Chuyến du hành của Hoàng đế An Nam

Thứ Ba, ngày 12 tháng 12 năm 1933

Chuyến thăm Trường Mỹ thuật Đông Dương

(L’Avenir du Tonkin, thứ Tư, 13 tháng 12 năm 1933)

Bảo Chân dịch[1]

Chuyến viếng thăm Trường Mỹ thuật Đông Dương của Hoàng đế Bảo Đại đã diễn ra vào sáng hôm qua, thứ Ba, ngày 12 tháng mười hai, từ 10 giờ đến 11 giờ. Ngài Toàn quyền Pasquier, một người rất am hiểu nghệ thuật và bản thân ngài cũng là một nghệ sĩ tài hoa, đã đích thân tháp tùng vị Hoàng đế trẻ (ít ai biết rằng ông Pasquier là người say mê hội họa và một bảo tàng ở Pháp hiện đang sở hữu một bức tranh của ông ấy).

Hiện diện ở buổi đón tiếp gồm có: Ngài Toàn quyền Charles[2], Thống sứ Bắc Kỳ Tholance, phu nhân Tholance, Ngài Khâm sứ Trung Kỳ Thibaudeau, Thị trưởng Hà Nội Eckert, Giám đốc Nha Học chính Bernard, Tổng thanh tra học chính ngành Văn Salles, các quan thượng thư Phạm Quỳnh, Tôn Thất Quảng, Bửu Thạch, Đại úy hải quân Barthélemy và Đại úy Brusseaux.

Hiệu trưởng Trường Mỹ thuật, ông Tardieu, cùng các giáo sư: Inguimberty, Roger, Godard, Christian, Tiến sĩ de Fénis, Nam Sơn, Nguyễn Xuân Phương đã đón tiếp Hoàng đế ngay tại cổng trường trên đường Reinach. Ông hiệu trưởng đã phát biểu vài lời chào mừng trong lúc đoàn di chuyển đến khu triển lãm của các cựu sinh viên, được trưng bày trong  xưởng hoạ riêng của Hiệu trưởng:

Tâu Bệ hạ,

Đối với cá nhân tôi và các cộng sự, các cựu sinh viên, – những người khai sinh ra ngôi trường này, nơi luôn nỗ lực kể từ khi thành lập nhằm đánh thức Nghệ thuật Dân tộc An Nam, đây là một vinh hạnh lớn lao và là niềm vui sâu sắc khi được đón tiếp Hoàng Đế hôm nay. Tôi vừa nói rằng trường chúng tôi nỗ lực để đánh thức “Nghệ thuật Dân tộc”, và tôi xin phép được thêm từ “đại chúng”, bởi đặc trưng của các tác phẩm mà Ngài sắp chiêm ngưỡng tại triển lãm này, đều được khơi nguồn cảm hứng duy nhất từ tình yêu của các Nghệ sĩ trẻ dành cho dân tộc và thiên nhiên của đất nước họ.

Trước khi ngôi trường này được thành lập, người ta hiểu rằng một số cá nhân, không phải là những người kém xuất sắc, đã mong cầu một sự đào tạo khác ngoài việc học văn hóa cổ điển, và thay vì dồn tất cả các thanh niên hiếu học vào các ngành hành chính, thì cần phải hướng một bộ phận được chọn lọc theo năng khiếu và sở thích của họ vào các xưởng nghệ thuật.

Người ta đã thành lập trước đó các trường kỹ thuật, trường dạy nghề, nhưng để giảng dạy trong các ngôi trường đó, cần phải có một đội ngũ giáo sư “Bản xứ” được đào tạo bài bản, bởi lẽ một bộ phận đông đảo nghệ nhân đều phụ thuộc vào nền giáo dục này.

Chính là để đáp ứng nhu cầu đó mà Trường Mỹ thuật đã được thành lập.

Sau một kỳ thi tuyển với yêu cầu gắt gao về trình độ, đòi hỏi thí sinh phải trải qua hai năm học dự bị và chỉ lấy một phần mười số thí sinh. Chương trình học kéo dài năm năm. Một nửa thời gian học được dành cho việc nghiên cứu nghệ thuật thuần túy: hội họa hoặc điêu khắc, và nửa thời gian còn lại, theo một thời khóa biểu nghiêm ngặt, được dành cho việc nghiên cứu Nghệ thuật trang trí ứng dụng trong nội thất, chạm khắc, sơn mài, khắc vải, thêu thùa, ren, v.v. Sau năm năm đào tạo chuyên sâu về nghệ thuật trang trí như vậy, các nghệ sĩ của chúng tôi có khả năng tạo ra một tầm ảnh hưởng đáng kể đến toàn bộ ngành sản xuất thủ công mỹ nghệ của đất nước họ.

Phân khoa Kiến trúc được ra đời từ sự trăn trở lớn khi nhận thấy ở một đất nước sở hữu một nền Kiến trúc Quốc gia, một Nghệ thuật kiến tạo hàng ngàn năm tuổi bao gồm rất nhiều yếu tố hoàn toàn đẹp đẽ và thích nghi hoàn hảo với khí hậu cũng như phong tục tập quán, người ta lại thấy mọc lên ngày càng nhiều qua nhiều năm những công trình kiến trúc lấy cảm hứng từ tất cả các phong cách trên thế giới, và thuộc mọi thời đại.

Do đó, việc đào tạo một đội ngũ kiến trúc sư An Nam thấm nhuần bởi bởi chính truyền thống của họ, có khả năng thích ứng với các nhu cầu hiện đại và vật liệu mới mà vẫn bảo tồn truyền thống, thực là vô cùng cần thiết.

Bệ hạ đã có thể tự mình chứng kiến tại Triển lãm Thuộc địa Paris năm 1931 rằng Trường Mỹ thuật Đông Dương đã thể hiện một cách đặc biệt thuyết phục tính truyền thống và mới mẻ trong nỗ lực của mình.

Đó không còn là những tìm tòi đơn thuần nữa, mà là một chuỗi những thành công không thể phủ nhận.

Một nền Nghệ thuật hoàn chỉnh, nền Nghệ thuật An Nam hiện đại đã ra đời, bén rễ sâu sắc từ sự tiếp nối của nền Nghệ thuật truyền thống xưa nay đã được tìm lại, và chúng ta sẽ không bao giờ từ bỏ nó nữa.

Thành công vốn đã định hình tại Triển lãm năm 1931 tiếp tục được duy trì không ngừng nghỉ nhờ vào các cuộc triển lãm thường xuyên ở Agindo[3], nơi chúng tôi đã đạt được doanh số bán sản phẩm đáng kể bất chấp cuộc khủng hoảng mà chúng ta đang trải qua.

Giờ đây, từ khắp nơi trên thế giới, từ Ý, Hà Lan, và đặc biệt là từ Mỹ, gửi đến chúng tôi những đơn đặt hàng cho các tác phẩm nguyên bản của các nghệ sĩ An Nam – những vị đại sứ dịu dàng của cái đẹp và tuổi trẻ.

Hoàng đế và đoàn tháp tùng đã vô cùng thích thú khi tham quan phòng triển lãm của các cựu sinh viên. Hoàng đế đặc biệt chú ý đến một bức tranh lụa lớn của ông Tô Ngọc Vân: “Quà cưới”, và một bức họa đầu cụ già của Nguyễn Lân[4]; triển lãm tranh chân dung của ông Lê Phổ cũng như hai bức bình phong sơn mài dát vàng và bạc tuyệt đẹp của cùng tác giả này đã khiến cho cả quan Toàn quyền và Hoàng đế vô cùng ngưỡng mộ. Các tác phẩm của các ông Nguyễn Văn Thịnh, Lưu Văn Sìn, Trần Phềnh, Trần Bình Lộc, Nam Sơn, Đỗ Đức Thuận, Nguyễn Phan Chánh, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Hữu Đẩu đã thu hút sự chú ý của các vị khách.

Cuối cùng, khu triển lãm các tác phẩm của xưởng sơn mài do ông Inguimberty phụ trách đã thực sự tạo ấn tượng, và ông Tardieu đã dâng tặng Hoàng đế, để kỷ niệm cho chuyến thăm Trường Mỹ thuật, một chiếc hộp sơn mài lớn và một chiếc khay, đó là những kiệt tác thực thụ. Ai cũng biết rằng sơn mài Bắc Kỳ đặc biệt nổi tiếng về mặt nguyên liệu thô. Giờ đây không có gì tự nhiên hơn khi các nghệ sĩ sơn mài Bắc Kỳ đang trở thành những nghệ sĩ sơn mài hàng đầu thế giới, tiêu biểu như ông Trần Văn Cẩn.

Sau đó, Hoàng đế đi thăm các xưởng học của trường trong trong giờ học: lớp học vẽ mẫu sống, lớp sơ cấp, giảng đường lớn và bảo tàng. Tiếp đó, đoàn di chuyển sang khu vực thứ hai của trường, nơi các giáo sư Kiến trúc: các ông Roger, Godard và Nguyễn Xuân Phương giới thiệu các đồ án khác nhau của sinh viên họ.

Triển lãm các đồ án tốt nghiệp năm 1933 đã được tập hợp lại một lần nữa và các sinh viên vừa tốt nghiệp đã có dịp trình bày với Hoàng đế tất cả những thông tin và giới thiệu về công trình quan trọng đã chiếm trọn thời gian của bọn họ trong suốt tám tháng.

Đoàn tiếp tục di chuyển đến căn phòng trưng bày cuối cùng, nơi trưng bày các tác phẩm của các sinh viên hiện đang theo học tại trường, bao gồm tranh vẽ, tượng điêu khắc, tranh sơn mài và một mảng tường rất thú vị trưng bày các mẫu chạm khắc hàng đầu của xưởng chạm khắc do giáo sư Mercier đảm nhiệm.

Các tác phẩm của các ông Nguyễn Đỗ Cung và Trần Bình Lộc đã thu hút sự chú ý mạnh mẽ. Ông Nguyễn Đỗ Cung là một thi sĩ đích thực và các tác phẩm của ông gợi nhiều suy tưởng. Ông Trần Bình Lộc có nhiều sản phẩm ở mọi thể loại: tranh lụa, tranh sơn dầu, phong cảnh, tranh nhân vật, không có gì là ông không làm được; Hoàng đế đã chọn một trong các tác phẩm của ông, một bức tranh lụa “Trên bờ đê”, để trưng bày tại cung điện Huế. Cũng cần kể đến các tác phẩm của ông Trần Văn Cẩn (“Những người đánh cá”), của Đỗ Đình Hiệp, Phạm Hậu, Lê Yên, quý cô Thị Lựu[5], Nguyễn Văn Long, và cuối cùng là các bức tượng bán thân của các ông Trần Ngọc Quyên, Đinh Văn Kháng (một bức tượng bán thân cách điệu) và của Trương Đình Ý (một bức tượng bán thân nam giới). Sau đó, đoàn di chuyển ra đường Reinach để xem các bức phù điêu bằng xi măng cốt thép, một công trình lớn vừa mới hoàn thành.

Chủ đề “Lúa và Đánh cá” tạo nên một bức toàn cảnh điêu khắc lớn, tác phẩm này do ông Georges Khánh, giáo sư điêu khắc của trường, sáng tác, và được chính ông hướng dẫn các sinh viên của ông, Trần Ngọc Quyên, Đinh Văn Kháng và Trương Đình Ý, thực hiện.

Đây là một tác phẩm đáng ngưỡng mộ với vẻ đẹp chân thực và mang tính trang trí cao, làm rạng danh cho cả thầy lẫn trò.

Chuyến viếng thăm trường kéo dài đúng một giờ đồng hồ; vị Hoàng đế trẻ và ngài Toàn quyền đã lên xe để đến Trường Viễn Đông Bác Cổ, trong khi Hiệu trưởng Trường Mỹ thuật nói với Hoàng đế rằng bầu trời Bắc Kỳ đã sáng tỏ rực rỡ cho đến giây phút này đây lại bỗng trở nên u buồn, chắc hẳn vì tiếc nuối việc Người sắp sửa rời đi.

LE VOYAGE DE SA MAJESTÉ L’EMPEREUR D’ANNAM

La journée du mardi 12 décembre 1933

Visite de l’École des Beaux-Arts de l’Indochine

(L’Avenir du Tonkin, 13 décembre 1933)

La visite de l’École des Beaux-Arts de l’Indochine par S. M. Bao-Dai a eu lieu hier matin mardi 12 décembre de 10 h à 11 heures. M. le gouverneur général Pasquier, grand amateur d’art et artiste distingué lui même, avait tenu à accompagner le jeune Souverain (on ne sait généralement pas que M. Pasquier s’est adonné passionnément à la peinture et qu’un musée de France possède un tableau de lui.)

Étaient présents : M. le gouverneur Charles, M. Tholance, résident supérieur au Tonkin, madame Tholance, M. Thibaudeau, résident supérieur en Annam, M. le maire de Hanoï Eckert, M. le directeur de l’Instruction publique Bernard, M. l’inspecteur  général [mots manquants] ordre des lettres Salles, LL. EE. Pham Quynh, Ton That Quang, Buu Thach, le lieutenant de vaisseau Barthélémy et le capitaine Brusseaux.

Le directeur de l’École des Beaux-Arts, M. Tardieu, qui, entouré des professeurs : MM. Inguimberty, Roger, Godard, Christian, docteur de Fénis, Nam Son, Nguyên xuan Phuong, attendait Sa Majesté à la grille de l’École rue de Reinach, prononce quelques paroles de bienvenue pendant que le cortège se rend à l’exposition des anciens élèves installée dans l’atelier personnel du directeur :

Sire,

Pour mes collaborateurs, mes anciens élèves et moi, fondateurs de cette école qui s’est appliquée, depuis qu’elle existe, à réveiller l’Art national annamite, c’est un grand honneur et un grand bonheur d’y recevoir aujourd’hui Votre Majesté. J’ai dit que notre école s’était appliquée à réveiller l’Art national ; j’aurais pu ajouter « populaire », car le caractère des œuvres dont vous vous voulez bien aujourd’hui visiter l’exposition [réside dans le fait] qu’elles sont uniquement inspirées par l’amour de nos jeunes artistes pour le peuple et la nature de leur pays.

Avant la fondation de cette école, on avait compris que certains sujets et non des moins brillants, réclamaient une autre formation que la culture classique et qu’au lieu de pousser la jeunesse studieuse tout entière vers les carrières administratives, il était nécessaire d’en diriger une partie sélectionnée selon ses goûts et ses aptitudes, vers l’atelier.

On avait fondé des écoles techniques, professionnelles, mais pour enseigner dans ces écoles, il fallait un corps « national » de professeurs instruits, car un peuple innombrable d’artisans est tributaire de cet enseignement.

C’est pour répondre à ce besoin que l’École des Beaux-Arts a été fondée.

Après un concours d’admission d’un niveau très élevé puisqu’il demande une préparation de deux années au minimum et qui donne accès à l’École à un dixième à peine des candidats, pendant cinq années, la moitié des journées des élèves est occupée à l’étude de l’art proprement dit : peinture ou sculpture, et l’autre moitié selon un horaire rigoureux est employée à l’étude des Arts décoratifs appliqués à l’ameublement, la ciselure, la laque, la gravure, le dessin d’étoffes, de broderies, dentelles, etc. Après cinq années de spécialisation décorative ainsi conçue, nos artistes sont capables d’exercer une influence salutaire, sur la production artisanale tout entière de leur pays.

La section d’architecture est née de la grande pitié qu’il y avait à constater dans un pays possédant une architecture nationale, un art millénaire de bâtir comportant nombre d’éléments absolument beaux et parfaitement adaptés au climat et aux mœurs, on voyait s’élever de plus en plus des édifices inspirés de tous les styles du monde, et de tous les temps.

Il a donc paru nécessaire de former un corps d’architectes annamites instruits dans leurs propres traditions, capable, tout en les respectant, de les adapter aux besoins modernes et aux matériaux nouveaux.

Votre Majesté a pu se rendre compte déjà qu’à l’Exposition coloniale de Paris en 1931, l’École des Beaux-Arts de l’Indochine avait exprimé d’une manière particulièrement convaincante, le caractère cohérent et neuf de son effort.

Il ne s’agit plus d’une simple recherche, mais bien d’une série de réussites indéniables.

Un art tout entier, l’art annamite moderne, est né, enté profondément sur le prolongement du vieil art traditionnel enfin retrouvé et qu’on n’abandonnera plus.

Le succès qui s’était dessiné nettement à l’Exposition de 1931 a continué sans arrêt grâce aux expositions permanentes de l’Agindo où nous avons réalisé un chiffre de ventes considérable malgré la crise que nous traversons.

Maintenant c’est du monde entier, d’Italie, de Hollande, surtout d’Amérique que nous parviennent des demandes d’œuvres si originales de nos artistes annamites, gentils ambassadeurs de beauté et de jeunesse. »

Sa Majesté et son cortège prirent un plaisir très vif à visiter l’exposition des anciens élèves. Sa Majesté retint un grand tableau sur soie de M. To-ngoc-Van, Cadeaux de mariages, et une tête de vieille femme par Nguyên-Lan, l’exposition des portraits de M. Le-Pho retint l’admiration de M. le gouverneur général et du Souverain, de même que deux magnifiques paravents en laque d’or et d’argent du même auteur, des œuvres de MM. Nguyên-van-Thinh, Luu-van-Sin, Tran-Phenh, Tran-binh-Loc, Nam-Son, Do-ducThuan, Nguyên-phan-Chanh, Tran-van-Can, Nguyên-huu-Dau retinrent l’attention des visiteurs, enfin l’exposition des travaux de l’atelier de laque dirigé par M. Inguimberty eut un véritable succès et M. Tardieu offrit à Sa Majesté, en souvenir de sa visite à l’École des Beaux-Arts, une magnifique boîte en laque et un plateau, véritables chefs d’œuvres. Chacun sait que la laque du Tonkin est particulièrement renommée en tant que matière première. Voilà que maintenant, et rien n’est plus naturel, les artistes laqueurs du Tonkin sont en passe de devenir les premiers laqueurs du monde tel M. Tran-v-Tran.

Sa Majesté visita ensuite les différents ateliers de l’École en pleine activité, le cours de modèle vivant, le cours élémentaire, le grand amphithéâtre et le musée, puis le cortège se rendit dans la deuxième partie de l’École où les savants et dévoués professeurs d’architecture, MM. Roger, Godard et Nguyen-xuan-Phuong, présentèrent les différents travaux de leurs élèves.

L’exposition du concours du diplôme de 1933 avait été réunie à nouveau et les nouveaux diplômés purent donner à Sa Majesté toutes les explications désirables sur cet important travail qui tient les candidats pendant huit mois.

Le cortège se rendit ensuite dans la dernière salle d’exposition des œuvres des élèves actuellement encore à l’École, contenant des peintures, des sculptures, des laques et un panneau des plus intéressants où sont exposés des échantillons de premier ordre, des travaux de l’atelier de ciselure dont l’éminent professeur est M. Mercier.

Les œuvres de MM. Nguyên-dó-Cung et Tran-Binh-Loc attirèrent vivement l’attention. M. Nguyên-do-Cung est un véritable poète et ses œuvres donnent à penser. L’activité de M. Tran-Binh-Loc se manifeste dans tous les genres, peinture sur soie, peinture à l’huile, paysage, figures : rien ne lui est indifférent, Sa Majesté retint une de ses œuvres : une peinture sur soie « Sur la diguette » pour son palais de Hué. Il convient de citer également les œuvres de MM. Tran-van-Can (les Pécheurs), Do-dinh-Hiep, Pham Hau, Lê-Yen, Mlle de thi Luu, Ng-van-Long, enfin les bustes de MM. Tran-ngoc-Quyen, Dinh-v-Khang, un buste et une oie stylisée, et de Truong-dinh-Y, un buste d’homme.

Ensuite, le cortège se rendit rue Reinach afin de voir les bas-reliefs en ciment armé, œuvre considérable qui vient d’être terminée.

Le riz et la pêche forment une grande fresque sculpturale, si l’on peut s’exprimer ainsi, dont la composition est due à M. Georges Khanh, professeur de sculpture à ‘École, qui a été exécutée sous sa direction par ses élèves MM. Tran-ngoc-Quyen, Dinh-van-Khang et Truong dinh-Y.

C’est une œuvre admirable d’une réelle beauté et d’une grande tenue décorative qui fait honneur au maître et à ses élèves.

La visite de l’École avait duré juste une heure ; le jeune souverain, Monsieur le gouverneur général montèrent en voiture pour se rendre à l’École française d’Extrême Orient, pendant que le directeur de l’École des Beaux-Arts faisait remarquer à Sa Majesté que le ciel du Tonkin, qui avait été radieux jusque là, devenait maussade, sans doute en raison de son proche départ.

[1] Về diễn từ của Tardieu, người dịch có tham khảo bản dịch của Nguyễn Đình Đăng; ảnh chụp bài báo này trên tờ L’Avenir du Tonkin cũng từ Nguyễn Đình Đăng. Xin trân trọng cảm ơn ông.

[2] Eugène Jean-Louis Charles (1865 – 1946) từng giữ chức Quyền Toàn quyền Đông Dương (Gouverneur général de l’Indochine par intérim) trong khoảng thời gian từ ngày 9/5/1916 đến ngày 22/1/1917, lúc này đã về hưu nhưng danh xưng “M. le gouverneur Charles” vẫn được báo chí đương thời trân trọng sử dụng khi ông tham dự các sự kiện ngoại giao/văn hóa.

[3] Agence économique de l’Indochine, tức là Thương vụ Đông Dương.

[4] Họa sĩ Nguyễn Tường Lân.

[5] Họa sĩ Lê Thị Lựu.

This entry was posted in Tư liệu and tagged . Bookmark the permalink.