Tác giả: Đại sứ Thomas J. Corcoran
Người dịch: Phan Văn Song

PHẦN III
Hoa Kì dấn sâu vào can dự (1964-1968)
Khi Lyndon B. Johnson nhậm chức tổng thống vào ngày 22/11/1963, ông tự hứa sẽ dành toàn bộ nỗ lực trong thời gian còn lại của “nhiệm kì dang dở” của tổng thống Kennedy để đạt được những mục tiêu mà ông ấy đã đề ra, bao gồm cả việc “hoàn thành mọi việc ở Việt Nam.” Ông tin chắc rằng những đường lối chính sách của Kennedy ở Đông Nam Á là đúng đắn và phù hợp với những mục tiêu mà Hoa Kì đã đặt ra cho chính mình trên thế giới kể từ khi kết thúc Thế chiến II. Ông chia sẻ niềm tin của tổng thống Kennedy về cam kết của Hoa Kì đối với an ninh của Đông Nam Á theo Hiệp ước Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) và lưu ý rằng đến cuối năm 1963, Kennedy đã phái khoảng 16 000 quân Mĩ đến Nam Việt Nam “để thực hiện lời hứa của chúng ta với SEATO.” [1]
Ngày hôm sau, tân tổng thống gặp đại sứ Henry Cabot Lodge, ông đã trở lại để tham vấn theo lịch trình với tổng thống Kennedy. Các bộ trưởng Rusk và McNamara, thứ trưởng Ngoại giao George Ball, cũng như giám đốc CIA John McCone và cố vấn An ninh Quốc gia McGeorge Bundy (em trai của William), đều có mặt. Tổng thống Johnson thấy đại sứ Lodge rất lạc quan về triển vọng của chính phủ quân sự mới kế nhiệm Diệm, nhưng McCone thì ít lạc quan hơn nhiều. Tổng thống bày tỏ “những lo ngại nghiêm trọng” của riêng mình. Ông nhận thấy nhiều người chỉ trích việc phế truất Diệm và bị sốc trước vụ ám sát ông.[2] Vào khoảng thời gian này, phó tổng thống Hubert Humphrey dẫn lời Johnson nói khi đi ngang qua bức chân dung Ngô Đình Diệm trong một tòa nhà: “Có bàn tay của chúng ta trong việc giết ông ta. Giờ thì điều đó đang xảy ra ở đây.”[3] Nhà viết tiểu sử của Richard Helms (Thomas Powers) sau này viết rằng Helms là một trong số những người đã nghe Johnson khẳng định điều đó. Cái chết của Kennedy là do “những kẻ không rõ danh tính tìm cách trả thù cho vụ ám sát tổng thống Nam Việt, Ngô Đình Diệm vào ngày 1/11/1963.”[4] CL Sulzberger viết rằng ông đã rất ngạc nhiên khi nghe Johnson nói trong một cuộc trò chuyện năm 1966 “Hãy nhớ lại khi chúng ta ám sát Diệm …”[5] Tuy nhiên, Johnson viết rằng ông đã nói với cuộc họp rằng tất cả những điều đó đã là quá khứ và nhiệm vụ hiện tại là giúp Chính phủ Việt Nam mới ổn định và hoạt động hiệu quả.[6]
Ông cũng nói với Lodge rằng đã có quá nhiều bất đồng trong Phái đoàn Mĩ tại Sài Gòn hồi đầu năm và ông muốn phái đoàn trở thành một đội ngũ mạnh mẽ, cùng nhau làm việc dưới sự lãnh đạo của đại sứ với tư cách “một lãnh đạo duy nhất.” Ông hứa Washington sẽ ủng hộ hết mình và chẳng bao lâu sau đã cử đến cho Lodge một phó trưởng phái đoàn mới, một trưởng trạm (CIA) mới, một giám đốc Cơ quan Thông tin Hoa Kì mới, những người thay thế cho một số sĩ quan khác, và đến giữa năm, tướng William C. Westmoreland thay thế tướng Paul Harkins làm người đứng đầu Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự tại Việt Nam (MACV [Military Assistance Command, Vietnam]).[7]
Tổng thống đưa ra ý kiến của mình:
Chúng ta đã dành quá nhiều thời gian và năng lượng để cố định hình các nước khác theo hình mẫu của mình. Thật quá sức khi kì vọng các nước non trẻ và kém phát triển có thể thiết lập hoà bình và trật tự trước các lực lượng du kích được huấn luyện bài bản và kỉ luật, đồng thời xây dựng các thể chế chính trị dân chủ hiện đại và tổ chức nền kinh tế mạnh mẽ. Tôi nói rằng chúng ta có thể giúp họ cả 3 nhiệm vụ đó, nhưng mục tiêu chính hiện nay là giúp họ chống lại những kẻ đang sử dụng vũ lực chống lại họ. Còn về xây dựng quốc gia, tôi nói rằng tôi nghĩ người Việt Nam, người Thái Lan và các dân tộc khác ở châu Á hiểu rõ hơn chúng ta về loại quốc gia nào mà họ muốn xây dựng. Chúng ta không nên quá khe khắt nếu họ không trở thành những nền dân chủ thịnh vượng, hiện đại của thế kỉ 20 chỉ trong một tuần.[8]
Johnson cũng đã trao đổi với Rusk, McNamara, McGeorge Bundy và những người khác về báo cáo của cuộc họp Honolulu, vốn ban đầu được chuẩn bị cho tổng thống Kennedy. Báo cáo này đề cập đến tầm quan trọng của việc hậu thuẫn mạnh mẽ từ phía Mĩ đối với chính phủ mới thiếu kinh nghiệm vừa lên nắm quyền ở Sài Gòn, vấn đề giải quyết khoản thâm hụt ngân sách dự kiến $100 triệu của Nam Việt vào năm 1964, và sự cần thiết phải tham vấn đầy đủ và hành động thống nhất giữa các thành viên của Phái đoàn Hoa Kì tại Việt Nam. Mặc dù Rusk và McNamara có một số băn khoăn, Johnson nhận thấy rằng hầu hết các cố vấn của ông đều tin rằng Hoa Kì sẽ có thể bắt đầu rút một số cố vấn quân sự vào cuối năm (1963) và phần lớn họ vào cuối năm 1965. Hầu hết những người tham dự cuộc họp đều cho rằng, trong hai năm tới, Nam Việt có thể tiếp nhận các chức năng huấn luyện, cung cấp và yểm trợ mà lực lượng Hoa Kì hiện đang thực hiện.[9]
Mặc dù Hội nghị Honolulu không làm thay đổi đánh giá tổng thể mà các cố vấn chính của tổng thống Kennedy đã đưa ra trước đó về Việt Nam, họ vẫn khuyến nghị tổng thống Johnson “nhấn mạnh, đặc biệt là ở các nhóm trong chính phủ, sự liên tục của chính sách và định hướng dưới thời Tổng thống mới.” Ông đã đồng ý và phê duyệt Bản ghi nhớ hành động an ninh quốc gia (NSAM [National Security Action Memorandum]) 273 vào ngày 26/11. Ông mô tả đây là quyết định quan trọng đầu tiên của mình về Việt Nam trên cương vị tổng thống. Nó “quan trọng không phải vì đòi hỏi bất kì hành động mới nào mà vì nó báo hiệu quyết tâm của chúng ta trong việc kiên trì theo đuổi các chính sách và hành động mà chúng ta đã và đang thực hiện.” NSAM 273 có nội dung như sau:
Mục tiêu trọng tâm của Hoa Kì tại Nam Việt vẫn là giúp đỡ nhân dân và chính phủ nước này giành được sự đồng thuận chống lại âm mưu cộng sản do bên ngoài chỉ đạo và hậu thuẫn. Tiêu chí đánh giá mọi quyết định và hành động của Hoa Kì trong lĩnh vực này chính là hiệu quả đóng góp của chúng vào mục tiêu đó.[10]
Johnson mô tả NSAM 273 là sự tái khẳng định mục tiêu rút lực lượng cố vấn Hoa Kì đã được công bố trước đó trong một tuyên bố của Nhà Trắng ngày 2/10 sau báo cáo McNamara-Taylor. Nó cũng nhắc lại kì vọng của tổng thống rằng “Tất cả các quan chức cấp cao của chính phủ sẽ tích cực hành động để đảm bảo sự thống nhất hoàn toàn trong việc ủng hộ chính sách đã được thiết lập của Hoa Kì tại Nam Việt,” giao các hành động cụ thể khác nhau cho các bộ hoặc cơ quan thích hợp, và “xác định Đồng bằng sông Mekong là khu vực có nguy cơ cao nhất trong những tháng tới.” Johnson ghi nhận rằng đây là quan điểm về Việt Nam mà ông nhận được trong vài ngày đầu nhậm chức và “được các cấp cao nhất của Phái đoàn tại Sài Gòn và các cố vấn chính của tôi tại Washington chia sẻ.” Bản thân ông có một sự dè dặt quan trọng liên quan đến dự báo khá lạc quan này. Ông vẫn nghĩ rằng vụ ám sát Diệm đã mang lại nhiều vấn đề hơn là giải quyết được vấn đề. Ông không thấy nhiều dấu hiệu của những người có kinh nghiệm và năng lực sẵn sàng giúp đất nước mình tại Sài Gòn. Ông cũng biết rằng ước tính của McNamara về việc rút cố vấn Hoa Kì vào tháng 10 giả định rằng sự hỗn loạn chính trị ở Nam Việt Nam sẽ không ảnh hưởng đến các hoạt động quân sự. Cũng chính giả định này, với tính xác thực ngày càng đáng ngờ, là cơ sở cho các kết luận của Honolulu.[11]
Tóm lại, Việt Nam đang trên đường trở thành điều mà người viết tiểu sử của Richard Helms mô tả là “nỗi ám ảnh và nguồn gây hại của Lyndon Johnson” .[12]
Tuy nhiên, Johnson và các cố vấn của ông vẫn cảm thấy rằng việc tăng cường viện trợ của Mĩ đang cải thiện tinh thần và hiệu năng của quân đội Việt Nam, và mặc dù chi tiêu của Mĩ cho viện trợ quân sự và kinh tế sẽ phải tăng lên khi Chính phủ Việt Nam tăng cường nỗ lực chống Việt Cộng, nhưng nỗ lực cố vấn chính của Mĩ có thể chấm dứt vào cuối năm 1965.[13] Trong cuốn The Vantage Point Johnson đã hồi tưởng lại lịch sử của các giai đoạn trước, trong và sau Thế chiến II. Ông “cảm thấy mạnh mẽ rằng Thế chiến II lẽ ra có thể đã tránh được nếu Hoa Kì vào những năm 1930 không đưa ra tín hiệu không chắc chắn như vậy về phản ứng có thể có của mình đối với sự xâm lược ở châu Âu và châu Á.” Ông dẫn chứng việc Hạ viện không đồng ý bỏ phiếu cấp kinh phí để tăng cường Guam vào năm 1939 và 1940, cuộc tranh cãi về Đạo luật Tuyển quân năm 1940 và “sự cách biệt 1 phiếu [203-202] tại Hạ viện mà theo đó thời hạn phục vụ cho lính nghĩa vụ được kéo dài thêm nửa năm chỉ 4 tháng trước trận Cảng Trân Châu.” [14]
Nhắc tới chuyến đi đến Đông Á, trong đó có Việt Nam, khi còn là phó tổng thống theo yêu cầu của tổng thống Kennedy vào tháng 5/1961, Johnson đã dẫn kết luận chính mà ông đã trình bày với tổng thống khi trở về:
Quyết định cơ bản mà Hoa Kì cần đưa ra – và thời gian là yếu tố quan trọng nhất – là liệu chúng ta có nên nỗ lực đối phó với thách thức bành trướng của Cộng sản ở Đông Nam Á bằng một chiến dịch lớn trợ giúp các lực lượng tự do trong khu vực hay là bỏ cuộc. Quyết định này phải được đưa ra với sự nhận thức đầy đủ về cái giá nặng nề và liên tục về tiền bạc, công sức và uy tín của Hoa Kì. Quyết định này phải được đưa ra với nhận thức rằng đến một lúc nào đó chúng ta có thể phải đối mặt với quyết định tiếp theo là liệu chúng ta có nên điều động một lực lượng lớn của Hoa Kì đến khu vực hay nên cắt giảm tổn thất và rút lui nếu các nỗ lực khác của chúng ta thất bại. Chúng ta phải nắm quyền kiểm soát quyết định này. Những gì chúng ta làm ở Đông Nam Á nên là một phần của chương trình hợp lí để đối phó với mối đe dọa mà chúng ta phải đối mặt trong toàn khu vực. Nó nên bao gồm một mô hình rõ ràng về những đóng góp cụ thể mà mỗi đối tác cần thực hiện theo khả năng và nguồn lực của mình. Tôi khuyến nghị chúng ta nên tiến hành một chương trình hành động rõ ràng và mạnh mẽ.[15]
Ông nhận xét rằng tổng thống Kennedy đồng ý với ước tính này và “coi cam kết của chúng ta đối với Đông Nam Á là một biểu hiện nghiêm túc về quyết tâm của quốc gia chúng ta trong việc chống lại sự xâm lược. Với tư cách tổng thống, ông ấy [Kennedy] quyết tâm giữ lời hứa mà chúng ta đã đưa ra. Ông ấy hiểu lời hứa đó có ý nghĩa là gì hiện nay và trong tương lai.” [16]
Khi thời gian trôi qua, Johnson kết luận rằng vấn đề Việt Nam nghiêm trọng hơn những báo cáo trước đó. Đầu tháng 12, ông đọc một bản đánh giá tình hình quân sự “do các nhà phân tích tình báo của Bộ Ngoại giao biên soạn,” có “kết luận rằng nỗ lực quân sự đã xấu đi đáng kể trong vài tháng qua.” Vào khoảng cùng thời điểm đó, đại sứ Lodge chuyển tiếp một báo cáo về ảnh hưởng, hoạt động và kiểm soát của Việt Cộng tại một tỉnh đồng bằng phía bắc tăng lên. Johnson cho rằng các báo cáo của phái đoàn hồi đầu năm 1963 phản ánh quá nhiều sự lạc quan thái quá của một số nhà quan sát và quá phụ thuộc vào số liệu thống kê và thông tin của Việt Nam. Ông yêu cầu McNamara trở về từ cuộc họp NATO tháng 12 qua ngã Sài Gòn. McNamara đã ở Việt Nam từ ngày 18 đến 20/12/1963 và vào ngày 21/12, đã gửi một báo cáo ảm đạm cho tổng thống. Ông cho rằng, trừ khi tình hình được đảo ngược trong 2 hoặc 3 tháng tới, các xu hướng hiện tại sẽ dẫn đến “ở mức tốt nhất là tình trạng trung lập và nhiều khả năng là đến một quốc gia do Cộng sản kiểm soát.” Johnson nhận xét rằng “trung lập hóa” vào thời điểm đó có nghĩa là áp dụng công thức của de Gaulle để thống nhất và trung lập hóa cả hai miền Việt Nam với việc rút toàn bộ lực lượng nước ngoài. Ông viết rằng hầu hết những người có suy nghĩ đều “nhận ra rằng công thức của de Gaulle về trung lập hóa sẽ đồng nghĩa với việc nhanh chóng cộng sản hóa toàn bộ Việt Nam, và có lẽ cả Lào và Cambodia nữa.” Ông lưu ý rằng tổng thống Kennedy đã gạt bỏ đề xuất của Pháp vì không thích đáng trong một cuộc phỏng vấn trên đài CBS vào ngày 2/9/1963.[17]
McNamara cho rằng chính phủ Việt Nam mới “thiếu quyết đoán và thiếu định hướng” và theo báo cáo của Phái đoàn Hoa Kì thì rất yếu kém. Ông nói với tổng thống: “Việt Cộng đã tiến bộ rất nhiều trong giai đoạn kể từ cuộc đảo chính [ngày 11/11], với dự đoán tốt nhất của tôi là tình hình thực tế đã xấu đi ở nông thôn kể từ tháng 7 ở mức độ lớn hơn chúng ta nhận ra do chúng ta phụ thuộc quá mức vào các báo cáo bị bóp méo của Việt Nam.”[18] Đại sứ Lodge, tướng Harkins và tướng Dương Văn Minh (“Minh lớn”) của Việt Nam ít bi quan hơn nhưng Johnson tin tưởng vào đánh giá của McNamara về tình hình hơn. Ông chấp nhận các khuyến nghị của McNamara và giám đốc CIA McCone về việc cải thiện báo cáo tình báo. Toà Đại sứ “tinh chỉnh và mở rộng báo cáo cấp tỉnh” và đại sứ Lodge bắt đầu một báo cáo cá nhân hàng tuần cho tổng thống mô tả các vấn đề cũng như tiến bộ. Trong cuốn The Vantage Point, Johnson viết rằng tất cả các báo cáo, cộng với những quan sát mà ông nhận được từ những người đi du lịch cá nhân trong và ngoài chính phủ, cũng như từ các bản tin báo chí và truyền hình, đã cung cấp cho ông thông tin đầy đủ và cân bằng hơn những người “ngoài dòng chính của các báo cáo chính thức có thể nhận ra.”[19]
Tuy nhiên, đến năm 1964, ngày càng có nhiều tin xấu. Như trợ lí bộ trưởng Bundy đã nói trong bài phát biểu “Path to Vietnam” của mình, Việt Nam “chìm trong hỗn loạn” suốt một năm rưỡi sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ và bị giết chết.[20] Trong một bài báo đăng trên Foreign Service Journal (Tạp chí Ngoại giao) tháng 7/1968,[21] cựu đại sứ Frederick E. Nolting đã bày tỏ ý kiến rằng những sai lầm mắc phải trong những tháng cuối cùng của chính quyền Kennedy, được Tổng thống Johnson kế thừa, và theo quan điểm của Nolting, càng trầm trọng hơn vào thời chính quyền Johnson, lớn đến mức hầu như không thể sửa chữa được. Trong bài báo của mình, đại sứ Nolting đã trích dẫn một bức thư ông viết cho tổng thống Johnson vào ngày 25/2/1965, bày tỏ sự tiếc nuối vì không thể có được cuộc hẹn gặp tổng thống và nói rằng quyết định nghỉ hưu ở ngành Ngoại giao của ông là “do bị tác động bởi việc tôi hết sức không đồng ý đối với một số hành động được thực hiện vào mùa thu năm ngoái liên quan đến Việt Nam, với những hậu quả bất lợi có thể dự đoán được…” Trong bài báo, Nolting tiếp tục đưa ra một số luận điểm từ hồi ức của chính mình để làm rõ chủ đề:
[Tổng thống Kennedy] và chính phủ của ông đã quyết định giải quyết xung đột ở Lào thông qua đàm phán, đồng thời tăng đáng kể sự trợ giúp của Mĩ cho Chính phủ và nhân dân Nam Việt. Điều này hẳn đã gây ngạc nhiên cho các nhà chiến lược ở Moscow, Bắc Kinh và Hà Nội, những người dù có những khác biệt, có xu hướng coi toàn bộ Đông Dương là một khu vực chiến lược duy nhất. Họ đã nhìn thấy cơ hội và không bỏ lỡ nó.
Hiệp ước về Lào, do Averell Harriman đàm phán, được kí kết tại Geneva năm 1962 và chưa bao giờ được các bên kí kết thuộc phe Cộng sản thực hiện, đã nhanh chóng biến đường mòn Hồ Chí Minh thành “Đại lộ ghi công Harriman” [Harriman Memorial Highway] (tôi không phải là người đặt ra cụm từ này). Hiệp ước về Lào đã trao quyền miễn trừ cho Bắc Việt kiểm soát các tỉnh phía Bắc của Lào và xâm nhập vào Nam Việt trong khi trói buộc tay chân phía chúng ta.
Trong khi đó, nỗ lực của Việt Cộng nhằm phá hoại sự tiến bộ ở Nam Việt và làm tê liệt chính phủ nước này đang đạt được những bước tiến đáng báo động. Các quan chức chính phủ Nam Việt, những người không thuộc quân đội, đã bị Việt Cộng ám sát hoặc bắt cóc vào năm 1960… phần lớn là các quan chức cấp thấp, những người đang thực hiện công việc của chính phủ Diệm, các cán bộ khuyến nông, kĩ sư công chánh, quản đốc nạo vét, khóm trưởng, giáo viên, bác sĩ và y tá, các đội phòng chống sốt rét và những người khác – 2 000 người đã bị giết hoặc bị bắt cóc trong một năm. Phải chăng đây là một cuộc nổi dậy của quần chúng chống lại một chính phủ không được lòng dân như một số người muốn chúng ta tin?
Mối quan hệ tốt đẹp rõ rệt đã được thiết lập giữa phó tổng thống Johnson và tổng thống Diệm trong chuyến thăm Việt Nam của ông Johnson vào tháng 5/1961. Tổng thống Kennedy đã nhanh chóng phê duyệt một thỏa thuận được soạn thảo giữa Diệm và Nolting sau chuyến thăm của tướng Maxwell Taylor, trong đó quy định “các chương trình hành động mới mạnh mẽ để bảo vệ nhân dân Việt Nam và giành được sự ủng hộ vững chắc của họ đối với chính phủ – mà không mở rộng phạm vi xung đột, không mời gọi sự can thiệp từ bên ngoài, không làm suy yếu tinh thần dân tộc cốt lõi của Việt Nam và không sử dụng lực lượng chiến đấu của Mĩ.” Chỉ thị của Nolting là xây dựng “một cầu nối tin cậy đủ mạnh để gánh vác gánh nặng của những lời khuyên và viện trợ mà chúng ta đang cung cấp.”
Theo cái nhìn của Nolting, chương trình trợ giúp và cố vấn này đã hoạt động tốt trong hai năm. Ông cho rằng sự thay đổi chính sách từ việc ủng hộ Diệm sang chính sách mà theo đó chính quyền Kennedy đi tới việc “quay lưng lại với đồng minh đã qua thử thách rồi cấu kết lật đổ ông ta” là đột ngột và tai hại. Ông tin rằng nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi mà phó tổng thống Johnson đã cảnh báo là:
Thứ nhất, báo chí – phần lớn thông tin công khai về Việt Nam – đều thiên kiến và nghiêng theo đường lối biên tập của tờ báo của các phóng viên. Điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến dư luận Mĩ.
Thứ hai, tại Bộ Ngoại giao và thậm chí trong đội ngũ nhân viên Nhà Trắng, có một nhóm nhỏ đã phản đối Diệm trong nhiều năm. Họ đã bị những quyết định thẳng thắn trước đó của tổng thống Kennedy dập tắt và im lặng trong một thời gian, nhưng họ vẫn không bị thuyết phục.
Thứ ba, vào giữa năm 1963, cuộc khủng hoảng Phật giáo nổ ra. Một âm mưu chính trị xảo quyệt và vô nhân đạo đã được dàn dựng cho công chúng Mĩ thấy như một cuộc nổi dậy thật sự chống lại sự đàn áp tôn giáo, đúng như những kẻ kích động Phật giáo đã dự định.
Nolting tiếp tục viết rằng sau khi được triệu hồi từ Việt Nam về vào tháng 8/1963, ông đã hỏi ngoại trưởng Rusk, “Tại sao Bộ Ngoại giao lại quay ngoắt với chính phủ Diệm như vậy?” Rusk đã trả lời, “Chúng ta không thể chịu đựng thêm bất kì vụ đốt phá nào nữa.” Nolting hiểu điều này có nghĩa là các nhà hoạch định chính sách ở Washington thiếu tầm nhìn xa. Ông viết rằng “Việc họ nhượng bộ trước những quan niệm sai lầm của công chúng và khuyến khích một cuộc đảo chính, theo đánh giá của tôi, là bất công đối với một đồng minh đáng kính và vô trách nhiệm đối với người dân Mĩ.”
Đối với một số nhà quan sát khác, ngay cả sau này, số phận của Diệm cứ liên tục xuất hiện trong bất kì cuộc thảo luận nào về vấn đề Mĩ ở Việt Nam, kiểu giống như đầu của Vua Charles trong phòng làm việc của ông Dick, bạn của David Copperfield vậy.[22] Theo Ellen Hammer:
Việc lật đổ chính phủ Diệm đánh dấu sự kết thúc của 9 năm ổn định và tương đối yên bình ở khu vực đầy biến động này trên thế giới. Chính quyền của ông, dù có những sai lầm và thất bại trong việc thúc đẩy đời sống chính trị lành mạnh trong nước, cuối cùng đã phát triển thành một chế độ quốc gia gắn bó. Và việc lật đổ Diệm được các đối thủ đáng gờm của ông là Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông coi là dấu mốc đánh dấu sự kết thúc của nỗ lực tạo ra một nhà nước độc lập ở Nam Việt không có sự can thiệp của Cộng sản.[23]
Hammer cũng lưu ý rằng việc lật đổ đột ngột Diệm, phá vỡ khuôn khổ quyền lực mà “dù tốt hay xấu, đã giữ cho đất nước gắn bó với nhau,” dẫn đến tình trạng hỗn loạn. Quốc hội và hiến pháp đã bị nhóm đảo chính quân sự bãi bỏ. Các cuộc thanh trừng tùy tiện làm đảo lộn chính quyền, sự sụp đổ của chương trình ấp chiến lược và tình trạng đào ngũ khỏi quân đội và dân quân đã dẫn đến việc Việt Cộng mở rộng quyền kiểm soát trên các khu vực rộng lớn ở miền Trung Việt Nam, vốn trước đây được coi là an toàn.[24] “Ở vùng nông thôn, việc lật đổ Diệm có nghĩa đối với dân chúng vẫn còn theo Nho giáo, là chính sách chống Cộng của ông đã thất bại, và ‘thiên mệnh’ đã chuyển sang Cộng sản.” [25]
Guenter Lewy trích dẫn một bài xã luận của tờ New York Times ngày 3/11/1963, trong đó “ca ngợi những người cầm quyền mới của Nam Việt là một nhóm những người chống Cộng tận tụy, nói rằng nếu chế độ mới đồng nhất mình với nguyện vọng của nhân dân thì nó đã “tiến một bước dài để đẩy lùi sự xâm nhập sâu hơn của Cộng sản trên khắp Đông Nam Á.” Trên thực tế, ông viết, “việc lật đổ Diệm đã không dẫn đến một chế độ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân Nam Việt và nó mang lại mức độ bất ổn nguy hiểm.”[26] Chương 5 trong cuốn sách của cựu thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ có tựa đề: “1964: Năm của 7 cuộc đảo chính.”
Cả “tàn dư của Việt Nam Quốc dân Đảng” lẫn “đảng Đại Việt bị chia rẽ sâu sắc” đều không thể thực thi quyền lực chính trị một cách hiệu quả như một số người ở Washington đã kì vọng, bởi vì cả hai đảng này đều không có cơ sở quần chúng và vì những mâu thuẫn, bè phái và xung đột cá nhân đã chia rẽ giới tinh hoa quân sự và dân sự.[27]
Hammer viết rằng, trong khoảng hai năm sau khi Diệm sụp đổ, 9 chính phủ nẩy sinh từ đảo chính đã liên tiếp lên nắm quyền, với sự gia tăng không ngừng của tham nhũng trong chính phủ và không có nỗ lực thật sự nào để thay thế hiến pháp năm 1956. Nhóm đảo chính ban đầu chỉ tồn tại trong 3 tháng, sau đó bị tướng Nguyễn Khánh lật đổ, ông này có nhiệm kì cầm quyền thất thường kéo dài thêm vài tháng và chứng kiến bạo lực trong cộng đồng giữa Phật tử và Công giáo ở Sài Gòn và các thị trấn phía Bắc. Thời kì này cũng chứng kiến sự xuất hiện của “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc” ở miền Trung Việt Nam, dường như đã cố gắng, dưới sự ảnh hưởng của cư sĩ Phật giáo Lê Khắc Quyến, ngăn cản Khánh thiết lập chế độ độc tài quân sự. Tuy nhiên, đến tháng 6/1965, sau những giai đoạn cầm quyền dân sự dưới thời quốc trưởng Phan Khắc Sửu và các thủ tướng Trần Văn Hương và Phan Huy Quát, một chính quyền quân sự mới đã lên nắm quyền với sự đồng thuận của các chính trị gia dân sự. Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm quốc trưởng [đúng ra là chủ tịch Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia – ND] và tư lệnh phó Không quân Nguyễn Cao Kỳ làm thủ tướng [đúng ra là chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương – ND].[28]
Tổng thống Johnson cảm thấy nản lòng trước tình trạng hỗn loạn chính trị ở Việt Nam và cho rằng “người Nam Việt dường như thường có xu hướng tự sát chính trị mạnh mẽ.” [29] Dù nản lòng trước Nam Việt, những người dường như là kẻ thù tồi tệ nhất của chính họ, ông “cảm thấy càng mất kiên nhẫn hơn với những người luôn chỉ sẵn sàng chỉ trích.” Ông cho rằng người Nam Việt Nam “cần và xứng đáng được thấu hiểu và kiên nhẫn, chứ không phải bị phỉ báng liên tục.” [30]
Theo quan điểm của tư lệnh phó Không quân Kỳ, có hai yếu tố đã cản trở mọi nỗ lực của Mĩ trong việc giải quyết tình trạng hỗn loạn chính trị ở miền Nam Việt Nam thời hậu Diệm. Thứ nhất, với việc để cho tổng thống Diệm “bị ghét” nắm quyền quá lâu, rồi lại lật đổ ông ta đột ngột, người Mĩ đã tạo ra một khoảng trống chính trị mà chỉ có phía cộng sản mới có thể khai thác. Người Việt Nam không cộng sản không có khả năng lấp đầy khoảng trống đó. Họ không biết cách làm. Từ thuộc địa của Pháp sang phụ thuộc vào Mĩ, họ chưa bao giờ học được cách tự quản lí đất nước. Thứ hai, người Mĩ không có ý tưởng rõ ràng về những gì họ muốn; “… họ đến với đầy thiện chí nhưng không thật sự hiểu được các vấn đề có liên quan, không có chính sách thật sự nào, và vì vậy đã tìm cách nương náu trong những chỗ ở tạm bợ.” “Họ đã cố gắng điều hành Chính phủ Sài Gòn bằng các phương pháp của Capitol Hill (Quốc Hội). Họ không bao giờ hiểu rằng không thể áp đặt một chiếc mặt nạ phương Tây lên một khuôn mặt phương Đông.” Cuộc cách mạng chống Diệm chưa bao giờ là một cuộc cách mạng thật sự. Đó là một cuộc đảo chính do “những kẻ cơ hội hơn là những người có lí tưởng” thực hiện. Họ không bao giờ có thể đủ đoàn kết “để chọn ra những nhà lãnh đạo hiệu quả và dành cho họ sự ủng hộ hoàn toàn.” [31]
Mặt khác, tổng thống Johnson và những người Mĩ khác có thể được thông cảm nếu bị kinh ngạc trước âm mưu đảo chính khởi đầu vào ngày 19/2/1965.
Trong cuốn sách của mình, Kỳ thừa nhận rằng vài ngày trước đó ông đã quyết định tổ chức đảo chính Khánh nhưng không thành. Khi cuộc đảo chính của tướng Lâm Văn Phát ngày 19/2 bắt đầu, ban đầu Kỳ đã giúp Khánh trốn lên Đà Lạt, sau đó cho máy bay đưa ông trở lại Biên Hoà gần Sài Gòn để hội đàm với các tướng lĩnh khác, rồi lại đưa Khánh trở lại Đà Lạt sau khi nhận được sự đồng ý của ông về việc ủng hộ Phát hay bất kì ai khác. Sau đó, Kỳ buộc Phát phải từ bỏ cuộc đảo chính bằng việc dọa sẽ ném bom từ trên không. Các tướng lĩnh sau đó bổ nhiệm Khánh làm đại sứ lưu động và phái ông ra nước ngoài. Tháng 9 năm trước đó (1964), Phát đã ủng hộ một cuộc đảo chính do tướng Dương Văn Đức cầm đầu. Kỳ kết luận rằng Đức đã khởi xướng cuộc đảo chính trước đó vì ông ta đã hiểu sai một lời nhận xét của Kỳ rằng cần phải làm gì đó với Khánh. Đức đã chiếm giữ hầu hết Sài Gòn, bao gồm cả Bộ tổng tham mưu và đài phát thanh. Sau đó, tướng Phát đã lên sóng phát thanh ủng hộ tướng Đức. Đường lối của Phát, theo Kỳ, nghe có vẻ quá giống với tư tưởng của Diệm, vì vậy ông đã buộc Đức phải lùi lại với việc dọa ném bom từ trên không. Trong cuộc đảo chính tháng 2/1965, Phát nhận được sự ủng hộ của đại tá Phạm Ngọc Thảo, một người Công giáo, đồng thời là cựu sĩ quan Việt Minh và, cũng đã được bổ nhiệm vào tòa đại sứ Việt Nam tại Washington. Thảo có vẻ đã vắng mặt không phép ở tòa đại sứ và xuất hiện ở Sài Gòn để giúp đỡ, hoặc có lẽ là thúc đẩy Phát. Khi các báo cáo ban đầu cho thấy cuộc đảo chính đang thành công, đại sứ Việt Nam tại Hoa Kì, tướng Trần Thiện Khiêm, đã tổ chức một cuộc họp báo ở Washington tuyên bố ủng hộ Phát. Khi cuộc đảo chính thất bại, mọi người đều tự hỏi điều gì sẽ xảy ra với đại sứ Khiêm. Trên thực tế, chính quyền Sài Gòn nhận định rằng ông Khiêm không đưa ra bất kì tuyên bố chính thức nào với chính phủ về vấn đề này, và họ thật sự không thể để ý đến cuộc họp báo. Đại sứ Khiêm sau đó đã đảm nhiệm nhiều chức vụ cao cấp, bao gồm cả chức vụ đại sứ tại Đài Loan và thủ tướng Việt Nam. Đại tá Thảo, sau cuộc đảo chính, đã bị bắn trọng thương, trốn thoát, và bị bắn lần nữa, lần này đã chết, theo tất cả các nguồn tin.
Johnson nhận thấy rằng phe cộng sản đang thu lợi từ những thiệt hại về tinh thần và về khả năng lãnh đạo của Nam Việt do sự hỗn loạn chính trị gây ra.
Ông yêu cầu bộ trưởng McNamara và tướng Maxwell Taylor đến Việt Nam một lần nữa vào tháng 3/1964 để xem xét lại tình hình và chuẩn bị các khuyến nghị về cách cải thiện tình hình.[32] Họ báo cáo rằng “tình hình ngày càng tồi tệ hơn, đặc biệt là về vấn đề an ninh, tinh thần và hiệu quả chính trị, và sự can thiệp của Hà Nội vào cuộc nổi dậy, vốn luôn đáng kể, đang tăng lên.” McNamara một lần nữa xem xét những hậu quả thảm khốc có thể dự đoán được nếu Nam Việt rơi vào tay cộng sản và khuyến nghị rằng “Hoa Kì ở tất cả các cấp phải tiếp tục khẳng định rõ ràng rằng chúng ta sẵn sàng cung cấp viện trợ và hậu thuẫn cho đến khi nào cần thiết để kiểm soát được cuộc nổi dậy.”[33] Ông cũng khuyến nghị một số hành động cụ thể bao gồm việc giúp Nam Việt tăng quân số thêm 50 000 người, cải thiện chất lượng và số lượng khí tài quân sự được gửi đến Nam Việt, và “cung cấp một số hình thức trợ giúp ngân sách để giúp Việt Nam gánh chịu được chi phí của một cuộc chiến đang mở rộng.” McNamara kết thúc báo cáo của mình với việc nêu rằng:
Nếu chính phủ Khánh có thể tiếp tục nắm quyền và các hành động nêu trên có thể được thực hiện nhanh chóng, tôi cho rằng tình hình ở miền Nam Việt Nam có thể được cải thiện đáng kể trong vòng 4 đến 6 tháng tới. Tình trạng xấu đi hiện tại có thể tiếp diễn trong một phần của giai đoạn này, nhưng tôi tin rằng nó có thể được san bằng và một số cải thiện sẽ được nhìn thấy trong thời gian đó. Do đó, tôi tin rằng cần phải khẩn trương theo đuổi hướng hành động này trong khi chúng ta chuẩn bị các hành động bổ sung cần thiết để đạt được thành công.[34]
McNamara tiếp tục khuyến nghị rằng “chúng ta cần sẵn sàng thực hiện một số hành động, có báo trước trong vòng 3 ngày, kiểm soát biên giới cũng như trả đũa chống lại Bắc Việt. Bộ trưởng cũng cho rằng chúng ta cần có khả năng tiến hành một chương trình gây áp lực quân sự theo từng bước đối với miền Bắc, báo trước trong vòng một tháng. Bộ trưởng Quốc phòng nhấn mạnh rằng ông không ủng hộ những hành động ‘vào thời điểm này’ nhưng khuyến nghị chúng ta nên chuẩn bị sẵn sàng nếu chúng trở nên cần thiết trong tương lai.[35]
Johnson viết rằng McNamara báo cáo rằng đại sứ Lodge và các thành viên của đoàn công tác tại Sài Gòn (bao gồm các đại diện cấp cao của Cơ quan Phát triển Quốc tế AID, CIA, Bộ Quốc phòng và Cơ quan Thông tin Hoa Kì) ủng hộ các đề xuất của ông. Ông nhận xét rằng tất cả các bộ và cơ quan liên quan ở Washington cũng ủng hộ chúng và không ai phản đối bất kì khuyến nghị quân sự nào trong các cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC). Ông cũng lưu ý rằng “Bộ Tham mưu Liên quân cho rằng các hành động được đề xuất có thể chưa đủ và có ý muốn thực hiện các biện pháp ngay lập tức chống lại miền Bắc hơn.” Johnson chia sẻ hai phản đối chính của các cố vấn cấp cao của ông khi vấn đề về hành động như vậy được nêu ra vào thời điểm đó và sau đó trong năm. Ông lo ngại rằng cơ sở chính trị và quân sự của Nam Việt quá mong manh để cho phép các biện pháp vốn có thể dẫn đến hành động gia tăng của “kẻ thù,” và ông lo ngại rằng việc tấn công miền Bắc có thể dẫn đến sự can dự của Trung Quốc hoặc Liên Xô hoặc cả hai. Ông “đã phê chuẩn 12 hành động trong danh sách của McNamara và chỉ thị cho các bộ của nhánh Hành pháp thực hiện chúng nhưng bác bỏ các đề xuất làm nhiều hơn thế.” [36]
Tổng thống kết luận rằng các nhà lãnh đạo ở Hà Nội đã quyết định vào mùa hè năm 1964 rằng đã đến lúc phát triển các hoạt động quân sự của họ từ cấp độ chiến tranh du kích sang một cuộc tổng tấn công chính quy hơn. Họ đã phát triển các đơn vị lớn ở miền Nam và đến cuối năm 1964 đã đưa quân chính quy Bắc Việt vào miền Nam Việt Nam để tham gia chiến tranh. Ông nghĩ rằng họ rõ ràng có ý định đập tan Quân đội Nam Việt, gây ra sụp đổ chính trị ở Sài Gòn và “chiếm lấy.” [37]
Trong bài phát biểu “Path to Vietnam”, trợ lí ngoại trưởng Bundy nhớ lại rằng việc tăng cường các hoạt động khủng bố và quân sự của Bắc Việt và Việt Cộng đã bắt đầu gần như ngay lập tức sau khi Diệm bị lật đổ và “đã chứng minh – nếu cần phải chứng minh – rằng cuộc đấu tranh không phải chống Diệm, bất chấp các tuyên bố của Cộng sản và những lo ngại chân thành của những người theo tự do, mà là một nỗ lực nhằm tiêu diệt tinh thần dân tộc không Cộng sản dưới bất kì hình thức nào ở miền Nam Việt Nam.”[38] Bundy nói rằng “Vào đầu năm 1964, tổng thống Johnson đã tái xác nhận rõ ràng tất cả các yếu tố thiết yếu trong chính sách của chính quyền Kennedy thông qua mọi hành động và thông qua các chỉ thị nội bộ kiên quyết.”
“Đơn giản là không đúng khi nói rằng đã có bất kì sự thay đổi nào trong chính sách trong giai đoạn này theo hướng nhấn mạnh hơn vào quân sự, chứ đừng nói đến các hành động quân sự lớn mới. Các hành động tiếp theo không bị loại trừ – như đã từng xảy ra vào năm 1954 hoặc 1961 – nhưng mục tiêu kiên định của tổng thống Johnson cho đến tận tháng 2/1965 là làm cho chính sách đã được thông qua vào cuối năm 1961 phát huy hiệu quả nếu có thể, bao gồm việc nhấn mạnh tối đa vào bình định và toàn bộ khía cạnh chính trị và dân sự.”[39]
Bình luận về những diễn biến của mùa hè năm 1964 được tổng thống Johnson mô tả và được trích dẫn ở trên, Bundy lưu ý rằng thời kì này đã mang đến một giai đoạn mới nhưng không phải là sự thay đổi về chính sách. Sự thay đổi đó chỉ xảy ra vào năm sau, sau khi quân đội Bắc Việt tăng cường đáng kể việc đưa quân xâm nhập vào miền Nam, kể cả quân gốc Bắc.
Trong khi đó, vào đầu tháng 8/1964, đã xảy ra sự kiện vịnh Bắc Bộ. Bundy nói với các phóng viên của BBC rằng sự việc này, trong đó “các tàu hải quân Mĩ đang tuần tra ở vịnh Bắc Bộ bị tấn công, và có hai cuộc tấn công đáp trả của Hoa Kì vào các căn cứ hải quân của Bắc Việt,”[40] “hoàn toàn bất ngờ và không có chủ tâm đối với chính quyền Johnson.” [41]
Về phần mình, tổng thống Johnson ghi nhận rằng Blair Seaborn, người đứng đầu phái đoàn Canada mới tại Uỷ hội Kiểm soát Quốc tế về Việt Nam, trên đường đến Hà Nội ngày 17/6/1964, đã được thông báo về đề xuất hoà bình đầu tiên của Johnson và được yêu cầu:
… thăm dò ý kiến chính quyền Bắc Việt về khả năng hoà bình. Chúng tôi nói với ông rằng ông có thể đảm bảo với Hồ Chí Minh và các đồng sự rằng Hoa Kì không có ý định lật đổ chế độ của họ. Chúng tôi không muốn duy trì các căn cứ quân sự hoặc vị trí quân sự nào ở miền Nam. Tất nhiên, chúng tôi nhận thức được sự kiểm soát của Hà Nội đối với Việt Cộng. Chúng tôi chỉ yêu cầu các nhà lãnh đạo ở Hà Nội tuân thủ các thỏa thuận đạt được với Pháp tại Geneva năm 1954 và trong thỏa thuận với Lào năm 1962: giữ quân của họ trong lãnh thổ của mình và ngừng gửi quân nhu vào miền Nam. Nếu đề xuất hoà bình của chúng tôi được chấp nhận, chúng tôi sẽ giúp tất cả các nước trong khu vực phát triển kinh tế. Bắc Việt có thể hưởng lợi từ sự cải thiện đó cùng với các nước láng giềng.[42]
Johnson lưu ý rằng Seaborn, người vừa trình bày quan điểm của Mĩ vừa lắng nghe quan điểm của Bắc Việt với tư cách là một “người trung gian khách quan,” không nhận được gì từ các nhà lãnh đạo ở Hà Nội ngoài những lời tuyên truyền rằng Hoa Kì phải rút quân hoàn toàn, rằng một chế độ “trung lập” phải được thiết lập theo chương trình của Mặt trận Giải phóng Dân tộc và rằng “mặt trận sẽ phải đóng vai trò lãnh đạo trong việc quyết định tương lai của đất nước.” [43]
Johnson diễn giải câu trả lời của Bắc Việt Nam, và một câu trả lời tương tự được đưa ra lại vào tháng 8/1964, như là đóng sầm cánh cửa đối với đề nghị hoà bình. Ông kết luận rằng Bắc Việt không muốn “hạn chế hành động của họ hay đàm phán; họ chỉ quan tâm đến một điều duy nhất, chiến thắng trên chiến trường. Kinh nghiệm về cố gắng mở ra con đường đàm phán hoà bình và đụng phải trở ngại này đã lặp đi lặp lại hàng chục lần trong vài năm tiếp theo.”[44] Nhắc lại rằng ông sẽ không “chịu trách nhiệm về cuộc chiến này hoặc thực hiện các hành động có nguy cơ gây chiến với Trung Hoa Cộng sản,” Johnson cũng phủ nhận trong The Vantage Point rằng ông là ứng cử viên “ hoà bình,” trái ngược với ứng cử viên “chiến tranh” Goldwater, trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1964. Ông tuyên bố:
Người dân Mĩ biết họ đang bỏ phiếu cho những gì vào năm 1964. Họ biết Lyndon Johnson sẽ không buông tay và bỏ chạy. Họ biết tôi sẽ không bội ước với đất nước mình. Họ biết tôi sẽ không chối bỏ những cam kết của các vị tổng thống tiền nhiệm. Họ cũng biết rằng tôi sẽ không xóa sổ Hà Nội hay dùng bom nguyên tử để phá huỷ rừng rậm Việt Nam. Tôi sẽ làm những gì phải làm để bảo vệ lợi ích của chúng ta và giữ lời hứa. Và đó là những gì tôi đã làm.[45]
Các biên tập viên của Tài liệu Lầu Năm Góc khẳng định rằng trong 6 tháng trước sự kiện vịnh Bắc Bộ, chính quyền Johnson “đã tiến hành các cuộc tấn công bí mật chống Bắc Việt trong khi dự định đạt được một nghị quyết của Quốc hội mà chính quyền coi là tương đương với một tuyên bố chiến tranh.” Các biên tập viên tiếp tục nói rằng chính quyền đã không tiết lộ những cuộc tấn công bí mật này khi sự kiện xảy ra và thực tế đã thúc đẩy nghị quyết thông qua Quốc hội vào ngày 7/8. Sau đó, theo các biên tập viên, chính quyền, “một lần nữa dựa trên một kế hoạch đã được chuẩn bị,” đã bí mật cử một phái viên Canada đến Hà Nội để cảnh báo “thủ tướng Phạm Văn Đồng rằng nghị quyết đó có nghĩa là Bắc Việt phải chấm dứt các cuộc nổi dậy do Cộng sản lãnh đạo ở Nam Việt và Lào hoặc phải gánh chịu hậu quả.”[46]
Các biên tập viên khẳng định rằng “Mức độ nghiêm trọng của mối đe dọa này đối với Hà Nội, bản chất và phạm vi của các hoạt động quân sự bí mật và ý định của chính quyền sử dụng nghị quyết để đưa quốc gia vào cuộc chiến tranh công khai, nếu sau này điều đó được chứng minh là cần thiết, đều được giữ bí mật” [47] Họ nhận xét rằng Tài liệu mô tả giai đoạn từ đầu năm 1964 đến các cuộc đụng độ ở vịnh Bắc Bộ vào tháng 8 “như là một giai đoạn quan yếu khi nền móng được lắp đặt cho cuộc chiến tranh rộng lớn hơn sau đó.” [48]
Tài liệu đề cập đến:
… một chương trình phức tạp gồm các hoạt động quân sự bí mật chống Nhà nước Bắc Việt với mật danh Chiến dịch Kế hoạch 34A (Operation Plan 34A). Tổng thống Johnson đã ra lệnh thực hiện chương trình này theo đề nghị của bộ trưởng McNamara, với hi vọng, dù rất mong manh, rằng “áp lực leo thang dần dần” từ các cuộc tấn công bí mật cuối cùng có thể buộc Hà Nội phải ra lệnh cho du kích Việt Cộng ở Việt Nam và Pathet Lào ở Lào ngừng các cuộc nổi dậy của họ.[49]
Tài liệu cũng đề cập đến các cuộc tuần tra của tàu khu trục Mĩ ở vịnh Bắc Bộ “như một hành động phô trương sức mạnh” và nhằm mục đích thu thập “loại thông tin tình báo về radar cảnh báo và hệ thống phòng thủ ven biển của Bắc Việt vốn sẽ có ích cho các nhóm đột kích 34A, hoặc cho các phi công, trong trường hợp có chiến dịch ném bom.” Tài liệu nêu rõ rằng:
…mặc dù các cấp cao nhất của chính quyền đã điều các tàu khu trục vào vịnh trong khi các cuộc đột kích 34A đang diễn ra, nhưng nghiên cứu của Lầu Năm Góc, như một phần lập luận trong đó rằng khiêu khích có chủ đích không phải là ý định, trên thực tế lại nói rằng chính quyền không tin rằng quân đội Bắc Việt dám tấn công các tàu này.
……….
Nhưng nghiên cứu này chỉ rõ rằng sự hiện diện thực tế của các tàu khu trục đã tạo ra các yếu tố dẫn đến cuộc đụng độ ở vịnh Bắc Bộ.[50]
Tổng thống Johnson đã diễn đạt mọi thứ theo một cách hoàn toàn khác:[51]
- Sáng sớm Chủ nhật ngày 2/8/1964, phòng tình huống Nhà Trắng thông báo với ông rằng tàu USS Maddox đã bị 3 tàu phóng ngư lôi (PT) của VNDCCH tấn công cách bờ biển Bắc Việt khoảng 300 dặm trong vịnh Bắc Bộ.
- Tàu Maddox đã bắn trả bằng dàn pháo 5” và yêu cầu không quân từ tàu sân bay USS Ticonderoga yểm trợ. Máy bay phản lực của tàu sân bay đã bắn chìm một tàu PT và làm hư hại hai tàu khác buộc phải rút lui. Tàu Maddox không có thương vong.
- Maddox đang tham gia cuộc tuần tra DESOTO (Chiến dịch đặc biệt DeHaven ngoài khơi Thanh Đảo[52]) để phát hiện bằng chứng về việc Hà Nội đưa người và vật tư vào miền Nam Việt Nam bằng đường biển và thu thập thông tin tình báo điện tử, tương tự như các tàu đánh cá của Liên Xô hoạt động ngoài khơi bờ biển Mĩ.
- Johnson và các cố vấn của ông quy cuộc tấn công là do một chỉ huy Bắc Việt quá hăng hái gây ra và quyết định không trả đũa mà tiếp tục cuộc tuần tra, được tăng cường thêm một tàu khu trục và được yểm trợ trên không.
- Các cuộc tấn công Chiến dịch 34A của Hải quân Việt Nam không liên quan đến Chiến dịch Desoto và nhằm mục đích cản trở việc Hà Nội triển khai quân và tiếp tế xuống phía Nam bằng đường biển. Các thành viên Hạ viện và Thượng viện được chỉ định giám sát các hoạt động tình báo đã được báo cáo về Chiến dịch 34A vào tháng 1, tháng 5, tháng 6 (hai lần) và đầu tháng 8/1964. McNamara đã báo cáo cho các thành viên Uỷ ban Đối ngoại Thượng viện trong một phiên họp kín vào ngày 3/8/1964.
- Một cuộc tấn công vào 34A xảy ra vào ngày 30/7 khi tàu Maddox cách xa 120 dặm. Cuộc tấn công thứ hai vào 34A diễn ra vào đêm ngày 3/8 khi đội tuần tra DESOTO cách xa 70 dặm. Các chỉ huy DESOTO không biết địa điểm hoặc thời gian của các cuộc tấn công. Tuy nhiên, sau cuộc tấn công đầu tiên vào tàu Maddox, lộ trình của họ được chuyển xa hơn về phía bắc để tạo khoảng cách an toàn hơn nữa với hoạt động của Việt Nam.
- Mặc dù quyết định coi cuộc tấn công đầu tiên của quân đội Bắc Việt vào Maddox là một tai nạn, Mĩ vẫn phát lời cảnh báo qua Đài Tiếng nói Hoa Kì về “những hậu quả nghiêm trọng chắc chắn sẽ xảy ra nếu có bất kì hành động quân sự tấn công vô cớ nào tiếp theo nhằm vào Lực lượng Hoa Kì.”
- Vào giữa buổi sáng ngày 4/8/1964 theo giờ Washington, “quân đội Bắc Việt lại tấn công các tàu khu trục của chúng ta.” Johnson đã tham khảo ý kiến của Rusk, McNamara, Vance, McCone và Bundy trong bữa trưa. “Quan điểm nhất trí của các cố vấn này là chúng ta không thể phớt lờ hành động khiêu khích thứ hai này và cuộc tấn công đòi hỏi phải trả đũa.”
- Trước báo cáo của Maddox đặt câu hỏi “liệu mấy báo cáo về việc địch phóng ngư lôi có chính xác hay không (trong cuộc tấn công thứ hai – ngày 4/8), Johnson đã ra lệnh cho McNamara điều tra và làm rõ.” “Đô đốc Sharp đã gọi McNamara để báo cáo rằng, sau khi kiểm tra tất cả các báo cáo và bằng chứng, ông hoàn toàn không nghi ngờ gì về việc một cuộc tấn công đã xảy ra. McNamara và các cộng sự của ông đã đi đến cùng kết luận. Các nghiên cứu chi tiết được thực hiện sau sự việc đã xác nhận nhận định này.”
- Johnson triệu tập Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) họp lúc 6:15 chiều “để thảo luận chi tiết về sự việc này và kế hoạch đáp trả mạnh mẽ nhưng có giới hạn của chúng ta.” Lúc 7:00 tối, ông “gặp các lãnh đạo Quốc hội tại Nhà Trắng với cùng mục đích.”
- Ông nói với các lãnh đạo này rằng ông “tin rằng một nghị quyết của Quốc hội ủng hộ toàn bộ lập trường của chúng tôi ở Đông Nam Á là cần thiết và sẽ củng cố vị thế của chúng ta.” Ông nhớ lại rằng ông đã đưa ra lời khuyên tương tự cho tổng thống Eisenhower, người đã làm theo lời khuyên đó trong các cuộc khủng hoảng ở Trung Đông và Đài Loan, trong cả hai trường hợp Quốc hội đều ủng hộ ông bằng các nghị quyết. Ông cho rằng tổng thống Truman hoàn toàn có thể đạt được một nghị quyết như vậy khi ông đứng ra bảo vệ Nam Triều Tiên và sai lầm duy nhất của ông là đã không yêu cầu điều đó.
- Johnson cho biết quyết định lớn đầu tiên của ông về vấn đề Việt Nam là tái xác nhận các chính sách của Kennedy. Quyết định thứ hai là trả đũa vụ tấn công vịnh Bắc Bộ và tìm kiếm một Nghị quyết của Quốc hội để ủng hộ chính sách của Mĩ đối với Đông Nam Á.
- Ông thông báo các cuộc tấn công vào khoảng 11:30 tối, giờ Washington. Chúng đã làm hư hại hoặc phá huỷ 25 tàu thuyền và 90% số bồn chứa dầu tại Vinh, đổi lại tổn thất hai máy bay (và Trung úy (hạng thấp) Alvarez, phi công Mĩ đầu tiên bị bắn rơi và bắt làm tù binh ở Bắc Việt trong cuộc chiến này).
- Ngày hôm sau, ông cùng với các lãnh đạo Quốc hội đã phê duyệt dự thảo “Nghị quyết Đông Nam Á” do ngoại trưởng Rusk và thứ trưởng Ball soạn thảo. Trong thông điệp gửi đến Quốc hội, Johnson đã “nói rõ rằng tôi đang yêu cầu sự ủng hộ của Quốc hội không chỉ để đáp trả các cuộc tấn công vào lực lượng của chúng ta, hoặc đơn giản là để thực hiện các nghĩa vụ của chúng ta ở Nam Việt mà còn để có thể làm những gì cần thiết để hoàn thành trách nhiệm của chúng ta ở toàn bộ Đông Nam Á.”[53]
- Johnson viết rằng ông đã “thúc giục các phiên điều trần tự do của Uỷ ban Đối ngoại và Quân sự tại Thượng viện và Uỷ ban Đối ngoại và Quân sự tại Hạ viện. Ông viết rằng ông cũng đã yêu cầu các lãnh đạo kiên quyết tiến hành điểm danh cả trong các uỷ ban và trên sàn của cả hai viện để biên bản được đầy đủ và không thể tranh cãi.” “Kết quả bỏ phiếu tại Thượng viện là 88 – 2 [Ernest Gruening, Alaska, và Wayne Morse, Oregon chống] và tại Hạ viện là nhất trí hoàn toàn 416 – 0.” [Trên thực tế, Thượng viện đã thảo luận rất ít và Hạ viện chỉ mất 40 phút để đưa ra quyết định.[54] Tuy nhiên, như Johnson đã nhận xét chính xác, cuộc trao đổi trên sàn Thượng viện giữa nghị sĩ Cooper của Kentucky và nghị sĩ Fulbright đã nêu rõ rằng nghị quyết trao cho tổng thống quyền hành động trước theo cách mà ông cho là cần thiết liên quan đến việc bảo vệ Nam Việt hoặc bất kì quốc gia nào khác thuộc Hiệp ước SEATO, trừ khi Thượng viện rút lại sự chấp thuận của mình vào một ngày sau này bằng nghị quyết cùng chủ đề.[55]
Cựu Ngoại trưởng Dean Rusk nói với các phóng viên của BBC rằng Nghị quyết vịnh Bắc Bộ là một sự thực thị quyền lực chiến tranh của Quốc hội. Các phóng viên nhận xét: “Tuy nhiên, người ta cũng rất ấn tượng với các nghị sĩ, những người dường như vẫn tin rằng họ đã được cho cảm giác sâu sắc rằng khi tính tới việc thực thi những lời lẽ đó thì họ có hoặc dự kiến có ý định hạn chế hơn nhiều, bất chấp cách diễn đạt được đưa ra.” Rusk trả lời:
Năm 1966, nghị sĩ Morse, một người mà tôi rất kính trọng nhưng lại là đối thủ của ông ấy suốt thời gian qua, đã đưa ra kiến nghị huỷ bỏ Nghị quyết vịnh Bắc Bộ. Ông chỉ nhận được sự ủng hộ của 5 nghị sĩ, 4 người khác và chính ông, vào năm 1966. Quan điểm cá nhân của tôi là các nghị sĩ nên được quyền bỏ phiếu, và nhánh hành pháp của chính phủ có quyền dựa vào cách họ bỏ phiếu mà không cần phải than vãn lung tung. Hãy để họ đưa vấn đề ra và bỏ phiếu để chúng ta biết lập trường của họ như thế nào.[56]
Văn bản của Nghị quyết Đông Nam Á (Luật Công cộng 88-408 [HJ Res 1145J 78 Stat. 384], được phê duyệt ngày 10/8/1964), đặc biệt là phần thứ hai của nghị quyết này, được trợ lí Ngoại trưởng Bundy trích dẫn trong bài phát biểu “Path to Vietnam”, dường như đủ rõ ràng để biện minh cho sự thiếu kiên nhẫn của Rusk đối với bất kì nhà lập pháp nào tuyên bố sau đó rằng họ không biết mình đang đồng ý với điều gì.[57] Guenter Lewy đã bàn luận về những cáo buộc gian dối liên quan đến “cuộc tấn công thứ hai vào tàu Maddox vào ngày 4/8, được cho là chưa bao giờ diễn ra và được cho là do chính quyền dàn dựng, nhằm có cớ để mở rộng chiến tranh và nhận được sự chấp thuận của Quốc hội.” Ông đánh giá rằng:
Đúng là tổng thống đã lợi dụng sự việc để phê duyệt và thực hiện các biện pháp đã được đề xuất trước đó, nhưng điều này không xác lập rằng cuộc tấn công là do cố ý khiêu khích, càng không thể nói là nó dựa trên sự bịa đặt. Mặc dù các số liệu đo bằng sonar và radar cũng như việc quan sát trực quan ngư lôi có thể bị đặt câu hỏi là không đáng tin và không thuyết phục, nhưng vẫn có những bằng chứng rõ ràng khác không để lại nghi ngờ gì về việc đã xảy ra một cuộc tấn công. Như McNamara đã nói với Uỷ ban Quan hệ Đối ngoại Thượng viện trong phiên họp kín vào tháng 2/1968, tàu Maddox đã có thể thu lén được các lệnh không mã hóa của Bắc Việt gửi cho các tàu tuần tra tấn công các tàu Mĩ cũng như các tín hiệu truyền từ các tàu Bắc Việt về sở chỉ huy của họ báo cáo về diễn biến của trận hải chiến.[58]
Như đã đề cập ở trên, vào cuối năm 1964, tình hình ở Việt Nam đã diễn biến khá xấu. Các biên tập viên của Tài liệu Lầu Năm Góc cho chúng ta biết rằng chính quyền đã đạt được “sự đồng thuận chung” vào tháng 9/1964 rằng các cuộc tấn công trên không vào Bắc Việt có thể sẽ phải được tiến hành vào đầu năm 1965.[59] Họ báo cáo rằng các cuộc tấn công trả đũa mới chống Bắc Việt thật sự đã được ra lệnh vào ngày 8/2/1965, và tổng thống đã ra lệnh bắt đầu Chiến dịch Sấm Sét (ném bom liên tục vào Bắc Việt) vào ngày 13/2. Các biên tập viên nhận thấy Johnson “đang tiến tới và bị thúc đẩy về phía chiến tranh, nhưng lại miễn cưỡng và do dự hành động cho đến phút cuối.”[60]
Như đã đề cập trước đó, tướng Westmoreland đã thay thế tướng Harkins làm tư lệnh Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự Hoa Kì tại Việt Nam (COMUSMACV [Commander U.S. Military Assistance Command, Vietnam]) vào ngày 20/6/1964. Tướng Maxwell Taylor đã thay thế Henry Cabot Lodge làm đại sứ vào ngày 7/7. Các biên tập viên của Tài liệu Lầu Năm Góc nêu rằng, vào ngày 18/8, đại sứ Taylor đã gửi điện tín từ Sài Gòn rằng ông đồng ý với một “giả định” của chính quyền Washington rằng Việt Cộng “không thể bị đánh bại và không thể giữ được Chính phủ Nam Việt bằng một cuộc chiến tranh chống du kích chỉ giới hạn ở chính Nam Việt.”[61] Theo Tài liệu, ông đã đề xuất “một cuộc tấn công ném bom được dàn dựng cẩn thận vào Bắc Việt, chủ yếu nhắm vào các mục tiêu xâm nhập và các mục tiêu quân sự” với “ngày 1/1/1965 là ngày D.”[62] Tài liệu báo cáo rằng đại sứ đề xuất nỗ lực ném bom có thể nhằm “thuyết phục chế độ của tướng Nguyễn Khánh đạt được một số ổn định chính trị và tiến hành nghiêm túc chương trình bình định hoặc ngăn chặn ‘sự sụp đổ tinh thần quốc gia’ ở Sài Gòn bất kể tiến bộ nào mà Khánh đạt được.” Phản ánh những nghi ngờ về tính lâu dài của chính phủ Khánh, Taylor nói rằng “trước khi ném bom miền Bắc, Hoa Kì cũng sẽ phải gửi tên lửa phòng không Hawk của Lục quân đến khu vực Sài Gòn và Đà Nẵng để bảo vệ các sân bay ở đó trước các cuộc tấn công trả đũa trên không của Cộng sản – được cho là có thể xảy ra từ Trung Quốc hoặc Bắc Việt – và đổ bộ một lực lượng lính thuỷ đánh bộ Hoa Kì tại Đà Nẵng để bảo vệ căn cứ không quân ở đó khỏi các cuộc tấn công trên bộ có thể xảy ra.”[63]
Tổng thống Johnson viết rằng ý tưởng tấn công Bắc Việt, dù là hành động trả đũa hay một chiến dịch kéo dài, đã được thảo luận từ lâu ở Washington, Sài Gòn và trên báo chí. Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân lập luận rằng một số đề xuất mà bộ trưởng McNamara đưa ra vào tháng 3/1964 có thể không đủ mạnh và các cuộc tấn công trực tiếp vào các mục tiêu quân sự ở miền Bắc sẽ tốt hơn. Tổng thống nhắc lại rằng giám đốc CIA McCone “cảm thấy mạnh mẽ rằng việc tăng cường hành động ở miền Nam cần phải đi kèm với các hoạt động không quân và hải quân mạnh mẽ chống lại miền Bắc.” Ông nói rằng:
… trong năm đầu tiên tôi ở Nhà Trắng, không có đề xuất chính thức nào về một chiến dịch không kích vào Bắc Việt được đưa ra như một đề nghị đã được nhất trí của các cố vấn chính của tôi. Bất cứ khi nào chủ đề này được đưa ra, có người này hoặc người kia trong số họ thường đề cập đến nguy cơ tạo cho Trung Hoa Cộng sản một cái cớ để can thiệp quy mô lớn vào Việt Nam. Rusk lo ngại rằng việc gây áp lực trực tiếp lên Bắc Việt có thể khuyến khích Liên Xô nâng mức căng thẳng xung quanh Berlin, ở Trung Đông hoặc những nơi khác lên. Tôi hoàn toàn đồng ý. Mục tiêu của chúng ta ở Việt Nam rất hạn chế, và hành động của chúng ta cũng vậy. Tôi muốn giữ nguyên như vậy.[64]
Johnson cũng nhớ lại rằng nhiều người trong Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng lo ngại các cuộc không kích dữ dội vào miền Bắc có thể khiến Hà Nội tiến hành một cuộc xâm lược công khai vào miền Nam Việt Nam hoặc ít nhất là leo thang chiến tranh du kích. Các quan chức Mĩ ở Sài Gòn và Washington cảm thấy, về mặt chính trị và quân sự, miền Nam Việt Nam không thể sống sót trước một cuộc leo thang như vậy của cộng sản.[65] Johnson gọi đại sứ Taylor trở lại Washington để tham vấn vào đầu tháng 9 “để nghe chi tiết đánh giá của ông ấy về những điểm yếu kém về chính trị nội bộ.” Ông cũng muốn thảo luận về các bước tiếp theo cần thực hiện hoặc yêu cầu phía Việt Nam thực hiện. “Cuối cùng, tôi nghĩ những người ở Washington đang thúc giục hành động quân sự chống miền Bắc nên nghe từ người của chúng ta tại hiện trường về mức độ bất ổn của căn cứ mà chúng ta đang hoạt động ra sao nếu lời khuyên của họ được chấp nhận.”[66]
Ngày 9/9, tổng thống Johnson gặp đại sứ Taylor, ngoại trưởng Rusk, bộ trưởng McNamara, tướng Earle Wheeler, giám đốc CIA McCone, các trợ lí Ngoại trưởng William P. Bundy và Robert J. Manning, và trợ lí bộ trưởng Quốc phòng John T. McNaughton. Johnson đã nghe “khuyến nghị về một số hành động cụ thể do Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng đề xuất sau khi tham khảo ý kiến của đại sứ Taylor.” Những khuyến nghị này bao gồm việc nối lại các cuộc tuần tra ở vịnh Bắc Bộ và chuẩn bị trả đũa Bắc Việt nếu có cuộc tấn công vào các đơn vị của Mĩ hay hành động “đặc biệt,” được cho là mới về loại hình hoặc cường độ, của Việt Cộng chống lại Nam Việt. Mặc dù ngoại trưởng McNamara nói với tổng thống rằng Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân ủng hộ các đề xuất này, ông chỉ ra rằng tham mưu trưởng Không quân và tư lệnh lính thuỷ đánh bộ “cho rằng cũng cần phải tiến hành các cuộc không kích quy mô lớn vào miền Bắc.” Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng và các tư lệnh Lục quân và Hải quân đã bị đại sứ Taylor thuyết phục rằng bất kì hành động quyết liệt nào, được cho là như các cuộc không kích quy mô lớn vào miền Bắc, có thể tạo ra phản ứng của cộng sản mà Nam Việt không thể đối phó nổi. Johnson viết rằng, sau khi nghe những quan điểm ảm đạm như vậy, ông đã hỏi liệu có ai trong số những người có mặt nghi ngờ về việc Việt Nam có đáng để bỏ ra tất cả nỗ lực dự kiến hay không và liệu có ai có quan điểm khác về khuyến nghị quân sự được trình bày cho ông hay không. Đại sứ Taylor nhanh chóng trả lời rằng “chúng ta không thể để Hà Nội thắng vì lợi ích vị thế tổng thể của chúng ta ở châu Á và trên thế giới.” Tướng Wheeler nói rằng việc mất Nam Việt cuối cùng sẽ đồng nghĩa với việc mất Đông Nam Á. Giám đốc CIA McCone đồng ý và, “ngoại trưởng Rusk cũng vậy, với sự nhấn mạnh đáng kể.” Johnson đã chấp thuận khuyến nghị, “Sau khi cân nhắc nghiêm túc và thảo luận rất nhiều.”[67]
Theo các biên tập viên của Tài liệu Lầu Năm Góc, tổng thống “đã ra lệnh thực hiện một số biện pháp tạm thời trong Bản ghi nhớ Hành động An ninh Quốc gia 314.” Họ báo cáo rằng đoạn cuối cùng có nội dung như sau:
Những quyết định này được chi phối bởi một nhận định phổ biến rằng ưu tiên hàng đầu hiện nay là thực hiện các hành động nhằm củng cố nền tảng của Chính phủ Nam Việt; trong chừng mực tình hình cho phép, những hành động như vậy nên được thực hiện trước những quyết định lớn hơn. Nếu những quyết định lớn hơn như vậy được yêu cầu vào bất kì thời điểm nào do sự thay đổi của tình hình, chúng sẽ được đưa ra.[68]
Theo các tài liệu, các biện pháp tạm thời bao gồm:
- Nối lại các cuộc tuần tra của DESOTO ở vịnh Bắc Bộ, ban đầu vượt xa giới hạn 12 dặm, rõ ràng là tách biệt khỏi các hoạt động của 34A nhưng được các tàu sân bay yểm trợ trên không;
- Tái kích hoạt các hoạt động 34A với sự sẵn sàng thừa nhận của Chính phủ Việt Nam (GVN), biện minh và hợp pháp hóa chúng dựa trên thực tế về sự xâm nhập bằng đường biển của Việt Cộng;
- Thỏa thuận với Chính phủ Souvanna Phouma của Lào cho phép “các hoạt động không quân và bộ binh hạn chế của Chính phủ Việt Nam Cộng hoà vào các khu vực hành lang [Đông Nam] Lào, cùng với các cuộc không kích của Lào và khả năng trinh sát trên không có vũ trang của Mĩ” ;
- Chuẩn bị tiến hành các cuộc không kích trả đũa “ăn miếng trả miếng” đối với VNDCCH.[69]
Tổng thống Johnson ghi nhận rằng, vào ngày 1/11, sau một cuộc tấn công của Việt Cộng làm hư hại máy bay Mĩ tại Biên Hoà gần Sài Gòn, và một cuộc tấn công khác vào đêm Giáng sinh khiến người Mĩ và người Việt thiệt mạng, ông đã từ chối yêu cầu của Bộ Tham mưu Liên quân và đại sứ Taylor về việc ném bom trả đũa vì ông lo ngại không chỉ về khả năng của Chính phủ Nam Việt trong việc xử lí phản ứng của cộng sản mà còn về khả năng cộng sản sẽ trả đũa lại nhằm vào người thân của người Mĩ ở Sài Gòn. Tuy nhiên, ông “ngày càng tin chắc rằng lực lượng của chúng ta xứng đáng nhận được sự trợ giúp mà các cuộc không kích vào nguồn xâm lược sẽ mang lại.” Ông cũng nhận thấy rằng việc đưa vũ khí và người vào miền Nam tiếp tục diễn ra đều đặn và rằng, đến cuối năm 1964, “Chúng tôi đã biết được các binh lính Quân đội Bắc Việt mặc quân phục chính quy và mang đầy đủ trang thiết bị chiến trường,” và rằng “Những binh lính chính quy này không chỉ là những người thay thế cho các đơn vị Việt Cộng, như trước đây, mà là thành viên của các đội hình tiểu đoàn có tổ chức.”[70]
Trong bài phát biểu “Path to Vietnam,” trợ lí Ngoại trưởng Bundy đã đề cập đến hoàn cảnh dẫn đến những quyết định sắp được đưa ra về việc áp dụng các biện pháp quân sự mới. Ông cho biết một cuộc duyệt xét đã được tiến hành vào cuối năm 1964, khi tình hình chính trị và quân sự ngày càng xấu đi. Có vẻ như chính quyền có thể lựa chọn:
- Tiếp tục chính sách hiện hành, đồng thời cải thiện nó bằng mọi cách có thể trong phạm vi cho phép;
- Tiến hành “các biện pháp quân sự mới và quan trọng” trong khi vẫn giữ vững các mục tiêu cơ bản ban đầu;
- Tiến tới việc rút lui.
Ông nói rằng hoàn cảnh đã thuyết phục tất cả những người liên quan rằng lựa chọn đầu tiên không còn giá trị nữa và sẽ dẫn đến việc Nam Việt chấp nhận “sự kiểm soát của Cộng sản đạt được thông qua sự lật đổ và xâm lược được hậu thuẫn từ bên ngoài.” Ông nói thêm: “Đây là một phán đoán thực tế thẳng thắn. Nó đi ngược lại mọi mong muốn của Tổng thống và các cố vấn của ông.” Bundy “chắc chắn đó là một phán đoán đúng đắn – được hầu hết các nhà quan sát tinh tường vào thời điểm đó chấp nhận và, dưới ánh sáng của sự xem xét thấu đáo hiện nay [năm 1967], tôi tin rằng hầu như tất cả những người biết rõ tình hình đều chấp nhận.” Tóm lại, Bundy tin rằng các lựa chọn đã thu hẹp lại còn hai – tiến tới rút quân hoặc làm nhiều hơn nữa để tạo ra hiệu quả quân sự và cũng để vực dậy tinh thần và ý chí tiếp tục của người dân Nam Việt.[71]
Bundy nhấn mạnh rằng cơ sở cho các quyết định, kể từ tháng 2 (1965) bắt đầu ném bom, tháng 3 đưa vào một số lượng nhỏ lực lượng chiến đấu, và tháng 7 điều động lực lượng chiến đấu lớn của Hoa Kì, “dựa trên cái nhìn tổng thể về tình hình và cái nhìn tổng thể rằng những gì đã diễn ra trong nhiều năm về cơ bản là hành động xâm lấn, và thực tế thuật ngữ này xuất hiện từ cuối năm 1961 hoặc đầu năm 1962 trong các tuyên bố của các phát ngôn viên cấp cao của chính quyền.” Ông cũng bác bỏ cáo buộc rằng chính Hoa Kì đã “đơn phương thay đổi bản chất của cuộc chiến theo hướng của một xung đột thông thường,” một cáo buộc dựa trên luận điệu rằng Hà Nội đã không phái quân chính quy của mình theo từng đơn vị với sự hiểu ngầm rằng Mĩ sẽ không ném bom Bắc Việt để đổi lấy sự kiềm chế như vậy. Ông nói rằng bằng chứng có được từ mùa xuân năm 1965 trở đi cho thấy rằng:
… một trung đoàn Bắc Việt đã tiến vào Nam Việt vào tháng 12/1964, và chúng ta biết rằng một số trung đoàn khác đã tiến vào vào mùa xuân năm 1965 theo lịch trình xâm nhập mà chỉ có thể phản ánh những quyết định được đưa ra ở Hà Nội trước khi bắt đầu cuộc ném bom … Vấn đề là Hà Nội, như chúng ta đã nghi ngờ lúc đó và sau này được cho thấy, đã thực hiện những bước đi quan trọng để nâng cao mức độ chiến tranh trước khi cuộc ném bom bắt đầu.[72]
Tổng thống Johnson viết rằng vào cuối tháng 1/1965, ông đã cho phép tướng Westmoreland, theo yêu cầu của tướng này, sử dụng máy bay phản lực của Mĩ tấn công Việt Cộng để yểm trợ quân đội Việt Nam “khi ông xét thấy điều đó là hoàn toàn cần thiết,” và Westmoreland lần đầu tiên sử dụng quyền hạn này vào cuối tháng 2. Đầu tháng Giêng, đại sứ Taylor đã nói với tổng thống rằng việc không hành động tích cực sẽ đồng nghĩa với việc chấp nhận thất bại trong tương lai gần và “các cố vấn dân sự của tổng thống cũng đi đến kết luận tương tự từ những thực tế khắc nghiệt.” McGeorge Bundy, trong một bản ghi nhớ ngày 27/1, nói với tổng thống rằng ông và bộ trưởng McNamara đã kết luận rằng chính sách hiện tại chỉ có thể dẫn đến thất bại thảm hại và rằng “đã đến lúc phải sử dụng nhiều sức mạnh hơn những gì chúng ta đã triển khai cho đến nay.” Họ thấy có sự lựa chọn giữa việc sử dụng sức mạnh quân sự của chúng ta ở Viễn Đông để buộc cộng sản phải thay đổi chính sách hoặc tập trung nguồn lực vào con đường đàm phán để cứu vãn “những gì ít ỏi có thể còn giữ được mà không làm tăng thêm rủi ro quân sự hiện tại của chúng ta.” Họ nghiêng về hướng ủng hộ việc sử dụng nhiều sức mạnh quân sự hơn, phương án đầu tiên, nhưng cho rằng cả hai hướng đều cần được xem xét kĩ lưỡng, và các chương trình để theo đuổi mỗi hướng cần được phát triển và tranh luận trước sự hiện diện của tổng thống. McGeorge Bundy và McNamara chỉ ra rằng ngoại trưởng Rusk không đồng ý với đánh giá của họ. Rusk cho rằng hậu quả của cả việc leo thang lẫn việc rút quân đều tồi tệ đến mức cần phải tìm ra cách để chính sách hiện tại có tác dụng. Bundy và McNamara tin rằng điều này là bất khả.[73]
Do đó, tổng thống đã yêu cầu ngoại trưởng Rusk “chỉ thị cho các chuyên gia của mình một lần nữa xem xét tất cả các phương án có thể có để tìm ra giải pháp hoà bình.” Ông cũng yêu cầu Bundy đến Sài Gòn cùng một nhóm chuyên gia quân sự và dân sự để “đánh giá kĩ lưỡng tình hình thực tế.” Bundy phải báo cáo lại vào ngày 7/2. Trong khi đó, vào ngày 2/2, giám đốc CIA McCone dự đoán một cuộc khủng hoảng chính trị nghiêm trọng đối với tướng Khánh ở Sài Gòn và chỉ ra rằng chủ tịch Liên Xô Kosygin sẽ sớm đến Hà Nội, sẽ tăng đáng kể viện trợ kinh tế và quân sự cho Bắc Việt, và sẽ khuyến khích Hà Nội “tăng cường hoạt động lật đổ và chiến tranh du kích ở Nam Việt.” Đáp lại yêu cầu đưa ra khuyến nghị của tổng thống, McCone đề nghị ném bom các mục tiêu chọn lọc ở Bắc Việt.[74] Vào chiều ngày 6/2, có tin về các cuộc tấn công của cộng sản vào một số mục tiêu ở Nam Việt, bao gồm doanh trại cố vấn quân đội Mĩ ở Pleiku và một căn cứ trực thăng quân đội Mĩ gần đó, làm thiệt mạng tổng cộng 9 người Mĩ và làm bị thương hơn 100 người, đồng thời phá huỷ 5 máy bay Mĩ và làm hư hại 15 chiếc khác. Tối hôm đó, Johnson triệu tập Hội đồng An ninh Quốc gia, bao gồm ngoại trưởng McNamara, cấp phó của ông là Cyrus Vance, tướng Wheeler, thứ trưởng Ngoại giao Ball (thay ngoại trưởng Rusk đang đi vắng), Llewellyn Thompson và William Bundy của Bộ Ngoại giao, bộ trưởng Tài chính Douglas Dillon, Carl Rowan của USIA và Marshall Carter từ CIA. Chủ tịch Hạ viện McCormick và nghị sĩ Mansfield cũng có mặt.[75]
Tổng thống viết, “Các cố vấn của tôi đã thúc giục mạnh mẽ rằng chúng ta đáp trả các cuộc tấn công bằng cách tấn công ngay lập tức 4 mục tiêu ở Bắc Việt. Máy bay Hoa Kì sẽ xử lí 3 mục tiêu; Không quân Nam Việt sẽ tấn công mục tiêu thứ tư. Các mục tiêu là các doanh trại quân đội liên quan đến hệ thống xâm nhập của Bắc Việt vào miền Nam.”[76] McGeorge Bundy ở Sài Gòn đã báo cáo, qua điện thoại bảo mật, sự đồng thuận của đại sứ Taylor và tướng Westmoreland. Tổng thống hỏi George Ball, với tư cách là người cấp cao nhất của Bộ Ngoại giao có mặt, ông nghĩ gì. “Tất cả chúng ta đều nhất trí rằng phải hành động,” Ball trả lời. “Chúng ta cần phải quyết định chúng ta sẽ xử lí các cuộc không kích một cách công khai như thế nào. Chúng ta phải làm rõ rằng Bắc Việt và Việt Cộng là một. Chúng ta đang trả đũa Bắc Việt vì Hà Nội chỉ đạo Việt Cộng, cung cấp vũ khí và đưa người vào.”[77]
Johnson, từ lâu đã lo ngại về nguy cơ bị cộng sản trả thù nhằm vào người thân của binh lính Mĩ tại Sài Gòn, giờ đây quyết định bắt đầu sơ tán họ ngay lập tức.
Đi vòng quanh bàn, ông nhận thấy chỉ có nghị sĩ Mansfield phản đối các cuộc không kích. “Chúng ta nên thận trọng,” ông cảnh báo. “Chúng ta có thể sẽ vướng vào một cuộc chiến với Trung Quốc. Chúng ta có thể đang hàn gắn sự chia rẽ giữa Moscow và Bắc Kinh. Ông ấy kịch liệt phản đối ý tưởng trả đũa nhưng không đề xuất phương án nào khác để thay vào.”[78]
Về phần mình, tổng thống Johnson cho rằng một cuộc không kích bất ngờ và hiệu quả có thể thuyết phục giới lãnh đạo Hà Nội rằng Hoa Kì đang nghiêm túc và họ không thể chắc chắn có được tiếp tục chừa ra nếu tiếp tục tấn công miền Nam. Ông biết có nguy cơ Liên Xô hoặc Trung Quốc can dự nhưng lưu ý rằng cả hai đều không “cố mang lại hoà bình hay thậm chí kêu gọi kiềm chế và nghi ngờ rằng cả hai đều không muốn can thiệp trực tiếp.” “Sau cuộc thảo luận dài,” ông cho phép tấn công miễn được sự chấp thuận của Chính phủ Nam Việt, điều này hầu như không có gì phải nghi ngờ. Trên thực tế, do thời tiết xấu Mĩ chỉ đánh trúng 1 trong 3 mục tiêu của mình. Việt Nam đã đánh trúng mục tiêu của họ, hoặc, theo Nguyễn Cao Kỳ, một mục tiêu cơ hội – sở chỉ huy trung đoàn phòng không, nhưng người Mĩ đã không cố đánh lại 2 mục tiêu còn lại để tránh tạo ấn tượng về việc bắt đầu một cuộc tấn công từ trên không kéo dài. “Quyết định đó vẫn chưa được đưa ra.” [79]
Báo cáo của McGeorge Bundy về chuyến đi đến Sài Gòn “nhận thấy tình hình ở Việt Nam đang xấu đi,” khuyến nghị hành động lớn chống lại miền Bắc để đảo ngược xu hướng đó và bày tỏ quan điểm rằng nếu không có hành động như vậy thì thất bại dường như là không thể tránh khỏi trong vòng một năm tới. Đoàn của Bundy bao gồm John McNaughton, trợ lí bộ trưởng Quốc phòng; Leonard Unger, phó trợ lí bộ trưởng Ngoại giao; tướng Andrew J. Goodpaster, trợ lí chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, và Chester Cooper thuộc NSC (Hội đồng An ninh Quốc gia). Báo cáo kết luận:
… uy thế quốc tế của Hoa Kì và một phần đáng kể ảnh hưởng của chúng ta đang bị đe dọa trực tiếp ở Việt Nam. Không có cách nào trút gánh nặng lên chính người Việt Nam và hiện tại cũng không có cách nào đàm phán rút quân khỏi Việt Nam có triển vọng khả thi… việc Hoa Kì rút quân theo đàm phán vào thời điểm đó sẽ đồng nghĩa với “đầu hàng theo nhiều kì.”
Bundy cho rằng chính sách “trả đũa dần dần và liên tục,” như đã nêu trong phụ lục báo cáo của ông, là “hướng đi hứa hẹn nhất hiện có.” Tất cả các thành viên trong nhóm của ông đều đồng ý với ông và ông nghĩ rằng tất cả các thành viên của Phái đoàn tại Sài Gòn cũng vậy.[80] Phụ lục của báo cáo dự đoán chi phí của kế hoạch sẽ rất thực về mặt tổn thất và thương vong đáng kể của không quân Mĩ vốn sẽ “cao hơn – và dễ thấy hơn đối với người Mĩ – so với tổn thất phải chịu trong cuộc chiến vì Nam Việt.” Tuy nhiên, báo cáo cũng khẳng định rằng rủi ro là chấp nhận được và chi phí là rẻ “so với chi phí thất bại ở Việt Nam.”
Johnson nhớ lại một số cuộc diễn tập lập kế hoạch ném bom miền Bắc, bao gồm cả Kế hoạch 94 Mục tiêu, được Bộ Tham mưu Liên quân phục hồi vào tháng 8/1964 nhưng bị các cố vấn dân sự của ông phản đối, đặc biệt là McNamara và Rusk. Đề xuất này đã bị bác bỏ một lần nữa vào tháng 9 và tháng 12. Tuy nhiên, giờ đây mọi chuyện đã thay đổi. Ngày 8/2/1965, tổng thống đã gặp gỡ hầu hết các thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia và một số phụ tá chính của họ, cùng với chủ tịch Hạ viện McCormick, lãnh đạo Đảng Cộng hoà Hạ viện Gerald Ford, và các nghị sĩ Mansfield và Dirksen.
McNamara đã báo cáo với các lãnh đạo Quốc hội về kết quả của các cuộc không kích trong hai ngày trước đó. George Ball phụ trách khía cạnh ngoại giao. Ông chỉ ra rằng chúng ta đã giải thích đầy đủ vụ việc này với Tổng thư kí Liên Hợp Quốc. Chúng ta cũng đã thông báo cho người Nga về lí do trả đũa của mình và đảm bảo với họ rằng chuyến thăm Viễn Đông của Kosygin không liên quan đến thời điểm chúng ta hành động. Bắc Việt đã chọn thời điểm này bằng cách tấn công binh lính và các cơ sở của chúng ta.[81]
Tổng thống giải thích rằng các đề xuất hành động chống miền Bắc trước đó đã bị từ chối với hi vọng Nam Việt sẽ xây dựng một nền tảng chính trị vững chắc hơn và vì lo ngại về những người phụ thuộc của người Mĩ. “Giờ đây chúng ta đã quyết định tiến hành loại chương trình mà chúng ta đã nghiên cứu và hoãn lại trước đó. Chúng ta đang sơ tán tất cả người phụ thuộc.” Những cuộc tấn công có chủ đích và trắng trợn của Bắc Việt nhằm vào người dân và các cơ sở được cho là cần phải đáp trả, nhưng chúng ta không phản ứng trước những sự việc cụ thể mà trước toàn bộ kiểu cách khủng bố và gây hấn mà Hà Nội đã đẩy mạnh gần đây. Johnson đã chỉ thị đại sứ Taylor giải thích quan điểm của chúng ta với phía Nam Việt và nói với họ rằng chúng ta hi vọng có thể lập kế hoạch và hành động với một “chính phủ thống nhất và hoạt động hiệu quả.”[82]
Hai ngày sau, Việt Cộng “đánh bom một doanh trại lính ở Quy Nhơn, giết chết 23 người Mĩ và 7 người Việt Nam, và làm bị thương 21 binh sĩ Mĩ.” Ngày 10/2, Johnson lại triệu tập Hội đồng An ninh Quốc gia. Tất cả những người có mặt đều đồng ý về một phản ứng nào đó nhưng khác nhau về hình thức và thời điểm. Mọi việc trở nên phức tạp hơn do chuyến đi của Kosygin. Ông ta đang ở Triều Tiên, dự kiến sẽ dừng chân ở Bắc Kinh trên đường trở về Moscow. George Ball và Llewellyn Thompson muốn hoãn cuộc tấn công trả đũa cho đến khi Kosygin rời khỏi Viễn Đông. Phó tổng thống Humphrey cũng có những nghi ngờ, nhưng những người khác đồng ý với McNamara và các lãnh đạo là cứ tiến hành. Cuộc tấn công được thực hiện vào ngày 9/2 nhưng mục tiêu gần Hà Nội nhất (một cây cầu cách đó 75 dặm về phía nam) đã bị loại khỏi kế hoạch. Ngày 13/2, tổng thống đã thông báo cho đại sứ Taylor và MACV về việc ông chấp thuận “kế hoạch 3 điểm về hành động tức thì:”
- Tăng cường chương trình bình định bằng mọi biện pháp sẵn có;
- Tiến hành các hoạt động không kích có tính toán và giới hạn phối hợp với Chính phủ Việt Nam Cộng hoà nhằm vào các mục tiêu ở Bắc Việt phía nam vĩ tuyến 19;
- “Đến Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và trình bày chi tiết vụ xâm lược của Hà Nộ”[83]
Trong khi Việt Cộng tiếp tục các hoạt động của mình, và sau khi Johnson tham khảo ý kiến cựu tổng thống Eisenhower vào ngày 17/2, các cuộc ném bom bắt đầu lại vào ngày 2/3, tạm ngừng trong 11 ngày và sau đó trở nên thường xuyên hơn.
Như Johnson đã nói:
Chính sách trả đũa từng bước nhưng kiên định đối với Bắc Việt vì hành động xâm lấn liên tục của nước này ở miền Nam đã được đưa vào hành động. Đây là quyết định thứ ba của tôi về Việt Nam. Quyết định được đưa ra vì dần dần nhưng không thể nhầm lẫn đã trở nên rõ ràng là Hà Nội đang tiến tới cuộc quyết chiến.[84]
Các cố vấn của tôi từ lâu đã đồng ý rằng một chính phủ yếu ở Sài Gòn sẽ khó có thể vượt qua được áp lực có thể ập xuống miền Nam nếu chúng ta ném bom miền Bắc. Giờ đây, họ kết luận rằng đời sống chính trị ở miền Nam sẽ sớm sụp đổ trừ khi người dân ở đó biết rằng miền Bắc đang phải trả giá trên chính lãnh thổ của mình vì hành động xâm lấn. Có những lí do quân sự mạnh mẽ cho hành động của chúng ta, như Bộ Tổng tham mưu đã lập luận từ lâu. Giờ đây, sức nặng của lập luận chính trị cũng đã chuyển sang ủng hộ cho hành động tăng cường.[85]
Johnson ghi nhận rằng, bắt đầu từ cuộc không kích đầu tiên vào một mục tiêu quân sự ở Bắc Việt, Hà Nội, Bắc Kinh và Moscow đã phát động một chiến dịch tuyên truyền ngày càng mạnh mẽ để “ngừng ném bom,” và một số tiếng nói ở các nước không thuộc khối cộng sản cũng “tham gia vào dàn đồng ca,” một số nhân vật công chúng Mĩ cũng vậy. Nhưng, theo Johnson, “Họ đều phớt lờ thực tế quan trọng là chúng ta đang ném bom miền Bắc vì Hà Nội đang leo thang chiến tranh ở miền Nam.”
Đến ngày 27/2/1965, Bộ Ngoại giao đã chuẩn bị công bố Sách Trắng, “Sự xâm lấn từ phía Bắc: Ghi chép về chiến dịch chinh phục Nam Việt của Bắc Việt.” Như Guenter Lewy đã nhận xét sau này:
Sách Trắng năm 1965 đã không đưa ra được lí lẽ thuyết phục về hành động xâm lấn từ phía Bắc như mong muốn. Sự hiện diện của một đơn vị địch ở Nam Việt phải được xác nhận thông qua thẩm vấn tù binh hoặc phân tích các tài liệu thu được, và điều này có nghĩa là việc xác nhận đó thường chỉ có được sau khi đơn vị đó xâm nhập 6 đến 9 tháng. Hơn nữa, bằng chứng thuyết phục nhất về việc xâm nhập người và vật tư được lấy từ các nguồn tình báo vốn không thể tiết lộ công khai nếu không muốn làm ảnh hưởng đến tính hữu ích của chúng trong tương lai. Do đó, Sách Trắng đã bị chỉ trích là không có kết luận thuyết phục.[86]
Tuy nhiên, ông lưu ý rằng:
Thông tin đầy đủ hơn so với những thông tin có được năm 1965 và 1966… xác nhận luận điểm cơ bản của Sách Trắng năm 1965. Như tôi đã đề cập trước đó, quyết định tiến hành tấn công được Đảng Lao động Việt Nam (VWP) đưa ra tại Hà Nội vào tháng 12/1963. Khi mức độ giao tranh đã tăng lên trong năm 1964 và việc Nam Việt sụp đổ sớm trở nên có khả năng cao, Bắc Việt quyết định đưa quân tiếp viện để đẩy nhanh chiến thắng và đảm bảo quyền kiểm soát chính trị của Hà Nội sau khi thắng lợi. Do nguồn cung cấp quân miền Nam đã cạn kiệt, các đơn vị thuộc Sư đoàn 325 Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu chuẩn bị cho cuộc hành quân vào Nam vào tháng 4/1964. Trung đoàn bộ binh chính quy đầu tiên của Bắc Việt rời miền Bắc vào tháng 9 hoặc tháng 10/1964, một trung đoàn khác đi tiếp vào tháng 10 và trung đoàn thứ ba vào tháng 12… Do đó, sự leo thang ban đầu, thông qua việc đưa lực lượng chiến đấu của Bắc Việt vào, đã được những người Cộng sản thực hiện, rất lâu trước khi Mĩ quyết định ném bom Bắc Việt Nam.[87]
Lewy tiếp tục nhận xét:
Nói một cách cơ bản hơn, cuộc tranh luận về vấn đề quân chính quy Bắc Việt ở miền Nam đã hướng sự chú ý chệch khỏi kiểu cách can thiệp rộng lớn hơn của Bắc Việt, như chúng ta đã thấy, bắt đầu từ ít nhất năm 1959. Trái ngược với tuyên truyền của Cộng sản, cuộc nổi dậy ở miền Nam chưa bao giờ là một cuộc nổi dậy tự phát mà ngay từ đầu đã là một chiến dịch có chủ đích được chỉ đạo và hậu thuẫn từ Hà Nội.[88]
Ngày 8/3/1965, Bộ Ngoại giao Hoa Kì đã ban hành một bản ghi nhớ có tiêu đề “Cơ sở pháp lí cho các hành động của Hoa Kì chống lại Bắc Việt”.[89] Bản ghi nhớ này xem xét câu hỏi liệu các hành động của Hoa Kì và Nam Việt chống lại các mục tiêu quân sự ở Bắc Việt có biện minh được theo luật quốc tế hay không, đặc biệt là dựa trên Hiến chương Liên Hợp Quốc và Hiệp định Geneva năm 1954 về Việt Nam. Bản ghi nhớ kết luận rằng những hành động này hoàn toàn được biện minh. Nó trích dẫn “Sự xâm lấn từ phía Bắc” như một bằng chứng không thể chối cãi rằng Bắc Việt đang thực hiện một kế hoạch xâm lấn được tính toán kĩ lưỡng chống lại miền Nam. Nó trích dẫn một tài liệu trước đó do bộ này ban hành vào tháng 12/1961, có tiêu đề “Mối đe dọa đến hoà bình”, và một Báo cáo đặc biệt của Uỷ hội Kiểm soát Quốc tế tại Việt Nam vào tháng 6/1962, trong đó kết luận rằng có “đủ bằng chứng để chứng minh ngoài mọi nghi ngờ hợp lí” rằng Bắc Việt đang gửi vũ khí và người vào Nam Việt để thực hiện các hoạt động lật đổ ở đó, vi phạm Hiệp định Geneva năm 1954.
Bản ghi nhớ năm 1965 của Bộ Ngoại giao Hoa Kì nêu rõ rằng “để đối phó với mối đe dọa do những vi phạm Hiệp định Geneva và sự can thiệp hung hăng của Bắc Việt trái với luật pháp quốc tế gây ra, Chính phủ Việt Nam Cộng hoà đã yêu cầu Hoa Kì trợ giúp.” Bản ghi nhớ này đã truy lại lịch sử viện trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kì từ năm 1950-1951, việc tiếp tục viện trợ theo Hiệp định Geneva năm 1954, và việc gia tăng viện trợ theo yêu cầu của Việt Nam năm 1961, “tỉ lệ thuận với việc duy trì khả năng phòng thủ của Việt Nam chống xâm lược mà không mở rộng xung đột ra ngoài biên giới quốc gia.” Bản ghi nhớ nêu rõ rằng “tuy nhiên, phe Cộng sản đã gia tăng sự can thiệp mà không quan tâm đến các nghĩa vụ theo luật pháp quốc tế và các thỏa thuận mà họ bị ràng buộc,” vi phạm tiến trình Hiệp định Geneva năm 1962 về giải quyết vấn đề Lào. Bản ghi nhớ dẫn chứng sự gia tăng mạnh mẽ việc Bắc Việt cho quân và trang thiết bị xâm nhập trong những tháng gần đây và lưu ý rằng hầu hết tất cả nhân sự vào Nam đều là người miền Bắc. Bản ghi nhớ viện dẫn quyền hành động của Việt Nam và Hoa Kì theo Điều 51 của Hiến chương Liên hợp quốc (Tự vệ) và theo Điều 2, khoản 4 của Hiến chương (Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của bất kì quốc gia nào). Cuối cùng, viện dẫn việc Bắc Việt vi phạm cả Hiệp định Geneva năm 1954 và Hiệp định Geneva năm 1962, bản ghi nhớ nhắc lại rằng “Trong những trường hợp này, luật pháp quốc tế công nhận nguyên tắc rằng việc một bên vi phạm nghiêm trọng một điều ước sẽ cho phép các bên khác ít nhất là không tuân thủ một điều khoản tương đương hoặc có liên quan cho đến khi bên kia sẵn sàng tuân thủ các nghĩa vụ của mình.” Bản ghi nhớ kết luận bằng tuyên bố, “Cả Nam Việt lẫn Hoa Kì đều đã tỏ rõ rằng các hành động mà họ đã thực hiện sẽ không còn cần thiết nữa nếu Bắc Việt tuân thủ các Hiệp định.”
Tổng thống Johnson quyết định tận dụng lời mời của Chủ tịch Milton Eisenhower thuộc Đại học Johns Hopkins ở Baltimore để phát biểu tại đó vào ngày 7/4/1965, “để giải thích chính sách của Hoa Kì một cách rõ ràng nhất có thể, để một lần nữa thúc giục Hà Nội cùng chúng ta nỗ lực đạt được một giải pháp hoà bình và để mô tả hoà bình và nỗ lực hợp tác có thể mang lại cho sự phát triển kinh tế của toàn bộ Đông Nam Á điều gì.”[90]
Trong khi đó, các nhà lãnh đạo từ 17 quốc gia không liên kết —Afghanistan, Algeria, Cyprus, Ceylon, Ethiopia, Ghana, Guinea, Ấn Độ, Iraq, Kenya, Nepal, Syria, Tunisia, Uganda, Cộng hoà Ả Rập Thống nhất, Nam Tư và Zambia— đã gặp nhau tại Belgrade vào giữa tháng 3, với vấn đề Việt Nam, cùng nhiều vấn đề khác, nằm trong chương trình nghị sự. Với hi vọng khởi động các cuộc đàm phán hoà bình, họ đã gửi lời kêu gọi “đến Hoa Kì, cả Bắc và Nam Việt, các bên và chính phủ quan tâm khác cũng như Tổng thư kí Liên Hợp Quốc.”[91] Tinh thần chính của đề xuất này, được các đại sứ của 4 quốc gia không liên kết chuyển đến ngoại trưởng Rusk vào ngày 4/4, “là lời kêu gọi các bên quan tâm đàm phán ‘càng sớm càng tốt mà không có bất kì điều kiện tiên quyết nào.’”
Ngoại trưởng Rusk đã mô tả lời kêu gọi này tại cuộc họp Hội đồng An ninh Quốc gia được triệu tập vào ngày 2/4 để nghe báo cáo của đại sứ Taylor. Rusk “thúc giục rằng câu trả lời của chúng ta phải ‘nghiêm túc, kiềm chế và tích cực.’” Tổng thống đã đồng ý và quyết định đưa những nội dung chính trong câu trả lời của Mĩ vào bài phát biểu của ông tại Đại học Johns Hopkins.
Trong bài phát biểu, Johnson đã nêu ra những yếu tố cốt yếu, theo quan điểm của ông, của một ” nền hoà bình công chính“:
- Một Nam Việt độc lập, “được đảm bảo an ninh và có khả năng tự định hình các mối quan hệ của mình – không bị can thiệp từ bên ngoài – không ràng buộc với liên minh nào – không là căn cứ quân sự của quốc gia khác.”
- Hoa Kì sẵn sàng cho các cuộc đàm phán không điều kiện.
- Hiệp hội các nước Đông Nam Á đang mở rộng mạnh mẽ nỗ lực hợp tác phát triển với hi vọng “Bắc Việt sẽ tham gia vào nỗ lực chung ngay khi có thể hợp tác hoà bình.”
- Đề nghị tổng thư kí Liên Hợp Quốc sử dụng uy tín chức vụ của mình để khởi động một kế hoạch hợp tác phát triển kinh tế.
- Đề xuất “yêu cầu Quốc hội tham gia đầu tư một tỉ đô la vào nỗ lực này ngay khi nó được tiến hành“ và hi vọng rằng tất cả các nước công nghiệp hóa khác, bao gồm cả Liên Xô, sẽ tham gia vào nỗ lực này.[92]
Ngày 8/4, Hoa Kì đã gửi phản hồi chính thức đối với đề xuất của Hội nghị Belgrade, lồng trong đó nội dung của bài phát biểu ở Johns Hopkins: “Hoa Kì sẽ đàm phán mà không có điều kiện tiên quyết.” Johnson coi việc gửi phản hồi này là quyết định quan trọng thứ tư của ông về Việt Nam. Bắc Kinh, Moscow và Hà Nội đã bác bỏ đề nghị của Mĩ và, vào ngày 20/4, Bắc Việt tuyên bố rằng 17 nước tham dự Hội nghị Belgrade “không được thông tin chính xác.” Theo cách Johnson hiểu phản ứng này: “Họ [Hà Nội] không có hứng thú hợp tác với các nước láng giềng một cách hoà bình; họ thích chiếm lấy chúng bằng vũ lực hơn.”[93]
Ông cũng coi chiến dịch quân sự của Hà Nội chống Nam Việt là một phần của chiến lược cộng sản rộng lớn hơn. Cộng sản Trung Quốc đã tiến hành vụ thử hạt nhân đầu tiên vào tháng 10/1964 và không chỉ lên tiếng ủng hộ Hà Nội mà còn thúc đẩy các “cuộc chiến tranh giải phóng” nói chung. Họ huấn luyện du kích Thái Lan, và “mặt trận giải phóng” Thái Lan được Trung Quốc hậu thuẫn. Ảnh hưởng của Trung Quốc ở Indonesia ngày càng tăng và Sukarno đã rút khỏi Liên Hợp Quốc (tháng 1/1965) và tiếp tục “đối đầu” với Malaysia. “Đến cuối năm 1966, cảng chính của Cambodia, Sihanoukville, đã trở thành điểm cung cấp chính thiết bị quân sự của Trung Quốc cho Việt Cộng và Bắc Việt. Các nguồn cung cấp khác di chuyển xuống qua ngã Lào cũng được đưa vào Cambodia để chuyển tiếp cho lực lượng Cộng sản ở Việt Nam.” Đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào đã trở thành tuyến đường tiếp tế chính của Bắc Việt vào Nam Việt. Người Indonesia đang huấn luyện quân đội cho tướng Kong Le của Lào, người đang chống lại chính phủ trung lập của Souvanna Phouma ở Lào. Bắc Triều Tiên đang huấn luyện phi công chiến đấu của Bắc Việt. “Do đó, những gì chúng ta thấy diễn ra nhanh chóng là một Trục Jakarta-Hà Nội-Bắc Kinh-Bình Nhưỡng, với Cambodia có thể được đưa vào với tư cách là đối tác nhỏ hơn và Lào chỉ đơn thuần bị Bắc Việt và Trung Quốc hấp thụ.”[94]
Ngày 10/5/1965, Johnson đồng ý tạm ngừng ném bom trong một thời gian có hạn. Ông chủ yếu phản ứng trước những chỉ trích từ những người “trong nước và ngoài nước,” những người “cho rằng chỉ bằng cách ngừng hoặc giảm mạnh việc ném bom mới có thể hi vọng thuyết phục Hà Nội đàm phán hoà bình.” Ông yêu cầu Nga báo cho phía Bắc Việt quyết định của mình, nhưng họ từ chối làm trung gian và phía Nam Việt từ chối nhận các thông điệp được gửi đến từ Moscow và Hà Nội. Thông điệp cho biết:
… trong thời gian tạm ngừng chúng tôi sẽ quan sát để tìm dấu hiệu của “việc giảm đáng kể… các hành động vũ trang” .
….
Hà Nội không hề trả lời trực tiếp nhưng việc xâm nhập vào miền Nam cũng như các cuộc tấn công của Việt Cộng vẫn tiếp diễn. Sau đó, Hà Nội lên án việc tạm ngừng và Bắc Kinh thậm chí còn cáo buộc không hề có sự tạm ngừng nào. Một lần nữa, chúng tôi đã cố gắng mở cửa; một lần nữa Hà Nội lại đóng sầm cửa lại. Trước sự thù địch tiếp tục của Hà Nội, chúng tôi đã nối lại các cuộc ném bom vào ngày 18/5.[95]
Như Johnson đã nói, “Quyết định thứ năm, và cũng là quyết định khó khăn nhất, về Việt Nam vẫn còn ở phía trước.” Tóm tắt lại các quyết định của tổng thống Kennedy, người đã tăng lực lượng cố vấn quân sự từ 700 lên hơn 16 000 người vào thời điểm ông (Johnson) trở thành tổng thống, ông lưu ý rằng số lượng cố vấn đã được tăng thêm lên gần 23 000 người vào cuối năm 1964 nhưng nhấn mạnh tình hình ở Việt Nam vào đầu năm 1965 “khác biệt so với năm 1963 giống như năm 1961 khác với năm 1959.” Quân đội Bắc Việt đã điều 3 trung đoàn vào. Johnson hiểu rõ “Hà Nội đang triển khai lực lượng lớn, cố gắng giành chiến thắng quân sự.” Ông hầu như không hề phóng đại. Tướng Westmoreland, trong cuốn sách A Soldier’s Story (Câu chuyện của một người lính), đã viết rằng, vào năm 1964, “Thực tế, lo ngại rằng phe diều hâu sẽ buộc phải chấp nhận các biện pháp cứng rắn, chính quyền Johnson đã giấu kín thông tin với công chúng trong một thời gian dài về việc quân đội Bắc Việt đang tiến vào Nam Việt.”[96] Johnson cũng lo ngại rằng, một khi việc ném bom miền Bắc bắt đầu trên cơ sở liên tục, quân cộng sản sẽ nhắm vào căn cứ không quân ở Đà Nẵng. Do đó, vào tháng 3, ông đã chấp thuận yêu cầu của tướng Westmoreland về việc điều 2 tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ đến bảo vệ căn cứ không quân.[97] Lính thuỷ đánh bộ được cho là không được tham gia vào các hoạt động hàng ngày chống lại Việt Cộng[98] và ngoại trưởng Rusk đã nói như vậy trên chương trình “Face the Nation” (Đối mặt với Quốc gia) một ngày trước khi họ đi vào. Sau đó, ông bị chỉ trích vì “đánh lạc hướng” công chúng. Tuy nhiên, Lewy cho rằng quyết định điều động lính thuỷ đánh bộ này, “một bước ngoặt trong lịch sử sự can thiệp của Mĩ,” đã được “đưa ra mà không có nhiều thảo luận và kế hoạch” và “được giới chức Washington coi là một hành động nhất thời để đáp ứng một tình huống cụ thể,” tức là phản ứng ban đầu của Bắc Việt đối với vụ ném bom miền Bắc.[99]
Cuối tháng 3/1965, ngay sau khi đại sứ Taylor rời Sài Gòn để tham vấn tại Washington, Việt Cộng đã cho nổ một quả bom lớn trong một chiếc xe hơi trước Toà Đại sứ Mĩ tại Sài Gòn, khiến 2 người Mĩ và 15 người Việt Nam thiệt mạng, và nhiều người bị thương, trong đó có phó đại sứ U. Alexis Johnson.[100] Tổng thống Johnson đã gặp đại sứ Taylor và những người khác để xem xét các khuyến nghị hành động khác nhau đã được đưa ra. Johnson lưu ý rằng, “Các đề xuất đến với tôi là sự thỏa hiệp quan điểm của 3 nhóm: những người (đặc biệt là trong lực lượng vũ trang) muốn hành động nhanh chóng và mạnh mẽ; các cố vấn dân sự của tôi và đại sứ Taylor, cho rằng chúng ta nên tiếp tục, nhưng thận trọng hơn; và một vài người phản đối bất kì sự can thiệp đáng kể nào vào cuộc chiến trên bộ.”[101]
Cuộc họp diễn ra vào ngày 1 và 2/4 tại Nhà Trắng và đã đưa ra các quyết định về:
…một chương trình chi tiết về các hành động không quân sự do Taylor đệ trình; các chương trình trong lĩnh vực chiến tranh thông tin và tâm lí; một chương trình quân sự chi tiết do tướng Johnson [tham mưu trưởng Lục quân] đệ trình, đặc biệt nhấn mạnh vào việc tăng cường máy bay và trực thăng.[102]
Các tham mưu trưởng và giám đốc CIA muốn tăng cường các cuộc không kích chống lại Bắc Việt. Ông McCone tin rằng:
“…với việc giới hạn các cuộc tấn công của chúng ta vào các mục tiêu như cầu, cơ sở quân sự và tuyến liên lạc, về cơ bản chúng ta gửi tín hiệu đến phía Cộng sản rằng quyết tâm giành chiến thắng của chúng ta bị điều chỉnh đáng kể bởi nỗi sợ hãi về việc mở rộng chiến tranh…”
Tuy nhiên, Johnson đã đồng ý với “hầu hết các cố vấn” về việc tuân theo kế hoạch “tăng tốc từ từ” thay vì chấp nhận rủi ro có “sự can thiệp sâu hơn của Trung Quốc và Liên Xô” đang bị lo là có thể đi kèm với bất kì sự leo thang mạnh nào trong chiến tranh trên không. Hoa Kì sẽ luôn sẵn sàng tăng hoặc giảm nỗ lực không quân tùy thuộc vào hành động của phía cộng sản. Tổng thống cũng đã phê duyệt:
- Tăng cường lực lượng hậu cần và yểm trợ của Mĩ thêm từ 18 000 đến 20 000 người;
- Điều động thêm 2 tiểu đoàn (thành 4 tổng cộng) và một phi đội không quân lính thuỷ đánh bộ đến khu vực Đà Nẵng-Huế, trong đó một tiểu đoàn sẽ đến Phú Bài, gần Huế để bảo vệ các cơ sở thông tin liên lạc và sân bay tại đó;
- Thay đổi nhiệm vụ của lực lượng lính thuỷ đánh bộ để cho phép “sử dụng họ một cách tích cực hơn” theo các quy định được ngoại trưởng và bộ trưởng Quốc phòng phê duyệt.[103]
Vào thời điểm đó, Johnson viết, quân số được phê duyệt của Mĩ tại Việt Nam chỉ hơn 40 000 người, trong đó thực tế có 33 500 người trên thực địa. Ông cho rằng đã đến lúc cần đánh giá lại và cử McNamara đến Honolulu để tổ chức một cuộc họp giữa các đại diện của Washington, Phái đoàn Sài Gòn và CINCPAC (Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương [Commander in Chief, Pacific Fleet]). McNamara báo cáo lại vào ngày 21/4 về quan điểm của hội nghị rằng thất bại của cộng sản ở miền Nam sẽ có tác động tới việc đạt được một thỏa thuận ở Việt Nam ngang bằng hoặc lớn hơn bất kì tổn thất nào gây ra cho Bắc Việt. Họ cho rằng sẽ mất một hoặc hai năm để thuyết phục cộng sản rằng họ không thể giành chiến thắng quân sự ở miền Nam và họ không dự đoán sẽ có “sự cải thiện đáng kể nào ở miền Nam trong tương lai gần.”[104] Hội nghị đã hình dung ra một chiến lược nhằm phá vỡ ý chí của VNDCCH và Việt Cộng bằng cách không để cho họ thắng hoặc, như đại sứ Taylor đã nói, bằng “một phô diễn sự bất lực của Cộng sản.” Họ nhận thấy “sự cải thiện chậm chạp ở miền Nam” nhưng coi việc tránh những tổn thương tâm lí nghiêm trọng có thể xảy ra do một “thất bại thảm hại” của quân đội VNCH hoặc quân đội Mĩ là vô cùng quan trọng. Họ đề xuất tăng cường lực lượng cho quân đội VNCH trong lúc lực lượng này đang được xây dựng, bằng cách gửi thêm quân tiếp viện, ngoài 33 500 lính Mĩ và 2 000 lính Nam Hàn (Hàn Quốc) hiện đang đóng tại Việt Nam, bao gồm 2 lữ đoàn lục quân Mĩ, 3 tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ và 3 phi đội không quân lính thuỷ đánh bộ, cùng với lực lượng hậu cần, nâng tổng số quân được phê duyệt lên 82 000. McNamara cũng muốn phía Việt Nam yêu cầu Nam Hàn và Australia cung cấp thêm quân. Tổng thống chỉ chấp thuận một số trong các đề xuất này: Lữ đoàn Dù 173 được điều đến để bảo vệ căn cứ không quân tại Biên Hoà và Lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ đổ bộ số 3 bảo đảm vị trí xây dựng sân bay mới tại Chu Lai. Đến cuối tháng 4/1965, đã có hơn 40 000 lính Mĩ tại Việt Nam.
Ngày 4/5, tổng thống đã yêu cầu, và chỉ trong 3 ngày đã nhận được, từ Quốc hội khoản bổ sung ngân sách $700 000 000 để trang trải chi phí đang tăng ở Việt Nam. Ông thông báo đối với người Việt Nam thì dự luật này có nghĩa là “Nước Mĩ giữ lời hứa. Và chúng tôi sẽ hậu thuẫn những lời hứa đó bằng tất cả các nguồn lực cần thiết.” Đối với “những chàng trai” Mĩ, điều đó có nghĩa là “Chúng tôi sẽ cung cấp cho các bạn những công cụ để hoàn thành công việc.”[105] Cho đến khoảng thời gian này, nhiệm vụ của lực lượng Mĩ tại Việt Nam, theo quan điểm của tổng thống, là bảo vệ các khu vực căn cứ được giao. Ông đã mở rộng nhiệm vụ đó phần nào để cho phép tuần tra tích cực và quyết liệt gần các căn cứ đó. Ngày 9/6/1965, ông đã chấp thuận yêu cầu của tướng Westmoreland “sử dụng lực lượng của mình để yểm trợ chiến đấu nếu cần để giúp một đơn vị Việt Nam đang gặp khó khăn nghiêm trọng.” Quyền hạn này áp dụng cho “việc yểm trợ lực lượng Việt Nam đối mặt với cuộc tấn công quyết liệt khi các lực lượng dự bị hiệu quả khác không có sẵn và khi, theo đánh giá của ông, tình hình quân sự chung đòi hỏi điều đó một cách khẩn cấp.” Cuối tháng đó, tổng thống đã mở rộng quyền hạn này để cho phép Westmoreland điều động quân đội Mĩ tham chiến “độc lập hoặc phối hợp với” quân đội Việt Nam nếu được yêu cầu và nếu ông đánh giá việc sử dụng họ là “cần thiết để củng cố vị thế tương đối của lực lượng VNCH.”[106]
Chiến dịch tác chiến trên bộ lớn đầu tiên của Lực lượng Hoa Kì tại Việt Nam diễn ra từ ngày 27 đến ngày 30/6/1965 khi quân đội thuộc Lữ đoàn Dù 173 tiến vào chiến khu D, phía tây bắc Sài Gòn. Cùng tham gia chiến đấu còn có Trung đoàn 48 của Việt Nam, 2 tiểu đoàn lính dù Việt Nam và một tiểu đoàn Australia đã đến vào đầu tháng 6.[107]
Trong khi đó, Quân đội Nam Việt đã phải chịu một số thất bại trong các cuộc giao tranh với Bắc Việt và Việt Cộng. Đầu tháng 6, tướng Westmoreland ước tính rằng hầu hết, nếu không phải toàn bộ, Sư đoàn 325 của Bắc Việt đang ở vùng cao nguyên Nam Việt. Sư đoàn 304 đang ở vùng cán chảo Lào và có thể nhanh chóng tiến vào Nam Việt. Tinh thần của quân đội Nam Việt đang xuống dốc. Westmoreland nói với Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân rằng không còn cách nào khác ngoài việc tăng viện nhanh chóng bằng lực lượng Mĩ hoặc lực lượng nước thứ ba. Đây là thời kì khủng hoảng chính trị đưa Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia lên nắm quyền với tướng Nguyễn Văn Thiệu làm lãnh đạo quốc gia và tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ làm thủ tướng.[108] Theo đại sứ Taylor, Kỳ nhận thấy cần thiết phải có thêm lực lượng chiến đấu trên bộ của Mĩ. Ông “ấn tượng với nhu cầu cần bổ sung thêm lực lượng Mĩ (hoặc nước thứ ba khác) để vượt qua giai đoạn tấn công mùa mưa và giảm bớt áp lực của Việt Cộng trong khi các biện pháp huy động đang được thực hiện.”[109]
Trong cuốn sách của mình, Kỳ viết rằng khi nhậm chức, ông không hề hay biết về quyết định ngày 2/4/1965 của tổng thống Johnson “rằng quân Mĩ trên bộ nên chuyển sang hành động tấn công.” Kỳ nói Johnson đã thực hiện bước đi quyết định này “vì rõ ràng là cuộc tấn công bằng bom kéo dài một tháng không thể tự mình ngăn chặn sự sụp đổ của Nam Việt với các chính phủ luôn thay đổi,” và vì “Johnson không dám tăng việc ném bom và đánh liều với sự can thiệp của Trung Quốc,” bởi vì “đến tháng 6, chiến dịch tấn công mùa hè của Cộng sản đang diễn ra toàn lực.”
Theo quan điểm của Kỳ, sự kiện tổng thống quyết định sử dụng lực lượng trên bộ được công bố cùng lúc với tin tức về 200 thương vong của lính thuỷ đánh bộ Mĩ, kết hợp với việc các tuyên bố của Nhà Trắng chỉ đơn giản định nghĩa thẩm quyền của Westmoreland theo những đường lối đã nêu ở trên trong khi phủ nhận (ông nói) bất kì thay đổi gần đây nào về nhiệm vụ của các đơn vị chiến đấu trên bộ của Mĩ tại Việt Nam, đã làm “khoảng cách uy tín” ở Hoa Kì rộng thêm. Ông cho rằng khi Lữ đoàn dù 173 tham chiến cùng tiểu đoàn Australia và quân đội Nam Việt ở phía bắc Sài Gòn vào ngày 27/6, “khoảng cách đó đã rộng thành một vực lớn.”[110]
Johnson viết rằng ông không sẵn sàng phái thêm người đến Việt Nam mà không nghiên cứu kĩ lưỡng. Do đó, ông lại cử McNamara đến Việt Nam để tham khảo ý kiến các quan chức Việt Nam và Mĩ. Ông nói rằng ông muốn biết liệu Chính phủ Việt Nam có đang làm hết sức mình hay không, liệu người Việt Nam và người Mĩ tại chỗ có nghĩ rằng lực lượng Mĩ có thể đối phó hiệu quả với Việt Cộng ở vùng núi và rừng rậm hay không, và liệu sự xuất hiện của họ có gợi nhớ đến thời kì thuộc địa và do đó “khơi dậy tình cảm bài ngoại” hay không. Thiệu và Kỳ nói với McNamara:
Họ tin chắc rằng cần có lực lượng Mĩ và có lẽ cả các lực lượng nước ngoài khác để ngăn chặn quân Cộng sản tấn công. Khi McNamara hỏi họ ước tính cần bao nhiêu người, các nhà lãnh đạo Việt Nam nói rằng họ nghĩ ngoài 44 tiểu đoàn mà họ đã yêu cầu, cần thêm một sư đoàn chiến đấu nữa. Tổng ước tính của họ là khoảng 200 000 người Mĩ thuộc mọi binh chủng.[111]
McNamara đề xuất chọn 1 trong 3 phương án hành động:
- Cắt tổn thất và rút lui trong điều kiện tốt nhất có thể;
- Tiếp tục duy trì ở mức hiện tại, với lực lượng Mĩ giới hạn ở mức khoảng 75000 người, giữ vững vị thế và chờ cơ hội; và
- Nhanh chóng và mạnh mẽ mở rộng áp lực quân sự của Mĩ lên Việt Cộng ở miền Nam và duy trì áp lực quân sự ở miền Bắc, đồng thời nỗ lực mạnh mẽ về mặt chính trị để đặt nền tảng cho một kết quả thuận lợi bằng cách làm rõ mục tiêu và thiết lập các kênh liên lạc.
McNamara khuyến nghị phương án thứ ba như là “Phương án có tỉ lệ thành công cao nhất với kết quả tốt nhất và chi phí chấp nhận được nhất đối với Hoa Kì,” mặc dù ông nhận thấy “nó sẽ hàm chứa việc cam kết tiếp tục cuộc chiến với chi phí đáng kể về thương vong và vật chất, và sẽ khiến bất kì quyết định rút lui nào sau này trở nên khó khăn hơn nhiều so với hiện nay.”[112]
Johnson viết rằng “Bộ trưởng tin rằng sau khi các lực lượng trên bộ theo khuyến nghị đã được triển khai và một số hành động nhất định đã được thực hiện trong chương trình ném bom ở miền Bắc, chúng ta nên xem xét một sáng kiến ngoại giao hướng tới hoà bình, bao gồm việc tạm ngừng ném bom trong khoảng 6 đến 8 tuần.”[113]
Ông đã tóm tắt các khuyến nghị về lực lượng trên bộ như sau:
- Có 15 tiểu đoàn chiến đấu của Mĩ tại Việt Nam, hoặc đang trên đường đến đó, với tổng quân số là 75000 người. McNamara muốn tăng con số này lên 34, hoặc nếu phía Nam Hàn không cung cấp đủ 9 tiểu đoàn như đã hứa, thì sẽ tăng lên 43. Khi đó, quân số sẽ là 175 000 người, hoặc 200 000 người nếu phía Nam Hàn không tham gia.
- McNamara cảnh báo rằng có thể cần phải huy động thêm khoảng 100000 người nữa vào đầu năm 1966 và thậm chí có thể nhiều hơn nữa sau đó.
- McNamara đề nghị xin Quốc hội cho phép huy động 235000 người từ Lực lượng Dự bị và Vệ binh Quốc gia, đồng thời tăng quân số thường trực thêm 235 000 người. Tổng số quân tăng thêm sẽ là 600 000 người vào giữa năm 1966 và cần thêm một khoản ngân sách bổ sung.[114]
Johnson đã thảo luận về những khuyến nghị này, mà ông mô tả là một “nhiệm vụ lớn,” với các cố vấn hàng đầu của mình tại Camp David vào Chủ nhật, ngày 25/7. Thứ trưởng Ball đã trình bày quan điểm của mình theo yêu cầu của tổng thống:
Luận điểm cơ bản của ông là chúng ta không thể thắng một cuộc chiến kéo dài chống lại các nhóm du kích địa phương trong rừng rậm châu Á. Ông cho rằng có nguy cơ rất lớn về sự can thiệp của Cộng sản Trung Quốc. Theo ông, chúng ta đang mất đi bạn bè và ảnh hưởng ở châu Âu và các nơi khác vì chúng ta dốc sức vào châu Á. Ông cho rằng điều tốt nhất nên làm là cắt giảm tổn thất và rút lui. Ông dự đoán nhiều vấn đề trong quá trình đó, nhưng ông tin rằng những lợi ích của hành động mà ông đề xuất sẽ lớn hơn nhiều so với những vấn đề đó.
Sau cuộc thảo luận dài và chi tiết, tổng thống “cảm thấy thứ trưởng đã không đưa ra được lập luận đủ thuyết phục hoặc một giải pháp thay thế khả thi.”[115] Johnson cũng nhận xét rằng ngoại trưởng Rusk đã nói lên một mối quan tâm quan trọng mà ông rất trăn trở. Ông nói: “Nếu thế giới Cộng sản phát hiện ra rằng chúng ta sẽ không theo đuổi các cam kết của mình đến cùng, tôi không biết họ sẽ dừng tay ở đâu.”[116]
Khi cuộc xem xét tiếp tục, các “tư lệnh quân sự” đã “chỉnh lại các ước tính” để chỉ ra rằng họ có thể xoay xở trong tương lai gần với 50 000 người. Johnson nói rằng ông đã bác bỏ những lựa chọn như: khuất phục kẻ thù bằng cách sử dụng Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược; thu dọn hành lí rồi trở về nước; giữ nguyên hiện trạng, mất lãnh thổ và chịu thương vong; hoặc tiến hành chiến tranh với tất cả những hệ lụy mà điều đó kéo theo. Thay vào đó, ông kết luận rằng “Cuối cùng, chúng ta có thể cung cấp cho các chỉ huy trên chiến trường số lượng binh lính và trang bị mà họ nói là cần thiết.” Johnson tin rằng:
… chúng ta nên làm những gì cần thiết để chống lại sự xâm lấn nhưng không nên bị khiêu khích vào một cuộc chiến tranh lớn. Chúng ta sẽ có được khoản ngân sách cần thiết trong ngân sách mới và sẽ không khoe khoang về những gì chúng ta đang làm. Chúng ta sẽ không đưa ra những lời đe dọa ầm ĩ đối với Trung Quốc hay Nga với việc huy động một lượng lớn lực lượng dự bị. Đồng thời, chúng ta sẽ nỗ lực hết sức trên mặt trận ngoại giao để tìm ra con đường dẫn đến một giải pháp hoà bình.
Ông nói rằng tất cả những người có mặt tại cuộc họp NSC ngày 27/7/1965 đều đồng ý với phương án hành động mà ông đã mô tả.[117]
Tối hôm đó, tổng thống đã gặp gỡ lãnh đạo Quốc hội của cả hai viện và cả hai đảng tại Nhà Trắng. Ông đã trình bày 5 phương án và tỏ ý rằng sự lựa chọn thật sự nằm giữa “tiến hành toàn bộ quy trình của Quốc hội ngay bây giờ” hoặc “thông báo cho lãnh đạo Quốc hội câu chuyện bây giờ và dự luật sau.” Trong quá trình thảo luận kéo dài, Johnson “giải thích rằng chúng tôi đang cân nhắc tăng cường lực lượng theo 3 giai đoạn và tôi nghĩ tổng lực lượng của chúng ta sẽ tăng gấp đôi vào ngày 1/11.” Ông lưu ý:
Trong toàn bộ nhóm, người duy nhất bày tỏ sự nghi ngờ và phản đối nghiêm trọng đối với hướng đi được đề xuất lại đến từ Mike Mansfield [Lãnh đạo đa số Thượng viện]. Như mọi khi, ông bày tỏ ý kiến của mình một cách thẳng thắn. Ông nói về sự bất mãn ngày càng sâu sắc trong nước. Ông nghĩ rằng hi vọng tốt nhất là “một thời gian bế tắc ngắn và các cuộc đàm phán.” Nhưng ông kết luận với việc nói rằng với tư cách là một nghị sĩ và Lãnh đạo đa số, ông sẽ ủng hộ lập trường của Tổng thống.[118]
Ngày 28/7/1965, tổng thống Johnson phát biểu trước các phóng viên Nhà Trắng:
Tôi đã hỏi tổng tư lệnh, tướng Westmoreland, ông ấy cần thêm gì để đối phó với sự xâm lấn ngày càng tăng này. Ông ấy đã nói với tôi. Chúng tôi sẽ đáp ứng nhu cầu của ông ấy. Hôm nay, tôi đã ra lệnh điều Sư đoàn Không vận và một số lực lượng khác đến Việt Nam, điều này sẽ nâng cao sức mạnh chiến đấu của chúng ta từ 75 000 lên 125 000 người gần như ngay lập tức. Lực lượng bổ sung sẽ cần thiết sau này, và họ sẽ được điều đến theo yêu cầu.[119]
Như tổng thống đã viết trong cuốn sách của mình, “giờ đây chúng ta đã bị ràng buộc vào cuộc chiến lớn ở Việt Nam.”[120]
Johnson ghi lại trong cuốn The Vantage Point rằng vào mùa hè năm 1965, ông đã đi đến kết luận rằng Hoa Kì và các quốc gia khác sẽ phải huy động lực lượng chiến đấu của riêng mình nếu muốn Nam Việt tồn tại. Ông nhận thấy Hoa Kì, Nam Việt và các nước thứ ba sẽ tham gia vào nỗ lực 3 mặt trong 3 năm rưỡi tiếp theo: “đánh bại sự xâm lấn, xây dựng đất nước và tìm kiếm hoà bình.” Ông cho biết chỉ có rất ít cố vấn thân cận nhất của ông biết về nhiều nỗ lực đang được thực hiện trong việc theo đuổi phần thứ ba của cố gắng này:
Thực tế là từ năm 1965 cho đến tháng 1/1969, chúng tôi hầu như liên tục liên lạc, trực tiếp hoặc thông qua trung gian, với các nhà lãnh đạo ở Hà Nội hoặc đại diện của họ. Hầu như không có tháng nào trôi qua trong suốt giai đoạn đó mà chúng tôi không thực hiện nỗ lực mở đường cho hoà bình. Cho đến ngày 31/3/1968, mọi nỗ lực của chúng tôi đều bị phía Bắc Việt phớt lờ hoặc bác bỏ.[121]
Tuy nhiên, trong quá trình theo đuổi phần đầu của nỗ lực này, Johnson dường như đã quên mất nhận xét của chính mình rằng sai lầm duy nhất của tổng thống Truman ở Triều Tiên là không yêu cầu Quốc hội có một nghị quyết ủng hộ việc ông điều động lực lượng Mĩ đến giải cứu người Nam Triều Tiên. Có lẽ ông đã thay đổi ý kiến hoặc nhiều khả năng hơn là đã kết luận quá lạc quan rằng Nghị quyết Đông Nam Á (Nghị quyết vịnh Bắc Bộ) sẽ đủ để bao gồm việc triển khai một lực lượng trên bộ đáng kể. Những người phỏng vấn của BBC nhận xét rằng “Việc chuyển từ ném bom sang việc điều ra nước ngoài một lực lượng binh lính chiến đấu mà không có sự chấp thuận thêm của Quốc hội chắc chắn đã góp phần gieo rắc cơn lốc phản đối thù địch ở Hoa Kì.”[122] Họ suy đoán rằng ông tin rằng “Quốc hội sẽ buộc phải lựa chọn giữa Xã hội Vĩ đại mà ông đang kêu gọi quốc gia hướng tới và chiến tranh; và ông hầu như không nghi ngờ gì rằng Xã hội Vĩ đại sẽ là nạn nhân.” Họ cũng tin rằng ông cũng sợ một cuộc tranh luận công khai vào thời điểm đặc biệt đó sẽ khiến phe cộng sản nghi ngờ việc Hoa Kì sẽ tôn trọng các bảo đảm của mình.[123]
Những người phỏng vấn hỏi cựu Trợ lí Ngoại trưởng Bundy điều gì đã xảy ra dẫn đến việc ném bom dữ dội miền Bắc và sự hiện diện của nửa triệu quân Mĩ ở miền Nam nếu chính sách ban đầu không yêu cầu cả hai biện pháp đó. Bundy trả lời rằng cả hai biện pháp đều không phải là kết quả của một quyết định cụ thể. Hoàn cảnh đã đẩy những quyết định thận trọng hơn trước đó về việc ném bom và điều động quân đội đi xa hơn bất kì ai dự đoán được vào lúc đó. Tiếp theo, họ hỏi chính quyền đã tiếp cận như thế nào với tình thế khó xử khi phải công khai đối mặt với dư luận ở Hoa Kì, và do đó chấp nhận một cuộc tranh luận công khai có thể sẽ phá huỷ nền tảng chiến lược của họ về “thuyết phục Bắc Việt về ý chí và quyết tâm không lay chuyển của quý vị.” Bundy trả lời:
Tôi xin nói rằng, ở cấp độ của tôi, tôi luôn cho rằng sẽ có những tuyên bố đầy đủ từ Tổng thống và hành động của Quốc hội. Và giai đoạn quan trọng cần xem xét là tháng 7/1965, khi phương án hành động ban đầu được bộ trưởng Quốc phòng McNamara đề xuất với Tổng thống là huy động lực lượng dự bị, điều này đòi hỏi sự chấp thuận của Quốc hội; và yêu cầu một khoản ngân sách bổ sung lớn ngay lập tức để đáp ứng chi phí chiến tranh. Sau đó, một cách rất kịch tính mà tôi không tham gia, và sau khi đã tham khảo ý kiến của một số lãnh đạo Quốc hội – đặc biệt là Gerald Ford có mặt trong phòng với tư cách là Lãnh đạo phe thiểu số Hạ viện – tổng thống Johnson đã thay đổi tín hiệu và chọn cách đưa ra tuyên bố của Tổng thống ở mức độ thấp nhất có thể, và chọn cách không trình bày phương án này trước Quốc hội, v.v.
Khi được hỏi liệu đây có phải là một cách tiếp cận trung thực hay không, Bundy tỏ ý rằng nó “ít nhất cũng trung thực như nhiều việc mà Franklin Roosevelt đã làm trong năm 1941. Vấn đề là điều này đã dẫn đến kết quả tồi tệ và do đó trông tệ hơn nhiều trong lịch sử.”[124] Bundy cũng nhớ lại rằng các cuộc thăm dò dư luận và chính Quốc hội lúc đó đều ủng hộ chính sách của tổng thống.[125]
Nghị sĩ Eugene McCarthy đã nói với các phóng viên của BBC rằng, vào thời điểm Đại hội Đảng Dân chủ năm 1968 tại Chicago:
Xét về phía Quốc hội, tôi cho rằng chỉ có khoảng 15 nghị sĩ thật sự đưa ra một số quan điểm chỉ trích cuộc chiến vào thời điểm diễn ra đại hội đó – nghị sĩ Morse, nghị sĩ Gruening, nghị sĩ Hughes và nghị sĩ Hart – và có một vài người khác cũng thẳng thắn phản đối chiến tranh như McGovern. Mansfield phản đối chiến tranh nhưng ông không làm gì về điều đó tại Chicago. Fulbright cũng phản đối; ông không đưa ra bất kì cam kết công khai nào.[126]
Tổng thống Johnson cho rằng việc tạm ngừng ném bom vào tháng 5/1965 là một thất bại hoàn toàn, không mang lại kết quả gì ngoài những lời chỉ trích rằng nó quá ngắn.[127] McNamara đề xuất một đợt tạm ngừng ném bom khác “để củng cố ngoại giao của chúng ta” trước khi điều thêm quân đến miền Nam hoặc tăng cường áp lực ném bom ở miền Bắc. Ông cho rằng sẽ “dễ dàng hơn cho chúng ta thực hiện các biện pháp quân sự bổ sung cần thiết trong tương lai nếu trước tiên chúng ta thực hiện một động thái hoà bình nghiêm túc.” Johnson, McGeorge Bundy và ngoại trưởng Rusk tỏ ra hoài nghi. Rusk cho rằng các lãnh đạo ở Hà Nội có thể chỉ đưa ra khả năng đàm phán trước mặt Mĩ mà không có ý định tiến tới đàm phán nghiêm túc. Ông cho rằng một đợt tạm ngừng chỉ dẫn đến đàm phán kéo dài trong khi cộng sản tiếp tục dốc toàn lực chiến đấu sẽ có tác động xấu. Tuy nhiên, ông cũng tin tưởng vào việc tiếp tục thăm dò Hà Nội thông qua các nỗ lực ngoại giao và “Nếu Bắc Việt đưa ra một số dấu hiệu chắc chắn rằng họ sẽ giảm mức độ chiến đấu hoặc tham gia vào các cuộc đàm phán nghiêm túc… thì chúng ta nên chấm dứt việc ném bom.” Đại sứ Lodge báo cáo với Tổng thống, “Việc chấm dứt ném bom miền Bắc mà không có sự trao đổi nào khác ngoài việc mở các cuộc đàm phán sẽ làm nghiêng cán cân về phía Cộng sản và làm suy yếu tinh thần của Chính phủ VNCH. Trên thực tế, điều đó sẽ để cho Cộng sản tự do tàn phá miền Nam mà không bị trừng phạt trong khi chúng ta tự trói tay mình ở miền Bắc.”[128] Tướng Westmoreland, đô đốc Sharp (CINCPAC) và Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân đều phản đối việc ngừng ném bom “vì lí do quân sự.”[129]
Tổng thống viết rằng các cuộc thăm dò và thảo luận vẫn tiếp tục, và vào tháng 11, đại sứ Liên Xô nói với McGeorge Bundy rằng việc tạm ngừng “từ 12 đến 20” ngày sẽ dẫn đến “hoạt động ngoại giao căng thẳng.” Một người Hungary nói với ngoại trưởng Rusk rằng “vài tuần là đủ.” Dần dần, dư luận trong chính quyền chuyển sang ý tưởng “tạm ngừng.” Ngay cả ngoại trưởng Rusk cũng nghĩ rằng việc thử là đáng giá. “Sự phản đối chủ yếu tập trung vào các lực lượng quân sự và Toà Đại sứ của chúng ta ở Sài Gòn.”[130] Johnson có những nghi ngờ nhưng cũng “miễn cưỡng” hướng tới việc chấp nhận ý tưởng này với những rủi ro đi kèm. Ông nói rằng Rusk, McNamara và McGeorge Bundy đã đảm bảo với ông rằng sẽ không có rắc rối nghiêm trọng nào trong việc ném bom trở lại nếu Hà Nội không đáp trả. “Dĩ nhiên, hóa ra chúng tôi không được ghi điểm nhiều cho việc đã ngừng ném bom và bị chỉ trích nặng nề vì đã tiếp tục ném bom.”[131]
Trong cuộc họp ngày 18/12 với sự tham dự của Rusk, McNamara, McGeorge Bundy, George Ball và Alexis Johnson, cùng với sự hiện diện của Clark Clifford và thẩm phán Abe Fortas, Johnson đã xem xét những ưu và nhược điểm của việc ngừng ném bom. Ngoại trưởng Rusk nói về tầm quan trọng của việc chứng minh cho người dân Mĩ thấy “Rằng chúng ta đã làm mọi thứ có thể để tìm ra con đường dẫn đến một giải pháp hoà bình.” Ông cũng nói rằng nên thử việc tạm ngừng ném bom ngay cả khi chỉ có 1/10 hoặc 1/20 cơ hội “có thể dẫn đến một giải pháp [trên cơ sở] Hiệp định Geneva và vĩ tuyến 17.” “Cuối cùng, Ngoại trưởng nói rằng ông nghĩ rằng việc ngừng ném bom sẽ đặt trách nhiệm tiếp tục chiến tranh vào đúng chỗ của nó, lên Hà Nội và những người nói rằng chỉ có việc chúng ta ném bom miền Bắc mới cản trở hoà bình.” McNamara đồng ý, và nói thêm rằng “… ông cảm thấy rằng không có gì đảm bảo thành công về mặt quân sự ở Việt Nam và chúng ta phải tìm ra một giải pháp ngoại giao.” Thẩm phán Fortas cho rằng, trong trường hợp không có bằng chứng nào cho thấy các chính phủ khác có ảnh hưởng ở Hà Nội sẽ khuyến khích Bắc Việt đáp trả việc tạm ngừng ném bom, thì những lập luận ủng hộ việc tạm ngừng ném bom là không thuyết phục. Clark Clifford cho rằng các lãnh đạo ở Hà Nội sẽ chỉ đàm phán khi họ biết rằng họ sẽ không thắng, và vẫn chưa đến thời điểm đó.[132]
Tuy nhiên, Johnson quyết định gia hạn thỏa thuận ngừng bắn 30 giờ vào đêm Giáng sinh, vốn đã được lên kế hoạch với sự đồng ý của Nam Việt, “thêm vài ngày nữa, có thể đến giữa tuần sau.” Ông thông báo cho các đồng minh của Mĩ, Tổng thư kí Liên Hợp Quốc và, trong một chiến dịch ngoại giao rộng rãi có sự tham gia của phó tổng thống Humphrey, ngoại trưởng Rusk, Averell Harriman, và các trợ lí Ngoại trưởng G. Mennen Williams và Tom Mann, đã “làm rõ rằng sự kiềm chế tương tự của Hà Nội sẽ được hoan nghênh và sẽ ảnh hưởng đến các hành động trong tương lai của chúng ta.”[133] Đồng thời, các thông điệp cũng được gửi đến Bắc Việt thông qua các kênh ngoại giao ở Rangoon và Moscow. Phía Bắc Việt đã bác bỏ tất cả những đề nghị này, khăng khăng rằng “chúng ta phải chấp nhận kế hoạch 4 điểm của họ – bao gồm việc rút toàn bộ lực lượng Mĩ – như là cơ sở duy nhất cho hoà bình.”[134] Đài phát thanh Hà Nội, vào ngày 28/1, đã phát sóng một bức thư cứng rắn mà Hồ Chí Minh gửi cho nhiều chính phủ, cáo buộc Hoa Kì lừa dối và đạo đức giả, và nhấn mạnh “chúng ta phải rút toàn bộ quân đội của mình khỏi Việt Nam và chấp nhận Mặt trận Giải phóng Dân tộc do Cộng sản lãnh đạo ở miền Nam Việt Nam là ‘đại diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam’.” Trong khi đó, việc vận chuyển người và vật tư của Bắc Việt về phía Khu phi quân sự và Đường mòn Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục diễn ra mạnh mẽ. “Rõ ràng là không có điều gì tốt đẹp xảy ra như các nhà ngoại giao thân thiện với Hà Nội đã dự đoán; và cũng sẽ không có điều gì sẽ tốt đẹp xảy ra.” Johnson tiếp tục ném bom vào ngày 31/1/1966.
Sau đó, thế giới cộng sản và một số phía khác đã lên tiếng kêu la đòi ngừng hoàn toàn việc ném bom vì họ cho rằng chỉ có việc ngừng hẳn mới tạo ra cơ hội thật sự cho các cuộc đàm phán nghiêm túc. Johnson lưu ý rằng việc ném bom đã bị tạm ngừng 8 lần từ năm 1965 đến đầu năm 1968 và, vào 5 lần khác, các mục tiêu trong và xung quanh Hà Nội và Hải Phòng đã được loại trừ trong thời gian dài. “Kết quả cuối cùng của tất cả những lần tạm ngừng ném bom đó là zero. Thực tế, nó còn thấp hơn zero vì kẻ thù đã lợi dụng mỗi lần tạm ngừng để củng cố vị trí của mình, vội vàng đưa người, vật tư và thiết bị xuống các con đường của Bắc Việt để xâm nhập ồ ạt vào miền Nam.”[135]
Ngày 7 và 8/2/1966, tổng thống Johnson và một số cố vấn cấp cao của ông đã gặp gỡ Thiệu và Kỳ cùng các “phụ tá chính” của họ tại Honolulu. Cuộc gặp gỡ này đặc biệt nhấn mạnh đến tương lai chính trị và kinh tế của Nam Việt; “…các cố vấn chính từ cả hai phái đoàn được chia thành các nhóm chuyên môn nhỏ hơn, một số thảo luận về cách tìm ra con đường đàm phán, số khác xem xét làm thế nào để bình định và phát triển nông thôn hiệu quả hơn.” Những người tham gia đã đưa ra một tuyên bố chung, “Tuyên bố Honolulu,” trong đó phía Việt Nam bày tỏ ý định “đánh bại Việt Cộng và những kẻ chiến đấu bất hợp pháp với chúng trên đất nước chúng tôi…”; sự quyết tâm của họ “đối với việc xóa bỏ bất công xã hội…”; và tầm quan trọng của việc thiết lập và duy trì “một nền kinh tế ổn định, có thể đứng vững… một cuộc sống vật chất tốt đẹp hơn cho người dân” và của việc xây dựng “dân chủ thật sự cho đất nước và nhân dân của chúng tôi.” Họ mời những người ở phía bên kia cuộc xung đột “tham gia vào cuộc phiêu lưu cách mạng quốc gia này, đến và làm việc thông qua nền dân chủ lập hiến để cùng nhau xây dựng cuộc sống phẩm giá, tự do và hoà bình mà những người ở miền Bắc muốn tước đoạt khỏi người dân Việt Nam.” Mĩ “hứa sẽ ủng hộ các mục tiêu và chương trình mà phía Việt Nam đã đề ra.”
Johnson “ra lệnh tổ chức lại Phái đoàn của chúng ta tại Sài Gòn để phản ánh sự nhấn mạnh mới này vào các chương trình không quân sự”; phó đại sứ Porter sẽ phụ trách nỗ lực này tại chỗ với Robert W. Komer thuộc NSC điều phối và giám sát “sự trợ giúp của Washington cho việc bình định và các chiến dịch phi quân sự khác.” Phó tổng thống Humphrey đã đến Việt Nam để “xem xét trực tiếp tình hình ở đó” một lần nữa và đến một số thủ đô khác ở châu Á để giải thích những gì đã được nhất trí tại Honolulu và để yêu cầu “các quốc gia tự do khác” trợ giúp.[136]
Vào thời điểm này, đầu năm 1966, những đường lối chính sách và hành động tổng quát của chính quyền tại Việt Nam trong hai năm tiếp theo đã được vạch ra. Chúng tạo thành một nỗ lực 3 hướng nhằm:
- đối mặt với mối đe dọa quân sự từ phía cộng sản;
- giúp Chính phủ Việt Nam tiến tới nền dân chủ lập hiến và một nền kinh tế ổn định, bền vững; và
- đạt được một thỏa thuận lâu dài và danh dự về một giải pháp hoà bình.
Toàn bộ nỗ lực đã bị trì hoãn bởi một cuộc khủng hoảng chính trị bắt đầu từ tháng 3/1966 khi việc cách chức tư lệnh Quân đoàn I, tướng Nguyễn Chánh Thi, bị những người Phật giáo cực đoan của Thích Trí Quang lợi dụng để thúc đẩy tham vọng chính trị của riêng họ. Như Kỳ đã nói, “những nỗ lực kiểm soát quyền lực từ phía sau hậu trường của Trí Quang đã cản trở nghiêm trọng nỗ lực chiến tranh.” Các cuộc biểu tình đã diễn ra ở Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn và nhiều nơi khác. Nhiều binh sĩ Sư đoàn 1 công khai đứng về phía Phật giáo.[137] Tư lệnh Sư đoàn 1 bị giảm vai trò xuống mức không hiệu quả. Vị tu sĩ Phật giáo đã ra lệnh cho sư đoàn và nghe lén một cách vụng về khi tổng lãnh sự Mĩ đến gặp tư lệnh sư đoàn để cố gắng xin được sự đảm bảo về việc bảo vệ tính mạng và tài sản của người Mĩ nhưng không thành công. Vị tư lệnh này giải thích bằng tiếng Pháp, mà vị tu sĩ rõ ràng không hiểu, rằng ông ta bất lực.[138] Cảnh sát trưởng, Nguyễn Chí Cảnh, đã từ chối giải tán đám đông phá hoại, lần thứ hai, trung tâm song phương của Cơ quan Thông tin Hoa Kì. Sau đó, họ đã đốt cháy tòa nhà Tổng Lãnh sự Hoa Kì và một ngôi nhà dành cho nhân viên. Chương trình phát thanh của Đài Phát thanh Huế không khác gì Đài Phát thanh Hà Nội về chủ đề chống Mĩ. Cảnh sát trưởng sau đó được báo chí xác định là “một thành viên cấp cao của Cộng sản.”[139]
Theo như Kỳ nhận thấy tình hình, Sư đoàn 1, cũng như một số lực lượng đặc nhiệm ở Quảng Nam và Đà Nẵng hầu như đã tham gia phe Phật giáo. Ông nghĩ rằng nếu xu hướng này tiếp tục:
…chỉ cần thêm hai tuần nữa thôi, toàn bộ khu vực miền Trung sẽ rơi vào tay Phật giáo và sẽ được tuyên bố là lãnh thổ tự trị. Đài phát thanh, các tòa nhà hành chính và trụ sở quân đội ở Đà Nẵng đã nằm trong tay Phật giáo. Phe nổi dậy đã sử dụng các phương pháp thâm nhập của du kích Cộng sản, phân phát vũ khí cho người dân Đà Nẵng, chia dân chúng thành các nhóm và uỷ ban, mỗi nhóm theo dõi lẫn nhau.[140]
Tự hành động mà không tham khảo ý kiến người Mĩ, Kỳ đã điều quân đến Đà Nẵng và tái lập chính quyền ở đó sau một vài cuộc giao tranh. Vài tuần sau, chính quyền được tái lập ở Huế mà không có đổ máu. Bản chất nhanh chóng và bí mật của chiến dịch của Kỳ đã dẫn đến một số bất đồng nhỏ với lính thuỷ đánh bộ Hoa Kì tại Đà Nẵng, được tướng Walt, tướng Westmoreland và tướng Kỳ mô tả khác nhau trong các cuốn sách của họ, nhưng các bất đồng đó đã được giải quyết ổn thỏa.[141]
Như tướng Westmoreland đã nói, “Cuộc khủng hoảng ở miền Trung đã tạm thời làm chậm lại cuộc chiến chống lại Việt Cộng.”[142]
Ngày 11/9, cuộc bầu cử quốc gia được tổ chức để bầu ra các thành viên của một hội đồng lập hiến. Vào tháng 10, Johnson bay đến Manila theo lời mời của tổng thống Marcos để tham dự một hội nghị với Thiệu, Kỳ, tổng thống Nam Hàn, và các thủ tướng của Australia, New Zealand và “để xem xét lại cuộc chiến và các chương trình phát triển không quân sự.” Hội nghị này đã ra 3 văn kiện.[143] Văn kiện đầu tiên nêu ra “các mục tiêu của tự do:”
- Thoát khỏi sự xâm lược.
- Xóa bỏ nạn đói, mù chữ và bệnh tật.
- Xây dựng một khu vực an ninh, trật tự và phát triển.
- Tìm kiếm sự hoà giải và hoà bình trên khắp châu Á và Thái Bình Dương.
Văn bản thứ hai, một thông cáo chung, bao gồm tuyên bố của Chính phủ Nam Việt rằng họ sẽ yêu cầu các đồng minh rút quân ngay khi hoà bình được lập lại, và các đồng minh đã trả lời:
Họ sẽ được rút đi, sau khi tham vấn kĩ lưỡng, khi phía bên kia rút quân về phía Bắc, ngừng xâm nhập và do đó mức độ bạo lực giảm xuống. Các lực lượng này sẽ được rút đi càng sớm càng tốt và không muộn hơn 6 tháng sau khi các điều kiện nêu trên được đáp ứng.[144]
Văn kiện thứ ba, Tuyên bố về Hoà bình và Tiến bộ ở châu Á và Thái Bình Dương, kết thúc với khẳng định:
Chúng tôi không đe dọa chủ quyền hay toàn vẹn lãnh thổ của các nước láng giềng, dù hệ tư tưởng của họ là gì. Chúng tôi chỉ yêu cầu điều này được đáp lại. Những tranh chấp và tham vọng về hệ tư tưởng, cũng như những mâu thuẫn đau đớn nảy sinh từ nỗi sợ hãi và bất bình dân tộc, nên thuộc về quá khứ. Sự xâm lược bắt nguồn từ chúng không được phép thành công. Chúng tôi sẽ đóng góp hết sức mình để tạo ra một môi trường mà trong đó sự hoà giải trở nên có thể xảy ra, vì trong thế giới hiện đại, con người và các quốc gia không có lựa chọn nào khác ngoài việc học cách sống chung với nhau như anh em.[145]
Hội nghị Guam diễn ra sau đó vào tháng 3/1967. Ellsworth Bunker tiếp nhận chức vụ đại sứ từ Henry Cabot Lodge, với Eugene Locke làm phó đại sứ; Robert Komer trở thành cấp phó của tướng Westmoreland phụ trách các hoạt động dân sự và trợ giúp phát triển cách mạng. Hiến pháp mới của Việt Nam đã được thông qua. Tướng Creighton Abrams được bổ nhiệm làm cấp phó cho tướng Westmoreland vào tháng 5 và kế nhiệm Westmoreland làm Tư lệnh Bộ Chỉ huy Viện trợ Hoa Kì (COMUSMACV [Commander, United States Military Assistance Command, Vietnam]) vào ngày 10/6/1968. Ngày 3/8, tổng thống Johnson đã phê duyệt việc triển khai thêm 45 000 đến 50 000 quân Hoa Kì, nâng tổng số quân lên 525 000 người trong năm tới.[146] Cuộc bầu cử được tổ chức vào ngày 6/9, trong đó “hơn 70% tổng số công dân Nam Việt đủ điều kiện đã đăng kí và 4/5 trong số họ đã bỏ phiếu.”[147]
Vào ngày 29/9/1967, tại San Antonio, tổng thống Johnson đã đưa ra điều mà sau này được gọi là công thức San Antonio:[148]
Hoa Kì sẵn sàng ngừng mọi cuộc oanh tạc trên không và trên biển vào Bắc Việt khi điều này dẫn đến các cuộc đàm phán hiệu quả một cách nhanh chóng. Tất nhiên, chúng ta giả định rằng trong khi các cuộc đàm phán diễn ra, Bắc Việt sẽ không lợi dụng việc ngừng hoặc hạn chế ném bom.
Trong khi đó, từ ngày 18/6/1964 đến ngày 31/10/1967, tinh chung đã có 72 sáng kiến hoà bình lớn. Đã có 17 lần liên lạc giữa Hoa Kì và Bắc Việt thông qua 17 “kênh hoà bình.”[149]
Như các phóng viên của BBC đã nhận xét, “Đến năm 1968 và sau 3 năm tiến hành các chiến dịch tìm diệt do tướng Westmoreland chỉ huy, quân du kích Cộng sản đã chịu tổn thất nặng nề một cách không cân xứng, đôi khi với tỉ lệ 6 hoặc 10 trên 1. Tuy nhiên, ý chí chiến đấu của họ dường như không hề bị phá vỡ.” Đến năm 1968, tướng Westmoreland đang giao tranh cách xa các trung tâm dân cư, gần biên giới Cambodia và Lào, và trên khu phi quân sự ở vĩ tuyến 17. Ông tuyên bố chiến thắng đã trong tầm mắt và hình dung có thể giảm bớt số lượng lính Mĩ. Niềm hi vọng đầy tự tin này đột nhiên tan thành mây khói. Vào tháng 2, quân Cộng sản phát động cuộc tấn công Tết Mậu Thân và với việc họ xuất hiện bên trong vòng vây mà Westmoreland đang nắm giữ ở biên giới Nam Việt và tấn công 40 tỉnh và thành, họ đã lật đổ trên thực tế các giả định của chính sách Mĩ tại Việt Nam.”[150]
Cựu trợ lí Bộ trưởng Quốc phòng phụ trách các vấn đề an ninh quốc tế, Paul Warnke, đã diễn đạt điều đó theo một cách hơi khác:
Tôi nghĩ bạn phải nhận ra rằng cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã làm được hai việc. Thứ nhất, nó đã làm suy yếu nghiêm trọng sức mạnh của Việt Cộng và Bắc Việt, nhưng đồng thời nó cũng phá huỷ toàn bộ huyền thoại đã có rằng Hoa Kì có vị thế rất vững chắc tại Việt Nam và rằng cuối cùng chiến thắng sẽ được đảm bảo. Vì vậy, về mặt quân sự, cuộc tấn công Tết Mậu Thân hoàn toàn có lợi cho phía chúng ta, nhưng hậu quả về mặt tâm lí của cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã khiến việc chúng ta rút quân khỏi Việt Nam trở nên không thể tránh khỏi.[151]
Như chính Tổng thống Johnson đã nói:
Tôi không ngờ nỗ lực của kẻ thù lại có tác động đến cách nghĩ của người Mĩ tới như vậy. Tôi không ngạc nhiên khi một số thành phần của báo chí, giới học thuật và Quốc hội phản ứng như thế. Tôi ngạc nhiên và thất vọng rằng những nỗ lực của kẻ thù lại gây ra ảnh hưởng tồi tệ như vậy đối với nhiều người trong chính phủ và những người bên ngoài mà tôi luôn coi là kiên định và không hề nao núng. Hà Nội hẳn đã rất vui mừng. Đó chính xác là phản ứng mà họ tìm kiếm.[152]
Vào ngày 31/3/1968, tổng thống Johnson tuyên bố trên truyền hình từ phòng Bầu dục: “Do đó, tôi sẽ không tìm kiếm, và tôi sẽ không chấp nhận, sự đề cử của đảng tôi cho một nhiệm kì nữa với tư cách là tổng thống của các bạn.”[153]
Ngày 10/5/1968, sau những cuộc thương lượng đoán trước được về địa điểm đàm phán, phái đoàn Mĩ tham dự “đàm phán Paris” đã tiếp xúc lần đầu với phái đoàn Bắc Việt và lên lịch cuộc gặp toàn thể đầu tiên vào ngày 13/5.[154]
[1] Lyndon Baines Johnson, The Vantage Point (New York: Holt, Rinehart and Winston, 1971), 42.
[2] Ibid, 43.
[3] Merle Miller, Lyndon, An Oral Biography (New York: G. P. Putnam’s Sons, 1980), 349.
[4] Thomas Powers, The Man who Kept the Secrets, Richard Helms and the CIA (New York: Pocket Books, 1981), 152.
[5] C. L. Sulzberger, An Age of Mediocrity, Memories and Diaries, 1963-1972 (New York: Macmillan Publishing Co. Inc. 1973), 232.
[6] Johnson, Vantage Point, 44.
[7] Ibid.
[8] Ibid.
[9] Ibid, 44-5.
[10] Ibid, 45.
[11] Ibid, 45-6.
[12] Powers, Man Who Kept the Secrets, 219.
[13] Johnson, Vantage Point, 46.
[14] Ibid.
[15] Ibid, 54; xem thêm U.S. Senate, Committee on Foreign Relations. BackgroundInformation Relating to Southeast Asia and Vietnam. 3d Revised Edition (Washington, D.C .: U.S. Government Printing Office, 1967, 79-662 0), 98-9.
[16] Johnson, Vantage Point, 54.
[17] Ibid, 62-3.
[18] Ibid, 63-4.
[19] Ibid, 64.
[20] U.S. Department of State, “The Path to Viet-Nam,” Released September 1967, 8.
[21] Frederick Nolting, “The Turning Point,” Foreign Service Journal, July 1968, 18-20.
[22] Charles Dickens, Works (New York: Avenel Books, 1978), 572-74.
[23] Ellen Hammer, Vietnam, Yesterday and Today (New York: Holt, Rinehart andWinston, Inc. 1966), 170.
[24] Ibid, 179.
[25] Ibid.
[26] Guenter Lewy, America in Vietnam. (New York: Oxford University Press, 1978), 28.
[27] Hammer, Vietnam, Yesterday and Today, 179.
[28] Ibid, 180. See also “The Path to Viet-Nam,” 8.
[29] Johnson, Vantage Point, 64.
[30] Ibid, 65.
[31] Nguyễn Cao Kỳ, How We Lost the Vietnam War (New York: Stein and Day, 1978), 45-6.
[32] Ibid, 65.
[33] Ibid, 66.
[34] Ibid.
[35] Ibid.
[36] Ibid, 66-7
[37] Ibid, 67.
[38] U.S. Department of State, “The Path to Viet-Nam,” 8.
[39] Ibid.
[40] Ibid.
[41] Michael Charlton and Anthony Moncrieff, Many Reasons Why (New York: Hill and Wang, 1978), 116.
[42] Johnson, Vantage Point, 67.
[43] Ibid.
[44] Ibid, 67-8.
[45] Ibid, 68.
[46] New York Times, The Pentagon Papers (New York: Bantam Books, 1971), 234.
[47] Ibid.
[48] Ibid, 235.
[49] Ibid.
[50] Ibid, 240.
[51] Johnson, Vantage Point, 112-15.
[52] Các cuộc tuần tra của DESOTO đã thu thập tín hiệu (và các thông tin tình báo khác) ở vùng biển thù địch và được thực hiện bởi các tàu khu trục của Hải quân Hoa Kì. Thành phần “De Haven” trong từ viết tắt là do USS De Haven, một tàu khu trục lớp Allen M. Sumner được chế tạo trong Thế chiến II, đã thực hiện chuyến tuần tra đầu tiên như vậy ngoài khơi Trung Quốc vào tháng 4/1962. Các cuộc tuần tra là phản ứng trước việc Trung Quốc ồ ạt mở rộng các yêu sách lãnh thổ ngoài khơi của họ..
[53] Johnson, Vantage Point, 118.
[54] Merle Miller, Lyndon, 384-85.
[55] Johnson, Vantage Point, 118-19.
[56] Charlton and Moncrieff, Reasons Why, 113-14.
[57] U.S. Department of State, “The Path to Viet-Nam,” 8; see also U.S. Senate, Background Information on Indochina, 126.
[58] Lewy, America in Vietnam, 35.
[59] Pentagon Papers, 307.
[60] Ibid, 310.
[61] Ibid, 312.
[62] Ibid.
[63] Ibid.
[64] Johnson, Vantage Point, 119.
[65] Ibid, 119.
[66] Ibid, 119-20.
[67] Ibid, 120.
[68] Pentagon Papers, 315.
[69] Ibid, 315-16.
[70] Johnson, Vantage Point, 121-22.
[71] U.S. Department of State, “The Path to Viet-Nam,” 9.
[72] Ibid.
[73] Johnson, Vantage Point, 122-23.
[74] Ibid, 123-24.
[75] Ibid, 124.
[76] Ibid.
[77] Ibid.
[78] Ibid, 125.
[79] Ibid; xem thêm Nguyễn Cao Kỳ, How We Lost the War, 56-7.
[80] Johnson, Vantage Point, 126-27.
[81] Ibid, 128.
[82] Ibid, 129.
[83] Ibid, 131.
[84] Ibid, 132.
[85] Ibid.
[86] Lewy, America in Vietnam, 39.
[87] Ibid, 39-40.
[88] Ibid, 40.
[89] U.S. Senate, Background Information on Indochina, 145-48.
[90] Johnson, Vantage Point, 132.
[91] Ibid, 132.
[92] Ibid, 133-34; xem thêm U.S. Senate, Background Information on Indochina, 148-83 cho lời văn bài phát biểu.
[93] Johnson, Vantage Point, 134; xem thêm U.S. Senate, Background Information on Indochina, 153-56 cho phản hồi của Mĩ và lời kêu gọi của 17 nước.
[94] Johnson, Vantage Point, 135-36.
[95] Ibid, 137.
[96] William C. Westmoreland, A Soldier Reports (New York: Dell Publishing Co. 1980), 133.
[97] Johnson, Vantage Point, 138.
[98] Lewy, America in Vietnam, 42.
[99] Ibid, 42-3.
[100] Johnson, Vantage Point, 139.
[101] Ibid, 139.
[102] Ibid, 140.
[103] Ibid, 140-41.
[104] Ibid, 141.
[105] Ibid, 142.
[106] Ibid, 142-43.
[107] Ibid, 143.
[108] Ibid.
[109] Ibid, 143-44.
[110] Nguyễn Cao Kỳ, How We Lost the War, 78-80.
[111] Johnson, Vantage Point, 144.
[112] Ibid, 145.
[113] Ibid, 145-46.
[114] Ibid, 146.
[115] Ibid, 147.
[116] Ibid
[117] Ibid, 149.
[118] Ibid, 151.
[119] Ibid, 153.
[120] Ibid.
[121] Ibid, 232-33.
[122] Charlton and Moncrieff, Reasons Why, 119.
[123] Ibid
[124] Ibid, 121.
[125] Ibid.
[126] Ibid, 167.
[127] Johnson, Vantage Point, 233.
[128] bid, 233-34.
[129] Ibid, 234.
[130] Ibid, 235.
[131] Ibid.
[132] Ibid, 236-37.
[133] Ibid, 238.
[134] Ibid, 238-39.
[135] Ibid, 241.
[136] Ibid, 243-41.
[137] Nguyễn Cao Kỳ, How We Lost the War, 92.
[138] Hồi tưởng của người viết.
[139] Washington Star, February 20, 1968, A-1, A-6.
[140] Nguyễn Cao Kỳ, How We Lost the War, 92-3.
[141] bid, Chapter 8; Lewis W. Walt, Strange War, Strange Strategy, Chapters 10, 11 (New York: Funk and Wagnalls, 1970); William C. Westmoreland, A Soldier Reports, 220-29.
[142] Westmoreland, A Soldier Reports, 229.
[143] Johnson, Vantage Point, 248.
[144] Ibid.
[145] Ibid, 249.
[146] Ibid, 259-63.
[147] Ibid, 265.
[148] Ibid, 267.
[149] Ibid, 579-91.
[150] Charlton and Moncrieff, Reasons Why, 126-27.
[151] Ibid, 128.
[152] Johnson, Vantage Point, 384.
[153] Ibid, 435.
[154] Ibid, 507.