Bình minh đỏ trên Trung Quốc – Chủ nghĩa Cộng sản Chế ngự một phần tư Nhân loại thế nào (kỳ 1)

Tác giả: Frank Dikötter

Người dịch: Nguyễn Quang A

NXB: Bloomsbury Publishing, 2026

Lời giới thiệu

Bạn đọc cầm trên tay cuốn thứ 76 của tủ sách SOS2,* cuốn BÌNH MINH ĐỎ TRÊN TRUNG QUỐC – Chủ nghĩa Cộng sản Chế ngự một phần tư Nhân loại thế nào của Frank Dikötter (Frank Dikötter RED DAWN OVER CHINA- How Communism Conquered A Quarter of Humanity) do nhà xuất bản Bloomsbury Publishing xuất bản năm 2026.

Frank Dikötter là một nhà sử học người Hà Lan, ông đã học đại học ở Geneve Thụy Sĩ (về lịch sử và tiếng Nga) rồi sang Trung Quốc học tiếng và nghiên cứu lịch sử hai năm, sau đó sang Anh làm tiến sĩ và trở thành Giáo sư về Lịch sử Trung quốc Hiện đại năm  2002, từ 2006 ông là Giáo sư Nhân văn tại Đại học Hồng Kông và cũng là thành viên cao cấp của Viện Hoover tại Đại học Stanford. Ông viết nhiều sách về lịch sử Trung quốc, nổi tiếng nhất là bộ ba The People’s Trilogy gồm ba cuốn Mao’s Great Famine 1958-1962 (Nạn đói Lớn của Mao 2010); The Tragedy of Liberation 1945-1957 (Thảm kịch của Giải phóng 2013); The Cultural Revolution 1952-1976 (Cách mạng Văn hóa) viết lại lịch sử Tai họa thảm khốc nhất của Trung quốc; Lịch sử của Cách mạng Trung quốc và Lịch sử của Nhân dân. Cuốn sách này là về giai đoạn 1921-1949 của ĐCSTQ (từ khi thành lập đến khi chinh phục Trung Hoa đại lục) nó cho thấy ảnh hưởng của Stalin lên mọi hoạt động của ĐCSTQ trong suốt thời gian đó, mối quan hệ của Liên Xô với Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn) và Quốc dân Đảng.

Đặc điểm của lối viết sử của Frank Dikötter là dựa vào tài liệu gốc địa phương và kiểm tra chéo các tài liệu đó, theo góc nhìn của dân thường và đả phá tuyên truyền bóp méo lịch sử, chính vì thế sách của ông có tính thuyết phục cao đưa ông trở thành sử gia có thẩm quyền nhất về lịch sử trung quốc hiện đại.

Do ĐCSVN có quan hệ mật thiết với ĐCSTQ (cũng như Hồ Chí Minh với M. Borodin), hầu như tất cả các lãnh đạo tiền bối của ĐCSVN đều được huấn luyện tại Trung Quốc, nhiều tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam ban đầu cũng được đào tạo tại Học viện quân sự Hoàng Phố. Chính vì thế việc hiểu đúng lịch sử của Quốc dân Đảng và ĐCSTQ cũng giúp chúng ta hiểu hơn về ĐCSVN.

Bản dịch tiếng Việt này là do AI (DeepL) dịch từ bản tiếng Anh 2026 kể trên, tôi chỉ soát lại và hiệu đính (đôi khi có đưa thêm tên bằng chữ Hán để bạn đọc tham khảo).

Xin chân thành giới thiệu với bạn đọc người Việt cuốn BÌNH MINH ĐỎ TRÊN TRUNG QUỐC.

Hà Nội ngày 09/06/2026

Nguyễn Quang A

__________

* Những cuốn trước của tủ sách SOS2:

  1. Kornai János, Con đường dẫn tới nền kinh tế thị trường, Hội Tin học Việt Nam 2001, Nhà Xuất Bản Văn hóa Thông tin 2002.
  2. Kornai János, Hệ thống xã hội chủ nghĩa, Nhà Xuất Bản Văn hóa Thông tin 2002.
  3. Daron Accemoglu, James A Robinson, Vì sao các Quốc gia Thất bại, 2012 (NXB trẻ có bản dịch khác được xuất bản 2013)
  4. Timothy Snyder, Chống Chuyên chế (On Tyranny), NXB Dân Khí, 2017
  5. Triệu Tử Dương, Tù nhân bí mật của Nhà nước – Nhật ký bí mật của Triệu Tử dương, NXB Dân Khí, 2019
  6. Gabriel Zucman, Của cải Giấu giếm của các Quốc gia, NXB Dân Khí, 2019
  7. Emmanuel Saez và Gabriel Zucman, Chiến thắng của sự Bất công:
  8. Amartya Sen, Quê Nhà trong Thế giới, NXB Dân Khí, 2021
  9. Desmond Shum, Roulete Đỏ, NXB Dân Khí, 2021
  10. Katherine M. Gehl và Michael E. Porter, Ngành Chính trị, NXB Dân Khí, 2021
  11. Ronald Inglehart và Christian Welzel, Hiện đại hóa, sự Thay đổi Văn hóa và Dân chủ, NXB Dân Khí, 2022
  12. Ronald Inglehart, Sự Tiến hóa Văn hóa, NXB Dân Khí, 2022
  13. Blanko Milanovic, Bất bình đẳng Toàn cầu, NXB Dân Khí, 2022
  14. Blanko Milanovic, Chủ nghĩa tư bản, Một mình, NXB Dân Khí, 2022
  15. Julia Cagé, Cứu Media, NXB Dân Khí, 2022
  16. Moisés Naím, Sự Trả thù của Quyền lực, NXB Dân Khí, 2022
  17. David Van Reybrouck, Chống Bầu cử – Biện hộ cho Dân chủ, NXB Dân Khí, 2022
  18. John Gastil và Eric Olin Wright biên tập, Cơ quan Lập pháp bằng rút Thăm, NXB Dân Khí, 2023
  19. Timothy Snyder, Đường tới không-Tự do, NXB Dân Khí, 2023
  20. Yves Sintomer, Chính phủ Tình cờ, NXB Dân Khí, 2023
  21. Daron Accemoglu và Simon Johnson, Quyền lực và Tiến bộ, NXB Dân Khí, 2024
  22. Jason Hannan, Trolling bản thân chúng ta đến chết, NXB Dân Khí, 2024
  23. David Daokui Li, Thế giới quan của Trung Quốc, NXB Dân Khí, 2024
  24. Fareed Zakaria, Thời đại cách mạng, NXB Dân Khí, 2024
  25. Dan Slater và Joseph Wong, Từ Phát triển đến Dân chủ, NXB Dân Khí, 2024
  26. Timothy Snyder, Về Tự do, NXB Dân Khí, 2025
  27. Magyar Bálint và Maldovics Bálint, Một tóm tắt cô đọng về các chế độ hậu-cộng sản, NXB Dân Khí, 2025
  28. Richard Seymour, Chủ nghĩa Dân tộc Tai họa – sự Suy sụp của nền Văn minh Tự do, NXB Dân Khí, 2025
  29. Bùi Mẫ Hân, Giấc mơ Trung Hoa Tan vỡ, NXB Dân khí, 2026
  30. Felix Chuev, Molotov Nhớ lại – Chính trị Nội bộ Kremlin NXB Dân Khí, 2026

 

Lời nói đầu

Thời gian nghiền nát mọi thứ thành bụi: ký ức, con người, vật dụng, thậm chí cả những tòa nhà được thiết kế để tồn tại ngàn năm. Cho đến gần đây, đại đa số mọi người không để lại gì ngoài bộ quần áo trên người, thế nhưng ngay cả trong thời đại kỹ thuật số của chúng ta, việc tìm kiếm trên internet về một người bạn thân hay thành viên gia đình đã qua đời chỉ vài năm trước có thể chỉ mang lại vỏn vẹn vài kết quả đáng thương. Chúng ta không thể gọi họ trở lại, dù chỉ trong chốc lát, để hỏi những câu hỏi mà giờ đây rất quan trọng đối với chúng ta, cũng như không thể du hành ngược thời gian, dù chỉ để cảm nhận nhịp đập xã hội của một thời đại đã biến mất. Tuy nhiên, chúng ta có thể đắm mình vào những tư liệu của quá khứ, từ các cuộc phỏng vấn bằng lời nói, những lá thư cá nhân hay bưu thiếp được cất giữ trong một tập hồ sơ, cho đến những kho lưu trữ khổng lồ của các cơ quan nhà nước. Đó là một công việc đầy khiếm khuyết, có thể chiếm hết thời gian, thậm chí là bất khả thi, nhưng vẫn là lựa chọn tốt nhất thay thế cho việc du hành thời gian.

Trong trường hợp của Trung Quốc, còn có một khó khăn thêm: đất nước này đã bị đóng cửa hoàn toàn trong nhiều thập kỷ sau khi Đảng Cộng sản lên nắm quyền vào năm 1949, và ngay cả ngày nay, việc tiếp cận các nguồn tư liệu gốc – đặc biệt là các kho lưu trữ của Đảng – giỏi nhất vẫn là rất hú họa, nếu không muốn nói là khó khăn. Đảng kiểm soát lịch sử, không chỉ lịch sử của chính mình mà còn cả lịch sử của những đối thủ từng đối đầu với họ.

Bất chấp những hạn chế này, một ửa sổ nhìn vào quá khứ vẫn được mở ra nhờ một dự án quy mô lớn do chính Đảng thực hiện từ năm 1981 đến 1989. Kho lưu trữ Trung ương của Đảng, dưới sự kiểm soát của Ban Chấp hành Trung ương, phối hợp với các kho lưu trữ tỉnh từ mọi miền đất nước, đã biên soạn bộ gồm hơn 300 tập chứa các tài liệu gốc của Đảng từ năm 1923 đến 1949. Các tập sách này được in với số lượng hạn chế và lưu hành trong phạm vi hẹp, nghĩa là chúng chỉ dành cho các đảng viên cấp cao. Tuy nhiên, dù không thể mua được ở các hiệu sách hay tra cứu tại thư viện công cộng, chúng vẫn tìm đường vượt biên giới sang Hồng Kông.

Với 400 đến 600 trang mỗi tập, bộ sưu tập này là nền tảng vô song cho bất kỳ ai mong muốn tìm hiểu sâu hơn về lịch sử Đảng Cộng sản. Tuy nhiên, một cách khá nghịch lý, nó chỉ được các nhà sử học sử dụng một cách thưa thớt. Có lẽ lý do nằm ở một nghịch lý khác: điều trở nên rõ ràng qua từng tài liệu là Đảng Cộng sản đã từng ở vị trí rất mờ nhạt trong lịch sử Trung Quốc, từ khi thành lập năm 1921 cho đến khi Chiến tranh Thế giới Thứ hai kết thúc vào năm 1945. Tại Wuxi, thành phố công nghiệp phía bắc Thượng Hải, nơi tiếng còi hơi và còi báo động điện báo hiệu ca làm việc cho hơn 100.000 công nhân, Đảng chỉ có 25 đảng viên vào năm 1929. Người ta có thể viện dẫn sự đàn áp không ngừng và đẫm máu, nhưng ngay cả trước khi các đảng viên Cộng sản ở Chiết Giang (Zhejiang) bị buộc phải hoạt động bí mật vào tháng 4 năm 1927, tỉnh Chiết Giang – với dân số 20 triệu người – cũng chỉ có không quá 2.600 đảng viên (khoảng 1 trên 7.700 người). 1 Vô số báo cáo từ các vùng khác của đất nước phàn nàn rằng các đảng viên hiếm khi đóng hội phí, ít quan tâm đến lý luận, ít tham dự các cuộc họp và lãng phí nguồn lực địa phương. Họ không phải là những người theo chủ nghĩa Marx-Lenin có kỷ luật. Một số chi bộ chỉ tồn tại trên giấy tờ, khi các đại diện của họ thổi phồng số lượng để đòi hỏi thêm nguồn lực từ chính quyền trung ương. Hầu hết các quốc gia châu Âu, ngoại trừ Đức Quốc xã, đều có tỷ lệ đảng viên Cộng sản so với tổng dân số cao hơn bất kỳ tỉnh nào ở Trung Quốc. Ngay cả Bồ Đào Nha, dù phải chịu sự đàn áp dữ dội dưới thời António de Oliveira Salazar, cũng có khoảng 25.000 đảng viên vào năm 1934, tương đương 1 người trên 280, trong khi ở Trung Quốc trước năm 1940, con số này không vượt quá 1 trên 1.700, ngay cả khi chúng ta chấp nhận những con số được thổi phồng quá mức do Comintern (tên viết tắt của Quốc tế Cộng sản, một tổ chức được thành lập năm 1919 tại Moscow nhằm thúc đẩy cách mạng toàn cầu) cung cấp. Mức độ này tương đương với số lượng đảng viên Cộng sản tại Hoa Kỳ, một quốc gia thường không được coi là đầu tàu của phong trào Cộng sản thế giới. Phần Lan, nơi Đảng Cộng sản bị cấm hoạt động, có khoảng 5.000 đảng viên vào năm 1935, tương đương với 1 trên 700 người. Tỉnh Cam Túc (Gansu甘肃), một vùng nông thôn hẻo lánh cực kỳ nghèo khó với 6,7 triệu dân, được coi là mảnh đất chín muồi cho cách mạng theo lý thuyết Marxist, chỉ có 264 đảng viên vào năm 1939, chưa đến 1 trên 25.000 người. Sau một đợt thanh trừng nội bộ nhằm loại bỏ những đảng viên được coi là chưa đủ tận tụy với sự nghiệp cách mạng, số đảng viên tại Cam Túc giảm xuống còn 143 vào cuối năm. Chỉ sau năm 1945, Đảng mới bắt đầu phát triển đáng kể. 2

Các nguồn tư liệu chính từ các nhà quan sát nước ngoài xác nhận xu hướng này. Một tùy viên quân sự Hoa Kỳ, người có nhiệm vụ đi khắp đất nước để đánh giá cán cân lực lượng quân sự, đã chỉ ra vào tháng 2 năm 1934 rằng “niềm tin vào mối đe dọa từ chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc không có cơ sở thực tế”: Đảng chỉ kiểm soát chưa đến 2% lãnh thổ Trung Quốc, không tính Mông Cổ, Mãn Châu và Tây Tạng. Trong số các vùng lãnh thổ mà họ kiểm soát có Soviet Giang Tây khét tiếng, nơi đã phát hành tem và tiền tệ riêng, tất cả đều in hình Mao Trạch Đông. Lãnh thổ này nghèo nàn, đồi núi và kém màu mỡ, do đó rất không hấp dẫn. “Hiện nay không có một thành phố lớn, một cảng biển hay một khu vực tạo ra nguồn thu nào nằm dưới sự kiểm soát của cộng sản,” tùy viên kết luận. 3

Bản chất bên lề của chủ nghĩa cộng sản hẳn đã rõ ràng với bất kỳ độc giả báo chí nào trong thời kỳ Cộng hòa, một giai đoạn biến động lớn giữa sự sụp đổ của đế chế năm 1911 và sự ra đời của chế độ Cộng sản năm 1949. Ngay cả những thời khắc chiến lược quan trọng cũng hiếm khi trở thành tin tức hàng đầu, ví dụ như sự sụp đổ vào tháng 10 năm 1934 của Soviet Giang Tây sau nhiều chiến dịch bao vây của chính phủ trung ương, buộc Mao và các đồng minh phải rút lui khỏi khu vực này trong một cuộc rút lui thiếu tổ chức, sau này được gọi là “Cuộc hành quân dài (Trường Chinh)”. Người ta có thể nghi ngờ về việc kiểm duyệt, nhưng chính phủ Quốc dân đảng lại vui mừng thông báo về việc tiến vào Ningdu (Ninh Đô) – thủ đô đỏ của Mao – một cách chiến thắng trên trang 3 của các tờ báo.

Các báo cáo dày đặc do các cơ quan lãnh sự nước ngoài từ mọi vùng miền trong cả nước gửi về đã xác nhận vị thế mờ nhạt của phong trào Cộng sản. Cạnh tranh để thu hút sự chú ý là rất nhiều tổ chức khác, từ các hội kín đến các băng đảng địa phương và nhóm cướp, nhiều nhóm lợi dụng dân làng địa phương, một số ít lại chiêu mộ họ vào hàng ngũ của mình. Một số tổ chức phát triển đủ lớn để hoạt động như một chính quyền bóng tối, tìm kiếm sự thỏa hiệp với cộng đồng địa phương và bảo vệ họ khỏi các băng cướp khác. Suốt thời gian đó, từ rất lâu trước khi đế chế sụp đổ, các chiến dịch đàn áp đã được phát động không liên tục, mặc dù chúng luôn gây ra tổn thất cho dân chúng địa phương. Tỉnh Hà Nam – vốn luôn nghèo hơn các tỉnh láng giềng – có hơn 50.000 tên cướp vào đầu các năm 1920, trong khi tỉnh Hồ Nam chỉ có dưới 2.000 tên.4 Như tổng lãnh sự tại Thượng Hải đã nhận xét vào năm 1920, các cuộc bạo loạn địa phương, cuộc nổi loạn của binh lính và việc cướp bóc các thị trấn là những sự kiện lặp đi lặp lại một cách mãn tính ở Trung Quốc. 5 Ngoài ra còn có những mối quan hệ liên tục thay đổi và thỉnh thoảng xảy ra các cuộc đụng độ bạo lực giữa các lực lượng quân sự địa phương, tỉnh và trung ương trong một đất nước khổng lồ vẫn đang tìm kiếm sự lãnh đạo trung ương vào năm 1930. Đến thời điểm đó, Trung Quốc có diện tích tương đương với châu Âu, với 500 triệu dân. Có những cuộc chiến tranh với nước ngoài quy mô lớn, như cuộc chiến tranh Trung-Xô năm 1929 với sự tham gia của hàng trăm nghìn binh sĩ, chưa kể đến cuộc xâm lược Mãn Châu của Nhật Bản năm 1931, tiếp theo là những hành vi xâm phạm liên tục cho đến khi chiến tranh được tuyên bố vào năm 1937.

Tuy nhiên, rất ít điều này được phản ánh trong các tài liệu hiện có. Dù là các công trình học thuật hay sách phổ thông về lịch sử Trung Quốc hiện đại, câu chuyện thường bị chi phối quá mức bởi Đảng Cộng sản. Đôi khi nó giống như một câu chuyện cổ tích: đất nước bị tàn phá bởi một liên minh bất chính giữa các “cường quốc đế quốc” và “các thế lực phản động”, Đảng Cộng sản huy động “nông dân” bằng cách tịch thu đất đai của người giàu và phân phối cho người nghèo, sau đó họ dần dần đoàn kết nhân dân trong cuộc chiến chống lại kẻ xâm lược Nhật Bản và Quốc Dân Đảng phái phát xít, kẻ thù không đội trời chung do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo. Không nghi ngờ gì nữa, câu chuyện này có rất nhiều biến thể, nếu không muốn nói là gây tranh cãi, nhưng về bản chất, nó vẫn tuân theo tầm nhìn lịch sử của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Đảng Cộng sản không chờ đến khi giành chiến thắng vào năm 1949 mới xóa bỏ các ghi chép lịch sử và kiểm soát cách kể chuyện. Sau khi lang thang khắp miền nam đất nước để tìm kiếm một căn cứ mới trong hơn một năm rưỡi trong cuộc “Trường Chinh”, chỉ có 6.000 người đàn ông và một số phụ nữ đã đến miền bắc Thiểm Tây (Shaanxi 陕西) vào năm 1935. Tại đó, họ hợp nhất với một lực lượng địa phương có quy mô tương đương và thành lập một Hồng Quân mới. 6 Sau khi xem xét kỹ lưỡng, Mao đã mời Edgar Snow, một nhà báo trẻ đầy lý tưởng từ Missouri, đến phỏng vấn ông. Mọi chi tiết của cuộc gặp gỡ đều được chỉ đạo cụ thể: “An ninh, bí mật, sự nồng hậu và thảm đỏ”. 7 Snow đã dành vài tháng tại căn cứ Cộng sản, bị cuốn hút bởi phiên bản huyền thoại mà Mao kể về bản thân và Đảng của ông. Vài tháng sau, một bài báo xuất hiện trên tạp chí China Weekly Review tại Thượng Hải, giới thiệu vị lãnh đạo bí ẩn của Đảng Cộng sản Trung Quốc với phần còn lại của thế giới. Snow đã mô tả một nhóm lính đỏ lẻ tẻ, ẩn náu sâu trong vùng nội địa, như một lựa chọn khả thi hơn so với chính phủ trung ương với 1,7 triệu binh sĩ. Mao là nhà lãnh đạo tương lai trong cuộc kháng chiến chống lại quân xâm lược Nhật Bản. 8 Tất cả đều là sự kiêu ngạo. “Ngôi sao đỏ trên Trung Quốc”, cuốn sách dài kể về Mao và Đảng Cộng sản, ra mắt một năm sau đó, trở thành bestseller ngay lập tức và được dịch sang nhiều ngôn ngữ. Cuốn sách đã biến Mao thành một cái tên quen thuộc với mọi người và trở thành cơ sở cho tất cả các bản tường thuật sau này về sự trỗi dậy của Đảng Cộng sản, và theo đó là lịch sử Trung Quốc hiện đại. Về bản chất, đây là một câu chuyện lãng mạn về những người Cộng sản chiến đấu trên núi để giành tự do, một câu chuyện kiểu David và Goliath, trong đó sự đồng cảm dành cho cậu bé cầm súng cao su.

Vì Đảng Cộng sản kiểm soát quá khứ, nên mọi thứ không liên quan hoặc đi ngược lại thành công của đảng đều bị đẩy vào quên lãng. Trong khi các kho lưu trữ của chính Đảng này chứa đầy những tài liệu đề cập đến Đoàn Thanh niên Cộng sản — một đối thủ thường được ưa chuộng hơn nhiều — thì tổ chức này, vốn có nhiệm vụ tuyển mộ thanh niên, lại hiếm khi được sử học chính thống đề cập chi tiết. Một loạt các tiếng nói đối lập, bao gồm truyền thống phong phú về tư tưởng và thực tiễn dân chủ tồn tại suốt thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc, đã bị đẩy vào bóng tối sau năm 1949. 9 Giống như câu chuyện về David và Goliath, không ai còn đứng vững ngoại trừ Mao, người được trang bị niềm tin lý tưởng, đối đầu với Tưởng Giới Thạch, nhà lãnh đạo phát xít của bộ máy chính quyền tham nhũng và tàn bạo. Những phần lớn của lịch sử đã bị kiểm duyệt, hoàn toàn không được biết đến hoặc vẫn chưa được khai thác, và không chỉ trong sử học chính thức của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Người ta có thể tìm kiếm vô ích trong các tài liệu thứ cấp bằng tiếng Anh để tìm một đề cập nào đó về cuộc chiến Trung-Xô năm 1929, cuộc xung đột quân sự lớn nhất giữa Trung Quốc và một cường quốc châu Âu từng diễn ra trên đất Trung Quốc. Theo Michael Walker, người đã xuất bản một cuốn sách về chủ đề này vào năm 2017, danh sách các nhà sử học về Trung Quốc hiện đại không đề cập đến cuộc chiến này dù chỉ trong một câu là “cả dài lẫn ấn tượng”. 10 Những nhận xét tương tự cũng có thể được đưa ra về nhiều sự kiện quan trọng khác, như chúng ta sẽ thấy. Như Robert Marquand chỉ ra, trong khi lịch sử trên toàn cầu đã bị xem xét kỹ lưỡng, chất vấn, phân tích và tái cấu trúc, thì phiên bản chiến thắng về quá khứ của Trung Quốc “vẫn nguyên vẹn một cách kỳ lạ”, dù ở trong nước hay nước ngoài. 11

Có rất nhiều tài liệu gốc có thể giúp chúng ta lặn lội trong dòng nước đục ngầu của quá khứ. Bên cạnh bộ sưu tập khổng lồ các tài liệu nội bộ của Đảng đã đề cập ở trên, người ta có thể tham khảo các kho lưu trữ của Quốc Dân Đảng, được lưu giữ ở ngoại ô Đài Bắc, cũng như các hồ sơ cá nhân của Tưởng Giới Thạch. Không một nghiên cứu nào về phong trào Cộng sản ở Trung Quốc có thể tiến hành mà không tham khảo các kho lưu trữ của các cường quốc, đặc biệt là Anh, Pháp và Hoa Kỳ. Tại Thượng Hải, cơ quan Sûreté nổi tiếng, hay còn gọi là Chi nhánh Đặc biệt, có hơn hai nghìn nhân viên, bao gồm các đặc vụ và phiên dịch viên. Một phần nhiệm vụ của họ là theo dõi các đặc vụ của Quốc tế Cộng sản, cả người địa phương lẫn người nước ngoài. Tài liệu của Nga là không thể thiếu, bao gồm các tài liệu của Quốc tế Cộng sản về Trung Quốc, được xuất bản thành năm tập tại Moscow từ năm 1994 đến 2007. 12

Điều gì nổi lên từ cách tiếp cận dựa trên bằng chứng? Từ khóa chính là bạo lực, và sự sẵn sàng gây ra bạo lực. Chủ nghĩa cộng sản chưa bao giờ được ưa chuộng ở Trung Quốc, cũng không hơn gì ở Phần Lan hay Hoa Kỳ, và nó được áp đặt lên người dân bằng nòng súng. Đảng Cộng sản được thành lập vào năm 1921 với sự giúp đỡ của Comintern, một tổ chức do Moscow thành lập vào năm 1919 để “chiến đấu bằng mọi phương tiện có thể, bao gồm cả vũ lực, nhằm lật đổ giai cấp tư sản quốc tế”. 13

Comintern cũng quan tâm đến Quốc Dân Đảng, một tổ chức cách mạng được thành lập dưới một tên gọi khác vào năm 1912 sau khi nhà Thanh bị lật đổ bởi một liên minh lỏng lẻo của các nhà lãnh đạo quân sự. Những người này nhanh chóng mâu thuẫn với nhau, mỗi phe kiểm soát một khu vực khác nhau của đất nước. Moscow cung cấp nhân lực, tiền bạc và vũ khí, đổi lại yêu cầu phải cho phép các đảng viên Cộng sản gia nhập hàng ngũ của họ. Khi Quốc Dân Đảng khởi động chiến dịch quân sự nhằm thống nhất đất nước vào năm 1926, các đảng viên Cộng sản trong hàng ngũ của họ đã xúi giục đám đông cướp bóc và đốt phá tài sản của các thương gia và địa chủ giàu có dọc đường. Họ còn chỉ đích danh người nước ngoài là tay sai của chủ nghĩa đế quốc, gây ra hỗn loạn đến mức Tưởng Giới Thạch buộc phải loại bỏ họ khỏi hàng ngũ và chấm dứt liên minh do Stalin áp đặt.

Trong những năm sau đó, Đảng Cộng sản để lại một vệt tàn phá, sống nhờ vào của cướp và tiền chuộc khi họ bao vây các thị trấn, đốt phá các tòa nhà chính phủ, giết hại những kẻ được gọi là “kẻ thù giai cấp”, tịch thu tài sản của họ và phân phát cho binh lính. Khi các nguồn cướp bóc cạn kiệt và lực lượng chính phủ đến giải cứu, Đảng Cộng sản buộc phải tìm kiếm những vùng đất màu mỡ hơn ở nơi khác.

Năm 1930, Đảng Cộng sản bắt đầu thay đổi chiến lược, cố gắng giữ vững lãnh thổ với hy vọng xây dựng một quân đội chính quy. Nhưng họ liên tục phải đối mặt với cùng một vấn đề: làm thế nào để bãi bỏ thuế và phân phối đất đai nhân danh chủ nghĩa cộng sản trong khi vẫn thu được đủ nguồn thu để nuôi sống chính binh lính của mình. Lần này qua lần khác, họ nhận ra rằng không có khoản thặng dư kỳ diệu nào để phân phát. Hậu quả của việc tịch thu đất đai là sự nghèo đói gia tăng cho tất cả mọi người, khi những nông dân dù chỉ sở hữu một phần tài sản nhỏ nhất cũng bị tước đoạt một cách cưỡng bức, khiến những người khác phải giấu giếm tài sản và chỉ sản xuất đủ mức tối thiểu cần thiết để sinh tồn. Các nhà Cộng sản cũng tiến hành các cuộc thanh trừng bạo lực nhằm vào một loạt kẻ thù thực sự hoặc tưởng tượng, dù là những người dân làng lên tiếng phản đối sự bóc lột của chế độ hay những người bị nghi ngờ thông đồng với kẻ thù. Những chiến thuật này đều cản trở một nền kinh tế sản xuất, chưa kể đến niềm tin vào lý tưởng.

Đến năm 1936, sau khi bị buộc phải lang thang qua địa hình khắc nghiệt trong hơn một năm, cả lực lượng Cộng sản lẫn lý tưởng của họ đều cạn kiệt. Stalin, một lần nữa, can thiệp, cứu họ khỏi sự diệt vong. Sau khi Nhật Bản tuyên chiến vào tháng 7 năm 1937, Moscow bắt đầu cung cấp hỗ trợ hậu cần quan trọng cho phe Quốc dân đảng, những người một lần nữa buộc phải chấp nhận liên minh với phe Cộng sản. Trong những năm tiếp theo, Quân đội Nhật Bản sẽ thực hiện những gì mà phe Cộng sản không thể làm được, cụ thể là tấn công, tiêu diệt hoặc đẩy lùi các lực lượng chính phủ khỏi tất cả các thành phố lớn dọc bờ biển. Ngược lại, phe Cộng sản vẫn an toàn ẩn náu ở vùng sâu vùng xa, một khu vực núi non nghèo nàn, bụi bặm và biệt lập trên cao nguyên hoàng thổ thuộc tỉnh Thiểm Tây, với thủ phủ là Yan’an (Diên An).

Bạo lực không chỉ là điều ngẫu nhiên trong cuộc cách mạng. Như Simon Schama đã nhận xét về Cách mạng Pháp, bạo lực chính là động lực của nó ngay từ đầu, bởi các nhà cách mạng cam kết lật đổ trật tự cũ. Nhưng một cuộc cách mạng cũng dựa trên tầm nhìn về một tương lai tốt đẹp hơn. Đảng Cộng sản liên tục đưa ra những cam kết và hứa hẹn: địa chủ sẽ bị kiềm chế, người nước ngoài sẽ bị trục xuất, các nhà tư bản sẽ phải chịu trách nhiệm. Năm 1940, Mao xuất bản một cuốn sách nhỏ có tựa đề “Về Dân chủ Mới”, miêu tả Đảng Cộng sản như một mặt trận rộng lớn nỗ lực đoàn kết tất cả các “giai cấp cách mạng”. Ông hứa hẹn một hệ thống đa đảng, các quyền tự do dân chủ và việc bảo vệ tài sản tư nhân. Đó là một chương trình hoàn toàn hư cấu, nhưng lại có sức hấp dẫn rộng rãi đối với quần chúng, khi hàng chục nghìn sinh viên, giáo viên, nghệ sĩ, nhà văn và nhà báo đổ xô đến Diên An trong những năm tiếp theo. Ngay sau khi đến nơi, những tân binh này bị buộc phải tự kiểm điểm quá khứ và tố cáo lẫn nhau. Hàng nghìn người bị nghi ngờ bị giam giữ, điều tra, tra tấn, thanh trừng và thỉnh thoảng bị xử tử, ngay cả khi tuyên truyền vẫn tiếp tục phát đi thông điệp về công lý và bình đẳng cho tất cả.

Đến năm 1945, Mao đã xây dựng được một cỗ máy tuyên truyền hùng mạnh và một Đảng được kiểm soát chặt chẽ, cùng với một hồng quân hùng hậu, mặc dù ông chỉ kiểm soát một phần nhỏ của đất nước. Stalin một lần nữa ra tay giúp đỡ, gửi gần một triệu binh sĩ vượt qua biên giới Siberia để tiến quân theo hướng tới Triều Tiên, chiếm đóng khu vực Mãn Châu có vị trí chiến lược và công nghiệp quan trọng trên đường đi. Người Nga ở lại cho đến tháng 5 năm 1946, ngăn chặn chính quyền trung ương của Tưởng Giới Thạch, âm thầm chuyển giao các vùng nông thôn cho phe Cộng sản và giúp Mao biến các chiến binh du kích của mình thành một cỗ máy chiến đấu hùng mạnh.

Chiến thuật hao mòn dần trở thành phương pháp chủ đạo, khi phe Cộng sản thể hiện quyết tâm lớn hơn chính phủ, tiến hành một cuộc chiến tàn bạo bằng lửa, đói khát và gươm giáo. Vào tháng 5 năm 1948, họ bắt đầu bao vây các thành phố ở Mãn Châu, ép buộc chúng đầu hàng bằng cách gây đói khát. Thành phố Trường Xuân rơi vào tay phe Cộng sản vào tháng 10 sau khi 160.000 dân thường chết đói trong cuộc bao vây kéo dài sáu tháng. Người dân làng, bị ép buộc nhập ngũ, được tung vào chiến trường với số lượng ngày càng lớn để chống lại quân địch trong những đợt tấn công được gọi là “sóng người” – một chiến thuật sẽ khiến quân đội Liên Hợp Quốc bị áp đảo vài năm sau đó trong Chiến tranh Triều Tiên. Trong suốt cuộc nội chiến kéo dài từ năm 1945 đến năm 1949, hàng triệu người tị nạn đã cố gắng trốn chạy, đổ xô vào lãnh thổ do chính phủ kiểm soát và đẩy các dịch vụ vốn đã quá tải đến giới hạn. Không ai từng chứng kiến người dân chạy trốn về các khu vực do phe Cộng sản kiểm soát trong cuộc nội chiến. Các thành phố lần lượt sụp đổ như những quân cờ domino, các nhà lãnh đạo của chúng lo sợ trước hậu quả của việc chống lại cỗ máy chiến tranh do phe Cộng sản xây dựng. Tưởng Giới Thạch và chính phủ của ông đã chạy trốn sang Đài Loan, còn được gọi là Formosa. Đến cuối năm 1949, sau một chiến dịch quân sự dài đằng đẵng và đẫm máu, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cuối cùng đã được tuyên bố thành lập. Đảng Cộng sản gọi việc chinh phục đất nước này là một “cuộc giải phóng”.

Suốt nhiều thế hệ, các nhà sử học đã giải thích cuộc “giải phóng” này như một chiến thắng của những lực lượng xã hội vĩ đại được Đảng Cộng sản giải phóng và khai thác, những người đề xuất một tầm nhìn tiến bộ phù hợp hơn với tinh thần của thời đại hiện đại. 14 Trên thực tế, Đảng Cộng sản Trung Quốc, đặc biệt là Chủ tịch của nó, đã trở nên quyết tâm hơn các đối thủ trong việc tiến hành chiến tranh không giới hạn, không tuân theo bất kỳ quy tắc nào. Họ xuất sắc trong việc theo đuổi quyền lực theo cách rất truyền thống, áp đảo đối thủ thông qua việc áp dụng chiến lược quân sự một cách vô đạo đức, bao gồm mọi chiến thuật cổ xưa do Tôn Tử và các nhà chiến lược vĩ đại khác trong quá khứ đề ra: giả vờ, nói dối, lừa gạt, rút lui, tấn công, chạy trốn, phá hoại; coi mọi thứ đều là phương tiện để đạt được mục đích. Và, khi cuối cùng đã ở vị trí có thể tấn công, họ sẽ áp đảo kẻ thù trong một cuộc chiến hao mòn không ngừng. Hơn hết, hãy tin tưởng vào sự nghiệp.

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged , . Bookmark the permalink.