Bình minh đỏ trên Trung Quốc – Chủ nghĩa Cộng sản Chế ngự một phần tư Nhân loại thế nào (kỳ 3)

Tác giả: Frank Dikötter

Người dịch: Nguyễn Quang A

NXB: Bloomsbury Publishing, 2026

2. Kích động cách mạng

(1926–1927)

Đến cuối năm 1925, Đảng Cộng sản đã thành công trong việc nắm quyền kiểm soát hầu hết các bộ phận chính trị trong Quân đội Quốc dân đảng. “Hầu như tất cả công tác chính trị trong các đơn vị đều do họ đảm nhiệm,” Nikolai Kuibyshev, Trưởng đoàn cố vấn Liên Xô tại Nam Trung Quốc, viết, đồng thời cho biết thêm rằng “một số người thậm chí còn đảm nhiệm các chức vụ chỉ huy.” Tuy nhiên, trong nỗ lực vội vã bổ nhiệm một chính ủy cho mỗi sư đoàn, Đảng Cộng sản đã đi quá xa. Trong một số trường hợp, các binh sĩ mà họ tẩy não đã trở nên quá cực đoan đến mức nổi loạn chống lại chính các sĩ quan của mình, đánh đập họ hoặc phớt lờ mệnh lệnh. Tại một số đơn vị, tình trạng đào ngũ ngày càng gia tăng. 1

Căng thẳng giữa phe Quốc dân đảng và phe Cộng sản, vốn đã âm ỉ từ lâu, bùng phát dữ dội. “Đảng Cộng sản đang phá hoại quân đội của chúng ta,” một phe phái trong Quốc Dân Đảng tuyên bố tại một cuộc họp được tổ chức ở vùng Tây Sơn, ngoại ô Bắc Kinh, vào tháng 11 năm 1925. 2 Họ coi Đảng Cộng sản như “trứng cu cu trong tổ chim sẻ” và quyết tâm thanh trừng họ. “Xóa tên Đảng Cộng sản khỏi danh sách đảng viên!” họ yêu cầu trong bản tuyên ngôn của mình. Trong cuộc họp, nhóm này đã bỏ phiếu chấm dứt hợp đồng với Mikhail Borodin, mặc dù do không đủ số đại biểu cần thiết nên quyết định của họ không có hiệu lực. Họ cũng quyết định kỷ luật Wang Jingwei (Uông Tinh Vệ) và khai trừ ông trong vòng sáu tháng. Wang, người đã tháo dỡ di chúc của Tôn Trung Sơn, là người hưởng lợi nhiều nhất từ cái chết của chủ nhân mình, nhưng lại bị coi là quá thân cận với những người Cộng sản. 3

Wang đã phản ứng bằng cách triệu tập Đại hội Đảng lần thứ hai tại Quảng Châu vào tháng 1 năm 1926, ngay lập tức khai trừ tất cả các thành viên của phe Tây Sơn. Đó là một chiến thắng nhất định, mặc dù điều này không xoa dịu được những lo ngại về ảnh hưởng của Đảng Cộng sản, đặc biệt là trong số các học viên Học viện Hoàng Phố. Một Ủy ban Thường vụ Trung ương mới, do Uông Tinh Vệ thành lập trong đại hội, đã giao mọi bộ ngành chính phủ có tầm quan trọng chiến lược vào tay cánh tả của Quốc Dân Đảng hoặc một đảng viên Cộng sản, bao gồm cả những nhân vật trụ cột tương lai như Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai. Borodin, chẳng hạn, đã nhận ra nguy cơ này và cố gắng kiềm chế phe Cộng sản, giới hạn số lượng thành viên của họ không quá một phần ba trong bất kỳ ủy ban nào. 4

Điều đó vẫn chưa đủ. Chính Kuibyshev, dù đã có báo cáo về phe Cộng sản, lại chính là một phần của vấn đề. Là một cựu chiến binh kiêu ngạo, tự cao tự đại với những mối quan hệ cao cấp tại Moscow, ông công khai khinh thường Tưởng Giới Thạch và cố gắng đặt Quân đội Quốc dân đảng dưới sự kiểm soát của chính mình. Ông thân cận với Uông Tinh Vệ, người đã lợi dụng ông để làm suy yếu Tưởng Giới Thạch. Vào tháng 2, các thành viên Quốc Dân Đảng đảng chỉ trích các lực lượng cánh tả bắt đầu tập hợp ủng hộ Tưởng Giới Thạch. Là một người kiêu hãnh, tham vọng nhưng thiếu tự tin và hay đưa ra những quyết định đột ngột, chính Tưởng Giới Thạch cũng lo sợ bị gạt sang một bên. Ông viết trong nhật ký rằng: “Người Soviet nghi ngờ tôi, lừa dối tôi”. Ông vô cùng bất mãn, hay bộc phát những cơn giận dữ không kiểm soát được. Ông đã cố gắng từ chức, rồi suýt nữa lên đường đến Moscow, nhưng vào phút chót đã bị thư ký của mình can ngăn, người này khuyên ông nên đứng lên bảo vệ lập trường của mình. 5

Khi vào đêm 18 tháng 3, chỉ huy tàu tuần dương Zhongshan – soái hạm của hải quân – được cho là đã nhận được một cuộc điện thoại ra lệnh cho ông di chuyển từ Quảng Châu đến Hoàng Phố (Whampoa), Tưởng Giới Thạch lo sợ rằng một cuộc đảo chính đang được âm mưu chống lại ông: “Tôi cảm nhận rằng giờ G của âm mưu Cộng sản đã cận kề.” Chỉ huy đó là một đảng viên Cộng sản, và hai ngày trước đó, một đồng minh thân cận đã cảnh báo Tưởng Giới Thạch rằng có điều gì đó bất thường đang diễn ra. Tưởng Giới Thạch sau đó giải thích rằng những kẻ âm mưu đã lên kế hoạch bắt giữ ông ngay khi ông lên tàu và đưa ông sang Nga làm con tin. 6 Mặc dù diễn biến sự việc vẫn còn là một bí ẩn cho đến ngày nay, với một số nhà sử học giải thích toàn bộ vụ việc là một hành động khiêu khích do chính Tưởng Giới Thạch dàn dựng, nhưng kết quả thì rõ ràng: vào rạng sáng ngày 20 tháng 3, Tưởng Giới Thạch tuyên bố thiết quân luật, ra lệnh bắt giữ thuyền trưởng, tước vũ khí của các đội tuần tra đã hoạt động mạnh mẽ trong thời gian đình công, và đưa các cố vấn Liên Xô vào tình trạng giam giữ bảo vệ. Các đảng viên Đảng Cộng sản tại Whampoa cũng bị bắt giữ. 7

Chỉ trong vài ngày, một thỏa hiệp đã được đạt được. Moscow cần Tưởng Giới Thạch, cũng như Tưởng Giới Thạch cần Moscow. Cả hai, không nghi ngờ gì, đều đang chờ thời cơ. Kuibyshev bị đưa về Nga, trong khi mọi hoạt động chính trị bên trong Quân đội Quốc dân đảng đều bị đình chỉ. Quyền lực của các công đoàn lao động bị hạn chế, các thành viên của họ bị cấm thành lập các đơn vị vũ trang. 8 Vào tháng 5, Ủy ban Thường vụ Trung ương đã thông qua một đề xuất tám điểm nữa, yêu cầu lập danh sách các thành viên Đảng Cộng sản Trung Quốc và cấm bất kỳ thành viên nào có tư cách đảng viên kép đứng đầu một cơ quan của Quốc Dân Đảng hoặc chính phủ. 9 Wang Jingwei, sau khi bị sỉ nhục, đã tự nguyện lưu vong. Quyền lực của Borodin bị thu hẹp. Tưởng Giới Thạch nay nắm quyền tuyệt đối. Vasily Blyukher, biệt danh Galen, một vị tướng tài ba từng là cố vấn quân sự đáng tin cậy của Tưởng Giới Thạch cho đến khi ông trở về Liên Xô để điều trị y tế vào mùa hè năm 1925, đã được triệu hồi về Quảng Châu. Blyukher đã giúp Tưởng Giới Thạch đập tan các lực lượng lính đánh thuê từ Vân Nam và Quảng Tây, đồng thời thống nhất tỉnh Quảng Đông.

Tưởng cuối cùng cũng có thể bắt đầu Chiến dịch Bắc tiến (Bắc Phạt) mà vị thầy của ông, Sun Yat-sen, hằng mong ước. T. V. Soong, một thanh niên mảnh khảnh từng làm việc tại Ngân hàng Quốc tế ở New York, đã mang lại sự minh bạch tài chính cho Quảng Châu, tạo ra một lượng dự trữ bạc đáng kể để tài trợ cho cỗ máy quân sự sắp tiến quân về phía Bắc. Lệnh động viên được ban hành vào ngày 1 tháng 7. Một tuần sau, 100.000 người mặc quân phục màu nâu bắt đầu hành quân ra khỏi Quảng Châu. Đội quân hỗn tạp gồm các học viên quân sự được huấn luyện, binh lính, tân binh trẻ, công nhân và nông dân, được chia thành tám đạo quân dưới sự chỉ huy của Tưởng Giới Thạch. Đi cùng các đơn vị quân đội là hàng trăm nhà tuyên truyền và kích động viên, một số trong số họ được cử làm tiền phong dọc theo tuyến hành quân. Họ phân phát hình ảnh của Tôn Trung Sơn, treo áp phích lên án ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và tổ chức các cuộc họp, giải thích rằng họ đến đây với tư cách là những người giải phóng, chứ không phải là những kẻ chinh phục. Như Borodin đã khẳng định: “Chúng tôi chú ý đến áp phích không kém gì súng ống.” 10

Vài ngày sau, lực lượng của Tưởng Giới Thạch tiến đến Trường Sa, thủ phủ sầm uất của Hồ Nam, nằm giữa những cánh đồng lúa trong lòng một thung lũng màu mỡ, và chiếm thành phố mà không cần nổ một phát súng nào. Ngay cả trước khi họ đến, thống đốc địa phương đã từ chức và trốn sang Vũ Hán. Được khích lệ, các đảng viên Cộng sản địa phương tổ chức một cuộc diễu hành, sau đó chiếm dinh thống đốc và biến nó thành trụ sở của họ. Khi Quân đội Quốc dân đảng đến, họ được “chào đón như những anh hùng”, với mọi cửa hàng đều treo cờ Cộng sản. Các đoàn diễu hành của sinh viên, kéo dài hàng giờ liền, đi qua các con phố, ca ngợi những đức tính của chủ nghĩa cộng sản. Các công đoàn được thành lập, với các cuộc diễu hành hàng ngày của công nhân. Những tháng tiếp theo tương đối bình yên, mặc dù đến tháng 10, thành phố, hơn bao giờ hết, đã bị “tràn ngập bởi các áp phích, biểu ngữ, thông cáo hoặc bị vùi lấp dưới cơn mưa tờ rơi”. 11

Trên khắp tỉnh, áp phích được treo lên và các cuộc họp được triệu tập ngay khi quân đội tiến vào một thị trấn hay làng mạc. Các công đoàn được thành lập, các chi bộ Đảng được mở ra, thanh niên, sinh viên và phụ nữ đều có tổ chức riêng. Theo mọi nguồn tin, các binh sĩ đều cư xử tốt và được trang bị đầy đủ, dễ dàng là lực lượng tốt nhất phía nam sông Dương Tử, con sông chia đất nước thành hai nửa. Thành phố lớn nhất và cảng chính trên con sông này là Vũ Hán. Nằm cách Thượng Hải khoảng 800 kilômét về phía tây, thành phố này bao gồm ba khu vực, trong đó có Hán Khẩu – một trung tâm giàu có và quốc tế với các khu nhượng địa nước ngoài, đôi khi được gọi là “Chicago của phương Đông” – và Vũ Xương, nơi quân đội đã lật đổ chế độ đế quốc mười lăm năm trước. Hán Dương, nằm trên bờ phải sông Hán đối diện với Hán Khẩu, là một thành phố công nghiệp vũ khí với nhà máy sắt thép hiện đại đầu tiên của đất nước. Đối thủ chính của phe Quốc dân đảng là Wu Peifu (Ngô Bội Phu), vị tướng kiểm soát những vùng lãnh thổ rộng lớn trên cả nước, thường đối đầu với Trương Tác Lâm. Hankou và Hanyang dễ dàng bị chiếm vào đầu tháng 9, nhưng cuộc chiến giành Wuchang – nằm trên những ngọn đồi nhấp nhô và được bao quanh bởi bức tường có răng cưa – diễn ra vô cùng khốc liệt. Chen Lifu (Trần Lập Phu 陳立夫), thư ký riêng của Tưởng Giới Thạch, nhớ lại cảnh mình cưỡi ngựa đi qua những cánh đồng phủ đầy thi thể, mùi hôi thối lan tỏa khắp không khí: “Khi con ngựa của tôi tiến lại gần và vẫy đuôi, lũ ruồi bám trên thi thể liền bay tán loạn.” Wu Peifu chỉ đầu hàng vào ngày 10 tháng 10, đúng vào ngày kỷ niệm cuộc nổi dậy Wuchang. Tỷ lệ tổn thất rất cao, nhưng khi Chiến dịch Bắc tiến tiếp diễn, hàng ngũ Quốc dân đảng được bổ sung bởi các lực lượng dân quân địa phương do các quan chức chính phủ huy động. 12

Tuy nhiên, ngay cả khi nhiều đạo quân đang giao tranh để giành quyền kiểm soát Vũ Hán, Tưởng Giới Thạch đã điều một cánh quân với những binh lính tinh nhuệ nhất của mình tiến về phía đông, hướng tới Nam Xương (Nanchang), thủ phủ của tỉnh Giang Tây. Cuộc tấn công hai mũi này mang tính chiến lược, bởi vì nếu không chiếm được Nam Xương và cảng thương mại Jiujiang (Cửu giang), nằm ở hạ lưu sông Dương Tử, thì không thể giữ vững Vũ Hán. Nhưng Tưởng Giới Thạch cũng lo ngại rằng Borodin có thể kích động các công đoàn lao động ở Vũ Hán chống lại ông. Một làn sóng chiến đấu đẫm máu đã dâng lên rồi lại lắng xuống quanh Nam Xương trong vài tháng, biến một phần thành phố và các làng mạc xung quanh thành đống đổ nát. Sun Chuanfang (Tôn Truyền Phương-孫傳芳), một đồng minh của Wu Peifu, đã khủng bố dân chúng địa phương bằng các cuộc hành quyết hàng loạt trong khi quân lính của ông ta cướp bóc các cửa hàng, một số người còn gửi chiến lợi phẩm về nhà qua đường bưu điện. Chỉ đến ngày 9 tháng 11, sau khi máy bay của Quốc dân đảng thả tờ rơi cảnh báo rằng thành phố sẽ bị san phẳng, Sun mới rút lui. Jiujiang bị chiếm đóng trong cùng tuần đó. 13

Những chiến thắng của phe Quốc dân đảng đã khiến các quan sát viên nước ngoài bất ngờ. Điều này cũng khiến Borodin lo lắng, khi sự oán giận âm ỉ bắt đầu chuyển thành cuộc tranh giành quyền lực công khai. Ngay cả khi Tưởng Giới Thạch vẫn đang chỉ huy quân đội của mình bên ngoài Nam Xương, Borodin đã bắt đầu lấy lại ảnh hưởng mà ông đã mất vào tháng 3. Ông triệu tập một cuộc họp của Ủy ban Hành pháp Trung ương Quốc Dân Đảng đảng tại Quảng Châu và lấp đầy cơ quan này bằng những người đồng cảm với Đảng Cộng sản. Chương trình cuối cùng của ủy ban này đã đáp ứng một số yêu cầu do Đảng Cộng sản đưa ra, bao gồm lời kêu gọi thành lập các đơn vị tự vệ nông dân. Trong một hành động khinh miệt có tính toán nhằm vào Tưởng Giới Thạch, ủy ban còn gửi điện tín cho đối thủ của ông là Uông Tinh Vệ, yêu cầu ông này trở về. Vài tuần sau, một nghị quyết được thông qua để chuyển trụ sở chính phủ từ Quảng Châu sang Hán Khẩu. 14

Một tuần trước khi đoàn lãnh đạo đầu tiên lên đường đến Hankou, Quảng Châu đã tổ chức lễ kỷ niệm và tuyên bố ngày 7 tháng 11 là ngày lễ. Thành phố được trang hoàng bằng cờ Soviet cùng các bức chân dung của Lenin và Tôn Trung Sơn. Trên các sân khấu ngoài trời, các vở kịch tái hiện những sự kiện chính của Cách mạng Bolshevik được trình diễn. Vào buổi tối, một tiệc chiêu đãi vinh danh các đại biểu Soviet đã được tổ chức. Sau một cuộc đi dài vất vả trên bộ, đầu tiên bằng tàu hỏa, sau đó bằng kiệu, cuối cùng bằng thuyền, Borodin và đoàn tùy tùng của ông đã đến Hankou vào đầu tháng 12. 15

Cuộc Viễn chinh Phương Bắc cũng đã gây chấn động Moscow. Bukharin, người đã trở thành người đứng đầu Comintern vào đầu năm đó, đã mô tả cách mạng ở châu Á là điều kiện cần thiết cho cách mạng ở châu Âu. Khi tổ chức của ông họp vào tháng 11 năm 1926, ông tuyên bố rằng một cuộc cách mạng Trung Quốc sẽ giáng một đòn chí mạng vào chủ nghĩa tư bản châu Âu, nhất là vào Anh. Nghị quyết của Comintern đặc biệt nhấn mạnh rằng: “Cách mạng Trung Quốc là một trong những yếu tố quan trọng và mạnh mẽ nhất làm xáo trộn sự ổn định cấu trúc của chủ nghĩa tư bản. Trong hai năm qua, chủ nghĩa đế quốc đã phải hứng chịu những thất bại đáng kể tại Trung Quốc, và hậu quả của những thất bại này sẽ gây ảnh hưởng đáng kể đến việc làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản thế giới.” 16

Các mệnh lệnh tiếp theo được ban hành, chỉ đạo các cố vấn Soviet làm mất uy tín của những kẻ chống cách mạng, kích động quần chúng và tổ chức các hoạt động tuyên truyền chống lại các thế lực đế quốc. Một lá thư chỉ thị, hiện chỉ còn lại bản bị cháy một phần, yêu cầu các cố vấn không được “ngần ngại thực hiện mọi biện pháp, bao gồm cả cướp bóc và tàn…[sát?] (và mass…[acre?])” nhằm “kích động sự can thiệp của quân đội nước ngoài [?]…”. Nói tóm lại, Moscow coi cuộc cách mạng ở Trung Quốc là một phần hỗ trợ cho cuộc đấu tranh của họ với châu Âu. 17

Ngày 12 tháng 12, một cuộc mít tinh kéo dài năm giờ đã chào đón Borodin tại Hankou. Đứng bên cạnh ông trên bục là góa phụ của Tôn Trung Sơn và con trai ông là Tôn Khoa (Sun Fo), cùng với Eugene Chen, lắng nghe các bài phát biểu của các lãnh đạo công đoàn, thương nhân và sinh viên. Kể từ khi Quốc dân đảng chiếm được Vũ Hán, lực lượng lao động của ba thành phố đã nằm dưới sự kiểm soát của khoảng 260 công đoàn. Những công đoàn này được điều hành bởi Tổng Liên đoàn Lao động, một tổ chức lại nằm dưới sự kiểm soát của Bộ Chính trị, cơ quan cao nhất của Đảng Cộng sản. Một loạt cuộc đình công diễn ra sau đó, gây hậu quả thảm khốc cho thương mại và công nghiệp. Lương tăng trung bình 50%, tiếp theo là sự gia tăng thậm chí còn mạnh hơn của chi phí sinh hoạt. Thông báo ý định bãi bỏ tiền giấy và tiền giấy ngoại tệ, Borodin kêu gọi mọi người giơ tay  ủng hộ cách mạng, và đám đông đã nhất trí ủng hộ. 18

Chỉ trong vòng một tuần sau khi đến nơi, Borodin, bà Sun Yat-sen và Sun Fo đã phát biểu trước 3.500 đại biểu tại một cuộc họp khác được canh gác nghiêm ngặt bởi các chốt quân sự để kêu gọi “lật đổ người Anh” và những kẻ ủng hộ họ tại Bắc Kinh. Họ kêu gọi tẩy chay mọi thứ liên quan đến Anh, từ những công nhân bốc dỡ hàng hóa của họ cho đến các đại lý xuất khẩu hàng hóa của họ. 19

Hàng chục nghìn công nhân làm việc tại các mỏ, nhà máy và cơ sở chế biến đã đình công. Dưới sự dẫn dắt của sinh viên và các nhà hoạt động cấp tiến, họ dành cả ngày để ăn mừng cách mạng, phát biểu hoặc biểu tình trên đường phố. Các đoàn sinh viên và công nhân diễu hành mang theo các biểu ngữ với khẩu hiệu như “Đả đảo tư bản và đế quốc”, “Ủng hộ Cách mạng Toàn cầu”, “Công nhân toàn thế giới, đoàn kết lại”. Nhiều người khẳng định rằng thế giới có thể được thay đổi chỉ trong một ngày. Từ các nhà máy đóng gói hàng hóa chuẩn bị sản phẩm nội địa cho thị trường nước ngoài đến các xưởng kéo sợi và dệt vải bông, những khu vực rộng lớn của thành phố đã rơi vào tình trạng tê liệt. Ngành vận tải thủy, từ những chiếc thuyền buôn bán phế liệu trên các kênh rạch và hồ nước trải dài ở Trung Quốc trung bộ đến những con tàu hơi nước hùng mạnh lướt trên sông Dương Tử, đều bị tê liệt. 20

Tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt. Những công nhân từng được khuyến khích đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản nay phải tìm đến chính phủ để xin phiếu ăn. Tuy nhiên, chính phủ không thể thu đủ nguồn thu, do đó buộc phải tăng thuế, dẫn đến các cuộc đình công tiếp theo, từ đó gây ra làn sóng tháo chạy bạc khi các thương nhân và gia đình giàu có bắt đầu rời bỏ thành phố. Chính phủ ra lệnh tịch thu nhà cửa và tài sản đất đai của những người chống đối cách mạng. Nhưng không ai dám mua, vì lo ngại chính phủ này cũng sẽ sớm sụp đổ. Tỷ giá hối đoái của tiền giấy phát hành tại Hán Khẩu suy yếu so với tiền giấy phát hành tại Thượng Hải hay Bắc Kinh. Chính phủ in thêm tiền để mua gạo cho người đói, dẫn đến giá cả leo thang đến mức không thể chấp nhận được, đặc biệt là giá gạo. 21

Tại Hankou, các cuộc tấn công nhằm vào người nước ngoài bắt đầu vào ngày 3 tháng 1 năm 1927. Tại một cuộc mít tinh quy mô lớn khác, hàng trăm nghìn công nhân đình công được dẫn đến Khu nhượng địa Anh, xông vào các tòa nhà chính của. Cờ Union Jack của Lãnh sự quán Anh bị hạ xuống, thay thế bằng cờ Quốc dân đảng. Phụ nữ và trẻ em được sơ tán, trong khi những người nước ngoài còn lại bị đám đông vây đánh. Trong những ngày sau cuộc biểu tình chống Anh, những người thuộc các quốc tịch khác, bao gồm người Mỹ và người Nhật, gần như trở thành tù nhân ngay trong chính ngôi nhà của mình. Họ cũng buộc phải thu gom một vài vật có giá trị và gia nhập dòng người tị nạn trước khi nhà của họ bị cướp bóc. 22

***

Trong số những người biểu tình tại Hán Khẩu có một số đoàn đại biểu nông dân từ Hồ Nam. Một năm trước đó, sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, Borodin đã cố gắng huy động nông dân ở vùng nông thôn xung quanh Quảng Châu tham gia vào cuộc cách mạng. Ông đã lên kế hoạch chia người dân làng thành năm tầng lớp, tịch thu đất đai từ giới địa chủ giàu có để phân phối cho người nghèo. Nhưng ông sớm phát hiện ra rằng có quá ít địa chủ để có thể tịch thu đất. Thay vào đó, các điệp viên của ông đã khuyến khích người nghèo tấn công những nông dân trung lưu, dẫn đến sự sụp đổ của nền kinh tế nông thôn. 23

Không nản lòng, một trong những cố vấn chính trị của Borodin, được bổ nhiệm đặc biệt để phụ trách “phong trào nông dân”, đã có các bài phát biểu tại phái bộ Soviet ở Quảng Châu, chỉ ra rằng hy vọng duy nhất của những người Cộng sản là “dựa vào quần chúng nông dân”, điều này có nghĩa là phải tiến hành phân phối đất đai. 24

Vào tháng 5 năm 1924, Borodin đã thành lập Viện Đào tạo Phong trào Nông dân tại Quảng Châu, với nhiệm vụ đào tạo các nhà hoạt động để gửi đến các làng mạc nhằm tổ chức phong trào nông dân. Vào tháng 3 năm 1926, Mao Trạch Đông, khi đó mới 32 tuổi và vẫn là một thanh niên nhiệt huyết, được bổ nhiệm làm người đứng đầu viện này. Mao đến từ Hồ Nam, nơi gia đình ông là những nông dân trung lưu, sống tiết kiệm, đã gửi con trai đến trường làng. Mao, người đã đọc sách say mê khi còn học trung học tại Trường Trung học Changsha, thấy các tác phẩm của Tôn Trung Sơn vô cùng truyền cảm hứng nên đã gia nhập cuộc cách mạng chống nhà Thanh. Vài năm sau, ông theo học tại Trường Sư phạm địa phương và xuất bản bài viết đầu tiên vào năm 1917 trên tạp chí “Thanh Niên Mới” (New Youth), một tạp chí nổi tiếng do Trần Độc Tú biên tập. Một trong những giáo sư của ông, sau khi nhận chức tại Đại học Bắc Kinh, đã giúp người thanh niên cách mạng này gia nhập trường với một công việc tại thư viện. Năm 1919, ông trở về tỉnh quê nhà, nơi mà nhiều năm hoạt động chính trị đã thu hút sự chú ý của chính quyền địa phương, khiến họ ra lệnh bắt giữ ông. Mao rời đi để tìm nơi an toàn tại Quảng Châu, đến nơi vào tháng 9 năm 1925.

Vào tháng 12 năm 1926, Mao được cử trở về tỉnh quê hương để góp phần lãnh đạo cuộc cách mạng nông dân. Lúc bấy giờ, Trường Sa đã trở thành một thành phố hoàn toàn khác. Một tháng trước đó, để kỷ niệm Cách mạng Bolshevik ngày 7 tháng 11, “Changsha [đã] chìm đắm trong không khí hân hoan đỏ rực nhất từ trước đến nay,” một nhà quan sát ghi nhận, với một cuộc diễu hành lên án hai tệ nạn song sinh là chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản. Chính quyền dân sự đã tổ chức toàn bộ dân chúng thành các công đoàn, từ thợ bạc, thợ mộc đến nhân viên bưu điện. Người dân từ nông thôn đổ về tham gia. 25 Họ cũng đã được tổ chức thành các công đoàn. Tuy nhiên, nỗ lực kích động cuộc cách mạng nông dân đã phản tác dụng, khi những người nông dân nghèo nhất bắt đầu cướp bóc tài sản của những người khá giả hơn. Tình trạng vô chính phủ hoành hành. Như một báo cáo gửi về Moscow đã chỉ ra, các hiệp hội nông dân không ngần ngại bắn “những tên bạo chúa địa phương và tầng lớp quý tộc”. Kết quả là “các gia đình giàu có bỏ trốn và không còn ai để nộp thuế đất. Vì lý do tương tự, không có thương mại lúa gạo đúng nghĩa và giá cả khác nhau ở mọi nơi, điều này ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Các thương nhân cũng đóng cửa cửa hàng do yêu cầu tăng lương từ phía nhân viên của họ.” 26

Nguyên nhân của bạo lực luôn giống nhau: có rất ít địa chủ để có thể tịch thu đất đai. Chính thuật ngữ “địa chủ” là một khái niệm ngoại lai, được du nhập từ Nga qua Nhật Bản vào cuối thế kỷ XIX. Khác với Nga, Trung Quốc không có tầng lớp quý tộc sống trên những điền trang rộng lớn, sát cạnh những nông dân nghèo khổ mới được giải phóng khỏi chế độ nông nô. Trung Quốc thiếu các lãnh địa phong kiến hay quý tộc sở hữu đất đai, những người thống trị một đám đông nông dân khốn khổ nhờ sắc lệnh hoàng gia. Không có địa chủ quý tộc, không có điền chủ, và thậm chí không có gì tương đương dù chỉ là mơ hồ với chế độ nông nô. Như S. T. Tung, nhà xuất bản tạp chí Chinese Farmer (Nông dân Trung quốc) và là tiến sĩ nông nghiệp tại Đại học Cornell, đã nói: “Trung Quốc không có ‘tầng lớp địa chủ’.” 27

Trong nhiều thế kỷ, đất đai đã được mua bán thông qua các hợp đồng phức tạp được bảo đảm tại các tòa án quan huyện. Trong một số trường hợp, các hợp đồng thậm chí còn phân biệt rõ ràng giữa lớp đất mặt và lớp đất dưới mặt đất. Quyền thuê đất cũng được quy định rõ ràng trong hợp đồng, mặc dù phần lớn đất đai thuộc sở hữu của các chủ đất nhỏ lẻ. Các quỹ tín thác được thành lập bởi các tổ chức để sở hữu đất đai, ví dụ như chùa chiền, trường học và, đặc biệt là ở miền nam, các dòng họ cùng họ và được tổ chức xung quanh một tổ tiên chung.

Cuộc sống làng quê rất đa dạng trên khắp Trung Quốc. Ở miền Bắc, nơi lúa mì là lương thực chính, những ngôi làng san sát nhau rải rác trên các đồng bằng bụi bặm, với nhiều nông dân sở hữu một mảnh đất nhỏ. Xa hơn về phía Tây, đặc biệt dọc theo Con đường Tơ lụa cổ đại, hàng chục triệu người sống trong các hang động được đục khoét từ đất sét giòn trên cao nguyên hoàng thổ, nơi chỉ trồng thưa thớt khoai tây, ngô và lúa miến. Những người dân vùng đất bụi này hoàn toàn trái ngược với những nông dân canh tác dọc thung lũng Dương Tử màu mỡ, nơi những lớp phù sa dày đặc do mạng lưới hồ và sông uốn lượn để lại giúp họ thu hoạch được nhiều vụ lúa mỗi năm. Xa hơn về phía nam, dân làng thường mang cùng một họ, với các dòng họ quyền thế kiểm soát đất đai và xây dựng các điện thờ tổ tiên, trường học, kho lúa và đền thờ cộng đồng. Ở khắp mọi nơi, sự chênh lệch lớn về của cải và quyền lực đều tồn tại, và ở khắp mọi nơi, người nghèo buộc phải đi làm thuê, luôn đối mặt với nguy cơ bị chủ lao động lạm dụng. Ở những vùng lạc hậu nhất, nông thôn chìm trong sợ hãi và bạo lực, với những chu kỳ trả thù và phản bội kéo dài qua nhiều thế hệ.

Tuy nhiên, sự phân biệt chính không phải là giữa “nông dân” và “địa chủ”, mà là giữa người địa phương và người ngoại lai. Trong trường hợp tốt nhất, người ngoại lai chủ yếu là một quan chức thu các loại thuế một cách tương đối công bằng; trong trường hợp xấu nhất, đó là một kẻ quân phiệt tham lam cướp bóc nông thôn để thu lợi. Dù tình hình cụ thể ra sao, vẫn có một điều không thay đổi: ở vùng nông thôn đông đúc, nơi đất đai đã được chuyển nhượng tự do trong hàng thế kỷ, đơn giản là không có đủ đất để tịch thu và phân phối cho tất cả mọi người mà không làm suy yếu nền kinh tế nông thôn. Không có giải pháp thần kỳ nào, nhất là cách mạng, có thể giải quyết một cách triệt để những vấn đề nông thôn vô cùng phức tạp. Nhưng có rất nhiều người nghèo không còn gì để mất, lang thang khắp nông thôn tìm việc làm, thỉnh thoảng xin ăn, đôi khi bị băng cướp chiêu mộ, thường sẵn sàng tham gia bất kỳ cuộc đấu tranh nào. Nhiều người háo hức với cơ hội lật đổ trật tự thế giới, dù chỉ trong một ngày.

Moscow, với hệ tư tưởng cứng nhắc dựa trên đấu tranh giai cấp, không nhìn nhận vấn đề theo góc độ này, nhưng đã nhận ra rằng các cuộc đình công quy mô lớn của công nhân và các công đoàn có thể “đẩy giai cấp tư sản, thương nhân và địa chủ vào vòng tay của các thế lực đế quốc”. Bộ Chính trị tại Moscow, do Stalin chi phối, đã ra lệnh cho Quốc tế Cộng sản (Comintern) dập tắt phong trào nông dân, vì “việc bùng nổ ngay lập tức một cuộc nội chiến ở nông thôn, giữa lúc đang chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc và các tay sai của nó tại Trung Quốc, có thể làm suy yếu khả năng chiến đấu của Quốc Dân Đảng”. 28

Mao là người được giao nhiệm vụ kiềm chế phong trào ở Hồ Nam. Vào ngày 20 tháng 12 năm 1926, tại một cuộc họp chào mừng ở Trường Sa, ông đã cùng đứng trên sân khấu của một nhà hát địa phương với một đại diện Soviet của Quốc tế Nông dân, phát biểu trước đám đông 300 người đầy nhiệt huyết. Mao đã có một bài phát biểu dài và tẻ nhạt, khuyên mọi người nên ôn hòa: “Thời điểm để chúng ta lật đổ các địa chủ vẫn chưa đến,” ông nói, đồng thời bổ sung rằng “chúng ta phải nhượng bộ họ một chút.” Thay vào đó, ông ủng hộ việc giảm tiền thuê đất, đồng thời tăng lương cho những người làm thuê. 29

Trong một tháng, Mao đi thị sát vùng nông thôn, thu thập tư liệu cho một báo cáo. Những gì ông phát hiện đã thay đổi quan điểm của mình. Ông nhận ra rằng những người bị khinh bỉ nhất ở nông thôn đang kiểm soát các hiệp hội nông dân trong cái mà ông gọi là “Phong trào của Bọn Vô lại”. Ông hoan nghênh cách mà “những người không có chỗ đứng trong xã hội”, bị dẫm đạp dưới bùn đất, đã tự tay nắm quyền, trói những kẻ giàu có bằng dây thừng quanh cổ, đội lên đầu họ những chiếc mũ ngốc cao ngất và diễu hành họ qua các làng mạc. Họ ùa vào nhà những ai chống đối, giết lợn và ăn hết thóc gạo của họ. “Những kẻ từng ở đáy xã hội nay lại đứng trên tất cả mọi người”; đó là một chiến dịch mang tên “lật ngược mọi thứ”. Mao thấy những khẩu hiệu của họ hấp dẫn: “Ai có đất là bạo chúa, và tất cả địa chủ đều xấu xa.” Họ giờ đây là những kẻ thống trị, chọn mục tiêu một cách ngẫu nhiên, tiêu diệt những kẻ giàu có và quyền lực, tạo ra một thời kỳ khủng bố. Một số người bị xử tử: “Cách duy nhất hiệu quả để đàn áp bọn phản động là xử tử ít nhất một hoặc hai người ở mỗi huyện, những kẻ phạm phải những tội ác tày trời nhất.” Mao say mê bạo lực đến mức ông cảm thấy “phấn khích hơn bao giờ hết”. 30

Vào phần cuối của bản báo cáo, được công bố vào tháng 2 năm 1927, Mao đã tiên đoán rằng một cơn bão sẽ phá hủy trật tự hiện tại: “Trong một thời gian rất ngắn, tại các tỉnh miền Trung, miền Nam và miền Bắc Trung Quốc, hàng trăm triệu nông dân sẽ trỗi dậy như một cơn bão dữ dội, như một cơn bão lốc, một sức mạnh nhanh chóng và dữ dội đến mức không một thế lực nào, dù mạnh mẽ đến đâu, cũng không thể ngăn cản được. Họ sẽ đập tan mọi xiềng xích trói buộc họ và lao về phía trước trên con đường giải phóng. Họ sẽ quét sạch tất cả các thế lực đế quốc, các quân phiệt, các quan chức tham nhũng, các bạo chúa địa phương và giới quý tộc độc ác vào nấm mồ của chúng.” 31

***

Các cuộc đình công ở Hankou đã gây ra sự lo ngại ngày càng gia tăng trong cộng đồng người nước ngoài. Một lần nữa, Moscow can thiệp. Vào ngày 26 tháng 1 năm 1927, các quan chức Nga giải thích rằng để tránh sự can thiệp chung của các cường quốc nước ngoài, mọi nỗ lực cách mạng phải tập trung vào một chiến dịch nhắm riêng vào lợi ích của Anh. 32

Anh, theo quan điểm của Stalin và Bukharin, là cường quốc tư bản chủ nghĩa hàng đầu, và sự sụp đổ của thị trường nước ngoài của nước này sẽ dẫn đến các cuộc bạo loạn của công nhân trên đường phố trong nước. Nhưng còn một lý do khác khiến Moscow tìm cách hướng ngọn lửa chủ nghĩa dân tộc chỉ chống lại Anh. Vào ngày 18 tháng 12 năm 1926, Anh đã đi đầu trong số các cường quốc bằng cách tuyên bố với thế giới về sự sẵn sàng “đàm phán về việc sửa đổi hiệp ước và tất cả các vấn đề còn tồn đọng khác” ngay khi một chính phủ Trung Quốc có trách nhiệm được thành lập. Trong “Bản ghi nhớ Giáng sinh” của mình, Ngoại trưởng Austen Chamberlain đề nghị đáp ứng “những khát vọng chính đáng của nhân dân Trung Quốc”, bao gồm việc bãi bỏ quyền ngoại giao, từ bỏ tất cả các nhượng địa và trao quyền tự chủ hoàn toàn về thuế quan. Sau các cuộc đình công tàn khốc nhằm vào Hồng Kông, chính phủ Anh đã nhận ra rằng nếu muốn thương mại tiếp tục, họ phải chủ động đàm phán chấm dứt chính hệ thống cảng hiệp ước mà họ đã góp phần phát triển trong phần lớn thế kỷ qua. Như Chamberlain sau này giải thích trong bài phát biểu tại Hội Trung Quốc ở London: “Ở Trung Quốc hơn bất kỳ nơi nào khác, chúng tôi là một dân tộc của những người buôn bán. Chúng tôi muốn có thể giao thương với quý vị, và chúng tôi nhận thấy rằng sự đoàn kết, sức mạnh và uy quyền của Chính phủ quý vị là những yếu tố cần thiết cho mục đích của chúng tôi cũng như của quý vị.” 33

Bản Ghi nhớ Giáng sinh là kết quả của nhiều năm đàm phán khéo léo nhưng kiên trì từ phía một nhóm các nhà ngoại giao giàu kinh nghiệm thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh, những người mong muốn xóa bỏ chế độ ngoại giao lãnh sự thông qua cải cách thay vì cách mạng. Trong Hội nghị Washington, được triệu tập vào năm 1921–1922 nhằm ngăn chặn cuộc chạy đua vũ trang nguy hiểm bằng cách áp đặt các giới hạn đối với việc mở rộng hải quân, chính sách ngoại giao thầm lặng do Alfred Sao-ke Sze và V. K. Wellington Koo theo đuổi đã dẫn đến việc Nhật Bản rút quân khỏi Sơn Đông và Anh trao trả Weihaiwei (Uy Hải). Tất cả các cường quốc, bao gồm cả Nhật Bản, cũng cam kết tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc và đàm phán để dần dần bãi bỏ hệ thống cảng hiệp ước. Trong những năm tiếp theo, Wellington Koo và những người khác tiếp tục thúc đẩy vấn đề này tại một loạt hội nghị quốc tế, bao gồm Hội nghị Sửa đổi Thuế quan năm 1926, nơi các cường quốc nước ngoài đồng ý bắt đầu thực hiện quyền tự chủ về thuế quan từ ngày 1 tháng 1 năm 1929. 34

Miles Lampson, Đại sứ Anh tại Bắc Kinh, đã đến Hán Khẩu để đàm phán với chính phủ cách mạng, nhưng vào ngày 3 tháng 1 năm 1927, một đám đông đã chiếm đóng Khu nhượng địa Anh, buộc phần lớn người nước ngoài phải sơ tán. London đã từ chối các yêu cầu can thiệp quân sự và tiếp tục đề xuất sửa đổi hiệp ước, dẫn đến thỏa thuận vào ngày 19 tháng 2 về việc bàn giao các khu nhượng địa Hán Khẩu và Cửu Giang. 35

Việc bàn giao này chỉ càng làm gia tăng phong trào chống đế quốc, dẫn đến hàng trăm người nước ngoài phải vội vã tìm đường đến Thượng Hải, nơi được các cường quốc ký kết hiệp ước bảo vệ chặt chẽ. Tại Liuyang (Lưu Dương), cách Changsha (Trường Sa) khoảng 50 km về phía đông, Hội Truyền giáo Wesleyan đã phải chịu sự quấy rối liên tục trong nhiều tháng từ một đơn vị tuyên truyền do Quân đoàn Thứ sáu của Quốc dân đảng để lại. Vào tháng 2, tất cả người nước ngoài đã bị đuổi ra khỏi khuôn viên hội truyền giáo, bị một đám đông la ó đuổi theo dưới ánh đèn lồng và đe dọa bạo lực xuống đến sông, nơi họ lên một chiếc thuyền gỗ. Tại Nanxian (Nam Huyện), một đám đông đã xông vào Hội Truyền giáo Nội địa Trung Quốc, đập vỡ cửa, cửa sổ và ghế trong nhà thờ, phá hoại khu nhà ở và cướp sạch đồ đạc. Trên khắp các vùng lãnh thổ do Quốc dân đảng chiếm đóng, các phần tử Cộng sản đã cướp bóc, đốt phá hoặc chiếm đoạt các cơ sở nước ngoài, sử dụng một số nơi trong số đó “làm chuồng ngựa, làm trụ sở cho binh lính”. Một số nhà thờ bị sơn màu đỏ. Đầu tháng 3, Quốc dân đảng chiếm đoạt một tàu hơi nước thuộc Công ty Tàu hơi nước Nhanh Dương Tử (Yangtze Rapid Steamship Company), một công ty vận tải nhỏ có khoảng một chục tàu đăng ký tại Chicago. Con tàu, chở đầy những thanh niên kích động từ Quảng Châu đã dán đầy khẩu hiệu chống đế quốc lên thân tàu, sau đó đi dọc thượng nguồn sông để kêu gọi tẩy chay Anh Quốc. Hankou vẫn trong tình trạng căng thẳng suốt thời gian đó, với người châu Âu và Mỹ ồ ạt đổ về từ nội địa để lên tàu đi Thượng Hải. Bạo lực đã khiến Tưởng Giới Thạch kinh hoàng, và vào ngày 10 tháng 2, ông đã ban hành một lệnh công khai để bảo vệ tính mạng và tài sản của người nước ngoài. Trong nhật ký của mình, ông tâm sự rằng “những tội ác do [đảng Cộng sản] gây ra còn lớn hơn cả các tội ác của kẻ thù chúng ta.” 36

Khi chiến tranh lan rộng, ngày càng nhiều thị trấn và thành phố bị người nước ngoài bỏ trống. Một bước ngoặt quan trọng là Nam Kinh, “viên ngọc quý” của sông Dương Tử, nơi Tôn Truyền Phương (Sun Chuanfang) đã tìm được nơi ẩn náu sau thất bại tại Nam Xương. Các đồng minh của Ngô Bội Phu (Wu Peifu) đã điều quân từ phía bắc đến hỗ trợ ông phòng thủ thành phố và tăng cường lực lượng cho Thượng Hải, cách đó 300 km về phía hạ lưu. Tưởng đã điều một số tướng lĩnh giỏi nhất của mình thực hiện cuộc tấn công hai mũi từ Nam Xương. Thay vì cố thủ, Sun đã bỏ lại Nam Kinh gần như không có lực lượng phòng thủ. Lo sợ sự xuất hiện của Quốc dân đảng, vào ngày 23 tháng 3, binh lính của ông bắt đầu cuộc rút lui hỗn loạn, cố gắng băng qua sông để trở về phía bắc. Mặc dù trong những ngày trước đó hầu hết người nước ngoài đã được sơ tán, vẫn còn khoảng một trăm người ở lại thành phố, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em. Những người Quốc dân đảng đầu tiên bắt đầu tiến vào thành phố vào khoảng nửa đêm. Sáng hôm sau, các nhóm lính mặc quân phục được các chính ủy dẫn đầu bắt đầu cướp bóc có hệ thống tất cả các trường học, bệnh viện và cơ sở truyền giáo của người nước ngoài. John Williams, phó hiệu trưởng Đại học Nam Kinh, bị cướp đồng hồ rồi bị bắn chết. Một phụ nữ trẻ tại cơ sở truyền giáo của Hội Thánh Trưởng lão ban đầu đã chào đón quân đội từ cửa sổ, nhưng sau đó bị bắn hai phát, dù cô may mắn sống sót. Một nhà truyền giáo khác chỉ thoát chết trong gang tấc khi khẩu súng chĩa vào đầu anh ta do một binh lính giận dữ bắn trượt. Những thành viên của Lãnh sự quán Anh cũng phải chịu số phận tương tự, nơi trưởng cảng và một nạn nhân khác bị giết ngay lập tức, cướp bóc và lột sạch quần áo. 37

“Chúng tôi là những người Bolshevik, chúng tôi tự hào là những người Bolshevik, và chúng tôi sẽ hành động như những người Bolshevik,” một người lính đã bị nghe thấy nói như vậy tại Lãnh sự quán Mỹ, nơi nhân viên bị ép phải giao nộp tiền bạc và các vật có giá trị khác. “Ngay cả cầu thang, khung cửa sổ, cửa ra vào và tóm lại là mọi thứ có thể bị tháo dỡ đều bị mang đi,” John Davis, vị lãnh sự, đã viết. 38

Khoảng mười ba tòa nhà thuộc sở hữu của người Mỹ đã bị đốt cháy. Tổng lãnh sự Nhật Bản, đang ốm nằm trên giường, bị bắn hai phát nhưng không chết. Đồng thời, các đơn vị quân đội trên khu Bund (Bến) dọc sông bắt đầu khai hỏa vào các tàu nước ngoài tập trung để sơ tán công dân của họ. “Tất cả các tàu đều bị trúng đạn vô số lần trong suốt buổi sáng,” dẫn đến việc một thủy thủ bị bắn trúng đầu và tử vong ngay lập tức. Vào buổi chiều, sau khi khoảng năm mươi công dân Mỹ tập trung được trên một ngọn đồi gần sông, các tàu chiến và tàu khu trục của Mỹ, Anh, Pháp và Ý đã mở một đợt pháo kích bảo vệ nhằm vào các vị trí của Quốc dân đảng. Lực lượng đổ bộ đã giúp những người thoát thân băng qua vùng đất thấp hướng về bờ sông, nơi các thuyền chèo đưa họ lên các tàu chiến. Theo báo cáo, khoảng ba mươi đến bốn mươi binh sĩ Quốc dân đảng đã thiệt mạng trong cuộc giao tranh. 39

Nhiều người nước ngoài vẫn bị mắc kẹt trong thành phố, mặc dù theo nhiều nguồn tin, bạo lực đã chấm dứt ngay khi các tàu chiến nước ngoài bắt đầu pháo kích vào thành phố. Tiếng kèn hiệu được thổi lên, khiến các binh lính ngừng công việc phá hoại. 40 Mặc dù chưa bao giờ có bằng chứng xác thực nào được đưa ra, nhưng nghi ngờ ngay lập tức đổ dồn vào Lin Zuhan (Lâm tổ Hàm), còn được biết đến với tên Lin Boqu (Lâm Bá Cừ), một trong những người theo đuổi sớm nhất của Tôn Trung Sơn, người đã gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 1921. Vào tháng 3 năm 1926, ông trở thành chính ủy của Quân đoàn Thứ Sáu, bố trí các thành viên Đảng Cộng sản và Đoàn Thanh niên Cộng sản ở mọi cấp độ để đảm bảo rằng binh lính của ông được tẩy não triệt để. Tưởng Giới Thạch, chẳng hạn, hầu như không nghi ngờ ai là kẻ đứng sau vụ việc. Ngay khi sự việc đang diễn ra, ông đã viết trong nhật ký rằng Vũ Hán và Quốc tế Cộng sản đã huy động toàn bộ lực lượng để lật đổ ông. Ngày hôm sau, 25 tháng 3, ông viết rằng “Đảng Cộng sản làm điều này nhằm để các thế lực nước ngoài can thiệp và phá hoại thành quả của cuộc cách mạng Quốc dân đảng.” Cùng ngày đó, ông đã đến Nam Kinh để đảm bảo an toàn cho người nước ngoài và tài sản của họ. 41

Sự kiện Nam Kinh, như người ta gọi vào thời điểm đó, đã trở thành tin tức hàng đầu trên khắp thế giới. Hu Shi (Hồ Thích) mô tả đó là “cuộc khủng hoảng lớn nhất của cuộc cách mạng”, là sự kiện mới nhất trong một loạt các “hành động chống ngoại quốc có chủ ý” nhằm khiêu khích các cường quốc nước ngoài và đẩy nhanh “cuộc chiến tranh đế quốc” mà Bukharin và Stalin trông cậy để nhấn chìm kẻ thù của họ. Hu Shi, người lúc đó đang ở Hoa Kỳ, có thể cảm nhận được dư luận, vốn trước đó còn tỏ ra thông cảm, đã “thay đổi chỉ trong một đêm và quay lưng lại với sự nghiệp cách mạng”. 42

Các cường quốc nước ngoài giờ đây lo ngại liệu công dân của họ có bị tấn công tại Thượng Hải hay không. Khác với một số cảng hiệp ước nhỏ hơn, Thượng Hải là trung tâm thương mại quốc tế với 3 triệu dân, trong đó có 50.000 người nước ngoài. Trong các khu nhượng địa nước ngoài, trải dài chín kilômét dọc bờ sông, xe điện chạy qua những đại lộ rộng lớn, hai bên là những dinh thự hiện đại đẹp mắt, ngân hàng, khách sạn, câu lạc bộ và công viên. Sau một năm tương đối yên ắng vào năm 1926, các công đoàn lao động đã hoạt động mạnh mẽ hơn, được truyền cảm hứng từ những báo cáo về lợi ích mà chính quyền mới tại Hán Khẩu mang lại cho công nhân. Họ nhằm mục đích lật đổ Tôn Truyền Phương, người kiểm soát thành phố Trung Quốc nằm ngoài Khu định cư Quốc tế, và chuẩn bị cho sự xuất hiện của Quân đội Quốc dân đảng. Với sự giúp đỡ của các điệp viên Soviet, Tổng Liên đoàn Lao động do Đảng Cộng sản lãnh đạo đã trang bị vũ khí cho một đơn vị lao động gồm vài trăm người. Họ cũng huấn luyện thêm 5.000 người tham gia tuần tra. Họ khởi xướng một chiến dịch đe dọa, dẫn đến việc hơn mười kẻ phá rối đình công và những người khác bị bắn chết với cáo buộc là “chó săn của tư bản”. Như một báo cáo của Comintern đã nêu, “khủng bố đỏ” đã tạo ra “hiệu ứng răn đe” đối với những người chống đối công nhân. Toàn bộ quá trình này được Moscow tài trợ và giám sát, cung cấp 250 khẩu súng lục và 200 quả lựu đạn. Mục tiêu, như được giải thích trong một cuộc họp có sự tham dự của một số điệp viên Liên Xô, là tạo ra một cuộc nổi dậy vũ trang. “Chúng tôi cũng nỗ lực tạo ra một vụ việc giữa các lực lượng [địa phương] và lực lượng nước ngoài,” chủ yếu bằng cách khuyến khích binh lính địa phương xông vào Khu định cư Quốc tế “với vũ khí trên tay”. 43

Hai ngày trước khi quân Quốc dân đảng đến, Wang Shouhua (Uông Thọ Hoa-汪寿華), lãnh đạo Cộng sản của Tổng Liên đoàn Lao động, đã phát động một cuộc nổi dậy. Những tay súng mặc thường phục và các nhà hoạt động chính trị, dẫn đầu một nhóm hỗn tạp gồm công nhân nhà máy dệt, công nhân nhà máy, sinh viên và tài xế xe điện, đã tấn công các đồn cảnh sát và chiếm đoạt vũ khí của họ. Một cảnh sát viên bị bắn xuyên đầu và bị đám đông giận dữ bỏ lại trần truồng trên đường. Một cuộc tổng đình công đã làm tê liệt thành phố, nay do các công đoàn kiểm soát, dẫn đến một làn sóng cướp bóc và đốt phá, với “nhiều khu nhà bị thiêu rụi”. Hàng nghìn người, “một dòng người khốn khổ gồm các gia đình nghèo khổ”, đã tìm cách lánh nạn vào các khu nhượng địa do nước ngoài bảo hộ. 44

Bai Chongxi (Bạch Sùng Hy-白崇禧), Tham mưu trưởng Chiến dịch Bắc tiến, một tướng Hồi giáo đến từ Quảng Tây với phong cách kỷ luật nghiêm ngặt, nổi tiếng với khả năng làm suy yếu các lực lượng địch hùng mạnh hơn nhờ những đòn tấn công nhanh chóng và dứt khoát, đã đến nơi vào ngày 22 tháng 3 năm 1927. Các đơn vị quân đội dưới quyền Sun Chuanfang hoảng loạn, một số cố tìm chỗ ẩn náu bên trong Khu định cư, nơi họ bị vây bắt và giam giữ. Bai ra lệnh cho quân lính chấm dứt cuộc đình công, dẫn đến những trận chiến ác liệt giữa binh lính của ông và những công nhân mà họ cố gắng tước vũ khí. Đến thời điểm này, cuộc tổng đình công đã cướp đi hơn 300 sinh mạng, với hơn 1.500 cửa hàng và nhà ở bị thiêu rụi thành đống tro tàn. “Người đàn ông, phụ nữ và trẻ em, khóc lóc và rên rỉ, được nhìn thấy giữa đống đổ nát, cố gắng lục lọi để tìm lại vài món đồ cá nhân,” một nhà báo tường thuật. 45

Một “Lực lượng Giám sát Công nhân” gồm 3.000 thành viên, một số được trang bị súng trường và súng Mauser, đã nhanh chóng được thành lập để đảm nhận việc duy trì trật tự công cộng. Đồng thời, một “chính phủ lâm thời” do các công đoàn kiểm soát cũng được tổ chức, với sự chi phối mạnh mẽ của các đảng viên Đảng Cộng sản. Bỏ qua lệnh giải tán của Tưởng Giới Thạch, họ tuyên bố thành lập “Cộng hòa Thượng Hải” để kiểm soát thành phố. Bai Chongxi bị kiềm chế, vì Tưởng Giới Thạch giờ đây lo ngại rằng các lực lượng ngoài tầm kiểm soát của ông sẽ tàn sát những người đình công, tạo cớ cho Hankou buộc tội ông gây ra thảm sát và làm mất uy tín của ông thêm nữa. Điều này có nghĩa là lần đầu tiên trong lịch sử, Thượng Hải nằm dưới sự cai trị gián tiếp của Đảng Cộng sản. 46

Trong vài tháng, Tưởng Giới Thạch đã chứng kiến đối thủ của mình là Borodin củng cố thế lực của Đảng Cộng sản. Vào tháng 12 năm 1926 Borodin đã kêu gọi tổ chức một “Hội nghị Liên hiệp” để thực thi “quyền lực tối cao” đối với Quốc Dân Đảng, đồng thời lấp đầy hội nghị này bằng các thành viên Đảng Cộng sản. Vào tháng 1 năm 1927, sau khi chính thức tuyên bố Hankou là thủ đô của Trung Hoa Quốc Dân, ông bắt đầu dỡ bỏ mọi hạn chế mà Ủy ban Thường vụ Trung ương đã áp đặt lên các thành viên Đảng Cộng sản vào tháng 5 năm trước. Bộ Chính trị tại Moscow ủng hộ mọi động thái của ông, mặc dù họ khuyên Borodin không nên phá vỡ Mặt trận Thống nhất. Tưởng Giới Thạch, cuối cùng, bị tước bỏ mọi tước hiệu ngoại trừ chức Tổng Thống Lĩnh, hay Tổng Thống Lĩnh Tối cao. 47

Vào ngày 26 tháng 3, Tưởng Giới Thạch trở lại Thượng Hải, nơi các cường quốc nước ngoài, lo ngại trước những bạo lực cách mạng gia tăng, đang tăng cường lực lượng hải quân, đổ bộ thêm quân và tổ chức một lực lượng phòng vệ tình nguyện. Sau Sự kiện Nam Kinh, làn sóng di tản từ nội địa trở thành một dòng người ồ ạt, với người châu Âu và Mỹ đổ xô vào một pháo đài chật cứng. Họ không phải là những người duy nhất tìm nơi ẩn náu ngoài tầm với của Hán Khẩu. Dọc theo sông Dương Tử, các tàu hơi nước chật cứng thương nhân và gia đình họ, những người buộc phải rời bỏ nhà cửa.

Vào cuối tháng 3, các cuộc đối đầu công khai bắt đầu nổ ra giữa các phe phái khác nhau trong Quốc Dân Đảng, cụ thể là những thành viên ủng hộ Đảng Cộng sản và những người phản đối họ. Ngày 30 tháng 3 tại Hàng Châu, 50.000 công nhân tự xưng là “Công nhân Hàng Châu” đã tiến về trụ sở của Tổng Liên đoàn Lao động do Đảng Cộng sản hậu thuẫn. Hai bên đụng độ, dẫn đến nhiều thương vong. Tại Trùng Khánh, một thành phố rộng lớn ở tỉnh Tứ Xuyên, được bao quanh bởi núi non và chằng chịt sông ngòi, các nhóm lao động do những kẻ kích động dẫn đầu đã đụng độ với thành viên của một tổ chức bảo thủ hơn được lính Quốc Dân Đảng hậu thuẫn. Theo báo cáo, hơn một trăm người đã thiệt mạng. 48

Uông Tinh Vệ, với hy vọng hàn gắn những mâu thuẫn trong Quốc Dân Đảng, đã bước vào lấp đầy khoảng trống. Trong thời gian lưu vong ở nước ngoài, Uông đã gặp Stalin tại Moscow, người đã đề nghị gửi ông trở lại Trung Quốc để đóng vai trò là một thế lực đối trọng được dân chúng ủng hộ trước Tưởng Giới Thạch. Stalin lo ngại rằng nhờ Chiến dịch Bắc tiến, Tưởng Giới Thạch đang trở thành một anh hùng dân tộc. Luôn mong muốn xây dựng cầu nối và thu hút đồng minh, chính Tổng Thống Lĩnh Tưởng Giới Thạch đã chôn vùi hận thù và viết thư cho Uông, đề nghị ông từ giã hưu trí và đảm nhận việc điều hành các công việc của Đảng. 49

Uông đến Thượng Hải vào ngày 1 tháng 4. Cùng ngày đó, Borodin cách chức Tưởng Giới Thạch khỏi cương vị Tổng Thống Lĩnh. 50 Vào ngày 2 tháng 4, Ủy ban Giám sát Trung ương của Quốc Dân Đảng tập trung dưới sự chủ trì của Wu Zhihui (Ngô Trí Huy-吳稚暉), một nhà cách mạng kỳ cựu và là đối thủ kiên quyết của Đảng Cộng sản, được biết đến là một trong “Tứ lão”. Wu lập luận rằng những người Cộng sản, những kẻ đang âm mưu chống lại Quốc Dân Đảng, phải chịu trách nhiệm về việc kích động tình trạng hỗn loạn đang hoành hành ở thung lũng sông Dương Tử. “Sự chia rẽ với Đảng Cộng sản là không thể tránh khỏi,” Tưởng Giới Thạch viết trong nhật ký của mình. Tuy nhiên, ông vẫn cố gắng cứu vãn tình hình, công khai ca ngợi Uông là “một trong những đồng chí trung thành nhất trong Đảng”. Sau cuộc gặp với ông vào ngày 3 tháng 4, Tưởng Giới Thạch đã gửi một điện tín thông báo chào mừng ông với tư cách Chủ tịch Đảng và yêu cầu tất cả các chi bộ Đảng thống nhất dưới sự chỉ huy của Uông. 51 Nhưng hai ngày sau, Uông Tinh Vệ và Trần Độc Tú đã đăng một tuyên bố chung trên báo chí. Tuyên bố rằng không có sự khác biệt về quan điểm giữa Đảng Cộng sản và Quốc Dân Đảng, họ kêu gọi một “chế độ độc tài dân chủ của tất cả các tầng lớp bị áp bức chống lại phản cách mạng”. Tuyên bố này đã gây ra một tác động phi thường. Tưởng Giới Thạch và các thành viên khác của Quốc Dân Đảng coi đó là một tuyên bố chiến tranh. Trong một cuộc họp đầy căng thẳng, Ngô Trí Huy đã mắng mỏ Uông Tinh Vệ ngay trước mặt, cáo buộc ông ta đã “đứng về phía bọn phản loạn”. Uông Tinh Vệ đã bỏ trốn vào ngày hôm sau, lên một con tàu đi ngược dòng sông đến Hán Khẩu. 52

Chính phủ trung ương tại Bắc Kinh đã theo dõi sát sao sự rạn nứt ngày càng sâu sắc giữa Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng sản. Một tháng trước đó, tàu hơi nước Nga Pamiat Lenina đã cập cảng Nam Kinh, trên đường đến Hán Khẩu với một nhóm người Nga bao gồm bà Borodin. Các binh lính đã lên tàu và phát hiện ra những chiếc rương chứa đầy tài liệu tuyên truyền và chỉ thị bí mật từ Moscow được giấu trong các khoang chứa hàng. Những người Nga này bị đưa gấp về Bắc Kinh, nơi Trương Tác Lâm (Zhang Zuolin) – kẻ thù quyết liệt của Moscow – đe dọa sẽ xử tử họ. Trương Tác Lâm đã sử dụng hồ sơ thu giữ được từ những người Nga này để tuyên bố vào ngày 3 tháng 4 rằng Borodin là một điệp viên Soviet, được Moscow trả tiền để giúp Quốc Dân Đảng phát động chiến tranh chống lại Bắc Kinh: “Thế giới nên biết rằng tất cả các sĩ quan của quân đội Quảng Đông đều được huấn luyện bởi những người Nga do Tưởng Giới Thạch thuê tại Học viện Hoàng Phố ở Quảng Đông.” “Tôi còn có những người Bolshevik ở gần hơn nữa,” ông tiếp tục. “Họ cùng kiểm soát Đường sắt Đông Trung Quốc. Đây chính là điều tôi muốn nói khi khẳng định rằng Nga đã ở ngay trong nhà tôi rồi.” 53

Với mong muốn tìm ra thêm bằng chứng về sự can thiệp của Liên Xô vào các vấn đề nội bộ của đất nước, Wellington Koo đã yêu cầu cộng đồng ngoại giao cho phép chính phủ của ông khám xét Đại sứ quán Liên Xô tại khu ngoại giao Bắc Kinh. Vào rạng sáng ngày 6 tháng 4, hai đội nhỏ gồm lính vũ trang và cảnh sát, đi kèm với các thám tử cầm súng lục đã rút ra, đã đột kích vào khuôn viên Đại sứ quán. Một giờ sau, họ trở ra với hàng tấn tài liệu buộc tội, một số đã bị hư hỏng một phần sau khi những người Nga bị khóa bên trong Đại sứ quán cố gắng đốt cháy toàn bộ bằng chứng. Các binh lính đã trèo lên mái nhà và đổ những xô nước xuống ống khói. Trong đống giấy tờ ướt sũng này là bằng chứng thêm cho thấy Moscow đã cố gắng lật đổ chính chính phủ mà họ đã công nhận trong Hiệp ước Trung-Xô năm 1924, một thỏa thuận bao gồm cam kết chính thức không “tuyên truyền các học thuyết cộng sản” tại Trung Quốc. Cũng bị lôi ra khỏi khuôn viên là khoảng sáu mươi đảng viên Cộng sản Trung Quốc, bao gồm Li Dazhao (Lí Đại Chiêu), người đã ẩn náu bên trong sau khi lệnh bắt giữ được ban hành chống lại ông.

Các sự kiện này trở thành tin tức trang nhất trên toàn thế giới. Một phần tài liệu bị thu giữ đã được chuyển giao cho các cường quốc nước ngoài, bao gồm cả Anh Quốc. Bằng chứng cho thấy Moscow đã gửi cả những chuyến tàu chở đầy vũ khí và đạn dược đến miền nam Trung Quốc để hỗ trợ cuộc cách mạng Cộng sản, cùng với các cố vấn chính trị, kinh tế và quân sự. Trong số các tài liệu có các chỉ thị từ Moscow về việc do thám và phá hoại, cũng như sổ sách ghi chép tất cả các khoản thanh toán nhằm thúc đẩy cách mạng. 54

Mức độ can thiệp đáng kinh ngạc của Moscow vào các hoạt động cách mạng tại Trung Quốc, bao gồm những tiết lộ về quy mô nỗ lực của Nga nhằm kích động bạo lực và chiếm đoạt các khu nhượng địa của Anh dọc sông Dương Tử, được phơi bày một năm sau Cuộc Tổng bãi công tại Anh, đã khiến Nội các Anh tại London ra lệnh tiến hành một cuộc khám xét tương tự tại các cơ sở của Liên Xô. Nghi ngờ rằng phái đoàn thương mại được sử dụng làm vỏ bọc cho các nỗ lực của Liên Xô nhằm lan truyền tư tưởng cộng sản, kích động bất ổn xã hội và làm suy yếu chính phủ, vào ngày 12 tháng 5 năm 1927, Cảnh sát Thủ đô đã đột kích văn phòng của Hiệp hội Hợp tác Toàn Nga (viết tắt là Arcos) tại Golders Green. Các tài liệu mà họ thu giữ đủ nhạy cảm để khiến Phố Downing phải cắt đứt quan hệ ngoại giao với Moscow. Vài năm trước đó, Hiệp ước Anh-Liên Xô đã quy định cụ thể rằng Liên Xô sẽ không lợi dụng sự hiện diện quốc tế của mình để lật đổ các doanh nghiệp tư nhân và chính phủ nước ngoài. Vụ Arcos, như người ta thường gọi, là một thời khắc quan trọng trong lịch sử hiện đại của Anh. 55

Cuộc đột kích vào Đại sứ quán Liên Xô tại Bắc Kinh đã gây ra những hậu quả sâu rộng không kém. Tưởng Giới Thạch đã được thông báo về bản chất của các tài liệu này, bao gồm cả các kế hoạch nhằm loại bỏ ông. Một ngày sau cuộc đột kích, ông bắt đầu lên kế hoạch cho một đòn tấn công phủ đầu. Vào ngày 7 tháng 4, ông ra lệnh cho quân đội của mình bảo vệ tất cả người nước ngoài và tài sản của họ. Vào ngày 8 tháng 4, ông ra lệnh đóng cửa Phòng Chính trị, cáo buộc các chính ủy của bộ này là những “đặc vụ bí mật của kẻ thù” đã xúi giục bạo lực và hỗn loạn trên diện rộng. Cùng ngày, Quốc Dân Đảng đảng đã công bố một tuyên bố trên báo chí yêu cầu ngừng ngay lập tức mọi hoạt động của Đảng Cộng sản. Các tổ chức vũ trang như công đoàn và các đội tuần tra được tuyên bố là bất hợp pháp nếu họ từ chối tuân theo các mệnh lệnh do bộ chỉ huy quân đội ban hành. 56

Tại Cộng hòa Thượng Hải, Tổng Liên đoàn Lao động tiếp tục áp đặt ý chí của mình, sử dụng các đội tuần tra vũ trang và những tay súng mặc đồ đen để đe dọa hoặc quấy rối những người được coi là đối thủ, bao gồm cả những người kéo xe xích lô không đeo huy hiệu thành viên công đoàn đúng quy định. Được khích lệ bởi tuyên bố chung ngày 5 tháng 4 của Uông Tinh Vệ và Trần Độc Tú, Đảng Cộng sản lần đầu tiên công khai hoạt động và “lan rộng như ngọn lửa”. Các cuộc đụng độ bạo lực giữa binh lính và các đội tuần tra lao động – lực lượng lúc này đã tương đương với hai trung đoàn – lại bùng phát vào ngày 7 tháng 4. 57

Ngày 12 tháng 4, Tưởng Giới Thạch ra lệnh cho Bạch Sùng Hy (Bai Chongxi) và Châu Phượng Kỳ (Zhou Fengqi-周鳳岐) giải giáp các đội tuần tra. Vào rạng sáng, dưới tiếng kèn ngắn và một tiếng còi duy nhất vang lên từ tàu chiến đang neo đậu trong cảng, các binh lính Quốc dân đảng đeo băng tay trắng đã tiến hành nửa tá cuộc đột kích đồng loạt vào các tòa nhà do công nhân vũ trang chiếm giữ. Trong số đó có trụ sở của Tổng Liên đoàn Lao động và Trạm Cảnh sát Quận 3 Pudong, nơi các tay súng đã chiếm giữ trong ba tuần. Tiếng súng trường và súng máy vang dội khắp thành phố trong vài giờ. Khoảng 500 công nhân bên trong Hiệp hội Fuzhou (Phúc Châu), nơi tích trữ một lượng lớn vũ khí, đã chống trả quyết liệt. Tuy nhiên, sự kháng cự mạnh mẽ nhất đến từ Câu lạc bộ Báo chí Thương mại, nơi 300 đến 400 người biểu tình có vũ trang đã ẩn náu và bắn trả, từ chối rời khỏi vị trí. Sau vài giờ bao vây, các khẩu pháo hạng nặng được đưa đến và nhắm vào tòa nhà; lúc này, những người phòng thủ – gồm thủy thủ thất nghiệp, cựu nhân viên báo chí và công nhân đang đình công – nhận ra rằng cuộc đấu tranh của họ đã thất bại và đồng ý đầu hàng. Khi cuộc giao tranh lắng xuống, hàng trăm người đã bị tước vũ khí và bắt giữ, với vài chục người thiệt mạng, phần lớn trong số đó là những người biểu tình. Hai mươi khẩu súng máy, 300 khẩu súng trường, 200 khẩu súng lục Mauser, 1 triệu viên đạn, 7 xe chở rìu và 2.000 cây giáo cán dài đã được thu giữ từ khu vực này. 58

Cuộc đột kích diễn ra đúng lúc. Trong nhiều tuần liền, các cường quốc nước ngoài đã liên tục điều động lực lượng tăng viện vào Khu Quốc tế và Khu Nhượng địa Pháp, bao gồm 40.000 lính thủy đánh bộ và binh sĩ từ Anh, Mỹ, Ý và Nhật Bản, cũng như các đơn vị lính Annam thuộc Pháp từ Đông Dương. Riêng Anh đã có hơn một chục tàu tuần dương và tàu khu trục trong khu vực, luôn triển khai ít nhất bốn tàu trên sông Hoàng Phố chạy dọc theo Khu định cư. Một vành đai với các chốt kiểm soát phòng thủ, dài khoảng ba mươi kilômét và được gọi là Cordon, đã bao quanh các khu vực ngoại quốc. Tại London, một loạt các phương án chiến lược đang được xem xét sau sự kiện Nam Kinh, bao gồm việc phong tỏa tất cả các điểm vượt sông Dương Tử để ngăn chặn Chiến dịch Bắc tiến. Ngày 12 tháng 4, Nội các Anh đặt các lực lượng tại Thượng Hải vào trạng thái sẵn sàng. Tuy nhiên, khi tin tức về việc Tưởng can thiệp chống lại các người biểu tình đến London, Chamberlain đã lùi bước khỏi bờ vực, ủng hộ mạnh mẽ những thành viên Nội các phản đối bất kỳ hành động quân sự hay hải quân nào tiến lên thượng nguồn. 59

Tổng Liên đoàn Lao động bị tước vũ khí nhưng không bị khuất phục, đã tổ chức một cuộc mít tinh quy mô lớn vào chiều ngày 12 tháng 4 để lên án việc bắt giữ các đội tuần tra. Một đám đông khổng lồ tham dự, với nhiều bài phát biểu kích động nhưng không có sự cố nào khác xảy ra. Vào cuối ngày đó, liên đoàn đã ra lệnh tổ chức một cuộc tổng đình công khác vào ngày 13 tháng 4. Bai Chongxi, người đang kiểm soát thành phố, đã đáp trả bằng việc ban bố thiết quân luật. 60

Vào ngày 13 tháng 4, hơn 100.000 người đã ngừng làm việc để phản đối việc tước vũ khí của các thành viên tuần tra công đoàn. Bất chấp cơn mưa lớn, vào trưa cùng ngày, một cuộc mít tinh quy mô lớn đã diễn ra tại Zhabei, nơi diễn ra hầu hết các cuộc đột kích vào ngày hôm trước. Khi đoàn diễu hành tiến gần đến trụ sở của Tướng Zhou Fengqi, binh lính phát hiện những người biểu tình cầm gậy sắt, hô vang “Đả đảo Tưởng Giới Thạch”, “Đả đảo quân đội phản động”, “Trả vũ khí lại cho công nhân”. Đây là hành vi vi phạm lệnh thiết quân luật, và họ đã bắn những phát súng cảnh cáo lên trời. Đám đông tan rã trong hoảng loạn. Một số con hẻm đã bị chặn lại để ngăn người biểu tình xâm nhập vào Khu Quốc tế. Sau đó, một loạt đạn được bắn vào đám đông, tuy nhiên tình hình lúc đó quá hỗn loạn đến mức một nhà báo sau đó đã báo cáo rằng “vẫn chưa xác định được liệu có thương vong hay không”. Một phóng viên khác nhìn thấy thi thể và những người biểu tình bị thương nằm trên mặt đất, máu nhuộm đỏ những viên đá lát đường. Báo Shenbao, tờ báo hàng đầu của Thượng Hải, ước tính có hàng chục người bị thương, với tổng cộng mười người thiệt mạng trong ngày hôm đó. 61

Sau một cuộc điều tra sâu rộng về các sự kiện ngày 12 và 13 tháng 4, tờ China Times vào ngày 18 tháng 4 đã công bố danh sách tên của 103 nạn nhân, trong đó có 42 người tử vong, bao gồm một số người đi đường và 12 binh sĩ đã thiệt mạng trong các cuộc đột kích. Các con số này trùng khớp với các ước tính khác do các tờ báo địa phương, cả Trung Quốc và nước ngoài, cung cấp, mặc dù chắc chắn có hàng chục nạn nhân khác đã bị bỏ sót. 62

Vào ngày 14 tháng 4, Yang Hu (Dương Hổ-杨虎) và Chen Qun (Trần Quần, 陳群), hai tướng được Tưởng Giới Thạch giao nhiệm vụ đảm bảo trật tự tại Thượng Hải, đã bắt giữ hơn một nghìn nghi phạm, ngay cả khi Bạch Sùng Hy giải tán Cộng hòa Thượng Hải. Tuy nhiên, vào thời điểm này, ngay cả Yang và Chen cũng không chắc chắn phải xử lý các tù nhân của họ như thế nào. Trong một bức điện gửi cho Tưởng Giới Thạch, họ thắc mắc: “Liệu Đảng Cộng sản có còn được dung thứ vào lúc này không? Chúng ta nên xử lý những kẻ gây rối như thế nào?” Những sự kiện tại Thượng Hải không phải, như truyền thuyết dân gian sẽ khẳng định trong nhiều thập kỷ sau đó, là một cuộc thảm sát hàng nghìn nhà cách mạng, mà là một cuộc đảo chính chống lại Đảng Cộng sản. 63

Trong những tháng tiếp theo, các nghi phạm bị thẩm vấn, với hàng chục người bị kết án tử hình. Một trong số họ, Wang Shouhua (Uông Thọ Hoa), lãnh đạo Đảng Cộng sản của Tổng Liên đoàn Lao động, đã bị bắt, thẩm vấn và hành quyết bởi quân đội vào ngày 12 tháng 4. Tuy nhiên, cho đến ngày nay, bất chấp mọi bằng chứng trái ngược, các nhà sử học thuộc mọi trường phái vẫn ưa chuộng một câu chuyện rùng rợn hơn, trong đó nạn nhân được mời đến dùng bữa tại nhà của một tên trùm xã hội đen khét tiếng ở Khu Nhượng địa Pháp, người đã cho trói Wang vào một bao tải vải thô, nhét vào xe ô tô, đánh đập và chôn sống trong rừng. Sự tưởng tượng thường lấn át sự thật. 64

Tại một số thành phố khác, quân đội cũng tiến hành các cuộc đột kích nhằm vào các chốt biểu tình có vũ trang. “Cách thức hành động là bao vây tất cả các điểm nghi ngờ, khai hỏa dồn dập bằng súng máy và súng trường, rồi chờ xem diễn biến tiếp theo,” một nhà báo ghi nhận. 65 Trong hầu hết các trường hợp, sự kháng cự rất ít. Tại Hàng Châu, Nam Kinh và Hạ Môn, những binh lính chiếm đóng trụ sở các công đoàn lao động hầu như không gặp phải sự kháng cự nào. 66

Tại Quảng Châu, các nhà lãnh đạo Quốc dân đảng kiểm soát thành phố đã hành động vội vàng, cấm mọi hoạt động của Đảng Cộng sản ngay từ ngày 9 tháng 4. Vào ngày 15 tháng 4, Li Chai-sum (được viết là Li Jishen-李济深-Lí Tế Thâm* nhiều thập kỷ sau đó), chỉ huy quân sự địa phương, đã điều quân đến giải giáp các chốt canh gác, bắt giữ những người bị nghi là cộng sản và chiếm đóng một số tòa nhà chiến lược, bao gồm cả các công đoàn. Toàn bộ chiến dịch này đã gây ra 50 người chết, 200 người bị thương và 1.200 người bị bắt giữ. Tổng lãnh sự Anh viết rằng “người dân không tỏ ra thông cảm với các tù nhân Cộng sản.” Ông có thể đã thiên vị, nhưng chính những người Cộng sản cũng đồng ý, nhận xét rằng “giai cấp công nhân” hầu như không quan tâm. Số người tham gia cuộc đình công phản đối một tuần sau đó thưa thớt đến mức chính phủ hầu như không can thiệp. 67

Ngày 18 tháng 4, Tưởng Giới Thạch chính thức tuyên bố Nam Kinh là thủ đô của Trung Quốc. Quốc Dân Đảng lúc này đã bị chia rẽ, với hai chính phủ đối lập: một bên quyết tâm loại trừ toàn bộ các thành viên Cộng sản, bên kia cam kết với Mặt trận Thống nhất. Ngày 28 tháng 4 tại Bắc Kinh – vẫn là thủ đô được quốc tế công nhận của đất nước – Trương Tác Lâm ra lệnh xử tử bằng cách siết cổ Lí Đại Chiêu cùng hai chục thành viên Cộng sản khác, những người đã bị bắt giữ tại Đại sứ quán Nga, mà không qua bất kỳ hình thức xét xử hay điều tra nào. Đó là một màn phô trương quyền lực tàn nhẫn, càng trở nên kinh hoàng hơn khi các vụ hành quyết bị kéo dài một cách cố ý, mỗi cái chết kéo dài khoảng mười phút. 68

Trong vài tuần, Vũ Hán được ca ngợi là “Moscow của phương Đông”, khi những người đồng chí hướng từ khắp bốn phương tấp nập đổ về để chứng kiến sự khởi đầu của giai đoạn tiếp theo trong cuộc cách mạng thế giới. Họ đã nhuộm đỏ cả thành phố bằng những cuộc diễu hành, khẩu hiệu, áp phích và các cuộc mít tinh. Quốc tế Cộng sản đã cử Earl Browder của Đảng Cộng sản Mỹ, Tom Mann của Đảng Cộng sản Anh và Jacques Doriot của Đảng Cộng sản Pháp – những trụ cột của phong trào – đến để thể hiện sự ủng hộ. 69 Nhưng ẩn sau bề ngoài rực rỡ màu đỏ, quyền lực bắt đầu dịch chuyển khỏi tay những người Cộng sản. Thành phố trở thành một đống đổ nát: bị cắt đứt khỏi phần còn lại của đất nước, mất đi các hoạt động thương mại quốc tế và tê liệt vì các cuộc đình công, nó gần như không thể tự duy trì. Sau khi Tưởng Giới Thạch đàn áp các chốt chặn, dòng tiền bắt đầu chảy về Thượng Hải – nơi được coi là điểm đến an toàn hơn – khiến Vũ Hán phải áp đặt lệnh phong tỏa đối với các giao dịch tiền tệ.

Vũ Hán lảo đảo tồn tại thêm vài tháng, ngày càng bị cô lập khi các chỉ huy khu vực khắp miền Nam lần lượt chuyển sang ủng hộ Tướng Tưởng Giới Thạch. Tại Trường Sa, một thành phố trực thuộc Vũ Hán, các chốt biểu tình cũng bị giải giáp, các công đoàn bị quân đội lật đổ. 70 Lúc này, mọi hy vọng đều đặt vào Phùng Ngọc Tường (Feng Yuxiang), vị tướng theo đạo Thiên Chúa đã tìm đến Moscow để tìm kiếm vũ khí và đạn dược. Vào tháng 6, Feng đã sử dụng đội quân mới được trang bị của mình để tiến quân qua miền Bắc từ bộ chỉ huy ở Kalgan, tiến vào Hà Nam và chiếm thủ phủ của tỉnh này – Trịnh Châu (Trịnh Châu), một nút giao thông đường sắt có vị trí chiến lược quan trọng. Các công đoàn đã ăn mừng sự xuất hiện của ông. “Từ quân đội cho đến chiếc áo trên người”, một nhà quan sát chỉ ra, Feng nợ người Nga tất cả mọi thứ. Bằng việc kiểm soát thành phố này – nơi tất cả các chuyến tàu từ phía nam đều phải đi qua trên đường tiến về phía bắc – ông có thể tấn công vào Vũ Hán hoặc Bắc Kinh. Feng trở thành chìa khóa quyết định cán cân quyền lực. Vũ Hán hy vọng ông sẽ bảo vệ họ trước Tưởng Giới Thạch, người đã vượt sông Dương Tử vài ngày trước đó và đang háo hức tiến quân về Bắc Kinh dọc theo bờ biển. Nhưng Tưởng Giới Thạch đã gặp Feng, tiến hành hội đàm kín với ông. Có thể đã có tiền trao tay, dù tin đồn này không thể xác minh. Kết quả là một bức điện tín trong đó Feng khuyên Borodin trở về Moscow, một đòn chí mạng đối với phe Cộng sản tại Vũ Hán. Trong một cuộc họp báo, Feng xuất hiện với huy hiệu Quốc Dân Đảng trên tay áo, giải thích rằng ông đang gia nhập Tổng Thống Lĩnh trong Chiến dịch Bắc tiến. 71

Cùng ngày đó, các đội tuần tra vũ trang tại Vũ Hán đã buông vũ khí và bỏ trốn khỏi trụ sở Tổng Liên đoàn Lao động, nơi vẫn đang bị quân đội chiếm giữ. Ngay cả các Đội Thiếu niên Tiền phong — tổ chức tương đương với Hướng đạo sinh của Đảng Cộng sản — cũng bị ra lệnh phải nộp lại gậy về trụ sở. Eugene Chen, một người đàn ông gầy gò và hay lo lắng, vẫn tỏ ra thách thức, tuyên bố rằng: “Chúng ta sẽ chiếm được Nam Kinh trong vòng năm mươi ngày.” Hai tuần sau, Borodin bỏ trốn trong nhục nhã, kéo theo sự suy giảm nhanh chóng của ảnh hưởng Soviet. Ngày 15 tháng 7, phe Quốc dân đảng tại Vũ Hán cắt đứt quan hệ với phe Cộng sản. Uông Tinh Vệ công nhận Tưởng Giới Thạch. Ngày hôm sau, một trong những tướng lĩnh của thành phố đã tiến hành một cuộc đảo chính không đổ máu. Bà Tôn Trung Sơn và những người khác lặng lẽ tuyên bố rút lui khỏi chính trường, rồi lên đường sang Moscow. 72

***

Tại Moscow, Stalin và phe Đối lập Cánh tả bắt đầu đổ lỗi cho nhau về thất bại của Mặt trận Thống nhất. Trotsky và các đồng minh tạm thời của ông đã không tin tưởng Quốc Dân Đảng từ tháng 4 năm 1926, và đã phản đối Chiến dịch Bắc tiến, thay vào đó chủ trương thực hiện một chương trình thuần túy Cộng sản do chính các đảng viên Cộng sản thực hiện. Đó là một kế hoạch khó khả thi, xa rời thực tế trên thực địa, nhưng lại dễ dàng bị lu mờ bởi những ảo tưởng còn phi lý hơn nữa do Karl Radek, cựu hiệu trưởng Đại học Sun Yat-sen, đưa ra. Radek lập luận rằng hàng triệu công nhân vũ trang lẽ ra phải chiếm đóng Khu định cư Quốc tế để tiêu diệt một nguồn “phản động” chính mà Tưởng Giới Thạch được cho là đã dựa vào. Tại Hankou, ông phàn nàn rằng công nhân lẽ ra phải được trang bị vũ khí từ kho vũ khí Hanyang để chống lại hai thế lực là chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản. Một Đội Vệ binh Đỏ thực sự lẽ ra phải được thành lập, các Soviet ở thành thị và nông thôn được tổ chức, và phe Quốc dân đảng bị Đảng Cộng sản quét sạch. Stalin phản bác rằng nếu không có Chiến dịch Bắc tiến, “tinh thần cách mạng” dọc thung lũng sông Dương Tử sẽ vẫn nằm im. Ông cũng đánh giá quá cao tiềm năng của chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc, nhưng ông có lý. Đảng Cộng sản đã tận dụng thành công Chiến dịch Bắc tiến để thành lập các công đoàn và hiệp hội nông dân ở nhiều khu vực phía Nam, lan tỏa tuyên truyền rộng khắp. Số lượng đảng viên, nhờ Mặt trận Thống nhất và sự ủng hộ hào phóng từ Moscow, đã tăng từ vài trăm lên 12.000 vào thời điểm Chiến dịch Bắc tiến bắt đầu (phía Quốc dân đảng tự hào có 350.000 đảng viên). 73 Tuy nhiên, dù Stalin thực dụng hơn Trotsky, ông cũng thấm nhuần chủ nghĩa Marx, tin rằng các lực lượng cách mạng chỉ cần được thức tỉnh là có thể lật đổ trật tự cũ. Thực tế là các công đoàn và hiệp hội nông dân đã được thành lập dưới sự cưỡng ép bằng vũ lực, và bị giải tán ngay khi quân đội tiến vào hoặc chuyển sang phe đối lập. 74

Stalin thay đổi chiến lược, ra lệnh cho Đảng Cộng sản rút khỏi Quân đội Quốc dân, thành lập một Hồng quân độc lập và thiết lập căn cứ ở miền nam. Ông cử một người đồng hương Gruzia, Besso Lominadze, đến hỗ trợ chỉ đạo hoạt động này. Lominadze, một người đàn ông cao lớn mới ngoài ba mươi tuổi, đến vào ngày 27 tháng 7 năm 1927, chính thức thay thế Borodin trong các chức vụ của ông. Tại một cuộc họp khẩn cấp hai tuần sau đó, Trần Độc Tú, người đã lên tiếng phản đối việc tịch thu đất đai ở nông thôn, đã bị biến thành con dê tế thần một cách thuận tiện, bị cáo buộc đã “làm tê liệt một cách có hệ thống tinh thần hăng hái của công nhân và nông dân”, từ đó cản trở bước tiến của họ hướng tới giải phóng. Cù Thu Bạch, một nhà báo trẻ từng làm trợ lý cho Borodin và nhanh chóng trở thành cánh tay phải của ông, đã được bổ nhiệm làm Chủ tịch lâm thời của Đảng. Mao, đồng minh thân cận của Cù, đã tận dụng cơ hội này để chỉ ra rằng con đường phía trước là tập trung mọi nỗ lực vào các vấn đề quân sự, vì quyền lực chính trị phải được giành lấy từ tay kẻ thù: “Quyền lực nảy sinh từ nòng súng,” ông đã nổi tiếng phát biểu như vậy. Lời phát biểu này được đưa ra vào thời điểm thích hợp, khi Lominadze vừa đến với lời hứa cung cấp 15.000 khẩu súng trường, 10 triệu viên đạn, 30 khẩu súng máy và bốn vũ khí khai thác mỏ kèm 2.000 quả đạn, tổng giá trị 1,1 triệu rúp, tất cả sẽ được vận chuyển từ Vladivostok xuống phía nam đến một cảng mà Đảng Cộng sản phải chiếm giữ. 75

Hầu hết các đơn vị quân đội mà phe Cộng sản đã cứu được khỏi sự sụp đổ của Mặt trận Thống nhất đều thuộc về Diệp Đình (Diệp Đình-葉挺) và Hạ Long (He Long-賀龍), hai vị tướng bất mãn từng là thành viên của “Quân đội Sắt” đáng sợ dưới sự chỉ huy của Trương Phát Khuê (Trương Phát Khuê-張發奎). 20.000 binh sĩ của họ được triển khai xung quanh Nanchang (Nam Xương), thủ phủ của tỉnh Giang Tây. Chu Ân Lai (Zhou Enlai-周恩来), người đã đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức các cuộc đình công tại Thượng Hải, nay được giao nhiệm vụ giám sát cánh quân sự của Đảng. Zhou, một nhà cách mạng 29 tuổi thông minh, hùng biện và có khả năng thực tiễn xuất sắc, đã dành vài năm thời sinh viên tại Nhật Bản, nơi ông trở thành độc giả nhiệt thành của tạp chí “Thanh Niên Mới”. Ông trở về nước vào năm 1919, đúng vào thời điểm cao trào của Phong trào Ngũ Tứ (4 tháng 5), và nhanh chóng tham gia tổ chức phong trào tẩy chay hàng hóa Nhật Bản. Tại Thiên Tân, ông bị giam giữ sáu tháng vì các hoạt động chính trị. Ông rời khỏi Trung Quốc, dành vài năm du học tại Pháp, nơi ông gia nhập một chi bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1924, ông được triệu hồi về nước, trở thành chính ủy trưởng của Học viện Hoàng Phố đồng thời là bí thư đảng ủy của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Quảng Đông.

Tháng 7 năm 1927, Chu rời Vũ Hán và thuê một phòng tại Khách sạn Giang Tây ở Nam Xương, biến nơi đây thành trụ sở của mình. Tại đây, ông được một nhóm nhỏ các nhà cách mạng cùng chí hướng gia nhập. Chu thường được mô tả là người khéo léo và thực dụng, tuy nhiên tại Nam Xương, ông lại không như vậy. Những ai phản đối kế hoạch của ông đều bị đẩy sang một bên một cách giận dữ, khi Chu kiên quyết đặt cược tất cả vào một cuộc nổi dậy quân sự. Lực lượng của ông đã tấn công và chiếm thành phố vào sáng ngày 1 tháng 8, dễ dàng đánh bại lực lượng đồn trú địa phương. Chu Ân Lai thành lập Ủy ban Cách mạng, cơ quan này đã ban hành một loạt sắc lệnh trong hai ngày tiếp theo. Sau đó, khi Quân đoàn Sắt tiến về phía thành phố, những người Cộng sản buộc phải tháo chạy, mặc dù theo một nguồn tin, họ đã thu được khoảng 300.000 đô la từ Phòng Thương mại địa phương. 76

Cuộc tấn công vào Nam Xương đánh dấu sự ra đời thực sự của Hồng Quân (Quân đội Đỏ), mà Ban Chấp hành Trung ương nay ra lệnh tiến về Sán Đầu (Shantou lúc bấy giờ gọi là Swatow), một cảng biển lớn ở tỉnh Quảng Đông nơi có thể tiếp nhận vũ khí. Trong suốt nhiều tuần hành quân qua địa hình đồi núi của Giang Tây, các đơn vị quân đội cố gắng bổ sung lực lượng bằng cách chiêu mộ các băng cướp địa phương, nhưng vẫn phải chịu tỷ lệ tổn thất cao. Hơn nữa, những người dân làng mà họ gặp gỡ cũng không tự nguyện ủng hộ cuộc cách mạng. Ngày 8 tháng 9, Tỉnh Ủy ra quyết định rằng từ nay trở đi, các binh sĩ phải hành quân dưới lá cờ của Đảng Cộng sản. Điều này có nghĩa là “tất cả các địa chủ xấu xa phải bị tiêu diệt để chuẩn bị cho cuộc nổi dậy của nhân dân tại tỉnh ”, trong khi “một chiến dịch khủng bố đỏ phải được tiến hành để tiêu diệt từng kẻ thù một”. Đó là một bước ngoặt quan trọng. Như Trương Quốc Đào, một trong những người ủng hộ sớm nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc và là nhân vật chủ chốt trong cuộc nổi dậy Nam Xương, sau này hồi tưởng lại, quyết định của Lominadze, Cù Thu Bạch và những người khác trong việc theo đuổi chính sách “đốt và giết” tàn nhẫn chỉ thành công trong việc “kéo Đảng Cộng sản Trung Quốc vào con đường khủng bố”. Nói cách khác, bạo lực không phải là phản ứng trước những hành động tàn bạo của kẻ thù, mà là một chiến lược cách mạng có chủ đích. 77

Khoảng ngày 18 tháng 9, năm điệp viên Liên Xô đã cập bến tại Sán Đầu. Vào tối ngày 23 tháng 9, các đơn vị tiên phong của Hồng Quân đã tiến vào cảng thành phố, gây ra cảnh hỗn loạn. “Một cuộc cướp bóc điên cuồng lập tức bùng phát,” một phóng viên ghi nhận. “Khắp nơi đều thấy những người đàn ông vác theo đồ đạc hoặc những gói hàng cướp được từ các ngôi nhà của những gia đình có uy tín,” tổng lãnh sự Anh ghi chú. 78

Các tù nhân được thả tự do và các cửa hàng đóng cửa. Một số băng nhóm tuần tra vũ trang, trong đó có một nhóm mang biểu ngữ của Tổng Liên đoàn Lao động Sán Đầu, đã bị phát hiện lôi kéo những kẻ bị cáo buộc là kẻ thù của cách mạng, bị trói bằng dây thừng và xích, đi qua các con phố để bị xử tử. Biểu tượng búa liềm xuất hiện trên cửa chính của Liên đoàn Thủy thủ, nhưng trước đó một số thành viên của liên đoàn này đã bị loại bỏ và thay thế bằng những người dễ bảo hơn. Khi đến nơi vài ngày sau đó, Diệp Đình đã khôi phục trật tự. Sau đó, giống như mọi lực lượng chiếm đóng khác trong nước, dù là băng đảng cướp hay quân đội chính quy, ông đã lợi dụng thế lực của mình để tống tiền một khoản tiền lớn từ Phòng Thương mại. Ông đòi 400.000 đô la nhưng dường như chỉ thu được không quá 70.000. 79

Vào ngày 30 tháng 9, thành phố bừng tỉnh và phát hiện ra rằng Hồng Quân đã tháo chạy trong đêm, chỉ để bị quân Quốc dân đảng liên minh với Lí Tế Thâm – vị tướng phụ trách Quảng Châu – tiêu diệt cách tường thành 10 km. Chu Ân Lai và Diệp Đình lén lút trốn sang Hồng Kông, còn Hạ Long thì đến Thượng Hải.

Với mong muốn giành được một chiến thắng có thể chứng minh chính sách Trung Quốc của mình trước Đại hội lần thứ 15 của Đảng Bolshevik dự kiến diễn ra tại Moscow vào tháng 12, Stalin đã cử thêm các điệp viên và tiền bạc. Heinz Neumann, một điệp viên của Comintern từng tham gia Cách mạng Tháng Mười ở Đức năm 1923, đã đến Thượng Hải, nơi ông gặp Besso Lominadze và nhận một vali đầy đô la để tài trợ cho cuộc nổi dậy tại Quảng Châu. 80

Stalin, Lominadze, Cù Thu Bạch và những người khác tin chắc rằng thành phố này ẩn chứa một căn cứ vô sản, đã chín muồi cho cuộc nổi dậy. Vào ngày 18 tháng 11, 700 công nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động — tổ chức đã bị Lí Tế Thâm giải tán vài tháng trước đó — đã tấn công Câu lạc bộ Waichow (Câu lạc bộ Huizhou), nơi từng là trụ sở của họ nhưng nay đã bị đối thủ của họ, Ủy ban Bãi công Hồng Kông-Quảng Châu, chiếm giữ. “Với tiếng hô vang, đám đông ùa vào câu lạc bộ,” đâm chết một số binh lính đang canh gác. Bốn kẻ gây rối bị giết. Mặc dù họ đồng ý giải tán khi cảnh sát đến, họ vẫn giành được một chiến thắng. Vài ngày sau, chính quyền thành phố ngừng cung cấp chỗ ở và ăn uống miễn phí cho những người đình công đã khởi xướng cuộc tẩy chay chống lại Hồng Kông vào năm 1925. Bất mãn và trong nhiều trường hợp rảnh rỗi, họ đã đốt lửa tại không dưới mười bảy địa điểm, phần lớn là chính những tòa nhà đã được chuyển đổi thành nhà ăn và ký túc xá dành riêng cho họ. Trong một trường hợp, ngọn lửa đã thiêu rụi hai mươi mốt ngôi nhà, trong đó năm ngôi nhà là trụ sở của Công đoàn Công nhân Dệt may Quảng Đông, ba nhà hàng và ba nhà thổ. Đối với Đảng Cộng sản, dường như giai cấp vô sản đang nắm thế thượng phong. 81

Heinz Neumann, người vừa đến Quảng Châu, đã gia nhập cùng Trương Thái Lôi (Zhang Tailei-张太雷), nhân vật chủ chốt phụ trách tổ chức cuộc nổi dậy. Trương từng làm thông dịch viên cho Henk Sneevliet và tháp tùng Tưởng Giới Thạch đến Moscow. Tin rằng cần phải xây dựng một đội quân từ những người nghèo khổ ở nông thôn để dẫn dắt Đảng Cộng sản đến chiến thắng, vào tháng 8 năm 1927, ông đã ủng hộ Cù Thu Bạch và Mao Trạch Đông.

Cuộc nổi dậy đã được lên kế hoạch trong nhiều tháng, với Ban Chấp hành Trung ương dưới sự lãnh đạo của Cù Thu Bạch kiên quyết yêu cầu nông dân tham gia cuộc nổi dậy để “tiêu diệt một số lượng lớn địa chủ, nhân vật có thế lực địa phương và quan chức chính phủ cũng như tất cả các phần tử phản cách mạng”, đồng thời đảm bảo quyền lực được củng cố vĩnh viễn tại Quảng Châu. Vào ngày 26 tháng 11, Neumann và Trương, cùng với Diệp Đình – người đã gia nhập họ từ Hồng Kông với tư cách Tổng Thống Lĩnh – nhận định thời cơ đã chín muồi, nên đã gửi thông điệp chỉ thị cho tất cả thành viên “ngay lập tức chuẩn bị cho cuộc nổi dậy”. “Công nhân đang vô cùng háo hức giành lấy quyền lực,” họ tiếp tục, ấn định ngày diễn ra sự kiện là 13 tháng 12. Sau khi cảnh sát phát hiện hai giỏ chứa chất nổ vào tối ngày 9 tháng 12, ngày diễn ra cuộc nổi dậy được dời lên sớm hai ngày. Đây dường như là thời điểm thuận lợi, nhất là khi hai thế lực đối địch trong tỉnh, Trương Phát Khuê (Zhang Fakui) và Lí Tế Thâm, đang ở xa, đang đối đầu nhau trên chiến trường với hy vọng mở rộng lãnh thổ. Chỉ còn lại lực lượng cảnh sát 3.000 người để bảo vệ thành phố. 82

Một lực lượng được gọi là “Đội Vệ binh Đỏ” gồm 2.000 công nhân vũ trang và một trung đoàn học viên quân sự với 1.200 binh sĩ đã tấn công vào rạng sáng ngày 11 tháng 12, áp đảo Tổng cục Cảnh sát thành phố, nơi giam giữ hàng trăm tù nhân. Những người này được thả tự do và được trang bị vũ khí với điều kiện phải gia nhập hàng ngũ Cộng sản. Một chính phủ mới ngay lập tức được tuyên bố thành lập, mang tên “Chính phủ Soviet của Nông dân, Công nhân và Binh lính”. Chính phủ này kêu gọi công nhân đứng lên hàng loạt để nắm quyền kiểm soát thành phố, “tiêu diệt địa chủ và nông dân giàu có”, tịch thu toàn bộ đất đai và xóa bỏ mọi khoản nợ. Tất cả tài sản thuộc sở hữu của tư bản sẽ bị tịch thu, tất cả nhà cửa của những người giàu có sẽ được chuyển đổi thành nơi ở miễn phí cho công nhân. Một cô gái trẻ cầm súng trường được nghe thấy đang hô hào đám đông, kêu gọi tự do cướp bóc và thoát khỏi nợ nần. Những người gia nhập được cấp một khẩu súng, hai mươi đô la và một dải băng đỏ quấn cổ hoặc đeo tay, nhưng nỗ lực này không thể khơi dậy sự ủng hộ của dân chúng. Trong số 290.000 công nhân được tổ chức trong 125 công đoàn, chỉ có vỏn vẹn 3.000 người tập hợp dưới lá cờ đỏ. Sau khi chiếm đóng tất cả các đồn cảnh sát, phe nổi dậy đã kiểm soát được trụ sở chỉ huy pháo đài thành phố, các tòa nhà thông tin liên lạc, ngân hàng trung ương, bưu điện và ga tàu hỏa. Những người chống đối bị bắn chết một cách tàn nhẫn, với ước tính lên đến 300 cảnh sát viên thiệt mạng. Cuộc cách mạng nhanh chóng biến thành một cuộc cướp bóc. Hầu như tất cả các đồn cảnh sát đều bị cướp phá, tiếp theo là hàng nghìn cửa hàng và nhà ở, với ghế, quạt điện và đồ dùng gia đình bị đám đông vũ trang háo hức cướp bóc mang đi. Các cửa hàng giàu có bị cướp bóc, một số thậm chí lên đến mười tám lần trong một đêm. Sự thù hận giữa các công đoàn bùng phát trở lại, khi Đội Vệ binh Đỏ dẫn đầu cuộc tấn công vào Tổng Liên đoàn Lao động, tổ chức đã giành lại Câu lạc bộ Waichow vài tuần trước đó. Cơ sở này bị đốt cháy, thiêu rụi một trăm thành viên công đoàn bị nhốt bên trong. Những kẻ nổi loạn xông vào khu thương mại, tẩm xăng vào chăn để đốt cháy các cửa hàng. Ngân hàng Trung ương bị thiêu rụi hoàn toàn, mặc dù hầm chứa tiền vẫn còn nguyên vẹn. Tổng cộng có khoảng bốn mươi sáu con phố bị phá hủy, xé toạc trái tim của thành phố, với ngọn lửa nhảy qua các tòa nhà và gầm rú dọc theo những con hẻm hẹp, thiêu rụi hơn một nghìn ngôi nhà. Trong một số trường hợp, những nạn nhân cố gắng thoát khỏi biển lửa đã bị bắn chết. Đây là những vụ giết người ngẫu nhiên, nhưng phe Cộng sản cũng có một danh sách các “kẻ thù giai cấp” cần tiêu diệt. Phó Tư Niên (Fu Sinian-傅斯年), một nhà yêu nước và học giả nổi tiếng từng đóng vai trò chủ chốt trong việc thành lập Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (Academia Sinica) – viện nghiên cứu hàng đầu của đất nước – chỉ may mắn thoát thân nhờ một nguồn tin mật. Như phó lãnh sự Mỹ đã nhận định: “Cuộc nổi dậy của giai cấp vô sản được ca ngợi rầm rộ hóa ra chẳng qua chỉ là một cuộc bạo loạn kinh hoàng với cướp bóc, đốt phá và giết chóc.” Tại Shameen (Sa Diện), các tàu chiến cùng hàng rào dây thép gai và các ổ súng máy đã ngăn chặn được lực lượng nổi dậy. 83

“Quân đội Sắt” dưới sự chỉ huy của Trương Phác Khôi đã khẩn trương tiến vào thành phố, đến nơi 48 giờ sau khi cuộc nổi dậy bùng phát. Lí Phúc Lâm, người từng chỉ huy quân đội tàn sát lính đánh thuê của Tôn Trung Sơn nhiều năm trước, cũng lập tức vào cuộc. Các tàu hải quân bắt đầu tuần tra trên đoạn sông gần bờ, bắn xối xả vào khu Bund (Bến) bằng súng máy.

Các thành viên Đảng Cộng sản hầu như không chống cự, vứt bỏ vũ khí và cố gắng trốn thoát. Họ từng nhận diện lẫn nhau qua chiếc khăn quàng cổ hoặc cà vạt màu đỏ, nhưng giờ đây đã vứt bỏ chúng, dù trong nhiều trường hợp mồ hôi đã khiến màu nhuộm để lại vết trên cổ. Những người bị nghi ngờ bị quân đội bắt giữ, ép quỳ gối và bị bắn chết ngay lập tức sau khi áo sơ mi của họ bị xé toạc, đôi khi dưới tiếng vỗ tay của đám đông chứng kiến. Các đội hành quyết tuần tra khắp thành phố, bao gồm cả thành viên từ các công đoàn đối lập, lùng sục những kẻ thù bị nghi ngờ và thanh toán những món nợ cũ với sự hăng hái không ngừng và sự tàn bạo lạnh lùng. “Các thành viên của nhóm này, vốn không có bất kỳ cơ sở pháp lý nào, dù theo luật hay theo tập quán, đã tiến hành các vụ hành quyết bất cứ lúc nào và ở bất cứ đâu họ muốn,” gây ra cái chết của vô số người vô tội. Một nghìn thành viên của các công đoàn khác nhau bị dồn vào một nhà hát lớn, sau đó được dẫn ra từng nhóm bốn mươi người để bị bắn, mỗi lần hai hàng. Để đẩy nhanh quá trình, súng máy được sử dụng. Người Nga cũng bị bắt giữ, giày dép bị cởi bỏ và tay bị trói ra sau lưng, rồi bị dẫn đi qua những đống đổ nát còn bốc khói. Mười hai người bị bắn, mặc dù tổng lãnh sự và gia đình ông được tha mạng. Một người Nga bắt đầu chửi rủa những kẻ bắt giữ mình và từ chối quỳ gối đã bị đâm bằng lưỡi lê ngay tại chỗ và bắn mười phát bằng súng lục Luger. Ở một số khu vực trong thành phố, thi thể được chất thành đống hai bên đường, một số vẫn còn run rẩy, để được chở đi bằng xe tải và xe kéo do người kéo. “Người ta phải đi vòng qua các thi thể một cách cẩn thận, tránh những vũng máu, né những dây điện treo lơ lửng, bước qua những viên gạch vương vãi và đi qua những chiếc xe tải mà cảnh sát đang chỉ đạo những người lao động ném thi thể của những người bị hành quyết vào đó,” một người nước ngoài quan sát. Các ước tính khác nhau, nhưng phần lớn đều đồng ý rằng có từ 2.000 đến 3.000 nghi phạm bị hành quyết, chưa kể đến khoảng 600 người bị những kẻ nổi dậy sát hại. 84

Nam Kinh đã hành động nhanh chóng, vào đêm 14 tháng 12, họ rút lại sự công nhận đối với tất cả các lãnh sự và cơ quan thương mại của Liên Xô. Tại Vũ Hán, người ta thấy những người Nga bị dẫn đi trong trang phục ngủ, một số trường hợp đi chân trần và bị trói lại với nhau. Quân đội chiếm đóng Lãnh sự quán và ban bố thiết quân luật, bắt giữ hàng trăm người bị nghi là cộng sản. Vài chục người đã bị hành quyết trong những tuần tiếp theo, mở đầu cho một chiến dịch tàn nhẫn và không khoan nhượng chống lại chủ nghĩa cộng sản trong khu vực. Tại Thượng Hải, một tấm biển “đóng cửa” bằng cả tiếng Nga và tiếng Anh xuất hiện trên cửa Lãnh sự quán, trong khi nhân viên bận rộn ném các tài liệu mật vào lò đốt ở tầng hầm. Một trăm người Nga bị tuyên bố là “không mong muốn” và được cho một tuần để rời khỏi đất nước. Người Soviet, giống như những người Cộng sản Trung Quốc, giờ đây phải hoạt động bí mật. 85

* Có liên hệ nhiều với những người cộng sản Việt Nam.

Chú thích:

Mitarevksy, World Wide Soviet Plots, pp. 34–7; ‘Kissanka’ là bí danh cho Kuibyshev.

2

Lá thư từ Kuibyshev, 13 Jan. 1926, trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai: Dokumenty, vol. 2, p. 21.

3

  1. Martin Wilbur and Julie Lien-ying How, Missionaries of Revolution: Soviet Advisers and Nationalist China, 1920–1927, Cambridge, MA: Harvard University Press, 1989, pp. 188–92.

4

Jacobs, Borodin, pp. 188–90.

5

Jacobs, Borodin, pp. 198–9; Ch’en Li-fu, The Storm Clouds Clear over China: The Memoir of Ch’en Li-fu, 1900–1993, Stanford, CA: Stanford University Press, 1994, p. 26; Chiang, ‘Diary’, 12 Feb. 1926.

6

Chiang, Soviet Russia in China, pp. 42–3.

7

Michael Tsin, Nation, Governance, and Modernity in China: Canton, 1900–1927, Stanford, CA: Stanford University Press, 2000, pp. 165–6; Jacobs, Borodin, p. 202.

8

Tsin, Nation, Governance, and Modernity in China, p. 166.

9

Chiang, Soviet Russia in China, pp. 43–4.

10

Donald A. Jordan, The Northern Expedition: China’s National Revolution of 1926–1928, Honolulu, HI: University Press of Hawaii, 1976, pp. 14–15; Jacobs, Borodin, p. 212.

11

Ruth Altman Greene, Hsiang-Ya Journal, Hamden, CT: Archon Books, 1977, pp. 42–4; ‘Changsha under the Reds’, North-China Herald, 6 Nov. 1926.

12

‘12,000 are Rescued from Wuchang City’, New York Times, 7 Oct. 1926; Ch’en, The Storm Clouds Clear over China, p. 43.

13

‘The General Desire for Peace’, North-China Herald, 6 Nov. 1926; Vera Vladimirovna Vishnyakova-Akimova, Two Years in Revolutionary China, 1925–1927, Cambridge, MA: Harvard University Press, 1971, p. 251.

14

Jacobs, Borodin, p. 216; Vishnyakova-Akimova, Two Years in Revolutionary China, p. 253.

15

Vishnyakova-Akimova, Two Years in Revolutionary China, p. 254.

16

Mitarevksy, World Wide Soviet Plots, pp. 145–7.

17

Ibid., pp. 147–9.

18

‘Hankow Acclaims Bolshevist Agent’, New York Times, 13 Dec. 1926.

19

‘Violent Speeches at Hankow Meeting’, South China Morning Post, 24 Dec. 1926.

20

John B. Powell, My Twenty-Five Years in China, New York: The Macmillan Company, 1945, p. 135; also NARA, RG 165, MID 2657-1-342, John Magruder, ‘Russia in Chinese Nationalist Movement (From Observations in Hankow)’, G-2 Report No. 7017, 15 April 1927.

21

Vishnyakova-Akimova, Two Years in Revolutionary China, pp. 286–8.

22

‘Hankow Rioters Battle in Concession Streets’, New York Times, 6 Jan. 1927; ‘American Women Stoned’, Atlanta Constitution, 10 Jan. 1927.

23

Mitarevksy, World Wide Soviet Plots, pp. 140–1.

24

Vishnyakova-Akimova, Two Years in Revolutionary China, p. 219.

25

Greene, Hsiang-Ya Journal, pp. 50–1.

26

Mitarevksy, World Wide Soviet Plots, p. 139.

27

  1. T. Tung, ‘Land Reform, Red Style’, Freeman, 25 Aug. 1952, được trích trong Richard J. Walker, China under Communism: The First Five Years, New Haven, CT: Yale University Press, 1955, p. 131.

28

Trích từ Biên bản số 65 của Cuộc họp Bộ Chính trị, ngày 29 tháng 10 năm 1926, trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai, vol. 2, p. 498.

29

Stuart R. Schram and Nancy J. Hodes (eds), Mao’s Road to Power: Revolutionary Writings, 1912–1949, Armonk, NY: M. E. Sharpe, 1994, vol. 2, pp. 420–2.

30

‘Report on the Peasant Movement in Hunan’, Feb. 1927, in ibid., pp. 435–7 and 447.

31

Ibid., p. 430.

32

Mitarevksy, World Wide Soviet Plots, pp. 148–9.

33

  1. W. Han, ‘Sino-British Relations’, North-China Herald, 14 July 1937.

34

Brian Farrell cung cấp thông tin nền tảng xuất sắc về Hội nghị Washington và những hệ quả của nó trong Brian P. Farrell, S. R. Joey Long and David J. Ulbrich (eds), From Far East to Asia Pacific: Great Powers and Grand Strategy, 1900–1954, Berlin: Walter De Gruyter, 2022; Joseph Gordon, ‘China Wins Tariff Independence’, Current History, 34, no. 4 (July 1931), p. 549.

35

PRO, FO 371/17064, Miles Lampson, Farewell Report, 24 Aug. 1933, pp. 168–9.

36

Jiang Zhongzheng xiansheng nianpu changbian, vol. 2, 10 and 17 Feb. 1927, pp. 21 and 23.

37

MAE, 513PO/A/434, Telegram from Consul General in Shanghai and Statement from Mrs Giles, 29 March 1927.

38

Report by John Davis, Consul in Nanjing, ‘Anti-Foreign Outrages at Nanking on March 24, 1927’, reproduced in full in H. R. Misselwitz, The Dragon Stirs, New York: Harbinger House, 1941, pp. 38–40.

39

Roy C. Smith, ‘Nanking, March 24, 1927’, United States Naval Institute Proceedings, 58 (Jan. 1928), pp. 1–21.

40

MAE, 513PO/A/434, “Báo cáo nhiệm vụ”, bao gồm lời khai của bà Roger Caplain, ngày 29 tháng 3 năm 1927; Roy Smith, người phụ trách hoạt động cứu hộ và tàu USS Noa, đã viết rằng việc cướp bóc đã dừng lại “như thể có phép màu”: Smith, “Nam Kinh”; xem thêm William R. Braisted, Diplomats in Blue: New Perspectives on Maritime History and Nautical Archaeology, Gainesville, FL: University Press of Florida, 2009, pp. 131–9.

41

GSG, 002-060100-00001-079, Tóm tắt dự thảo các Sự kiện hàng Ngày, 25 March 1927.

42

Hu Shih, ‘China in Stalin’s Grand Strategy’, Foreign Affairs, 1950, pp. 18–19.

43

PRO, FO 371/12501, ‘Document No. 22’, dated early 1927, pp. 175–8; also PRO, FO 371/12407, ‘Report on the Situation in Shanghai’, 15 April 1927, p. 123.

44

‘Police Stations Raided in Chapei’, North-China Herald, 26 March 1927; Misselwitz, The Dragon Stirs, pp. 24–5.

45

‘Fall of Shanghai and Nanking’, North-China Herald, 26 March 1927; ‘Labour’s Campaign of Murder’, North-China Herald, 26 March 1927; ‘After the Flames’, North-China Herald, 26 March 1927; xem cả Jordan, The Northern Expedition, p. 116.

46

GSG, 002-060100-00001-076, Bản tóm tắt sơ bộ các sự kiện hàng ngày, 22 March 1927; GSG, 002-020100-00012-068, Điện tín của Tưởng Giới Thạch gửi Bạch Sùng Hy (Bai Chongxi), 24 March 1927.

47

Trích từ Biên bản số 87 của Cuộc họp Bộ Chính trị, ngày 17 tháng 2 năm 1927, trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai, vol. 2, pp. 619–20.

48

‘Nanking, Hankow and Hangchow All Show Evidences of Unrest’, China Press, 5 April 1927; ‘Nationalists Assume All Responsibility for Nanking Riots’, China Press, 5 April 1927.

49

Trích từ Biên bản số 78 của Cuộc họp Bộ Chính trị, ngày 13 tháng 1 năm 1927, và Thư của Gregori Voitinksy, ngày 21 tháng 1 năm 1927, cả hai đều trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai, vol. 2, pp. 579–80 and 602; telegrams to Wang: S. I. Hsiung, The Life of Chiang Kai-shek, London: Peter Davies, 1948, pp. 263–4.

50

GSG, 002-060100-00002-002, Bản tóm tắt dự thảo các sự kiện hàng ngày, 1 April 1927.

51

GSG, 002-020100-00025-052, Thông điệp từ Ủy ban Giám sát Trung ương gửi Ủy ban Hành chính Trung ương, 2 April 1927; GSG, 002-060100-00002-002 và 003, Bản tóm tắt dự thảo các sự kiện hàng ngày, 3 April 1927; Chiang, ‘Diary’, 3 April 1927, trong Jiang Zhongzheng nianpu changbian, vol. 2, p. 48.

52

Wang Jingwei and Chen Duxiu, ‘Wang Jingwei, Chen Duxiu lianhe xuanyan’, 5 April 1927, trong Zhongyang dang’anguan (eds), Zhonggong zhongyang wenjian wenji (Tài liệu chọn lọc của Ban Chấp hành Trung ương), Beijing: Zhonggong zhongyang dangxiao chubanshe, 1989, vol. 3, pp. 593–4; GSG, 002-060100-00002-004, Tóm tắt dự thảo các Sự kiện hàng Ngày, 5 April 1927.

53

‘Peking Orders Execution of Russian Agents’, Chicago Daily Tribune, 9 March 1927; ‘Chang for Expulsion of Bolsheviks’, Manchester Guardian, 4 April 1927.

54

PRO, FO 371/12501; Hallett Abend, My Life in China, New York: Harcourt, Brace, 1943, pp. 51–2; xem cả Wu Aitchen, China and the Soviet Union, London: Methuen, 1950, pp. 188–95.

55

Xem, giữa những tài liệu khác, Harriette Flory, ‘The Arcos Raid and the Rupture of Anglo-Soviet Relations’, Journal of Contemporary History, 12, no. 4 (Oct. 1977), pp. 707–23; the Beijing raid, ngược lại, cuộc đột kích Bắc Kinh hiếm khi được đề cập, một ngoại lệ đáng chú ý là Bruce A. Elleman, Modern Chinese Warfare, 1798–1989, London: Routledge, 2001, p. 173.

56

GSG, 002-060100-00002-005 and 006, Tóm tắt dự thảo các Sự kiện hàng Ngày, 7 and 8 April 1927.

57

‘G.L.U. Agitation in Shanghai’, North-China Herald, 2 April 1927; PRO, FO 371/12407, ‘Report on the Situation in Shanghai’, 15 April 1927, p. 123; ‘Soldiers and Pickets Clash in Shanghai’, South China Morning Post, 8 April 1927; ‘hai trung đoàn’ được nhắc đến  trong Jiang Zhongzheng nianpu changbian, 12 April 1927, vol. 2, p. 54.

58

PRO, FO 371/12407, ‘Report on the Situation in Shanghai’, 15 April 1927, p. 123; ‘Nationalists Raid Labor Centers’, China Press, 13 April 1927; đã có rất nhiều tài liệu được công bố về việc thuê “băng đảng” để thảm sát các đảng viên Cộng sản vào ngày 12 tháng 4. Tuy nhiên, một bài xã luận do Tổng Liên đoàn Lao động đăng tải vào ngày 13 tháng 4 để phản đối cuộc đột kích này không đề cập đến bất kỳ “đám côn đồ” nào, cũng như không có nhà báo nào, dù là nước ngoài hay địa phương, đưa tin về “đám côn đồ” (‘Radical Faction of Kuomintang Aims to Paralyse all Activities in Shanghai’, China Press, 13 April 1927); một lá thư phản đối do Zheng Zhenduo, Hu Yuzhi và những người khác đăng tải vào ngày 15 tháng 4 về các sự kiện những ngày trước đó đã đề cập đến sự phẫn nộ trước các vụ giết người, nhưng không đề cập đến bất kỳ “đám côn đồ” nào; xem “Zhabei jumin shi yifeng shu” (Thư của người dân thường ở Zhabei), Shishi xinbao, ngày 15 tháng 4 năm 1927; hầu hết các bằng chứng về những “tên côn đồ” này đều xuất phát từ một dòng duy nhất của một nhà báo, người chỉ đơn thuần nghe được tin đồn rằng đã có một cuộc gặp gỡ giữa một thủ lĩnh băng đảng và thị trưởng Khu Quốc tế (Powell, My Twenty-Five Years in China, pp. 158–9).

59

Brian P. Farrell, ‘Twilight in China: Great Powers and the Defence of Shanghai, 1925–1937’, trong Farrell, Long and Ulbrich, From Far East to Asia Pacific, pp. 113–50, especially p. 138; cả Arthur Ransome, The Chinese Puzzle, London: George Allen & Unwin, 1927, p. 146.

60

‘Another General Strike is Called for Today’, China Press, 13 April 1927.

61

Các lời khai của nhân chứng chủ chốt được đăng trong bài “Zuori jiesan Zhabei gongren you-xing qingxing” (Tình hình giải tán cuộc diễu hành của công nhân tại Zhabei ngày hôm qua), báo Shenbao, 14 April 1927.

62

‘Jiuchadui jiaoxie shi zhi sishangzhe lian shisan ri Baoshanlu chongtu shijian’ (Số thương vong trong quá trình giải giáp các chốt chặn và trong các cuộc đụng độ trên đường Baoshan vào ngày hôm sau), Shishi xinbao, 18 April 1927, p. 3.

63

Ibid.; GSG, 002-020100-00025-048, Điện tín của Yang Hu và Chen Qun gửi Tưởng Giới Thạch, ngày 14 tháng 4 năm 1927; các nhà sử học như Frederic Wakeman (Policing Shanghai, 1927–1937, Berkeley, CA: University of California Press, 1995, p. 123) những người viết về việc “bốn nghìn” đảng viên Cộng sản bị thảm sát trên các đường phố Thượng Hải vào tháng 4 thường trích dẫn Harold Isaacs, một tác giả đã cung cấp mô tả rùng rợn về những vụ thảm sát được cho là xảy ra tại Trung Quốc trong bài viết mang tiêu Five Years of Kuomintang Reaction. Isaacs là một nhà báo người Mỹ đến Thượng Hải vào năm 1930 và nhanh chóng dính líu vào chính trị cộng sản. Tuy nhiên, ngay cả Isaacs cũng không đưa ra khẳng định như vậy, mà chỉ viết rằng “một số” lãnh đạo công nhân đã bị giết trong khi 5.000 công nhân bị bắt giữ (xem Harold R. Isaacs, Five Years of Kuomintang Reaction, Shanghai: China Forum Publishing Co., 1932, p. 5). Một cuốn sách sau đó được xuất bản vào năm 1938, mang tựa đề The Tragedy of the Chinese Revolution, có lời tựa do chính Trotsky viết, đã quy trách nhiệm cho sự thất bại của “cách mạng” ở Trung Quốc hoàn toàn cho Stalin, kẻ thù không đội trời chung của Trotsky. Tuy nhiên, cuốn sách này cũng không đề cập đến vụ thảm sát “hàng nghìn” người ở Thượng Hải. Cho đến ngày nay, “vụ thảm sát Thượng Hải” vẫn là, đối với những người tin tưởng tuyệt đối, thời khắc then chốt khi, sau thất bại của Cách mạng Tháng Mười Đức năm 1923, sự kiên quyết thiển cận của Stalin về Mặt trận Thống nhất tại Trung Quốc đã đẩy cách mạng thế giới đến một kết cục đẫm máu.

64

Việc bắt giữ Wang được đưa tin trên tờ Shishi xinbao, ngày 7 tháng 5 năm 1927, trang 9; năm 1996, một bài báo đã xác nhận, dựa trên bằng chứng lưu trữ, rằng Wang đã bị bắt giữ, sau đó bị giao cho Yang Hu, người đã cho thẩm vấn và xử bắn ông vào ngày 12 tháng 4; xem Ye Lei, ‘Wang Shouhua lieshi shi bei Du Yuesheng huomai de ma?’ (Liệu liệt sĩ Wang Shouhua của có thực sự bị Du Yuesheng chôn sống không??), Shanghai dangshi yanjiu, no. 2 (1996), pp. 33–4.

65

‘Another General Strike is Called for Today’, China Press, 13 April 1927.

66

‘Cantonese Factions Fight in Big Cities’, Boston Daily Globe, 13 April 1927.

67

Các số liệu được trích từ MAE, 513PO/A/433, ‘A.s. des incidents du 15 Avril’, 16 April 1927; PRO, FO 371/12404, Telegram No. 38, p. 183; các trích dẫn từ các nhà cộng sản trong Tsin, Nation, Governance, and Modernity in China, pp. 169–70.

68

‘How the Reds were Executed’, New York Times, 30 April 1927.

69

MAE, 513PO/A/433, ‘A.s. de Mr. Doriot’, 7 March 1927.

70

‘Changsha Situation: All Communist Leaders Have Disappeared’, South China Morning Post, 9 June 1927; hơn một chục người tuần tra vũ trang đã bị bắn chết, trong khi các công đoàn và hiệp hội nông dân bị giải tán trong những tuần tiếp theo. Không nghi ngờ gì rằng rất nhiều người thuộc phong trào ở nông thôn đã bị giết trong những năm tiếp theo, mặc dù một số nhà sử học đã đề cập đến làn sóng khủng bố mà không cung cấp bất kỳ bằng chứng cụ thể nào; Philip Short khẳng định rằng vào năm 1927, khoảng 300.000 người đã bị giết tại bốn huyện lân cận ở Hồ Nam, một cáo buộc được lặp lại trên Wikipedia; chú thích cuối trang của ông trích dẫn một cuốn sách xuất bản năm 1975 của Angus McDonald; Tuy nhiên, McDonald khẳng định rằng khoảng 300.000 người bị giết không phải vào năm 1927, mà là ‘trong thập kỷ tiếp theo’, mặc dù ông cũng không đưa ra bất kỳ bằng chứng nào để chứng minh cho tuyên bố của mình. Tôi không thể tìm thấy bất kỳ bài báo nào trên báo chí nước ngoài hay Trung Quốc, cũng như không có tài liệu tham khảo nào trong các kho lưu trữ của Đài Loan, Pháp hay Anh đề cập đến các vụ thảm sát tại các huyện Leiyang, Chaling hoặc Liyang vào năm 1927, mặc dù có đề cập đến một cuộc suy thoái kinh tế tại huyện Liuyang; Philip Short, Mao: The Man who Made China, London: I. B. Tauris, 2017, p. 188; Angus McDonald, The Urban Origins of Rural Revolution, Elites and the Masses in Hunan Province, China, 1911–1927, p. 316. Rất nhiều con số phi thực tế, thường lên tới hàng trăm nghìn, đã được các nhà sử học đưa ra mà không có nhiều bằng chứng về việc giết hại các đảng viên Cộng sản tại Hồ Nam và Hồ Bắc trong hai năm sau tháng 4 năm 1927, mặc dù việc đọc kỹ hàng chục tập báo cáo do các ủy ban tỉnh và các chi bộ địa phương khác của Đảng Cộng sản Trung Quốc biên soạn từ tháng 4 năm 1927 đến tháng 1 năm 1930 cho thấy, tùy thuộc vào cách tính toán các con số thường trùng lặp và rất sơ sài, con số tối đa là 25.000 người ở mỗi tỉnh; xem CA, Hunan geming lishi wenjian huiji and Hubei geming lishi wenjian huiji, volumes from 1927 to 1930.

71

Vincent Sheean, Personal History, New York: Garden City Publishing, 1937, pp. 238–40; ‘Hankow and Nanking’, South China Morning Post, 28 June 1927.

72

‘Radical Faction in Hankow Placed under Ban’, China Press, 28 and 29 June 1927; Misselwitz, The Dragon Stirs, pp. 119–28.

73

Vishnyakova-Akimova, Two Years in Revolutionary China, p. 219.

74

Louis Fisher, ‘China – Seen from Moscow’, Nation, 30 Nov. 1927, p. 613.

75

Jacobs, Borodin, pp. 290 and 310; Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 3, 7 Aug. 1927, p. 36; Trích từ Biên bản số 119 của Cuộc họp Bộ Chính trị, ngày 11 tháng 8 năm 1927, trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai, vol. 3, pp. 71–2.

76

‘From the Chinese Press’, China Weekly Review, 20 August 1927.

77

CA, Jiangxi geming lishi wenjian huiji: 1927–1928, Báo cáo về Vấn đề Băng cướp ở Phúc Châu (Fuzhou), Sept. 1927, pp. 35–9, và Thông tư của Ủy ban Tỉnh Giang Tây , 8 Sept. 1927, pp. 38–41; Chang Kuo-t’ao, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, Lawrence, KS: University of Kansas Press, 1972, vol. 2, p. 46.

78

Năm người Nga này sau đó đã đến gặp Tổng lãnh sự Anh vào cuối tháng đó, xin thị thực quá cảnh đến Quảng Châu qua Hồng Kông: xem PRO, FO 371/12411, Tổng lãnh sự Kirke gửi Sir M. Lampson, 6 Oct. 1927, p. 35; về vụ cướp bóc, xem PRO, FO 371/12410, Tổng lãnh sự Kirke gửi Sir M. Lampson, 26 Sept. 1927, p. 216; xem cả ‘Lawless Mob of Communist Soldiers Now Rules Swatow’, China Press, 27 Sept. 1927.

79

PRO, FO 371/12410, Tổng lãnh sự Kirke gửi Sir M. Lampson, 26 Sept. 1927, p. 216; PRO, FO 371/12411, Tổng lãnh sự Kirke gửi Sir M. Lampson, 6 Oct. 1927, p. 35; về các vụ hành quyết, xem thêm “Renyi jingsha muwu renquan” (Cướp bóc và giết chóc bừa bãi, coi thường nhân quyền), Chenbao, 12 Oct. 1927, p. 6; xem cả Laura M. Calkins, ‘Recapturing an Urban Identity: Chinese Communists and the Commune at Shantou, 1927’, Studies on Asia, series IV, vol. 1, no. 2 (Summer 2011), pp. 35–73.

80

Margarete Buber-Neumann, Von Potsdam nach Moskau, Munich: Ullstein-Taschenbuchverlag, 2002.

81

‘Attack on Club’, South China Morning Post, 23 Nov. 1927; CA, Guangdong geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1927, ‘Báo cáo gửi Ban Chấp hành Trung ương’, November 1927, p. 149; ‘Boycotters Draw Final Dividend’, North-China Herald, 26 Nov. 1927; ‘Canton’s Fire Epidemic’, South China Morning Post, 29 Nov. 1927.

82

CA, Guangdong geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1927 [Bộ sưu tập tài liệu lịch sử cách mạng Quảng Đông (tài liệu Ủy ban Tỉnh): 1927], các thư và báo cáo ngày 26/11, 1 và 8/12/1927, tr. 153, 165 và 185; Thư của Trung ương gửi Ủy ban Tỉnh Quảng Đông, ngày 23 tháng 9 năm 1927, trong, Zhongyang dang’anguan (eds), zhongyang zhangyang wenjian xuanji (1927) [Tuyển tập tài liệu Trung ương (1927)], Beijing: Zhonggong zhongyang dangxiao chubanshe, 1991, vol. 3, p. 374; việc phát hiện hai quả bom: ‘The Failure of the Labour Peasant Uprising in Canton’, China Weekly Review, 31 Dec. 1927.

83

HIA, Huston (Jay C.) Papers, box 2, Frederick W. Hinke, Vice Consul in Canton, ‘The Communist Coup d’Etat at Canton’; HIA, Huston (Jay C.) Papers, box 14, ‘Peasants, Workers and Soldiers Revolt of December 11–13, 1927 at Canton, China’, Despatch No. 699, 30 Dec. 1927; về Fu Sinian, xem Wang Fan-sen, Fu Ssu-nien: A Life in Chinese History and Politics, Cambridge: Cambridge University Press, 2000, p. 71.

84

Các ước tính là trong Hinke, ‘The Communist Coup d’Etat at Canton’, p. 18; ‘Peasants, Workers and Soldiers Revolt’, p. 27; PRO, FO 371/12411, 17 Dec. 1927, p. 227; MAE, 513PO/A/433, ‘La situation à Canton’, 23 Dec. 1927.

85

‘Much Activity against Local Soviet’, North-China Herald, 24 Dec. 1927; ‘Nationalist China “Breaks” with Soviet Union’, China Weekly Review, 24 Dec. 1927; ‘Presence Undesirable’, South China Morning Post, 20 Dec. 1927.

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged , . Bookmark the permalink.