Tino Cao
Ta đang nói về Gen Z như thể đó là một con người khổng lồ có cùng kí ức, nỗi sợ và cùng một cách chịu đựng thế giới. Truyền thông rất ưa kiểu nhân cách hóa ấy. Gen Z được gọi là thế hệ kết nối nhất trong lịch sử, rồi gần như ngay trong cùng phông diễn ngôn ấy, họ được định dạng là thế hệ cô đơn nhất. Cách mô tả ấy nghe rất thuyết phục, bởi hai hiện tượng tưởng như đối nghịch này đều đang được nhìn thấy khá rõ trong đời sống người trẻ. Người trẻ sống với smartphone suốt ngày trong tay, có thể liên lạc với nhau ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, thế mà vẫn than cô đơn. Bề ngoài, câu chuyện dường như đã tự nó giải thích xong. Nhưng chính ở chỗ mọi thứ dường như quá rõ ràng ấy, hoài nghi có lẽ nên bắt đầu.
Một thế hệ trước hết là một quy ước về thời gian sinh học. Người ta gom những người sinh trong một khoảng thời gian nhất định vào cùng một tập hợp rồi đặt tên cho họ. Cách làm ấy có ý nghĩa nếu phục vụ cho yêu cầu cho thống kê, tiếp thị và mô tả dân số. Khó khăn nảy sinh khi từ sự gần nhau về năm sinh, ta suy ra sự gần nhau về ý thức. Một sinh viên hai mươi lăm tuổi ở California, một nữ công nhân cùng tuổi đứng mười giờ mỗi ngày trong xưởng giày ở Bình Dương và một người Syria sinh năm 2001 lớn lên giữa chiến tranh đều có thể nằm trên cùng một dòng trong bảng phân loại thế hệ. Nhưng họ không ở trong cùng một thế giới, ít nhất theo nghĩa lịch sử. Những giới hạn đặt lên đời họ khác nhau, những lựa chọn mở ra trước họ khác nhau, ngay cả ý nghĩa của tự do, tương lai, gia đình hay an toàn cũng khác nhau. Năm sinh tạo ra sự đồng thời, nhưng nó không hề tạo ra một kinh nghiệm chung.
Đây là chỗ cần dè dặt với mọi diễn giải cố gắng biến Gen Z thành một chủ thể tập thể. Khi nói “Gen Z cô đơn”, ta rất dễ quên rằng chủ thể thật sự của cô đơn luôn là những con người cụ thể, trong những hoàn cảnh cụ thể. Không ai cô đơn với tư cách một kí hiệu thống kê. Người ta cô đơn trong một căn phòng, trong một gia đình không còn khả năng trò chuyện, giữa một thành phố quá đắt đỏ để sống gần bạn bè, trong một trường học nơi thành tích lấn át quan hệ, hoặc ngay giữa một cộng đồng mà mình không tìm được chỗ đứng. Cô đơn có lịch sử riêng của nó. Biến lịch sử ấy thành thuộc tính của một thế hệ tức là lấy kết quả của nhiều hoàn cảnh khác nhau rồi gắn ngược trở lại cho con người như một bản tính.
Vấn đề xuất hiện khi các hiện tượng ấy được xếp thành một chuỗi logic nhân quả đơn giản: điện thoại thông minh gây cô đơn, cô đơn thúc đẩy nhu cầu tìm đến những căn tính khép kín, từ đó nảy sinh cực đoan và cuối cùng mở đường cho toàn trị. Cách giải thích này có sức hấp dẫn vì từng mắt xích đều có vẻ hợp lí nếu xét một cách riêng biệt. Nhưng đời sống xã hội hiếm khi diễn tiến theo một đường thẳng như thế. Con người luôn sống trong những hoàn cảnh có trước mình, đồng thời vẫn diễn giải, phản ứng, thích nghi, chống lại hoặc tìm cách thoát khỏi những giới hạn do hoàn cảnh đặt ra. Cùng một chiếc điện thoại có thể khiến người này mắc kẹt trong so sánh và đố kị, nhưng lại giúp người khác thoát khỏi sự cô lập do gia đình, giới tính, tôn giáo hay khoảng cách địa lí tạo nên. Cùng một cảm giác bị bỏ rơi có thể dẫn tới oán hận, nhưng cũng có thể mở đường sang sáng tạo nghệ thuật, xây dựng tình bạn, tiếp cận tôn giáo hoặc thực hành các hoạt động xã hội. Giữa hoàn cảnh và hành vi luôn có một khoảng tự do, nơi con người phải tự quyết định mình sẽ sống thế nào với những gì đã xảy đến. Câu hỏi cần đặt ra ở đây không còn là Gen Z có cô đơn hay không, bởi dữ liệu hiện có đã cho thấy một bộ phận đáng kể người trẻ đang trải nghiệm cô đơn ở mức đáng lo. Vấn đề nằm ở chỗ liệu kinh nghiệm ấy có đủ mức độ phổ biến, bền vững và đặc thù để có thể xem như dấu ấn lịch sử của một thế hệ. Để đi đến kết luận, cần chứng minh rằng đây thực sự là một kinh nghiệm mang tính thế hệ chứ không chỉ là hệ quả của tuổi trẻ, của hoàn cảnh thời đại hoặc những điều kiện xã hội đang đồng thời tác động lên nhiều nhóm người.
Karl Mannheim đã đặt vấn đề thế hệ theo một cách khác, chặt chẽ hơn nhiều so với lối phân loại phổ biến hiện nay. Với ông, sinh trong cùng một khoảng thời gian mới chỉ đặt con người vào một “vị trí thế hệ”. Để một thế hệ có ý nghĩa xã hội học rõ rệt, những người thuộc lớp tuổi ấy phải cùng đi qua các biến cố lịch sử đủ lớn và sâu để tạo nên một vùng kinh nghiệm chung. Tuy nhiên, kinh nghiệm chung không chắc có thể dẫn đến một phản ứng chung. Cùng đối diện một cuộc khủng hoảng kinh tế, người này có thể tìm đến chủ nghĩa dân tộc, người khác nghiêng về dân chủ xã hội, một số dấn thân vào hoạt động dân sự, số khác rút lui khỏi đời sống công cộng. Họ cùng đứng trước một hoàn cảnh lịch sử, nhưng lựa chọn cách đáp lại rất khác nhau. Mannheim gọi những nhóm phản ứng khác biệt ấy là các “đơn vị thế hệ”.
Cách nhìn này cho thấy một thế hệ không bao giờ là một khối tâm lí thuần nhất. Gen Z có thể chia sẻ một số điều kiện lịch sử quan trọng như lớn lên cùng xã hội internet, bước vào tuổi trưởng thành trong hoặc sau đại dịch, chứng kiến giá nhà tăng cao, việc làm thiếu ổn định và khủng hoảng khí hậu ngày càng dữ dội trong đời sống công cộng. Nhưng những điều kiện chung ấy chưa đủ để tạo ra một cảm thức chung. Có người xem thế giới số như một không gian mở rộng tự do cá nhân; có người lại cảm thấy bị theo dõi, so sánh và kiệt sức trong chính không gian ấy. Có người phản ứng trước bất ổn kinh tế bằng cách dấn thân chính trị; có người thu hẹp đời sống vào không gian riêng tư. Một thế hệ, nếu có thể được xem như một thực thể lịch sử, luôn xác lập bên trong nhiều cách thức tồn tại và nhiều lựa chọn đối lập.
Các số liệu về cô đơn cũng phải được xem xét với cùng sự dè dặt ấy. Ước tính toàn cầu do Tổ chức Y tế Thế giới công bố năm 2025 cho thấy khoảng 15,8% dân số trải nghiệm cô đơn, trong đó thanh thiếu niên và người trẻ có tỉ lệ cao hơn mức trung bình. Đây là một chỉ dấu nghiêm trọng về sức khỏe xã hội. Nhưng số liệu ấy chỉ cho biết mức độ cô đơn ở một thời điểm nhất định. Nó không giải thích vì sao người trẻ cô đơn, và càng không cho phép kết luận rằng nguyên nhân của hiện tượng này là đặc điểm riêng của Gen Z.
Về mặt phương pháp luận, cần phân biệt ba loại ảnh hưởng tác động lên nhau. Thứ nhất là ảnh hưởng của tuổi đời. Tuổi trẻ vốn là giai đoạn con người phải rời khỏi nhiều cơ chế tồn tại quen thuộc cùng lúc. Họ bắt đầu tách khỏi sự kiểm soát của gia đình, rời môi trường học đường phổ thông, đại học, tìm việc làm, nảy sinh và nuôi dưỡng tình yêu, thất bại trong tình cảm, chuyển chỗ ở, thử nghiệm căn tính và lần đầu phải tự trả lời câu hỏi mình sẽ sống cuộc đời thế nào. Chính quá trình ấy đã chứa đựng sẵn tình trạng cô đơn. Khi những quan hệ cũ không còn giữ được vị trí như trước đây, trong khi những quan hệ mới chưa được kiến tạo đủ vững vàng, một khoảng trống rỗng cô đơn dĩ nhiên rất dễ xuất hiện.
Thứ hai là ảnh hưởng của thời đại. Đại dịch COVID-19, giá nhà tăng, lạm phát, chiến tranh, biến đổi khí hậu, việc làm thiếu ổn định và sự suy yếu của nhiều thiết chế cộng đồng tác động lên toàn xã hội. Người trẻ có thể phải gánh chịu một số hậu quả nặng hơn vì họ bước vào đời đúng lúc các bất ổn này gia tăng, nhưng họ không phải là nhóm duy nhất bị ảnh hưởng. Một người năm mươi tuổi mất việc, một người cao tuổi sống một mình sau khi bạn đời qua đời và một sinh viên phải học qua màn hình zoom đều có thể trải nghiệm những dạng cô lập khác nhau từ cùng một biến cố lịch sử. Vì vậy, nếu không tách bạch được ảnh hưởng của tuổi đời khỏi những tác động của thời đại, người ta rất dễ gán cho Gen Z những gì thực ra bắt nguồn từ các điều kiện xã hội chung của thời kì họ đang sống.
Thứ ba liên quan đến nhóm sinh, tức câu hỏi liệu việc lớn lên trong cùng một cấu trúc công nghệ và xã hội có để lại ảnh hưởng lâu dài lên những người sinh trong cùng một giai đoạn hay không. Gen Z là thế hệ đầu tiên trải qua phần lớn tuổi thơ và tuổi thiếu niên trong một môi trường số đã tương đối hoàn chỉnh, khi mạng xã hội, điện thoại thông minh và cảm giác thường xuyên hiện diện trước ánh nhìn của người khác trở thành một phần quen thuộc của đời sống hằng ngày. Đây có thể là một kinh nghiệm lịch sử quan trọng. Nhưng để xem đó như một đặc tính của thế hệ, cần những nghiên cứu theo dõi đủ dài và phải tách được ảnh hưởng của tuổi đời khỏi ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử.
Các nghiên cứu hiện nay cho thấy việc phân biệt ba loại ảnh hưởng ấy rất khó. Một tổng quan lớn về những người ở giai đoạn đầu trưởng thành nhận thấy mức độ cô đơn đã tăng lên trong nhiều thập niên, nghĩa là xu hướng này xuất hiện từ trước khi Gen Z bước vào tuổi trưởng thành. Một nghiên cứu khác về cách người Mĩ sử dụng thời gian cũng ghi nhận thời gian ở một mình tăng từ đầu những năm 2000, trong khi khác biệt về tuổi và nhóm sinh giải thích một phần đáng kể của biến thiên. Những kết quả như vậy cho thấy không thể quy đồng hiện tượng cô đơn của người trẻ về một nguyên nhân duy nhất, càng không thể xem công nghệ số như lời giải thích đầy đủ.
Một phân biệt khác cũng rất quan trọng là sống một mình và cảm thấy cô đơn không phải là cùng một loại kinh nghiệm. Người cao tuổi có thể dành nhiều giờ trong ngày một mình nhưng vẫn duy trì cảm giác gắn bó với gia đình, kí ức và cộng đồng. Một người hai mươi tuổi có thể ở giữa bạn bè từ sáng đến tối mà vẫn cảm thấy không ai thực sự biết mình đang nghĩ gì hay sống ra sao. Vì vậy, cô đơn không thể được đo chỉ bằng số lần gặp gỡ hay thời gian có người khác ở bên cạnh. Nó xuất hiện khi những quan hệ hiện có không đáp ứng được mức độ gần gũi, thừa nhận hay chia sẻ mà một người cần đến.
Từ đó, câu hỏi về Gen Z cần được đặt ra chính xác hơn. Vấn đề không đơn thuần là người trẻ giao tiếp ít hay nhiều mà là vì sao trong một thời đại có quá nhiều phương tiện liên lạc, một bộ phận trong họ vẫn cảm thấy các quan hệ thiếu chiều sâu, thiếu sự hiện diện thực sự và thiếu cảm giác thuộc về một đời sống chung. Nếu nhìn theo hướng ấy, điện thoại thông minh chỉ là một yếu tố trong nhiều yếu tố. Gia đình, công việc, nhà ở, giáo dục, cấu trúc đô thị, thị trường lao động, môi trường chính trị và sức sống của các cộng đồng dân sự đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng con người xây dựng và duy trì những quan hệ có ý nghĩa.
Vì thế, tôi nghĩ rằng gọi Gen Z là “thế hệ cô đơn” vẫn nên được xem như một giả thuyết cần kiểm chứng hơn là một kết luận đã hoàn tất. Cô đơn hiện hữu và trong một số nhóm người trẻ có thể đang gia tăng. Nhưng từ việc xác nhận một hiện tượng đến việc biến hiện tượng ấy thành đặc tính của cả một thế hệ là hai bước rất khác nhau. Nếu bỏ qua sự khác biệt này, phân tích xã hội sẽ dễ bị lạc đề từ việc tìm nguyên nhân sang việc gán bản chất cho một nhóm người chỉ vì họ sinh gần nhau trong cùng một thời kì.
Ta đang nói về loại cô đơn nào?
Phần lớn những lẫn lộn bắt đầu từ ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, “cô đơn”, “cô độc”, “một mình” và “cô lập” thường được dùng thay thế cho nhau. Trong triết học, tâm lí học và xã hội học, chúng chỉ những trạng thái khác biệt.
Cô lập xã hội là một điều kiện tương đối khách quan. Một người có ít quan hệ, ít vai trò xã hội, ít gặp gỡ và ít tham gia cộng đồng có thể được xem là bị cô lập. Cô đơn là một trải nghiệm chủ quan. Người ta cảm thấy cô đơn khi khoảng cách giữa những quan hệ đang có và những quan hệ họ mong muốn trở nên quá lớn. Cô tĩnh, gần với khái niệm solitude, là trạng thái ở một mình do lựa chọn và vẫn giữ được sự bình an, khả năng suy nghĩ hoặc sáng tạo. Cô độc hiện sinh lại sâu hơn. Nó xuất phát từ thực tế rằng mỗi người phải tự sống đời mình, tự lựa chọn và cuối cùng tự đối diện cái chết. Không ai có thể hoàn toàn sống thay kinh nghiệm của người khác. Những trạng thái ấy có thể chồng chéo lên nhau, song không thể đồng nhất. Một người sống một mình có thể có đời sống tinh thần giàu có và mạng lưới quan hệ vững chắc. Một người sống giữa gia đình đông đúc hoặc sở hữu hàng vạn người theo dõi trên mạng xã hội vẫn có thể cảm thấy mình chưa từng được ai thực sự nhận biết.
Hannah Arendt đưa vấn đề sang bình diện chính trị. Trong “Nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị”, bà phân biệt giữa cô tĩnh, cô lập và cô đơn. Người ở trong cô tĩnh vẫn còn khả năng tự đối thoại. Arendt gọi đó là tình trạng “hai trong một”, khi con người vẫn có thể suy nghĩ và tranh luận với chính mình. Người bị cô lập mất khả năng cùng người khác hành động trong đời sống công, tuy vẫn có thể làm việc, sáng tạo và giữ cho mình một đời sống riêng tư. Cô đơn theo nghĩa rõ ràng nhất xảy ra khi một người vừa mất quan hệ với người khác, vừa mất luôn khả năng nương tựa vào chính mình. Khi ấy, họ mất cảm giác thuộc về một thế giới chung.
“Thế giới chung” giữ một vị trí rất quan trọng trong tư tưởng Arendt. Đó là thực tại mà con người cùng sống trong đó, cùng nhìn từ những vị trí khác nhau, cùng tranh luận và cùng kiểm chứng. Một xã hội vẫn có thể rất đông đúc trong khi thế giới chung suy yếu. Người ta tiếp xúc liên tục nhưng sống trong những hệ thông tin khác nhau, dựa vào những tập hợp sự kiện khác nhau, không còn tin vào cùng một thủ tục xác minh và dễ xem bất đồng như dấu hiệu của phản bội. Khi tình trạng ấy kéo dài, cô đơn không còn chỉ là cảm giác thiếu gần gũi trong đời sống riêng. Nó bắt đầu mang một ý nghĩa chính trị, bởi con người mất dần khả năng cùng người khác chia sẻ một thực tại chung để phán đoán và hành động. Chính vì vậy, lấy một thang đo cô đơn trong tâm lí học rồi chuyển thẳng sang chẩn đoán chính trị của Arendt là một bước nhảy vọt quá xa. Cảm giác thiếu gắn bó, sự suy giảm giao tiếp trực tiếp và sự tan rã của một thực tại chung có thể liên quan với nhau. Mối liên hệ ấy cần được chứng minh qua những cơ chế xã hội cụ thể chứ không thể suy ra bằng phép đồng nhất khái niệm.
Cũng cần thận trọng với lập luận giản đơn rằng mạng xã hội là nguyên nhân khiến Gen Z cô đơn. Các nghiên cứu lớn về công nghệ kĩ thuật số thường cho kết quả phức tạp hơn rất nhiều. Một số công trình tìm thấy mối liên hệ giữa thời gian sử dụng công nghệ với sự suy giảm trạng thái an lành, nhưng hiệu ứng thường nhỏ và thay đổi rất mạnh giữa từng người. Nghiên cứu theo dõi trải nghiệm hàng ngày của thanh thiếu niên còn cho thấy sau khi dùng mạng xã hội, có người cảm thấy tệ hơn, có người thấy khá hơn, và rất nhiều người gần như không thay đổi. Điều này buộc ta đặt phải ra những câu hỏi cụ thể hơn. Người trẻ đang làm gì trên mạng? Họ nói chuyện với ai? Họ đang xem nội dung nào? Quan hệ đời thực của họ ra sao? Nền tảng được thiết kế theo cách nào? Một cuộc trò chuyện riêng với người bạn thân, một nhóm hỗ trợ dành cho thanh thiếu niên đồng tính và ba giờ liên tục xem video về ngoại hình đều được ghi nhận dưới cùng một đơn vị “thời gian trực tuyến”, trong khi hậu quả tâm lí và xã hội là hoàn toàn khác nhau.
Công nghệ có khả năng chiếm thời gian vốn dành cho gặp gỡ trực tiếp, khuếch đại so sánh xã hội và biến nhu cầu được thừa nhận thành những con số về lượt thích hay lượt theo dõi. Nó cũng có thể giúp một người sống trong môi trường kì thị tìm thấy những người có cùng kinh nghiệm, học được ngôn ngữ để mô tả bản thân và thoát khỏi cảm giác mình là người duy nhất trên đời mang một khác biệt nào đó. Xem mạng xã hội như thủ phạm trung tâm sẽ chỉ làm xóa nhòa hàng loạt nguyên nhân vật chất thực tế khác, chẳng hạn: giá nhà, học phí, việc làm thiếu ổn định, thời gian lao động dài, đô thị thiếu không gian công cộng, gia đình di cư và sự suy yếu của các hội đoàn dân sự.
Nỗi nhớ dành cho những cộng đồng cũ cũng cần được xem xét bằng con mắt phê phán. Gia đình nhiều thế hệ, làng xóm, giáo xứ, chùa chiền, nghiệp đoàn và khu phố từng tạo cho con người một cảm giác thuộc về rất rõ rệt. Song những cộng đồng ấy cũng có thể áp đặt tôn ti, giám sát đời tư và trừng phạt người khác mà họ cho là “lệch chuẩn”. Với phụ nữ, người đồng tính, người khuyết tật, người di dân hoặc một người trẻ bất đồng với niềm tin của gia đình, rời khỏi cộng đồng đôi khi là một hành vi bảo vệ phẩm giá.
Số lượng quan hệ ít hơn chưa chắc cho thấy khả năng gắn bó của người trẻ suy yếu. Trong nhiều trường hợp, điều thay đổi là tiêu chuẩn của họ đối với một mối quan hệ có thể chấp nhận được. Người trẻ ngày nay có nhiều ngôn ngữ hơn để gọi tên bạo lực tinh thần, thao túng cảm xúc, bắt nạt, kì thị hay những quan hệ gây tổn thương. Nhờ vậy, họ có thể chấp nhận một thời gian sống một mình thay vì tiếp tục ở trong những quan hệ buộc phải nhẫn nhịn hoặc phục tùng. Cảm giác cô đơn vẫn có thật, nhưng nguyên nhân của nó còn gắn với vị trí của mỗi người trong gia đình, cộng đồng và các quan hệ xã hội. Cần hỏi ai đang bị gạt ra ngoài, ai có khả năng rời khỏi một quan hệ gây tổn thương, người trẻ đang thiếu kiểu gắn bó nào, và xã hội có tạo đủ những cộng đồng tự nguyện để những người khác biệt vẫn tìm được chỗ đứng hay không.
Arendt và vấn đề cô đơn
Tôi xem video “Gen Z, cô đơn, và toàn trị” của Hội Đồng Cừu, đăng ngày 9 tháng 8 năm 2026, có giá trị ở chỗ đưa tư tưởng Arendt vào một vấn đề rất hiện đại. Nguyễn Quốc Tấn Trung bắt đầu từ một vài quan sát trong đời sống xã hội. Một số người tham gia hoạt động bảo vệ người sống với HIV muốn dùng luật an ninh mạng hoặc luật hình sự để xử lí những phát ngôn miệt thị trên mạng. Ở một trường hợp khác, một số người trẻ giải thích xung đột đất đai chủ yếu qua khái niệm chủ nghĩa tư bản. Từ đó, tác giả đặt câu hỏi về xu hướng tìm đến quyền lực cưỡng chế của nhà nước và những hệ thống giải thích có tham vọng bao trùm.
Điểm mạnh nhất của cách tiếp cận này nằm ở việc nhận ra một nhu cầu rất con người. Khi thế giới trở nên khó hiểu, các quan hệ lỏng lẻo và trải nghiệm cá nhân mất liên hệ với một thực tại chung, một hệ tư tưởng có thể mang lại cùng lúc ba điều: một lời giải thích toàn thể, một cộng đồng để thuộc về và một đối tượng để quy trách nhiệm. Arendt đặc biệt nhạy cảm với sức hấp dẫn này. Con người nhiều khi chấp nhận một hệ thống giải thích sai nhưng nhất quán còn dễ hơn sống trong một thực tại đúng mà đầy bất định.
Tuy nhiên, hai quan sát ban đầu chưa đủ sức gánh vác một kết luận về tâm thế của cả một thế hệ.
Mong muốn pháp luật bảo vệ người sống với HIV trước lời đe dọa, làm nhục hoặc kích động thù ghét chưa thể tự động được xem là biểu hiện của tâm lí toàn trị. Nhà nước pháp quyền luôn phải giải quyết xung đột giữa tự do biểu đạt với an toàn, danh dự, bình đẳng và quyền không bị kích động bạo lực. Vấn đề cần xét nằm ở nội dung nào bị cấm, mức nguy hại ra sao, người phát ngôn có ý định gì, hậu quả có khả năng xảy ra đến đâu, chế tài có tương xứng hay không và tòa án có đủ độc lập để kiểm soát quyền trừng phạt của nhà nước hay không.
Trong một chế độ vốn sử dụng luật an ninh mạng và hình sự để kiểm soát bất đồng, việc yêu cầu mở rộng thêm quyền cưỡng chế cho nhà nước đương nhiên mang rủi ro lớn. Cảnh báo của Nguyễn Quốc Tấn Trung có cơ sở ở khía cạnh đó. Song tâm thế của một nhóm thiểu số từng chịu nhục mạ cũng có thể bắt nguồn từ một kinh nghiệm rất cụ thể: họ đã chứng kiến lời nói gây hậu quả thật và những cơ chế tự điều chỉnh của xã hội không đủ sức bảo vệ người yếu thế. Phản biện xu hướng hình sự hóa trước hết cần đi vào thiết kế pháp luật, tương quan quyền lực và những biện pháp ít xâm phạm hơn. Suy rộng từ đó sang cấu trúc tinh thần của Gen Z là một cách suy luận quá vội vàng.
Ví dụ về đất đai cũng cho thấy người phản biện cần tự phản biện chính mình. Dùng “chủ nghĩa tư bản” như một chìa khóa giải thích mọi xung đột đất đai rõ ràng là cách tư duy đơn giản hóa. Hệ thống đất đai Việt Nam bao gồm sở hữu toàn dân, quyền đại diện chủ sở hữu của nhà nước, thị trường quyền sử dụng đất, cơ chế thu hồi, quan hệ giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp, lợi ích nhóm, tài chính bất động sản và cưỡng chế hành chính. Một khái niệm duy nhất khó bao quát toàn bộ cơ chế ấy.
Tuy nhiên, phân tích quá trình chuyển đất sang các dự án tư nhân bằng khái niệm tích lũy tư bản hoàn toàn có cơ sở trong kinh tế chính trị. Nhiều nghiên cứu về Việt Nam sử dụng những phạm trù như tư bản nhà nước, tư bản thân hữu, tìm kiếm đặc lợi hoặc tích lũy thông qua tước đoạt. Một chế độ tự xác định là xã hội chủ nghĩa vẫn có thể tổ chức các quá trình tích lũy mang tính tư bản. Vấn đề bắt đầu khi khái niệm được sử dụng như câu trả lời có sẵn, thay thế cho việc phân tích cơ chế cụ thể. Nếu người phê bình bác luận điểm “mọi chuyện đều do tư bản” bằng một luận điểm khác rằng “mọi chuyện đều do bản chất pháp lí xã hội chủ nghĩa”, cấu trúc tư duy vẫn giống nhau. Chỉ có từ khóa trung tâm được thay đổi.
Tôi nghĩ cần thận trọng hơn khi kết nối trực tiếp cô đơn với toàn trị. Trong tư tưởng Arendt, toàn trị chỉ một kiểu chế độ chính trị rất đặc thù, dựa trên phong trào quần chúng được tổ chức, một hệ tư tưởng tự nhận nắm được quy luật của lịch sử, sự triệt tiêu các liên kết xã hội độc lập, bộ máy khủng bố và tham vọng kiểm soát toàn bộ đời sống. Một người trẻ sử dụng khẩu hiệu, sống trong một echo chamber hoặc ủng hộ việc cấm một phát ngôn xúc phạm có thể cho thấy sự khép kín trong nhận thức, tâm lí phe nhóm hay khuynh hướng độc đoán, nhưng những biểu hiện ấy vẫn còn cách rất xa cấu trúc của chủ nghĩa toàn trị. Nếu khái niệm “toàn trị” được dùng quá rộng và quá dễ dãi, một phạm trù lịch sử vốn đòi hỏi độ chính xác cao sẽ bị làm nhẹ nghĩa và cuối cùng chỉ còn như một lời cảnh báo đạo đức chung chung.
Một số nghiên cứu gần đây có tìm thấy mối liên hệ giữa cô đơn, cô lập xã hội, thái độ dân túy và các quá trình cực đoan hóa. Tuy nhiên, từ cô đơn đến cực đoan hay bạo lực luôn có nhiều khâu trung gian như giận dữ, cảm giác bị gạt ra ngoài, mất địa vị, kinh nghiệm bị phân biệt đối xử, nhu cầu tìm ý nghĩa và hoạt động tuyển mộ của các tổ chức chính trị hoặc tôn giáo. Ngay cả trong những nghiên cứu về khủng bố đơn độc hay người phương Tây gia nhập ISIS, cô đơn cũng chỉ được xem như một yếu tố trong một chuỗi nguyên nhân phức tạp. Cô đơn tự thân không sản sinh toàn trị. Muốn biến cô đơn thành một động lực chính trị, phải có lực lượng biết khai thác nó, chuyển tổn thương cá nhân thành oán hận tập thể, trao cho con người một căn tính mới, xác lập một kẻ thù và cung cấp một hệ ngôn ngữ khiến sự phục tùng được cảm nhận như một lối thoát. Chính quá trình đó mới đáng được phân tích về mặt chính trị.
Ở điểm này, lập luận của Arendt cần được bổ sung bằng kinh tế chính trị. Tư tưởng của bà đặc biệt sắc sảo khi bàn về thế giới chung, hành động công và sự tan rã của các quan hệ chính trị. Nhưng sự phân biệt quá rạch ròi giữa lĩnh vực xã hội và lĩnh vực chính trị khiến các điều kiện vật chất bị đẩy ra ngoài trọng tâm phân tích. Với người trẻ hôm nay, tiền thuê nhà, mức lương, thời gian đi lại, việc làm thiếu ổn định và trách nhiệm chăm sóc gia đình đều tác động trực tiếp đến khả năng duy trì tình bạn, tham gia hội đoàn hay dành thời gian cho đời sống công. Một người phải làm hai công việc, thuê phòng xa trung tâm, thường xuyên chuyển chỗ ở và sống trong một thành phố thiếu giao thông công cộng đã mất nhiều cơ hội gặp gỡ từ trước khi thuật toán của TikTok hay Instagram can thiệp. Điện thoại thông minh hiếm khi tự mình phá hủy một cộng đồng. Ảnh hưởng của nó luôn diễn ra trong những điều kiện xã hội đã sẵn có, khi con người bị phân tán bởi áp lực lao động, chi phí sinh hoạt, cạnh tranh và thiếu thời gian.
Điều này cũng có ý nghĩa đạo đức. Nếu người cô đơn bị mô tả như một ứng viên tự nhiên của chủ nghĩa cực đoan, những người vốn đã bị loại trừ xã hội rất dễ tiếp tục bị nhìn bằng ánh mắt nghi ngờ. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy cùng một cảm giác bị bỏ rơi có thể đưa người ta đến nghệ thuật, tôn giáo, thiện nguyện, cộng đồng tương trợ, phong trào dân sự, chủ nghĩa dân túy hoặc bạo lực. Hướng đi nào được chọn còn tùy thuộc vào lịch sử cá nhân, địa vị xã hội, nguồn lực sẵn có và loại tổ chức mà người ấy gặp. Vì vậy, câu hỏi quan trọng hơn phải hướng vào những lực lượng biết khai thác cô đơn và kiểu cộng đồng mà họ chào mời. Một cộng đồng dân chủ gắn con người với nhau bằng tính đồng đẳng và khả năng sống cùng những khác biệt. Một cộng đồng cực đoan hứa hẹn xóa bỏ đau khổ bằng sự thuần nhất, lòng trung thành tuyệt đối và việc xác lập một kẻ thù chung. Cả hai đều có thể đem lại cảm giác thuộc về, nhưng ý nghĩa chính trị nằm ở cách con người được gắn kết với nhau và cái giá mà sự thuộc về ấy đòi hỏi.
Sau cùng, vấn đề đáng quan tâm có lẽ không nằm ở việc tìm cho Gen Z một danh xưng thích hợp mà ở cách xã hội giải thích những bất an đang xuất hiện trong đời sống của người trẻ. Một khái niệm chỉ có giá trị khi nó giúp phân biệt được những kinh nghiệm khác nhau, nhận diện được các nguyên nhân khác nhau và tránh biến một hiện tượng lịch sử thành tính chất đặc trưng của một nhóm xã hội. Cô đơn, xét cho cùng, vừa là một kinh nghiệm cá nhân vừa là một hiện tượng xã hội. Nó chỉ thực sự mang ý nghĩa chính trị khi những điều kiện chung của đời sống khiến con người mất khả năng gặp nhau trong một thực tại có thể cùng chia sẻ, tranh luận và sửa chữa. Chính ở điểm ấy, câu hỏi về Gen Z thôi là câu hỏi về một thế hệ và trở thành câu hỏi về phẩm chất của xã hội mà thế hệ ấy đang sống trong đó.
Tham khảo:
Karl Mannheim, “The Problem of Generations”
https://marcuse.faculty.history.ucsb.edu/…/27MannheimGe…
World Health Organization, Commission on Social Connection, 2025
https://www.who.int/…/commission-on-social…/report
Hannah Arendt, Stanford Encyclopedia of Philosophy
https://plato.stanford.edu/entries/arendt/
Amy Orben & Andrew K. Przybylski, “The association between adolescent well-being and digital technology use,” Nature Human Behaviour, 2019
https://www.nature.com/articles/s41562-018-0506-1
Susanne Buecker et al., “Is loneliness in emerging adults increasing over time? A preregistered cross-temporal meta-analysis and systematic review”