Tino Cao

Đọc Ngu Yên, tôi thường gặp một cảm giác vấp. Mắt đang đi theo câu thơ bỗng khựng trước một chữ lệch nghĩa, một tổ hợp trái thói quen, một câu vừa mở ra đã lập tức đổi hướng. Độ vấp ấy là dấu hiệu đầu tiên của thi pháp Ngu Yên. Chữ trong thơ ông hiếm khi chấp nhận như một thứ phương tiện trong suốt để chuyên chở ý tưởng. Chữ giữ lại âm sắc, lịch sử sử dụng và khả năng liên tưởng riêng; khi đứng cạnh nhau, những con chữ ấy có thể đẩy câu thơ sang hướng mới. Suốt gần nửa thế kỉ, Ngu Yên liên tục thử sức chịu đựng của tiếng Việt, xem cú pháp có thể co giãn đến đâu, một từ quen thuộc có thể gợi thêm bao nhiêu cách hiểu, nhạc tính sẽ nảy sinh thế nào khi khuôn vần được tháo ra. Người đọc phải chậm lại, quay về đầu câu, tách một tổ hợp rồi ghép theo lối khác. Trật tự truyền thống quen thuộc bị xáo động để tri giác lấy lại độ nhạy trước chữ.
Ngay bút hiệu “Ngu Yên” cũng chứa trong ấy một tiểu sử chữ nghĩa. Nguyễn Hiền Tiên, tên thật của ông, chọn bút danh ấy theo âm “Nguyễn” qua cách phát âm của người Mĩ, như lời ông kể trong cuộc trò chuyện với Trần Vũ. Một họ Việt qua tai người bản xứ, mất âm cũ, nhận âm mới, rồi được viết lại thành bút hiệu. Sự sai âm có thêm tư cách sáng tạo. “Nguyễn” thuộc huyết thống và quê quán; “Ngu Yên” thuộc đời sống di dân, đồng thời gợi hai phẩm tính “ngu” và “yên” để tác giả tự trào. Kinh nghiệm lưu vong trong thơ Ngu Yên nằm ngay trong sự đổi thay của tiếng mẹ đẻ. Người di dân tiếp tục dùng chữ cũ, song mỗi chữ hấp thu thêm thực tế xã hội và hệ giá trị của xứ sở mới. Thơ ông khởi sự từ độ chênh vênh giữa chữ còn nguyên và đời sống khác, rồi buộc tiếng Việt ghi nhận những biến đổi xảy ra trong tâm thức người viết.
Mỗi nhan đề tác phẩm cho thấy rõ ý thức ấy. “Hóa ra nét chữ lên đàng quẩn quanh” đặt cạnh nhau hai chuyển động trái chiều. “Lên đàng” gợi một cuộc ra đi có mục đích, “quẩn quanh” kéo hành trình về lại vòng lặp quanh quẩn. Nét chữ lên đường rồi vướng trong mê lộ do chính mình tạo ra. Nhan đề có thể xem như một tự thuật thi pháp. “Tựa đề ở bên trong” dời nhan đề từ vùng cận văn bản vào nội tại tác phẩm, khiến hành vi đặt tên hóa thành vấn đề của thơ. “Đôikhibấtchợt” xóa ba khoảng trắng của một cụm từ quen, buộc mắt tự chia chữ; thao tác thị giác diễn lại trạng thái bất chợt mà nhan đề gọi tên. “Thỡ” ghép “thơ” với “thở” bằng dấu thanh sai chuẩn. Dấu ngã làm chữ nghiêng khỏi hệ thống, đồng thời giữ chung hai ý niệm mà từ có sẵn khó chứa trọn. Mỗi nhan đề vừa giới thiệu tác phẩm, vừa báo trước cách chữ sẽ tự biến đổi bên trong.
Đặt trong thi pháp học hiện đại, cách viết ấy gần với khái niệm “xa lạ hóa” (défamiliarisation) của Viktor Shklovsky. Một chữ quen, khi được đặt cạnh những chữ ít khi đi cùng nó hoặc chuyển sang một vị trí khác trong câu, có thể gợi ra cách hiểu mới. Ngu Yên cũng tự đặt giới hạn cho sự tìm tòi ấy. Chữ mới chỉ nên được tạo ra khi vốn từ hiện có chưa diễn đạt được ý tứ cần nói; sáng chế chữ cốt để phô tài dễ khiến bài thơ chỉ còn là trò kĩ thuật chữ và mất đi chiều sâu. Quan niệm này cũng cung cấp tiêu chuẩn để đọc chính thơ ông. Giá trị của một cú bẻ chữ nằm ở phần nghĩa được sinh thêm. Khi biến dạng ngôn ngữ gắn với kinh nghiệm sống, câu thơ tạo được cách cảm nhận mới. Những bài kém thuyết phục thường để khái niệm đi trước cảm giác, khiến chữ phải minh họa cho chủ thuyết sáng tác. Ngu Yên có ý thức sâu về ngôn ngữ, đồng thời thử đến sát giới hạn dụng công.
“Tô phở Việt Nam” là trường hợp trò chơi chữ đạt tới nhu cầu biểu đạt. Bốn cụm “chín quá khứ, tái hiện tại, gân tương lai, nạm thân thế” lấy tên các phần thịt ghép với khái niệm trừu tượng. “Chín” vừa chỉ độ chín của thịt, vừa gợi một quá khứ hoàn tất. “Tái” đứng trước “hiện tại” tạo hai lối đọc, một miếng thịt tái thuộc hiện tại và hành động tái hiện thời gian đã mất. “Gân” đem cảm giác dai vào tương lai; “nạm” đặt thân thế ngang hàng với nguyên liệu ăn uống. Cấu trúc song song khiến thực đơn hóa thành ngữ pháp của đời lưu xứ. Miệng là chỗ nếm phở, cũng là chỗ phát âm tiếng Việt. Quê hương được ghi nhận lại cùng lúc bằng vị giác và lời nói. Người xa xứ ăn một món quen cũng đang gọi lại tên rau, tên thịt, tên miền đất, tên quan hệ gia đình; mỗi tiếng gọi đưa quá khứ vào thân thể. Căn cước đi vào lưỡi, răng, cổ họng và hơi ấm của nước dùng. Bài thơ có sức nặng vì chữ nghĩa mọc lên từ kinh nghiệm vật chất cụ thể.
“Ái tình và con chó” dựng lên một tình thế nhận thức bằng lời nói hằng ngày. Người đàn bà muốn nuôi con chó biết mừng khi gặp chủ, biết xua người lạ, biết quẩn quanh lúc chủ buồn. Người đàn ông nghĩ mình “làm hay hơn chó”, rồi cuối bài lại “cất tiếng sủa ái tình” khiến người yêu bỏ đi. Phép so sánh chuyển thành hành vi. Động từ “sủa” xé bỏ lớp vỏ trang trọng phủ quanh chữ “ái tình”, phơi ra nhu cầu chiếm hữu và được công nhận bên trong lời yêu. Tiếng cười bật lên từ sự hạ bệ rồi để lộ nỗi tủi thân. Bài thơ làm mới nghĩa bằng một động từ thông tục đặt đúng chỗ. “Không thể dán nụ cười đã bể” sử dụng cơ chế khác. Cơn giận mang hình “cục đá nóng” chặn ngực, làm “chân tóc sôi”, “đồi mắt bốc lửa” và “miệng sắt lại”. Cảm xúc được chuyển thành nhiệt độ, sức nặng và độ cứng. Khi đồ vật rơi vỡ, cơn giận có hình hài qua kính, khung ảnh và tượng Di Lặc. Pho tượng được gắn lại với “nụ cười có sẹo”. Chữ “sẹo” rời thân thể, đi vào nụ cười bằng vật liệu, rồi quay lại đời sống gia đình. Vết gắn phục hồi hình dáng, dấu hư hại vẫn ở trong cái cười. Ngu Yên gọi câu chuyện bề mặt là “Danh” và suy nghiệm về mất còn là “Thực”. Cách tự giải thích ấy có phần khóa văn bản vào kết luận triết lí. Giữa căn phòng đổ vỡ, tấm ảnh gia đình vẫn giữ nguyên những gương mặt đang cười. Sự tương phản ấy cho thấy hình ảnh hạnh phúc và bạo lực đời sống có thể cùng tồn tại dưới một mái nhà. Bài thơ tạo ra ấn tượng mạnh nhờ vào chỗ nhà thơ biết tiết chế lời giải thích, để chính tấm ảnh và căn phòng kể lại bi kịch của chúng.
Với “Ngữ quyền”, chữ được trao tư cách chủ thể. Sách bỗng trắng trơn; toàn bộ chữ nghĩa kéo ra ngoài sân biểu tình, đòi quyền “được làm chữ”. Ngu Yên hình dung chữ có đạo đức riêng, có thể rời bỏ văn bản phục vụ dối trá hoặc tư lợi. Điệp ngữ “không thấy chữ” làm trang thơ thưa rỗng, khiến sự vắng mặt được cảm nhận bằng thị hiện lẫn nhịp đọc. Bài thơ cũng bộc lộ nhược điểm của thơ luận đề. Khi đoàn chữ giương khẩu hiệu, hình ảnh nhường chỗ cho lời tuyên cáo; tác giả giải thích khá đầy đủ điều người đọc vừa nhận ra. “Thỡ” cô đọng hơn. Bài thơ mở bằng “làm thơ là thở”, rồi sửa thành “phải là thỡ”. “Thơ” và “thở” bị ép vào cùng hình thức, khiến sáng tác mang đặc tính hô hấp. Nhà thơ hít bụi bặm, mùi hôi, hương thơm, không gian và thời gian; hơi chữ đi ra sau khi qua máu, tim, trí nhớ và nỗi buồn. Sáng tác là hoạt động trao đổi chất giữa cơ thể với thế giới. Đến câu “hết thỡ không còn thơ”, dấu ngã gom cả thi pháp vào một chữ. “Thỡ” chứng minh nguyên tắc sáng tạo từ nhu cầu nghĩa. Tiếng Việt thiếu một từ gọi hành vi vừa sống vừa viết, Ngu Yên tự tạo lấy từ ấy.
Ngoài từ vựng, Ngu Yên còn tác động vào cú pháp, nhịp điệu và khoảng trắng. Ông đặt cạnh nhau những danh từ thuộc các trường liên tưởng xa nhau, lược quan hệ từ, để người đọc tự tìm mối nối. Nghĩa phát sinh trong lúc các chữ va nhau. “Đôikhibấtchợt” là ví dụ chính xác. Ba trạng từ mất khoảng cách bỗng có hình dáng của một khối; mắt vừa nhận toàn khối vừa phải tháo khối ấy thành ba đơn vị. Ở các bài mang dáng văn xuôi, Ngu Yên làm nhịp bằng độ nén của mệnh đề, câu hỏi và những cú chuyển ý. Ông từng ví thể thơ với hình vũng nước sau khi đổ xuống nền nhà. Áp lực biểu đạt thay đổi thì câu phải tìm hình khác. Giọng điệu Ngu Yên cũng được tạo ra từ cuộc va chạm giữa vốn từ bác học và lời nói đời thường. Triết học, tôn giáo, khoa học đứng cạnh tô phở, con chó, chuyện vợ chồng, tiền bạc và thân thể. Cách phối hợp ấy hạ vẻ uy nghi của khái niệm, đồng thời nâng khẩu ngữ lên khả năng suy tưởng. Trí tuệ trong thơ ông nhờ vậy có hình, có mùi, có động tác.
Khái niệm “sửa tạo” trong “Ý thức sáng tác thơ” giúp nhìn rõ mặt còn lại của quá trình ấy. Ngu Yên trao cho vô thức phút phát sinh văn bản và giao cho ý thức công việc đọc lại, cắt bỏ, thay chữ, đổi nhịp. Hệ thống này đặc biệt cần đối với một thi pháp dựa nhiều vào độ lệch vênh. Sáng tạo chữ mới, phá cú pháp hay xóa khoảng trắng đều mở ra cơ hội cho thơ, song cũng dễ biến thành dấu tay điệu nghệ. “Sửa tạo” là lúc người viết phải hỏi cú lệch ấy mở rộng thêm vùng trải nghiệm hay chỉ gây chú ý. Những bài mạnh nhất mang một biến dạng ngôn ngữ có tính tất yếu, bỏ cách viết ấy thì kinh nghiệm cũng mất theo. “Thỡ”, “Tô phở Việt Nam”, “Ái tình và con chó” đạt tính tất yếu đó ở những mức độ khác nhau. Các bài nghiêng về diễn giải lí thuyết thường để lộ giàn ý, khiến chữ mất phần tự do mà tác giả quyết liệt bảo vệ.
Đóng góp của Ngu Yên đối với thơ Việt hải ngoại nằm ở cách ông xem tiếng Việt như một sinh thể còn khả năng biến hóa. Ông gìn giữ tiếng mẹ đẻ bằng cách đặt tiếng Việt dưới áp lực của đời sống mới, tiếng Anh, kinh nghiệm di dân, thi ca thế giới và sự hoài nghi trong chính mình. Từ họ Nguyễn bị phát âm lệch đến bút hiệu “Ngu Yên”, từ tô phở đến sơ đồ thời gian, từ dấu ngã sai chuẩn đến quan niệm thơ như hơi thở, con đường ấy liên tục biến sai lệch thành năng lượng tạo sinh. Có lúc thử nghiệm để lại một cấu trúc nặng ý niệm; có lúc một động từ hay dấu thanh cũng đủ làm kinh nghiệm bừng sáng. Mỗi bài thơ của Ngu Yên, theo nghĩa ấy, là một lần thử xem tiếng Việt còn có thể tạo ra những cách suy tư và cảm nhận nào. Buổi ra mắt tuyển tập thơ tại Coffee Factory ở Westminster chiều nay 23.8 là dịp nhìn lại gần nửa thế kỉ Ngu Yên miệt mài thử nghiệm với chữ. Tôi gọi buổi gặp gỡ ấy là “Buổi chiều Ngu Yên”. Một chặng đường sáng tác được ghi dấu, trong khi nét chữ Ngu Yên vẫn “lên đàng quẩn quanh” đi tìm những cách viết mới.
