cô ta mệt nhoài với việc nhà, với con cái, với mẹ anh đang nằm liệt, và cả với anh nữa, nên chẳng còn hơi sức đâu quan tâm đến thời cuộc. Nhưng nếu cô ta mà biết được anh đã bị ném cả một “rổ đá” từ hạ cấp bẩn thỉu nhất đến thâm thúy cay độc nhất sau khi đưa lên FB tấm hình bé gái Nga đẫm nước mắt chắp tay cầu xin người lớn đang làm chiến tranh – nghĩa là rất “trung dung” – thì nhất định cô ta sẽ nhảy dựng lên, không phải vì cô ta hay người nhà bên ngoại thuộc phe “gây chiến tranh”, “ủng hộ kẻ đầu têu chiến tranh”, mà là vì – theo “ngôn ngữ kinh điển” của cô ta: “Ông đừng dính đến chuyện phản biện gì gì, đi ngược lại chính thống! Con gái ông sắp thi đại học rồi đấy, ảnh hưởng tới nó, nó oán ông cả đời!”

Ngẫm lại, và nếu thật thà để khai báo với cô ta thì cái “phản biện” cao nhất của anh chỉ là lên án việc phá rừng, và nói về quá khứ của một số vị Nhân văn giai phẩm là bạn hoặc đối tượng hâm mộ của bố anh, giờ đã được an ủi hết bằng giải thưởng Nhà nước! Mới có thế mà đã xù lông nhím lên, còn nếu như cô ta đọc được “âm mưu” của anh trong việc dạy dỗ hai con gái, thì không biết chuyện động trời gì sẽ xảy ra. Anh phải tìm cách làm ra vẻ “ngoan ngoãn” nghe lời vợ mà không trở thành kẻ dối trá – điều khiến hắn hao tâm tổn sức không ít, trước hết là vì mẹ anh…

Hôm qua, vợ anh cho xem lướt hình ảnh mẹ lở loét thân dưới vì nằm nhiều, và mếu máo: “Bà đau đớn lắm!” Anh cố gắng tự kiềm chế, không muốn tình thế bi thương vốn đang đe dọa gian nhà nhỏ bị đẩy thêm lên, và thầm biết ơn vợ. Mấy hôm trước, theo sáng kiến của vợ, anh đã thay thế các bản nhạc không lời mẹ yêu thích bằng toàn bộ những lời tụng A di đà Phật theo nhạc du dương và Kinh Di Đà siêu độ trong chiếc đài cũ có gắn thẻ nhớ. “Mẹ thích lắm, mắt cứ sáng lên dù chẳng còn biết ai với ai nữa”. Ừ, nếu đấy là hình dung riêng của cô ta thì cũng tốt, và anh có dịp tự chứng minh rằng: anh không phải là kẻ vô vị chỉ suốt ngày đọc – viết vô bổ, mà còn làm được cái việc mang tính kỹ thuật khá tinh vi chỉ đàn ông mới làm nổi! Nhưng lối AQ này hóa ra đã hết “date”, mất hiệu nghiệm…

Mấy năm trước, có một đêm anh thức trắng trông mẹ nằm viện, lúc gà gật mơ màng, anh hồi nhớ tựa cuốn phim dài chiếu chậm cả một thời thơ ấu êm đềm, phủ trong tiếng đàn như lạc từ Thiên thai xuống trần gian của mẹ – cũng là cô giáo của mấy anh em Thế… Sực tỉnh, anh hùi hụi tiếc rẻ. Lần này, ở chốn “biệt lập”, có thể anh sẽ tìm lại được giấc mơ hiếm hoi ấy chăng? Nhớ mẹ từng là cô giáo dạy nhạc của anh và các em, anh bỗng nhớ lại cái “sự kiện” khá đặc biệt trong đời học trò mà anh từng kể cho Thảo kỹ sư Bê tông: trong lớp, anh kết thân với cô con gái một ông tướng, được cô ta mời đến nhà chơi. Thế cũng liều mạng mời cô ta đến nhà. Cô đến và thú thực: “Tớ rất mê tiếng đàn của cô. Tớ đã đề nghị bố mẹ tớ mời cô dạy thêm đàn cho tớ tại nhà… Nhưng… Bố mẹ và các cô các bác tớ bảo: Con phải có gia sư dạy thêm đàn là giảng viên học nước ngoài về, mà phải là Đảng viên cơ… Cậu đừng buồn cho tớ nhé!”… Rồi chuyện cô người yêu Thảo đề nghị mẹ anh tới dạy cô bằng chiếc đàn piano An cơ quý tộc tại nhà cô, nhưng không thành bởi đẳng cấp của hai gia đình…

Hàng ngày bà chơi đàn xong, chỉ biết ôm con mèo rồi mong các cháu nội – ngoại tới thăm. Hiểu được nỗi niềm của mẹ, nhất là khi bố mất, anh đã đồng ý lấy một cô sinh viên trong trường vừa tốt nghiệp – sau mấy mối tình không thành, khi thấy mẹ và cô ấy quyến luyến nhau… Từ khi anh có con gái đầu lòng với cô, mẹ anh như được uống thuốc “hồi sinh” của Trời – Phật, bà chăm cầu kinh hơn. Sớm sớm, bà chải đầu kỹ lưỡng như phụ nữ Hà Thành thời trước, rồi mở đàn chơi các bài sonata quen thuộc của F. Schubert, R. Schumann, W. Mozar, sau đó tập các trích đoạn mới trong các cuốn luyện hòa âm piano do chị họ anh – một cô giáo kiêm pianis tặng, mà bà bảo dành dạy cho cháu gái nội gần gũi nhất của bà. Đứa cháu gái ấy, hiện đang chúi mũi vào chuẩn bị thi tốt nghiệp cuối cấp PTTH và ôn thi Đại học, vừa nãy gọi điện cho anh bảo in cho hàng đống tài liệu ôn tập, gọi zalo hình mà chỉ lấp ló nửa khuôn mặt xinh xẻo, như xấu hổ với bố; và hầu như lúc nào cũng thế, như buổi mặc áo dài trắng nữ sinh đi hội trường, chiếc áo dài mà nó rụt rè xin tiền bố mua dấu mẹ, bố giơ máy ảnh chụp thì quay ngoắt người đi, khiến anh bực lắm… Chính bà là người hầu như duy nhất đã đưa đón nó suốt thời học mẫu giáo tư, và nổi danh là phụ huynh đưa cháu đến lớp sớm nhất và đóng học phí sớm nhất! Thỉnh thoảng nó lẻn vào phòng bà, nắn bóp cho bà vội vã, như không muốn cho ai nhìn thấy tình cảm của nó với bà – đúng là cái tuổi “nửa trẻ con nửa người lớn dở hơi” như mẹ nó vẫn trách yêu! Còn đứa em gái, bằng tuổi cô bé Nga chắp tay cầu khẩn hay cô bé Ukraine gầy gò đói ăn ôm bông lúa trước ngực trên Quảng trường Kyiv, thì tính tình thực hiếu động, thỉnh thoảng la hét như người thực thi công án Thiền thời Trần, nó cũng được bà chăm bẵm từ lúc cất tiếng khóc đầu tiên. Hôm qua, lúc mẹ và cô giúp việc lau rửa cho bà, nhìn thấy vết loét cơ thể bà, nó khóc òa không dấu diếm… Khi gọi Zalo hình cho hắn, nó thường gẩy biểu tượng “Ha Ha” hàng loạt lên, kèm tiếng cười vô tư trong trẻo như pha lê khiến anh thắt lòng khi chợt nghĩ tới đôi mắt đẫm lệ của em bé Nga nọ – nguyên nhân anh bị ném đá tơi bời…

Đêm nay, lại một đêm cô độc giữa không gian mất ánh sáng càng trở nên chơi vơi, trống trải, anh chợt nhớ lại tâm trạng khổ sở, hoảng loạn, đau đớn và nhục nhã của anh chàng Samsa cho tới chết cũng không hiểu vì sao bị hóa thân thành con sâu lớn đáng sợ ngay trong phòng mình, và chuỗi cười lúc nãy của con bé tựa chùm hoa đăng giúp anh thấm thía: anh hạnh phúc hơn Samsa gấp vạn lần, vì anh có điều dễ thương để nhớ, chứ không phải là sự ghẻ lạnh kinh tởm của gia đình anh ta… Nhưng chùm hoa đăng đó cũng bất ngờ rọi sâu vào quá khứ buồn của anh. Không hẳn tất cả là buồn, song cơ bản là buồn, cái buồn của kẻ “đa sự”, kẻ “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa”. Buồn vì chưa kịp thực hiện, và không biết bao giờ mới có thể thực hiện nổi, cái “chương trình riêng giáo dục các con gái”, sau khi anh bàng hoàng ngộ ra cái hệ thống giáo dục hiện tại mà các con anh đang bị thống trị, là hệ thống giáo dục đã thối rữa như các vết lở loét của con sâu khổng lồ Samsa sau những ngày bị ông bố ném táo vào người… Một anh bạn trẻ Thế mới quen trên mạng xã hội, một thầy giáo dạy văn có lương tâm đã bị gạt bắn ra ngoài “guồng quay” chính thống của nó, từng buồn bã nói với anh: “Anh ạ, bây giờ việc học trở thành một sự đày đọa, đó là nền giáo dục không có con người. Nó vận hành như một cỗ máy vô hồn được lập trình trước, cứ băng băng lao đi trên đường ray, và sẽ nghiền nát tất cả những gì nó đụng phải”. Anh thốt nhiên trò chuyện thầm với anh bạn trẻ đáng kính trọng nọ: phải, cái hệ thống ấy đã tạo ra những thế hệ cười cợt, khinh miệt những người còn biết rỏ lệ xót xa căm giận trước giọt nước mắt của em bé Nga kia, thậm chí còn lạnh lùng đưa ra những bức ảnh nhà cao tầng bị tàn phá ở một thành phố Ukr. với lời bình luận ác độc: “Dân Urk. tự dàn dựng ra thôi để ăn vạ thế giới!”; cái hệ thống đã nặn ra những lũ trẻ run rẩy quỳ sụp trước thần tượng Diva nước ngoài, khóc thảm thiết trước sự ra đi của một người giàu có giới showbiz nội địa, song lại nhìn nỗi thương tâm và bất hạnh của đồng bào mình như nhìn người ngoài hành tinh đến; cái hệ thống đã sản sinh những đứa con trai và con dâu quái thai coi mẹ đẻ và mẹ chồng là thù địch với đủ âm mưu khốn nạn sau khi không nhờ vả gì được nữa về vật chất, như cảnh ngộ mà người chị cùng cơ quan anh đang đau đớn trải qua, từng khóc hết nước mắt với anh…

Không, anh phải quyết tâm sống, tồn tại một cách xứng đáng, để tìm cách bảo vệ các con gái mình thoát khỏi cái “guồng quay” vô cảm và bắt đầu lộ rõ sự vô lương kia, như anh đã/ sẽ bảo vệ chúng tránh khỏi những sự du côn, đểu cáng, bất lương đang tràn ngập ngoài đời… Nhưng phải khéo léo, để khỏi bị vu là “thế lực thù địch”, còn trong gia đình không bị mang tiếng là “thằng điên khùng”… Anh đọc, xem và giảng dạy không ít về sự cô độc qua văn chương, phim ảnh, nhưng có lẽ trong lần “biệt lập” này, anh mới bắt đầu nghiệm ra một cách cay đắng thế nào là sự cô độc, cô độc ngay trong nhà mình, giữa những đồ vật và các giá sách quen thuộc… Vợ anh, một trái tim vàng, hẳn thế rồi. Song cái môi trường đại học mấy năm rồi tới môi trường dân sinh bị ngộ độc ngày một nặng ngót hai chục năm qua đã không thể giúp cô ta vượt qua mọi rào cản để đi sâu vào trái tim rớm máu của anh, để mặc anh tự dãy rụa, chới với, vươn lên, tự vượt thoát… Nhưng biết đâu như thế lại là tốt, là cần thiết! Bởi hiểu ra nguồn gốc sự ngộ độc, có khi cô ta sẽ không còn thanh thản để giữ được sự trong lành sau những năm được sống bên mẹ anh, được người tựa Phật bà Quán Âm cảm hóa bằng tình thương và lòng trắc ẩn – không phải bằng lời, mà bằng sự chăm chút, nhẫn nại hy sinh cho người thân qua muôn nỗi đắng cay nhọc nhằn, bằng nỗi đồng cảm với thế nhân qua tiếng đàn và giọt lệ rỏ trên những trang tiểu thuyết giấy đen xì mà anh mang về…

Người mà anh có thể trò chuyện lúc này, để bộc bạch hết nỗi lo lắng, niềm hy vọng, những dự định lớn nhỏ – trong đó tiêu điểm là việc giáo dục các con gái trong giai đoạn chúng cần tới sự giáo dục đó nhất, người ấy chỉ là mẹ anh. Dù giờ đây, bà đã hoàn toàn sống đắm chìm trong sương mù sâu thẳm của một ký ức không hình thù, không màu sắc, nhưng trong thâm tâm, hắn vẫn tin là mẹ nghe thấy hết, hiểu được hết những gì mà từ đáy lòng người con trai cả muốn gửi gắm và mong chờ câu trả lời nơi mẹ…

34.

Mấy hôm trước, trong khi Mẹ thở hắt từng hồi, mắt Mẹ chợt ứa ra một giọt lệ, khi đứa con gái út chưa bay ra kịp. Và Mẹ đã thanh thản ra đi trong tiếng cầu kinh của cô út và sự quây quần của đàn con lũ cháu – những sinh linh mà Mẹ yêu thương nhất trên cõi đời phù du này…

Con nhẹ vuốt đôi bàn tay Mẹ vẫn còn hơi ấm chưa vội bay đi từ thân hình co quắp suốt hai tháng nay trải qua những cơn đau đớn tê dại… Thôi, thế là Mẹ hết đau rồi… Nhưng Mẹ để lại nỗi trống vắng và nhớ thương trong ngôi nhà này biết đến bao giờ mới nguôi ngoai!

Không gian bé nhỏ luôn tràn đầy ấm cúng này từ đây chẳng bao giờ còn được nghe tiếng đàn dịu êm của Mẹ, lời bà kể chuyện cho các cháu, lời Mẹ trách con vì quần áo sách vở thường để lộn xộn và hay thức khuya…

Hà Nội bắt đầu cơn mưa dầm tháng Bảy như thay lời ru của Mẹ đưa con về với những ngôi nhà xưa ở phố Tô Hiến Thành, ngõ Huy Văn, phố Hàng Bột, ngõ Yên Thế – những nơi tuổi thơ chúng con lớn lên trong âm nhạc của Schubert, Schuman, Mozart qua tiếng đàn của Mẹ và những câu chuyện Mẹ kể từ ngụ ngôn La Phông-ten, tiểu thuyết “Những người khốn khổ”, v.v. Trong những ngày tháng gian khổ nhất, dường như đôi vai mảnh mai của Mẹ đã gánh hết cả sự thiếu đói, nguy nan cho chúng con!

Có bao giờ chúng con quên được cảnh một cô giáo nhỏ bé đạp xe đường trường đêm tối, vượt qua mấy cầu treo sông quê dập dềnh đèo gạo lên nơi sơ tán cho lũ con thơ… Có lần ở nơi sơ tán của Khoa văn về nhà, thấy Mẹ ngồi thần ra lo lắng vì không xếp hàng nổi mua gạo, thực phẩm bằng tem phiếu lên nơi sơ tán cho các em con, con đã gạt thầm nước mắt vì thương Mẹ, và vì bất lực…

Ngày con tốt nghiệp đại học, tình nguyện lên Tây Bắc, Mẹ đã đưa con ra bến xe đi Sơn La vào buổi sớm còn đèn đường, Mẹ không dặn dò điều gì ngoài ánh mắt động viên, tin tưởng đối với thằng con trưởng cũng là học trò cũ của mẹ…

Sau này, có mấy lần con đèo Mẹ tới những nơi bố gửi bán tranh ở Hà Nội, Sài Gòn để đòi tiền tranh còn nợ, con có dịp hiểu thêm sự mềm mỏng, tinh tế, song cương quyết của Mẹ trước nguy cơ công sức lao động sáng tạo của bố bị đe dọa lừa đảo, cướp đoạt… Công lý luôn bênh vực Mẹ, có lẽ chủ yếu bởi Tình yêu thương luôn tràn đầy trong lòng Mẹ…

Mẹ chỉ là một cô giáo dạy nhạc phổ thông, nhưng tình yêu với âm nhạc, với văn chương, với hội họa của Mẹ lại là kho tàng quý báu nhất truyền lại cho chúng con.

Tuổi trẻ chúng con yêu nghệ thuật

Vì đã mang ơn một tiếng đàn…

Những năm qua, hầu như tình thương và sự chăm sóc của Mẹ lại chuyển hết cho các cháu nội, cháu ngoại. Câu chuyện cũ về cô bé Côdét bị hành hạ trong tổ quỷ Tênardiê và được bàn tay ông Giăngvangiăng nhân từ cứu giúp giữa rừng Môngphécmây, giờ Mẹ lại khiến cho các cháu mê mải không kém chúng con trước kia… Nhưng đứa cháu gái gần gũi nhất, được bà chăm lo nhiều nhất suốt thời học mầm non tới năm cuối cấp Phổ thông Trung học, cái đứa cháu gái muộn mằn nhiều năm giành được ngủ với Bà nội, lúc đạt kết quả thi thì không thể báo cáo được với Mẹ nữa rồi…

Lúc đưa Mẹ ra khỏi nhà, trời mưa rả rích từ đêm trước đã hóa thành sập sùi và lênh láng cả không gian… Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Đó là câu trong đoạn thơ Kiều Mẹ phổ nhạc ngày nào dành riêng cho thằng con làm phim vốn lạc lõng giữa chợ trời phim ảnh… Con không nỡ cầm máy quay, theo thói quen, để ghi lại cảnh Mẹ được trùm kín người nằm trên băng ca sắt đưa từ nhà lên chiếc xe dịch vụ nhà Tang lễ…

Mẹ đang rời xa mãi mãi ngôi nhà và con ngõ nhỏ Mẹ từng thân thuộc bao năm tháng…

Mẹ đang đi qua ngôi trường Mầm non Linh Linh đã bị dỡ bỏ làm siêu thị, nơi mấy năm ròng Mẹ đưa đón cháu gái và trở thành “phụ huynh gương mẫu” nhất trường…

Mẹ đang đi qua những đoạn đường nát vá trồi sụt đang sửa ống nước, nơi Mẹ vẫn bách bộ sớm sớm chiều chiều, thả hồn theo những nốt nhạc mới, giai điệu mới và không quên mỉm cười chào hỏi trước những người quen biết gặp trên đường…

Còn lúc này đây, Mẹ đang lặng lẽ đi tới phòng Lạnh…

Giây phút Mẹ được đưa vào phòng Lạnh, con có cảm giác toàn thân con cũng chợt lạnh toát. Và sau những ngày cùng các con các cháu Mẹ túc trực bên hơi thở cuối cùng của Mẹ, giờ đây con mới dám bật khóc thầm, nước mắt lặng chảy không thể và không cần kìm giữ nữa…

Lúc này, Mẹ đang bơ vơ buốt lạnh giữa những thi thể xa lạ. Mẹ chỉ cách con cháu thân yêu có vài bước chân và một tấm cửa sắt vô tri, vậy mà đôi bên đã cách biệt muôn trùng, vĩnh viễn. Thế là từ nay chúng con chỉ được gặp Mẹ trong giấc mộng nhớ thương…

Con trở về nhà, trời đã hửng, song có lẽ vì thế mà sự trống trải càng tăng thêm trong ngôi nhà từ nay vắng bóng Mẹ… Lần đầu tiên trong đời con, ở tuổi xế chiều, con mới thấm hiểu hết thế nào là sự trống trải…

Hai chữ Mồ Côi Mẹ, giờ đây con mới được trải nghiệm tận đáy hồn bằng sự trống trải tràn ngập ngôi nhà. Những kỷ vật của Mẹ và gắn với Mẹ dường như lại khắc hằn lên dấu vết cho sự trống trải…

Tiếng đàn của Mẹ dường còn vương vấn đâu đây, trên chiếc đồng hồ bình dân mà con trang trí bằng hình vẽ mô phỏng hai cháu gái khiến Mẹ khen là tươi vui và sang trọng, trên chiếc đàn của Mẹ phủ kín suốt một năm qua, trên mỗi con búp bê bà mua cho cháu, trên từng giá sách của con…

Những cuốn sách giấy đen xì ngày xưa Mẹ từng đọc, từng kể cho chúng con và các cháu, lâu nay con cất trong xó kín phủ bụi, giờ đây lại trở thành kỷ vật vô giá đối với con và các cháu gái của Mẹ, bởi chúng từng in dấu tay Mẹ và có những câu chuyện về các bà Tiên mà các cháu thường ngầm liên hệ với người Bà yêu quý của mình…

Giờ đây, chúng con đang chuẩn bị đưa Mẹ về Xứ Đoài mây trắng, quê Mẹ – cũng là quê hương của các thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Quang Dũng, các nhạc sĩ thế hệ Tân nhạc đầu tiên Lê Yên, Lê Lôi (anh trai Mẹ), các họa sĩ Sĩ Tốt, Phan Kế An (thông gia của Mẹ), nhà giáo đại học-chuyên gia văn học Pháp Lê Hồng Sâm (cô họ của Mẹ), nhà sử học Đinh Công Vỹ (mà con vinh dự được ông coi là “bạn vong niên”)…

Quê Mẹ, quê hương của hai vị vua Phùng Hưng, Ngô Quyền và các danh sĩ như Lưỡng quốc Thượng thư Nguyễn Sư Mạnh, Thượng thư Nguyễn Bá Lân, sứ thần Giang Văn Minh, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan…

Chúng con sẽ đưa Mẹ trở về theo lời hò hẹn nhắn gửi của thi nhân xứ Đoài mà Mẹ hằng yêu quý, trân trọng:

Bao giờ trở lại đồng Bương – Cấn

Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng

Sông Đáy chậm nguồn qua phủ Quốc

Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng…

Quê Mẹ, nơi con từng thả hồn bên chùa Thầy, cảm động với công nghiệp của một trong “Tam thánh tăng” là Từ Đạo Hạnh, ông tổ múa rối nước Việt cổ, say mê với văn chương sách sử của các danh sĩ Phan Huy Ích, Phan Huy Chú thuộc chi họ Phan Huy nổi tiếng ở Sài Sơn. Cũng bên chân dãy núi thiêng này, một học trò của bố con đã lập Bảo tàng Mỹ thuật tư nhân đầu tiên ở Việt Nam, trong đó có sưu tầm hàng chục bức tranh lụa của bố con…

Quê Mẹ, nơi Mẹ cùng các bác con từng là “cậu Ấm cô Chiêu” song khiêm nhường, hiếu học, đặc biệt là thương dân và yêu nước theo gương cụ ngoại con, “Cụ Án xứ Đồi” – theo cách gọi kính trọng của người dân vùng Đông Yên – Phủ Quốc xưa, và lòng kính trọng đó vẫn còn nguyên vẹn truyền lại qua các thế hệ con cháu hôm nay…

Quê Mẹ, chứa đựng bao trầm tích văn hóa – lịch sử thiêng liêng tạo nguồn văn hóa Việt mà con ấp ủ với dự án phim Ký sự Xứ Đoài gồm 50 tập. Lúc sinh thời, biết được nội dung các bộ phim này, Mẹ vui lắm và bảo: “Nếu không chê nhạc của Mẹ, Mẹ sẽ tham gia làm nhạc phim vài tập nhé?”. Thưa Mẹ, tấm lòng của Mẹ đối với quê hương Xứ Đoài mãi mãi là nguồn cảm hứng đẹp và vô tận cho chúng con!…

Trong mùa Báo Hiếu, con xin gửi anh linh Mẹ đôi dòng xúc cảm của con về quê Mẹ:

QUÊ NGOẠI

(Kính tặng mẹ và hai bác Lê Yên, Lê Lôi)

Chiều nay con về quê ngoại

Vẫn cây đa, bến nước, cầu tre

Vẫn dáng núi Ba Vì phủ sương huyền thoại

Mái đình chùa rêu phong bàng bạc nắng hè

Sông Đáy lặng lờ, ủ rũ điếm canh đê

Cánh cò ngày xửa ngày xưa bay mải miết

Khói rơm rạ vẩn vơ nóc bếp

Tiếng võng đưa kẽo kẹt lẫn ru hời…

.

Bài hát năm xưa nảy mầm trên giọt mồ hôi

Lúa tháng Năm kén tằm vàng óng[129]

Cả châu thổ oằn mình qua lửa bỏng

Theo bước chân gánh thóc qua cầu

Những cô gái xinh giòn tươi như nắng

Quê hương có những mẹ già bịn rịn áo nâu

Lớp lớp đàn em hớn hở

Và những người con ở rừng sâu mới về [130]

.

Con lưu lạc phương xa

Chiều nay trở về

Thơ thẩn tìm lại một dòng sông

Dòng sông pha bát nước chè xanh

Trộn nước giếng đá ong

Nuốt gọn tiếng chuông chùa thu không

Và mắc cạn nỗi dịu buồn

Cái nghèo muôn thuở…

35.

Con gái đang làm luận án Tốt nghiệp đã hỏi Thế về chuyện xin việc làm… Một hình ảnh buồn đeo đẳng anh suốt mấy năm qua chợt quay trở lại ám ảnh: đó là một cử nhân khi vừa tốt nghiệp Đại học Điện lực đã cầm tấm biển xin việc để có tiền mua sữa cho con ở một đường phố Hà Nội…

Cậu ta cũng trạc tuổi các sinh viên của anh khi tốt nghiệp, vào thời gian đó cũng đang đôn đáo nháo nhác chạy xin việc ở Thủ đô hay các tỉnh thành cả nước. Hồi ấy, một vài ý kiến trên báo chí – như một lời phán xét chính thống – cho rằng đó là một hành động “nhục nhã”! Rồi một nữ Bí thư Tỉnh ủy đã lên truyền thông Quốc gia chân thành khuyên thanh niên ta cần đặt Tự tôn dân tộc cao hơn Tự tôn cá nhân. Vậy Tự tôn là gì, có liên quan gì tới Lòng Tự trọng và Tự tôn – Tự hào dân tộc?…

Hôm nay, nhớ lại hình ảnh đau lòng trên, anh thấy cần khẳng định ngay cho con gái: việc làm của cậu ta cũng là một biểu hiện của lòng tự trọng. Bởi, cậu ta đã thể hiện công khai cái mong muốn được làm việc phù hợp với ngành nghề ăn học suốt 4 năm của mình: “Bạn cần tuyển tôi”! (Mặc dù cậu ta thể hiện điều đó một cách non nớt, kể cả mấy cái hình vẽ như của trẻ con trên tấm biển đề nghị xin việc, dễ để người khác hiểu lầm là kêu gọi lòng thương hại!).

Nhà tâm lý học Abraham Maslow từng đưa ra thuyết 5 nhu cầu như sau: 1. Tồn tại (ăn, mặc, ở) – 2. An toàn (tính mạng, tài sản) – 3. Giao tiếp – 4. Được tôn trọng – 5. Tự khẳng định mình. Nhưng, nếu không kiếm được việc làm phù hợp với năng lực của mình, đối với một người có lòng tự trọng, cả 5 nhu cầu kia sẽ trở thành ảo mộng xa vời! Sau nữa, theo nhiều người, chuyện đòi việc làm với hình thức đeo bảng trước ngực là chuyện thường tình ở các nước dân chủ văn minh. Và điều đáng nói hơn cả, là hành động của Ninh giúp mọi người càng thấy nhức nhối với hiện tượng đã trở thành trọng bệnh của xã hội: Những người có năng lực, có tâm, thì ít có cơ hội để bộc lộ sự đóng góp cho xã hội của bản thân, bởi cơ chế bùng nhùng, bởi lợi ích nhóm bao phủ, bởi sự đố kỵ, hẹp hòi, dốt nát của lãnh đạo và đồng nghiệp; trong khi đó thì nhiều công chức ăn luơng hẳn hoi chỉ giỏi chuyện “ăn cắp” thời gian trong giờ làm việc để tán gẫu, làm việc riêng, rồi chăm chăm tìm mọi cách biển thủ vật tư tiền bạc nhà nước, rồi rủ nhau đi nhậu nhẹt liên miên, hoặc đánh bạc đến cả tỷ đồng! Không ít công chức cỡ bự thì lợi dụng quyền chức địa vị và các mối quan hệ kiểu “Mafia” để tham nhũng, đục khoét công quỹ, “ăn bẩn không chừa một thứ gì!” (lời nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan). Bảo họ thiếu lòng tự trọng thì còn quá lịch sự, mà cần phải gọi chính xác là những kẻ vô liêm sỉ, hơn thế, là tội phạm đáng ghê tởm! Chính đội ngũ công chức tha hóa này đã góp phần tạo ra những sự bất công ghê gớm trong xã hội, mà một trong những bất công đó là những người có tài không được xử dụng, sinh viên đào tạo ra hàng đống mà tiếp nhận để làm việc lại nhỏ giọt (biên chế vốn chỉ dành cho thân hữu, cánh hẩu, hoặc là hàng hóa để mua bán!), và buộc họ phải chạy chọt mất tư cách, phải tiêu cực đi đêm với kẻ có quyền ban phát công việc! Và kết quả là lại bắt đầu khởi động những “cuộc chiến” chạy chức chạy quyền để thu lại cái vốn “tiêu cực” đã bỏ ra![131].

Có gì để mà tự tôn với tự hào dân tộc, khi nước Nhật bại chiến bị tàn phá bởi bom nguyên tử sau 40 năm trở thành cường quốc kinh tế, còn nước ta chiến thắng oanh liệt nhưng sau nửa thế kỷ vẫn là nước nghèo, ngửa tay xin vay tiền lãi xuất ưu đãi của thế giới?! Những người có lòng tự trọng thì chỉ thấy đau và nhục! Chúng ta hãy chịu khó nghe nhà khoa học kinh tế Lê Đăng Doanh thuật lại trong một buổi báo cáo cho Trung ương Đảng: “Ngày 01 tháng 12 này cũng có một cái Hội nghị tài trợ. Tôi xin báo cáo rất chân thành với các anh là ra đấy chỉ khổ tâm thôi. Nhiều thằng nó nói với tôi là chúng mày định ngửa tay đi ăn xin đến bao giờ nữa?… Chúng mày giỏi thế mà chúng mày nghèo lâu đến như thế là thế nào? Chúng mày cứ đề ra cái mục tiêu là đến bao giờ chúng mày đừng có đi ăn xin nữa được không?”.

Còn thế nào là tự trọng của công chức ư? Đã có rất nhiều tấm gương cổ – kim, trong nước và thế giới, chỉ xin dẫn một câu chuyện cảm động đáng ngẫm ngợi: Một kỹ sư người Nhật đang làm việc cho một công trình xây dựng cầu treo tại Thổ Nhĩ Kỳ đã tự tử sau khi một sợi dây cáp bị đứt. Mặc dù cầu không bị gẫy và không có người thiệt mạng, người kỹ sư 51 tuổi, Kishi Ryoichi, đã tự nhận trách nhiệm cho sự cố này trong bức thư mà ông để lại. Tin tức nhanh chóng lan truyền trên mạng xã hội Thổ Nhĩ Kỳ và rất nhiều người tán dương lòng tự trọng của người kỹ sư, một số người còn đề nghị đặt tên cây cầu theo tên ông.

Lòng tự trọng cá nhân, hay là liêm sỉ, có mối quan hệ mật thiết tới lòng tự tôn tự hào dân tộc. Nếu không có nổi lòng tự trọng, làm sao có đủ tư cách để dám nói tới lòng tự tôn, tự hào dân tộc! Đã gia nhập ASEAN hơn 20 năm nay rồi mà Việt Nam vẫn còn nằm trong nhóm 4 nước lạc hậu nhất trong khối (cùng với Lào, Campuchia và Myanmar), nếu những trí thức nước nhà và những người có trách nhiệm không biết xấu hổ thì sao có thể gọi là có lòng tự trọng? Và tự hào dân tộc cái nỗi gì?! Những người đại diện cho hệ thống công chức nhà nước Việt Nam ở nước ngoài lại là kẻ ăn cắp trong siêu thị bị bắt quả tang, có biết rằng chính họ, kẻ vô liêm sỉ, đã là kẻ đã ném bùn vào danh dự Dân tộc! Đau lòng là dân tộc phải chuốc lấy cái nhục nhã đó của họ! Còn những kẻ mang trên vai sứ mệnh nào đó của Quốc gia, được hưởng lương cao bổng hậu nhưng “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”, chỉ chăm chăm đục khoét, ăn hối lộ, để thỏa lòng tham vô đáy mà vẫn cao đàm khoát luận về lòng tự hào tự tôn dân tộc thì thực là hài hước, nhục nhã, và đáng phẫn nộ! Họ không đáng “xách dép” cho một cô học sinh năm cuối Phổ thông Trung học gần 10 năm trước đã phát biểu những lời khiến bất cứ ai còn chút lương tri cũng phải ứa nước mắt: “So với nhiều nước trên thế giới, ngay cả những nước trong khu vục, Việt Nam ta còn thua kém, tụt hậu về khoa học công nghệ, chỉ số GDP, tiềm lực kinh tế, tiếng nói chính trị… Và tại sao, chúng ta phải đối diện với con số khủng khiếp rằng 197 năm nữa Việt Nam mới đuổi kịp Singapore – một quốc đảo thậm chí còn nhỏ hơn thành phố Hồ Chí Minh?” (Hoàng Khánh Linh, THPT chuyên Nguyễn Huệ – Hà Đông, Hà Nội).

Thế sẽ kể cho con gái anh nghe một bộ phim Ba Lan xem đã lâu; không phải là phim kinh điển, cũng chẳng nổi bật lắm về nghệ thuật để đoạt được giải gì trong các Festival film Quốc tế, song câu chuyện phim in hằn tâm trí anh đến tận giờ:

Một gia đình nước ngoài đến Ba Lan du lịch, vào một khách sạn. Khi gia đình này trả khách sạn, bỏ quên một chiếc valy. Anh nhân viên trực phòng khi phát hiện ra, đã tìm mọi cách để trao trả lại: dò hỏi các du khách, gọi điện các nơi, đến sân bay, vào đồn công an, tới đại sứ quán… Nhưng đều vô vọng. Nhiều năm sau, tình cờ anh nhân viên khách sạn gặp được vị khách nọ, và xin trao trả lại chiếc va ly còn nguyên vẹn, chưa hề được mở suốt hơn chục năm qua. Ông khách ngạc nhiên, và đã quên bẵng từ lâu chiếc va ly lẫn sự bỏ quên của mình! Ông ta còn ngạc nhiên hơn nữa vì sự kỳ công vất vả của anh nhân viên đối với một chiếc valy chắc không có mấy giá trị. Rồi ông ta gặng hỏi: vì lý do gì anh lại làm như vậy? Câu hỏi vừa tò mò vừa biểu thị sự trịch thượng của kẻ thừa tiền khiến anh nhân viên dù rất buồn và tự ái cũng cố kiềm chế để “độp” lại một cách lịch sự: “Thưa ông, tôi làm như vậy vì đặt mình trong địa vị người bỏ quên: nếu nó không có giá trị nhiều về vật chất thì cũng gắn bó với tôi như một kỷ niệm đặc biệt. Hóa ra, người cho tôi kỷ niệm đặc biệt đó lại là ông! Và xin thưa với ông, tôi làm điều này để cho những người như ông biết: người Ba Lan chúng tôi, dù nghèo túng đến đâu cũng không bao giờ đụng chạm đến đồ bỏ quên của người khác…”

Anh sẽ nói với con gái: “Lòng tự trọng của một con người bình thường cũng có ý nghĩa lớn lao trong việc bảo vệ danh dự và lòng tự tôn Dân tộc là như vậy. Đó cũng là điều còn thiếu, thiếu trầm trọng trong xã hội chúng ta hiện nay. Bố hy vọng các cô cậu cử nhân thất nghiệp như cậu cử nhân dạo ấy – dù còn phải tiếp tục thất nghiệp dài dài nữa, song đừng cố sống cố chết để vào làm cơ quan nhà nước bằng được – nếu cơ chế hoạt động của nó cứ ỳ tại chỗ như bao năm qua để “dinh dưỡng” cho sự mất tự trọng hàng ngày nảy sinh như nấm độc, và khiến Việt Nam trở thành nước “không chịu phát triển” như lời của các chuyên gia Ngân hàng thế giới, và đang đứng trước nguy cơ mất nước!

Bước vào năm Bính Ngọ, Đất nước đang có cơ hội chuyển mình thực sự, bố tin rằng những cử nhân-thạc sĩ-tiến sĩ dồi dào tâm huyết & năng lực mà thất nghiệp sẽ tìm được chỗ đứng của mình để phát huy trí tuệ công sức nhằm góp vào sự nghiệp xây dựng lòng Tự hào Tự tôn dân tộc chân chính đã tới lúc cần phải xuất hiện trước Thế giới. Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan hay Singapore trở thành cường quốc cũng nhờ mấy yếu tố quan trọng sau: – Giáo dục khai phóng (liberal education) – Pháp trị (rule of law) – Óc sáng tạo – Khoa học thực dụng – Lòng tự trọng quốc gia.

36.

Thấy con gái đi thực tập hôm nay trở về nhà có vẻ mệt mỏi, chán nản, anh gửi vào zalo cho nó: Con cần đọc bài này của bố viết mấy năm trước, giữa những ngày Đại dịch và bà nội con đang đau, may ra giúp con có thêm ý chí:

NGHĨ VỀ SỐNG CHẬM GIỮA NGÀY ĐẠI DỊCH

Sáng sớm, tiếng đàn dương cầm thánh thót vọng tới, như một đôi cánh âm thanh trang trọng đưa tôi ra khỏi giấc mộng nặng nhọc đêm qua… Bản nhạc “Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ” của Mozart mở đầu cho một ngày đầy căng thẳng của cả xã hội trước những diễn biến về đại dịch mỗi lúc một dồn dập trên khắp thế giới… Trong những hợp âm chuyên nghiệp của bà giáo già dạy nhạc hàng xóm, bỗng dưng tôi nhớ đến một bài viết đã rất lâu, của đạo diễn Đặng Nhật Minh in trên tạp chí “Thông tin UNESCO” viết về Sống Chậm… Triết lý “Sống Chậm” này, thế giới người ta đã nói đến nhiều, nhưng qua một nhà điện ảnh từng trải nghiệm nhiều và sâu về xã hội Việt Nam, nó đã như một lời kêu gọi thống thiết, như một trong những giải pháp hữu hiệu để thanh lọc nội tâm, góp phần chữa lành những vết thương xã hội đang mưng mủ, và mong níu giữ lại cái đạo đức xã hội đang xuống cấp không phanh với tốc độ phi mã! Nhưng phải đến những ngày hôm nay, những điều mà bài báo nói trên nêu ra chắc mới có thể bình thản và chậm rãi lọt vào tai người nghe, như một giai điệu của nhạc buồn Chopin trong đêm vắng…

Chỉ trong mấy ngày vừa qua, cái cuộc sống hối hả, gấp gáp, chen lấn, xô bồ dường như đã trở thành quá khứ xa lắc; người ta vội ra ngoài mua sắm rồi trở về với nỗi lo lắng thành thật cho gia đình mình, cho người dân ở nước Ý, nước Tây Ban Nha… Tốc độ Sống đang chậm lại, giống như một cuốn phim chiếu chậm, đôi khi lại ở dạng Âm bản (négatif), giúp người ta bàng hoàng nhận ra, bằng cả trực giác, những gì là Thật & Giả – mà cái Giả nhiều người thường ngày vẫn đem ra để làm vũ khí tùy thân hoặc ứng xử với nhau… Cái con số hơn triệu người nhiễm dương tính Covid-19 và hàng chục ngàn người đã chết ở toàn cầu, cùng cái không khí đe dọa hơn cả chiến tranh thế giới đang đè nặng lên tâm tư mỗi quốc gia, mỗi con người kia, khiến cho cái tâm lý “tham sống sợ chết thông thường” dần chuyển thành sự tiếc nuối, nhớ thương những gì tốt đẹp của quá khứ mà lắm khi người ta bỏ quên, thậm chí hắt hủi… Tôi nghĩ đó cũng là tâm sự của nhà văn Đức Thomas Mann khi viết cuốn sách Chết ở Venice[132] – đã được đưa lên màn ảnh, nhân vật chính Aschenbach cũng đã chết một cách vô nghĩa bởi bệnh dịch trong khi muốn hưởng thụ biết bao vẻ đẹp của thiên nhiên, văn hóa, lịch sử, con người nước Ý… Cuộc sống của con người thật quý giá, nhất là khi nó đã hiểu và được hưởng Hạnh phúc đích thực, khi nó có dịp sống với hồi ức đau buồn thống khổ để thấm thía cái giá của Hạnh phúc hiện tại… Mà hiểu được những điều đó, đâu phải bằng cách mà các nhân vật trong một phim Mỹ kinh điển: The Quick and the Dead (tức là phim Nhanh thì sống chậm thì chết), chỉ nhanh hơn nhau tích tắc là lấy đi một mạng người để thành kẻ chiến thắng, có tiền và có người đẹp! Cái thời các nhân vật lưu manh bắn súng lục hai tay nhanh như chớp đó đã qua lâu rồi, nhưng cái thói quen giành giật bằng bạo lực, chỉ huy và thống trị người khác bằng bạo lực đã in sâu trong tập quán của nhiều thế hệ người và nhiều chế độ xã hội! Đại dịch hôm nay cũng có thể coi là một dịp hiếm có để không ít người trên khắp thế giới Sống Chậm lại để tỉnh ngộ đôi điều – ít nhất là tỉnh ngộ về Cái ác do mình hay người khác đã gây ra cho đồng bào, đồng loại. Phải, cần có sự Chậm rãi để đạt tới Bản nguyên, và sau cùng là Sự bất tử – như tên ba tác phẩm của nhà văn M. Kundera[133], người đã thốt lên: “Họ đâu rồi, những con người thong thả của đời xưa”, những con người đã “biến đi cùng với thiên nhiên” ấy là “những con người sung sướng” có khả năng dẫn dắt người ta chạm đến đáy những điều sinh tử của đời sống – dĩ nhiên trên cả bình diện triết học – để sống một cách có ý nghĩa hơn trong cõi đời “sinh ký” này… Đại thi hào Nguyễn Du, trong những ngày bệnh dịch lan tràn khắp Kinh đô Huế, dính bệnh nằm chờ ôn dịch bắt, chắc cũng đã ngẫm nhiều về sự hỗn loạn, bạo liệt của thời thế, về nỗi đau thương đồng bào ông gánh chịu, mà nếu những người cầm quyền chỉ cần tĩnh tâm, hồi tâm đôi lúc thôi chắc sẽ có thêm chút tình thương dân để dân bớt đau khổ; nhưng ông không nói được với ai điều gan ruột này, vì thế đã im lặng ra đi… Tôi thiển nghĩ: trong những mối hận Kim Cổ của ông để lại cho đời, có mối hận đau đáu khôn nguôi là máu và nước mắt của dân lành chưa biết đến khi nào mới ngừng chảy trong những cuộc chém giết huynh đệ tương tàn, tranh cướp quyền lợi và danh vọng của tầng lớp tự xưng là “cha mẹ dân”… Giáo sư văn học Nguyễn Đình Chú, nhà Kiều học uy tín hàng đầu đã nói với khán giả, qua ống kính máy quay của tôi: “Thiên tài của Nguyễn Du, trước hết là Tình thương Con người” – theo tôi, đó là một trong những nhận định hay nhất, xứng đáng nhất xưa nay về đại thi hào dân tộc, mà nhờ sự chậm rãi, tỉ mỷ nghiên cứu, vị giáo sư đáng kính đã giúp các học trò và độc giả của ông thấm hiểu một chân lý lớn: cuộc đời Nguyễn Du đã lắng sâu vào mọi kiếp người, cụ nâng niu, trân trọng, xót xa cho mọi biểu hiện nhỏ bé nhất của nỗi khổ đau, kể cả ở số phận một con vật nhỏ bé…

Những ngày này, tôi dần hiểu ra một điều giản dị: Có sự chậm rãi, chuyên tâm, và cả thời gian cần thiết nữa, mới có thể có được sự thẩm thấu, sự lắng đọng, sự chắt lọc tinh túy- như chuyện anh thợ hót rác Samet đã kỳ công nhặt từng bụi vàng để tạo ra “Bông hồng vàng” cho cô bé Suyzan mà K. Pautovski từng rung động kể ở truyện “Bụi quý”… Bố tôi, trong những ngày cuối đời, giữa lúc đau đớn bởi bệnh tật giày vò vẫn kiên nhẫn dạy cháu gái câu ngạn ngữ Latin: “Shi va piano, va sano; shi va sano, va long tano” (Ai đi một cách nhẹ nhàng như tiếng dương cầm, sẽ đi được tốt, ai đi được tốt, sẽ đi được xa).

“Chậm” trong dòng chảy Sống, cũng có nghĩa là Êm đềm, Bình yên, Thanh thản, Tâm tư trong sáng, Trái tim bớt đi những hờn giận, những tham vọng vô nghĩa mà Đạo Phật vẫn gọi là Tham – Sân – Si, còn Đạo Lão thì định nghĩa là “Vô vi”- tức là hãy thuận theo quy luật của tự nhiên, mà cái tự nhiên vốn có dòng chảy êm đềm, hài hòa…

Những ngày Sống Chậm này giúp tôi nhiều lúc dừng lại mạch suy tư trăn trở nghề nghiệp quen thuộc để giật mình, rồi xót xa cho Đồng bằng sông Cửu Long vốn là vựa lúa đáng tự hào của nước ta giờ đang nhiễm mặn một cách kinh hoàng và có nguy cơ trở thành một Cánh đồng chết (The Killing Fields, tên một bộ phim Mỹ nói về họa diệt chủng của bọn Kh’mer Đỏ) mà một tác giả Việt Nam mới cảnh báo, bởi vì người ta đã vi phạm một cách man rợ những quy luật của Tự nhiên!

Và thốt nhiên tôi nhớ đến cuốn tiểu thuyết Dịch hạch[134]. Những điều Camus viết về những gì đã diễn ra một thành phố Pháp trên bờ biển Angiêri, trong một nạn dịch hạch hoành hành khủng khiếp vào những năm chủ nghĩa phát-xít đang thống trị toàn châu Âu kia, cũng là những điều tiên báo cho tương lai của nhân loại, buộc con người trong các thời đại, các chính thể xã hội phải suy ngẫm một cách thực sự nghiêm túc về lương tâm, trách nhiệm của mình đối với đồng loại. Những điều tưởng bình thường, xa lạ, bị chìm đi giữa các chương trình giải trí vô bổ và “Tinh thần thể dục”[135], bỗng hiển hiện về thực tại với mức độ dày đặc, trong tình thế cấp bách. Với sự lan tràn của đại dịch mới, người ta chợt nhận ra rằng: sự hủy hoại môi trường sinh thái đã trở nên nguy hại và cấp bách đến thế nào; người ta đã từng dửng dưng cười cợt trước sự đau khổ của người khác và tình đồng bào đã từng bị dày xéo lăng nhục rồi bị giết chết thê thảm ra sao… Những lò thiêu người bị bệnh dịch hạch ở châu Âu, châu Á, châu Phi trong các thế kỷ trước được nhớ lại khiến người ta rùng mình liên tưởng tới những lò thiêu người Do Thái của bọn Na-zi… Ý thức công dân được thổi bùng lên, tình đồng bào được nhen nhóm lại, một “tâm lý đám đông” mới được khơi dậy một cách vừa theo định hướng vừa tự phát, cứ như một cuộc tỉnh ngộ mới mẻ, tựa câu chuyện trong tác phẩm Suối thép[136] của nhà văn A. Sêrafimôvích và đã lên màn ảnh lớn: sau khi đoàn hồng quân đói khát rệu rã được chính ủy cố tình đưa đi qua một đoạn đường thử thách, gian khổ, đầy hy sinh của đồng đội, thì đoàn quân ấy như được tiếp thêm sức mạnh tinh thần ghê gớm, và họ đã trở thành một “suối thép” để có thể chiến thắng quân thù…

Trong những nỗ lực chống dịch hiện tại, đã xuất hiện biết bao câu chuyện cảm động, bao “người anh hùng” kiểu mới mà người dân Việt vốn nhạy cảm với khổ đau và đang thiếu thốn tình thương đã nhận ra và tỏ lòng kính yêu, quý trọng hết mực; đó là những “vị cứu tinh” thời hiện đại, xuất thân từ dân, đứng trước họ là các bệnh nhân, quan điểm chính trị không quan trọng bằng tính mạng và sự an toàn của các cá nhân và các gia đình. Trong cuốn tiểu thuyết Dịch hạch mà tôi nhắc ở trên, có các nhân vật “người hùng” như vậy: bác sĩ Riơ, nhà báo Rămbe, linh mục Panơlu, luật sư Taru. Nhưng điều khiến tôi nhắc đến cuốn tiểu thuyết này, chính là suy nghĩ trĩu nặng tình xót thương con người của nhân vật Taru, người mà ngay giữa cao trào của dịch hạch đã nói tới nguyên nhân sâu xa của bệnh dịch, đó là cái ác của con người. Taru, sau khi nghe lời buộc tội độc ác của cha mình và chứng kiến tòa kết tội tử hình một bị cáo, đã rời bỏ cuộc sống nhung lụa và lao vào cuộc chiến đấu chống lại sự giết người. “Dịch hạch” thực ra là ngụ ngôn ám chỉ “bệnh dịch” của chủ nghĩa phát-xít, con đẻ của tên đồ tể Hitler, kẻ đã tự coi mình có sứ mạng thánh thần sắp xếp lại trật tự thế giới – kết quả của sự ngu xuẩn – để lý giải hành động tàn ác của mình và đồng bọn. Đến hôm nay, những lời cảnh báo của nhà văn vẫn còn nguyên giá trị, cái nhìn tiên tri của ông vào thế giới phi lý của con người dường đã ứng nghiệm, khi toàn cầu hôm nay cũng đang đương đầu với một đại dịch thế kỷ!

Những ngày Sống Chậm, tôi mới có dịp lan man nghĩ nhiều về cái gọi là đạo lý dân tộc mà hệ thống Giáo dục của chúng ta nhiều lúc đã coi nhẹ, để những khẩu hiệu cao siêu nhưng vô bổ lấn át, khiến lũ trẻ đáng yêu đang có nguy cơ dần biến thành những “Người máy” vô cảm – chuyện những bảo vệ trẻ ở cửa hàng nọ đã trói một bé gái ăn trộm hai cuốn truyện tranh mỏng, treo biển “Tôi là ăn trộm” trước ngực bé rồi chụp ảnh quay phim tung lên mạng, là một ví dụ điển hình cho sự giáo dục kiểu ấy – kiểu sẽ chỉ cho ra “lò” những “Kiêu binh” thời mạt Lê – Trịnh, những “Hồng vệ binh” bên Tàu dạo nọ!…

Sống Chậm, không có nghĩa là sự chậm chạp, giết thời giờ, kéo dài thời gian vô ích, đối lập hoàn toàn với kiểu sống vội vã, chụp giựt, buông thả, được chăng hay chớ, tùy tiện, vui đâu chầu đấy… – những tật mà không ít thanh niên hiện nay đã nhiễm phải và nướng mình trong các chầu bia rượu kéo suốt buổi. Họ “tăng tốc độ” số lần các cuộc kề cà nhâm nhi các thức đặc sản, giọt rượu quý hiếm, trong những chuyện vô bổ uanh các điện thoại đời mới, chiến công về các cuộc “săn bắt” tình yêu, hay chuyện cá cược, những scandal về ca sĩ, người mẫu nổi danh…

Nhà thơ Hy Lạp Ianit Ritsôt có những câu thơ thấm thía về giáo dục & tự giáo dục thế này: Ai cũng một mình đi đến Tình yêu, đến Vinh quang và Cái chết/ Tôi lặp lại thơ tôi/ Thế là/ Sự thèm khát phải có bánh mỳ và cái hôn/ Không làm tôi thấp hèn, sa sút. Ông bảo: “Tôi lặp lại thơ tôi”, cũng có nghĩa là ông Sống Chậm lại, trải nghiệm lại những gì mà trường học và cuộc đời đã dạy để có thể sống thì hiện tại như một Con người đúng nghĩa…

Và trong những ngày Sống Chậm này, tôi mới có nhiều thời gian hơn để nghĩ về mẹ tôi. Bà hàng ngày vẫn sống bên tôi, tôi vẫn chăm sóc mẹ với phận sự của người con trai trưởng… Nhưng trong vắng lặng, tôi chợt nhớ da diết tiếng đàn của bà, tiếng đàn đã mấy tháng nay im lặng bởi bà không thể ngồi trên đàn được nữa… Bao năm qua, một cô giáo dạy nhạc bình thường như bà đã là một cành dương kỳ diệu che chở giúp cho một gia đình nhà giáo nghèo vượt qua những cơn bão táp, máu lửa, đói khổ của Đất nước… Sau những buổi lặn lội chở gạo, thức ăn cho các con tới nơi sơ tán, sau những lúc chen chúc mua từng lít nước mắm, từng chai dầu hỏa bằng tem phiếu, bà lại trở về với việc dạy các con và học trò xướng âm những bản nhạc mới, hoặc lặng lẽ mê mải bên cây đàn, tiếng đàn của bà đã đưa con cháu vào thế giới của âm thanh – cũng là thế giới của Bình yên, của khát vọng làm người tử tế… Đêm nay, qua tiếng đàn nhớ lại của mẹ, tôi càng thấm thế nào là Sống Chậm; những tempo nhanh chậm của bất cứ bản nhạc nào xét cho cùng chỉ là ước lệ, tạm thời, còn trong thẳm sâu của người nhạc sĩ và người thể hiện chính là sự Chậm rãi, Trang nghiêm, hướng tới sự Cao cả của Tâm hồn và cái Thiện của cuộc sống… Cái Thiện đó, chính là cái đích mà tất cả những người lương thiện đang hướng tới, dù phải đối mặt với các thảm họa khủng khiếp như Chiến tranh, Dịch bệnh, sự Chiếm đoạt bằng mọi giá… Con người đã phải cảnh giác quá nhiều và quá lâu rồi theo lời kêu gọi, cảnh báo của một nhà báo Tiệp Khắc, còn giờ đây, chỉ Tình thương đồng loại mới là “cây đũa thần” hiệu nghiệm cứu giúp nhân loại – “cây đũa thần” mà Thánh Gandhi, văn hào Lev Tolstoy, Vua Phật Trần Nhân Tông, đại thi hào Nguyễn Du… đã nhiều lần gửi gắm và kêu gọi thống thiết trong nước mắt hòa máu…

Trong những ngày này, chắc chắn những lời cảnh báo của hai tác giả Phật tử là Aurelio Peccei (Italia) và Daisaku Ikeda (Nhật) viết những năm cuối thế kỷ trước chợt có sức vang vọng và đồng cảm đáng kể, cũng có tác dụng thức tỉnh nhân loại đang u mê trong vòng xoáy của danh lợi, tuân theo định mệnh và từ chối chiến đấu với cái xấu, cái ác, sự vô luân: Tình hình toàn cảnh thế giới đang trở nên xấu đi, và một điều rất thực tế là mối nguy hiểm do những cuộc khủng hoảng hiện nay gây ra đang trở nên nghiêm trọng hơn… Thật vô lý nếu chúng ta xao lãng những cơ hội to lớn mà nhân loại có được do kết quả của tri thức cùng những phương tiện khoa học; và cũng thật vô lý nếu chúng ta từ chối trách nhiệm cải thiện số phận của chính chúng ta. Trong khi cố gắng “thức tỉnh con người”, thực hiện “cuộc cách mạng con người”, hai tác giả đó đã nhấn mạnh yếu tố “con người” như một dạng năng lượng đặc biệt có sức mạnh kỳ diệu: Chúng tôi cho rằng, rất nhiều vấn đề chủ yếu hiện nay là thuộc về tư tưởng và đạo đức, và không có một sức mạnh khoa học kỹ thuật nào hoặc biện pháp kinh tế nào có thể giải quyết được những vấn đề đó… Khi chúng ta tự hoàn thiện mình từ bên trong, chắc chắn chúng ta không bao giờ bị sụp đổ[137]. Hy vọng rằng, với công cuộc “tự hoàn thiện mình từ bên trong” bắt đầu từ lâu và đặc biệt trong những ngày thử thách cam go này, Đất nước tôi và đồng bào tôi sẽ không bao giờ bị sụp đổ!

37.

Con gái đồng nghiệp tương lai đọc xong bài viết: “Một đất nước cần học cách im lặng” của một nữ nhà văn, tác giả kịch bản điện ảnh nổi tiếng sau khi bộ phim mới phát hành của bà tạo nhiều dư luận liền gọi điện hỏi bố: “Tạo sao phải học cách im lặng ạ?”. Trả lời con gái bằng bài viết này:

CẦN IM LẶNG ĐẾN BAO GIỜ?

Tâm sự của nữ nhà văn cao niên chắc chắn đã/ sẽ tìm được nhiều sự đồng cảm, không chỉ trong giới cầm bút viết văn, làm phim, cầm cọ, mà còn trong đông đảo cộng đồng người chị coi là “đồng bào” ở cùng một đất nước của mình…

Và nỗi trăn trở buộc phải “học cách im lặng” của chị tất yếu dẫn tới niềm bức xúc ẩn sâu trong lòng mỗi người lương thiện: Cần im lặng đến bao giờ?

Con người viết Hoa từ định nghĩa của M. Gorki cũng đã từng phải buộc Im Lặng hàng triệu lần trước cái ác, sự phi lý không thể lý giải nổi – sau nhiều thế kỷ “Hóa thân” thành Promété chịu đựng khổ hình mỗi ngày vì lấy cắp lửa của Thần Zơt cho đồng loại, để sau đó phải lẩn trốn những “Vụ án” giời ơi đất hỡi rình rập song cuối cùng cũng phải “chết như một con chó” như thân phận Giôjep K, trong diễn ngôn tự sự buồn thảm của F. Kafka…

Tác phẩm có tên Tiếng thét thực hiện trên bốn chất liệu của danh họa người Na Uy Edvard Munch đều vẽ: giữa bầu trời đỏ quạch đầy mây lửa là một nhân vật tựa xác ướp ôm đầu vẻ lo sợ và tuyệt vọng tột độ, như muốn thét lên nỗi cô đơn đến đau đớn của bản thân mình mà không sao cất nổi tiếng thét… Đó là sự Im Lặng bị đè nén đã quá lâu, quá nặng nề mà vô phương giải thoát, giờ đang ở trong nguy cơ sụp đổ của thế giới tâm hồn con người trước sự khủng hoảng xã hội không thể lý giải…

Im Lặng bởi không thể hiểu, không có quyền được hiểu những gì cần hiểu. Im Lặng bởi nhẫn nhục, bất lực. Im Lặng được giải tỏa trong nỗi than thân thầm thì, đổ lỗi cho số mệnh của lớp người thuộc Cọng rơm dưới đáy ao trong tiểu thuyết của Võ Văn Trực: Con kiến mà leo cành đa/ Leo phải cành cộc leo ra leo vào… Con vua thì lại làm vua/ Con sãi ở chùa lại quét lá đa… Im Lặng chấp nhận một cách cay đắng đi vào triết lý Thiền, đạo lý Buông bỏ, coi cõi đời là sinh ký – cõi tạm mà mọi thứ đều Sắc Sắc Không Không…

Việc Im Lặng đâu cần phải học, qua nhiều thế kỷ núi xương sông máu nó trở thành một thứ bản năng sinh tồn, là “anh em họ hàng” của tư tưởng sùng thượng tự nhiên cùng thái độ “vô vi” (cứ thuận theo tự nhiên mà làm) của Lão Tử – một nhân vật kỳ lạ đã giúp cho cả một dân tộc tồn tại được trong mấy ngàn năm vật lộn với đời sống mà không có nhiều người bị bệnh điên, bệnh thần kinh suy nhược, bệnh đứt gân máu như người phương Tây – theo cách nói của Lâm Ngữ Đường![138]

Nhưng ngay cả một bậc cao tăng như Không Lộ thiền sư lúc trên đỉnh núi cao lại càng thấy cảm giác cô đơn, lạnh lẽo và sự vô định của con người trong cõi đời mà không thể im lặng nổi đến độ phải kêu to lên giữa không trung: “Hữu thì trực thướng cô phong đính, Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư (Có lúc lên thẳng đỉnh núi bơ vơ,/ Kêu dài một tiếng, lạnh cả bầu trời).

Nhẫn nhịn chịu đựng số phận như nàng Kiều đáng thương phải chấp nhận “Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa” cũng đôi lần không kìm được phẫn nộ: “Chém cha cái số hoa đào/ Cởi ra rồi lại buộc vào như chơi!”

Nhà chí sĩ yêu nước Tăng Bạt Hổ trước cảnh: “Nỗi diệt giống bề lo bề sợ,/ Người giống ta biết có còn không?” đã thể hiện nỗi hận “bầm gan tím ruột” của toàn thể quốc dân ta: “Vạch trời kêu mà tuốt gươm ra” (Đề tỉnh quốc dân ca – Bài ca thức tỉnh quốc dân).

Một nhân vật đặc sắc trong tiểu thuyết Quo Vadis của nhà văn Ba Lan H. Sienkiewicz (đoạt giải Nobel 1905) là Petronius, vị cố vấn của Nero về nghệ thuật, vốn là hiện thân của tinh hoa văn hóa La Mã, nhưng ông đã phải xưng tụng trong nhiều năm thứ nghệ thuật dở hơi của tên bạo chúa dám đốt cháy cả thành Roma để lấy cảm hứng sáng tác. Rồi cuối cùng Petronius không thể Im Lặng trong nỗi ô nhục được nữa; để bảo vệ Thi Ca và Cái Đẹp thực sự, ông đã công khai lên án loại nghệ thuật tầm phào mà đẫm máu của Nero và bình thản đón chờ cái chết hào hoa…

Vào thời tên đồ tể Hitler tự coi mình có “sứ mạng thánh thần” sắp xếp lại trật tự thế giới, thì hầu hết các trí thức, văn nghệ sĩ nổi tiếng phương Tây đều không im lặng và đều cất tiếng nói phẫn nộ và coi đó cũng là “lạc thú của văn chương”[139] – đó là Walter Benjamin (Đức), Federico García Lorca (Tây Ban Nha), George Orwell (Anh), Romain Rolland (Pháp) các nhà văn Ý Benedetto Croce, Carlo Levi (ý), Boris Pasternak (Nga), v.v.

Trong một nạn dịch hạch hoành hành khủng khiếp vào những năm chủ nghĩa phát-xít đang thống trị toàn châu Âu, khi sự hủy hoại môi trường sinh thái đã trở nên nguy hại và cấp bách, nhà văn Pháp Albert Camus đã viết tác phẩm La Peste (Dịch hạch); trong cuốn tiểu thuyết này, có nhân vật luật sư Taru có thể nói điển hình cho kiểu “nhân vật thời đại không thể im lặng trước cái ác”: sau khi nghe cha mình kết tội tử hình một bị cáo, Taru đã tình nguyện lao vào cuộc chiến đấu chống lại sự giết người. Albert Camus đã nói rõ tư tưởng của các nhân vật tích cực đang chống lại dịch hạch nói riêng và cái ác nói chung như sau: “Cái ác trên đời này hầu như bao giờ cũng bắt nguồn từ sự dốt nát, và thiện chí cũng có thể gây tổn thất như tà dâm nếu không được soi đường… và tính xấu tồi tệ nhất là của những kẻ dốt nát nhưng lại cho là mình biết hết thảy và lúc đó tự cho mình chém giết. Tâm hồn đứa giết người là một tâm hồn mù quáng, và sẽ không có lòng tốt chân chính và tình yêu cao đẹp nếu không có toàn bộ sáng suốt cần thiết.

Sự “sáng suốt cần thiết” đó từng được nhà báo Tiệp Khắc Julius Fucik khi Viết dưới giá treo cổ kêu gọi bằng cả một tập sách: Con người hãy sáng suốt! – Sáng suốt để lựa chọn con đường đi, Sáng suốt để nhận diện kẻ thù của Nhân Bản, Sáng suốt để tới lúc cần thấm thía rằng: Người ta muốn sống được cho ra Con người Tự Do thì không thể nhẫn nhịn, không thể chịu đựng, không thể im lặng và vô tâm mãi trước cái Ác được nữa…

Và cái thời kỳ dài dằng dặc tựa một thứ định mệnh phải “học cách im lặng” như lời than thở của nữ nhà văn đáng kính đã tới lúc cần trở thành quá khứ…


[129] Lời trong một bài hát của nhạc sĩ Lê Lôi.

[130] Lời trong một bài hát của nhạc sĩ Lê Yên.

[131] Xin đọc thêm bài viết cảnh báo về một thứ “quốc nạn” của nhà văn Tạ Duy Anh: Một quốc gia nhỏ chỉ ăn rồi chơi, trong Làng quê đang biến mất, Nxb Hội Nhà văn, 2014.

[132] Der Tod in Venedig.

[133] Milan Kundera. Tiểu thuyết – Ngân Xuyên dịch từ tiếng Nga & tiếng Pháp, Nxb Văn học 1999.

[134] Dịch hạch (La Peste) tiểu thuyết xuất bản năm 1947 của nhà văn-triết gia đoạt giải Nobel Albert Camus.

[135] Tinh thần thể dục – Tên truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan đăng trên tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy năm 1939.

[136] Suối thép (Железный поток – 1924).

[137] Tiếng chuông cảnh tỉnh cho thế kỷ XXI (Before It Is Too Late), Trương Chính và Dũng Hà dịch, Nxb Chính trị Quốc gia, 1993.

[138] Theo sách Lão Tử – Đạo đức kinh, Nguyễn Hiến Lê chú dịch và giới thiệu, Nxb Văn hóa, 1994.

[139] Lời của Marcel Proust, dẫn theo: R.M. Albérès. Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn học Âu Châu thế kỷ XX (1900-1959). Vũ Đình Lưu dịch. NXB Văn học, Hà Nội, 2017.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.