Nguyễn Hồng Anh

Lê Thanh Trường
Tôi tình cờ đọc Lê Thanh Trường vào quãng thời gian mình gần như không còn đọc thơ. Với tôi, thơ luôn là một thế giới rợn ngợp những tâm tình cá vị – mà một người chưa gánh nổi niềm riêng của chính mình như tôi thường ngại bước chân vào. Nhưng “lỡ” đọc thơ Trường rồi, tôi cứ nấn ná, dừng lại, bài này gọi tiếp bài kia, dù giọng thơ từ tốn lắm, âm vực có khi trầm lắng như tiếng thì thầm, như thể vọng lại từ phía bên kia bức tường hay sau cánh cửa đóng kín.
Khởi sự nhiều bài thơ anh không phải như thế, có khi nó mở đầu bằng lời nói to, bằng tiếng hét, nhưng lời vừa cất lên đã thành bằng chứng buộc tội (“Một vụ bức tử”), tiếng hét mắc lại trong hình dung (“Phác thảo một tiếng nói”), đối thoại trượt thành độc thoại (“Ứng đối”), lời chưa kịp thành tiếng đã hoá “thì thào tro bay” (“Trong giấc mơ đêm nay”) và chủ thể của lời – “tôi” – tự co mình tan vào hơi thở (“Thánh thể”). Im lặng, vì thế, trải thành mênh mông. Nhưng càng đọc, tôi càng hiểu thứ âm thanh lặng im ấy: Trường tắt tiếng nói đi để nhường chỗ cho vài tiếng thì thầm. Thơ anh không tin diễn ngôn lớn, cũng không thiêng hoá sự lặng thinh. Nó đặt cược vào tiếng thì thầm, vì để nghe được thứ tiếng ngỡ là yếu ớt ấy, cần một điều kiện: cần một người ở thật gần một người.
*
“Một vụ bức tử” mở đầu bằng một công thức quen thuộc của quyền tư pháp:
“anh có quyền im lặng
nhưng bất cứ điều gì
anh nói có thể được
đem làm bằng chứng trước
tòa”
Nhưng câu nói vừa phát ra thì quyền ấy lập tức bị tước bỏ: “bất cứ điều gì anh nói/ bất cứ điều gì bằng chứng/ anh không thể im lặng”. Nói hay không nói đều thành lời chứng, bởi ý nghĩa đã được quyết định từ bên ngoài. Câu thơ bị bẻ vụn theo nhịp biên bản, nhằm bức tử quyền sở hữu lời nói: lời vừa thoát khỏi miệng đã thuộc về bộ máy diễn giải.
“sự im lặng
giờ đây em biết không
là bằng chứng về sự vắng mặt
ở đây – đời sống mình
là bằng chứng về sự tham dự
ở đó – hiện trường những vụ án”
Cấu trúc song song “vắng mặt / ở đây” và “tham dự / ở đó” đẩy chủ thể vào hai vị trí trái ngược cùng lúc. Anh vắng khỏi đời sống của mình nhưng lại bị cưỡng bức có mặt trong hiện trường, hồ sơ, cáo trạng của kẻ khác. Im lặng vì thế không còn là quyền; nó bị lấp đầy bằng lời quy kết. Ở một thời đại con người có thể bị định danh, lưu vết và xét xử khi không hiện diện, quyền lực không nhất thiết bắt anh nói, nó chỉ cần độc quyền phiên dịch sự im lặng của anh. Vì thế, câu thơ sắc nhất của bài có lẽ là: “hôm nay người ta lại vừa giết một danh từ”. Giết một danh từ không cần xóa nó khỏi từ điển, hay “chôn nó xuống”, mà chỉ cần “đeo nó vào một thứ khác – vậy là xong”. Sự bạo lực của ngôn ngữ hiện đại không luôn diễn ra bằng cấm đoán; tinh vi hơn, nó giữ nguyên vỏ chữ và thay ruột nghĩa. “Đất nước á khẩu” vì thế không phải là không có tiếng nói, ngược lại, nó tràn ngập danh xưng, cáo trạng, báo chí, dư luận; nhưng tiếng nói của con người cá nhân đã bị tiếng nói tập thể, truyền thông đa phương tiện và diễn ngôn quyền lực chiếm chỗ.
Nếu “Một vụ bức tử” cho thấy danh từ bị quyền lực thủ tiêu thì “Ứng đối” trình bày tình trạng tự suy kiệt của danh từ vì không còn mang nổi kinh nghiệm từ thực tại. Nhan đề bài thơ hứa hẹn lời qua tiếng lại giữa “anh” và “em”, nhưng “em” chỉ có một xác quyết duy nhất: “Màu xanh / Em xác quyết màu xanh”. Phần còn lại gần như là độc thoại của “anh” chỉ để phủ định tiền đề đó: “anh không tin những danh từ còn mang được chút thực tại nào”. “Danh từ” có chức năng gọi tên và cố định sự vật. Nhưng đời sống thì chẳng bao giờ dừng lại; thực tại luôn vận động, biến đổi, trượt khỏi tên gọi của chính nó. Khi một sự vật được gọi là “màu xanh”, sự định danh đó tạo cảm giác nó đã được xác định. Nhưng đối với anh, “xanh” có thể là “green” hay “blue”, là “màu hoàng thổ”; hay thậm chí nó trượt từ bình diện thị giác sang lịch sử tổn thương của vật chất: xanh là “chiếc ghế đu đứt dây trong khu vườn cũ”, xanh là “miếng rỉ sét trên thân mình”. Danh từ không còn mang thực tại mà chỉ để lộ khoảng cách giữa ngôn ngữ và kinh nghiệm. Khủng hoảng ngôn ngữ do đó cũng là khủng hoảng tương tác. Nếu danh từ không còn mang được thực tại, con người lấy gì để biết họ đang nói về cùng một chuyện? Em nói “màu xanh”, nhưng anh không nghe thấy màu xanh của em, anh chỉ nghe thấy phần rỉ sét trong anh.
Tôi đọc thấy ở đây một dạng bi kịch hiện tiền: người ta không thiếu phương tiện phát ngôn, nhưng lại thiếu một thực tại chung được kiến tạo bằng lời. Trong “Một vụ bức tử”, lời chết vì bị diễn giải từ bên ngoài; trong “Ứng đối”, lời chết vì không thể đi từ bên trong người này sang bên trong người khác. Một bên là tiếng nói bị tước đoạt, một bên là tiếng nói không tìm thấy người nghe.
Nhưng nếu chỉ dừng lại tại đấy thì bi thảm quá. Tôi không chấp nhận bị đặt vào tình thế này (vì lâu lắm rồi tôi mới nghiêm túc tìm đến thơ mà!), nên tôi đọc tiếp. Và may mà tôi đọc tiếp, để tìm thấy đằng sau một hình thức chết của ngôn từ là sự phục sinh của những tiếng thì thầm rất nhỏ. Trong “Phác thảo một tiếng nói”, Lê Thanh Trường bắt đầu lại từ chốn lặng im:
“im lặng mười năm
những lời thì thầm đêm đêm đã nối dài hơn cuộc sống
không phải im lặng
cái chết đâu tính ngày giờ
em nhỉ”
“Im lặng mười năm” chỉ là sự im lặng nhìn từ bên ngoài; bên trong nó, những lời thì thầm vẫn tiếp tục sống, thậm chí “nối dài hơn cuộc sống”. Như vậy, im lặng không phải trạng thái biến mất hoàn toàn của ngôn từ, mà là khi ngôn từ rút khỏi bề mặt, tránh khỏi những cách nói đã bị chiếm dụng, để duy trì một đời sống âm ỉ hơn. Vì tiếng thì thầm còn giữ được điều căn bản này: ít ra nó vẫn thuộc về người đang nói. Bài thơ sau đó hình dung những tiếng thì thầm được tích tụ thành một sức mạnh lớn: “thử cuộn lại làm núi non/ những ý nghĩ trèo đèo lội suối/ những thì thầm dường như tích lại/ sẽ nổ như sấm sét/ sẽ vỡ dưới chân mình/ niềm kiêu hãnh một ngày đứng dậy…”. Từ “thì thầm” đến “sấm sét” là giấc mơ biến tiếng nói bị nén lại thành một cuộc phục quyền. Con người từng im lặng muốn đứng dậy bằng âm lượng hết cỡ mình có thể phát ra. Nhưng Lê Thanh Trường không để sự phục sinh ấy diễn ra theo hình thức một tiếng nói lớn thay thế một tiếng nói lớn khác, nên đến đây đột ngột xuất hiện một cú bẻ ngoặc của hình ảnh thơ:
“ôi chao gió quyến mây bay
một tiếng hét cũng chỉ hét lên trong hình dung”
Nếu đọc theo quán tính, có thể dễ xem đây là thêm một thất bại của ngôn từ. Nhưng trong chuyển động sâu hơn của bài thơ, sự bất thành của tiếng hét lại giúp cái tôi nhận ra tiếng nói nào thực sự cần thiết. Sấm sét có thể làm rung chuyển không gian nhưng lại gây hoang mang sợ hãi, tiếng hét có thể xác nhận sức mạnh của người hét nhưng cũng có thể lấp mất khả năng tiếp nhận của người nghe. Chỉ có tiếng thì thầm mở ra khả năng tương giao với một chủ thể khác, vì nó tạo ra khoảng cách gần để lắng nghe nhau. Muốn thì thầm, người ta phải tin rằng có ai đó ở đủ gần để nghe mình; muốn nghe thì thầm, người ta phải im tiếng và nghiêng về phía người khác. Sức mạnh của thì thầm vì thế nằm ở khả năng tạo lập mối tương quan. Bởi vậy, “em” vẫn hiện diện đâu đó sau tiếng gọi “em nhỉ” ở đầu bài và trở lại trong đoạn kết:
“cứ như đêm nay mình buông tay trong giấc mơ
im lìm hết chỗ nói
sớm mai em trở dậy
nheo mắt nhìn mình bay lên như sương…”
“Mình” và “em” hình như lệch nhịp giữa ngày và đêm, giữa trở dậy và biến mất. Dường như cuộc tương giao lại một lần nữa bất thành. Nhưng khác với sự thất bại của “Ứng đối”, ngay trong hình dung về sự biến mất, “mình” vẫn gọi “em”, vẫn đặt sự tan biến của mình trước ánh nhìn của một người khác. Tiếng thì thầm trong “Phác thảo một tiếng nói” đã trả ngôn từ về nguyên ủy của nó – không phải công cụ định danh hay chiếm lĩnh thực tại, mà là sự hiện diện của một người bên một người, dẫu có khi chỉ trong khoảnh khắc trước lúc hình hài tan vào sương. Tiếng thì thầm không ngăn được cái chết, nhưng nó nối phần sắp rơi vào hư vô với một đời sống còn tiếp tục.
Đến đây thì tôi hiểu vì sao “Một vụ bức tử” lại kết thúc bằng sự xuất hiện của “anh”, “em”, rồi “chúng mình”: “chúng mình không biết làm sao để tự bào chữa trước những cái mồm ồn ào đó/ nhưng mình có nhau và ngôn ngữ/ ít nhất còn được sống giữa đôi mình”. Sự chuyển dịch đại từ ấy tạo nên một cộng đồng tối thiểu, và ngôn ngữ đã chết ở không gian công cộng vẫn có thể sống lại trong quan hệ riêng tư. Sự phục sinh này không màu mè thành diễn văn hay đại ngôn, chỉ là “ngôn ngữ giữa đôi mình”, nghĩa là một lời có người nói, có người nghe, không bị tước khỏi tương quan đã sinh ra nó. Trong thơ Lê Thanh Trường, tương tác chân thực thường chỉ (cần) nhỏ bé và giản dị thế thôi.
Nhưng đó còn chưa phải là giới hạn sau cùng, Trường tiếp tục vặn nhỏ âm thanh hơn nữa, để tiếng nói chỉ còn là ta nói với mình. “Thánh thể” là một bài thơ tôi rất thích, không chỉ vì tựa đề đã gợi lên niềm hiệp thông trọn vẹn (gợi nhắc đến bí tích thánh thể), mà vì tính nghịch lý của sự hiệp thông ấy khi chỉ tồn tại duy nhất trong bài thơ một chủ thể “tôi”:“tôi mưa tôi xuống/ tôi nắng tôi lên/ tôi buồn tôi quá/ tôi vui tôi nhiều/ tôi vì tôi sống/ tôi chết vì tôi/ trên tôi chỉ có/ một mình tôi thôi/ tôi ghi tôi lại/ tôi xoá tôi đi/ tôi nhìn tôi với/ bóng tôi gần kề/ tôi mang tôi đến/ những đền đài tôi/ và tôi thờ phụng/ chúa phật trong tôi/ tôi lên tiếng nói/ những lời nói tôi/ tôi im lặng với/ những niềm lặng tôi/ tôi còn tôi lại/ với đời tôi qua/ tôi quên tôi đã/ lạc đường tôi xa”. Tiếng thì thầm trong “Thánh thể” nằm trong nhịp thơ ngắn, đều, gần với một lời kinh hay một hơi thở. Đó là thứ tiếng chỉ hiện ra khi “tôi” vừa lên tiếng vừa biết im lặng để nghe chính mình. Mà… nghe chính mình có lẽ là điều khó khăn nhất.
Đọc đến đây, tôi nghĩ đến Meursault trong “Người xa lạ” của Albert Camus. Trong nhà tù, khi bị tách khỏi âm thanh của thế giới, Meursault lần đầu tiên nhìn thấy khuôn mặt phản chiếu của mình và lần đầu tiên nghe thấy tiếng nói trong đầu mình. Khi mọi quan hệ xã hội bị cắt đứt, con người buộc phải đối diện với kẻ xa lạ gần nhất: bản thân ta. Cuộc nhận diện ấy không đem lại một chân lí an ủi; nó đưa Meursault tới ý thức trần trụi về đời sống phi lí, về cái chết không thể tránh khỏi và sự “dửng dưng dịu dàng” của thế giới. Nhưng chính khi thôi đòi thế giới phải cung cấp một ý nghĩa có sẵn, anh mới có thể mở lòng trước nó và cảm thấy mình đã, đang và sẽ hạnh phúc. Sự hân hoan cuối tác phẩm không phủ nhận cái chết; nó xuất hiện khi con người nghe rõ sự thật của tồn tại và chấp nhận cái chết như phần không thể tách khỏi sự sống.
“Thánh thể” cũng kết lại ở một khoảnh khắc tự nghe như vậy:
“tôi nghe tôi thở
một hơi bất ngờ
tôi tan như thể
tôi chưa bao giờ”
Sau tất cả những lần “tôi” tự gọi “tôi”, điều xác nhận sự hiện hữu cuối cùng không phải một danh từ nào, mà là hơi thở. Trước khi thành tiếng nói, lời vốn là luồng khí đi qua thanh quản; và trước mọi định nghĩa về mình, con người đã hiện hữu bằng một nhịp thở gần như vô thức. Đến khi nghe được “một hơi bất ngờ”, cái tôi mới thực sự nghe thấy mình đang sống. Cũng như Meursault chỉ chạm tới niềm hân hoan khi chấp nhận cái chết, cái tôi trong “Thánh thể” chỉ có thể tan đi thanh thản sau khi nghe được tiếng sống nhỏ nhất trong mình. Và đây cũng là điểm “Thánh thể” kéo tôi trở lại với vấn đề ngôn từ. Nếu tiếng thì thầm trong “Phác thảo một tiếng nói” đưa một người đến gần một người, thì trong “Thánh thể”, nó đưa con người đến gần chính mình. Tiếng thì thầm không xóa bỏ cô độc hay chiến thắng cái chết; nó giúp ta không còn sống và chết như một kẻ xa lạ với bản thân. Ở mức nhỏ nhất của âm thanh, lời nói tìm lại được điều căn bản nhất của nó: xác nhận một hiện diện – tôi còn nghe thấy tôi, nghĩa là tôi vẫn ở đây, vẫn tồn tại. Và như một hiệu ứng ngược, chỉ khi không còn vắng mặt/ thất lạc khỏi chính mình, con người mới thực sự có thể hiện diện bên người khác. Từ “tôi” đến “em”, từ hơi thở đến lời nói, thơ Trường âm thầm nhưng bền bỉ dựng lại những tương quan đã bị tiếng ồn, quyền lực và nỗi cô độc của thời hiện đại làm cho đứt gãy.
*
Ngay khi viết bài này, tôi nghĩ nhiều đến sự tiêu tán – cái chết, sự biến mất, sự hư vô hoá – từ những gì đang diễn ra quanh mình. Và tôi nhìn thấy bức hình share trên mạng, về một gốc cây được chất đầy hoa, như chứng nhân lặng lẽ cho một thời đoạn lấp lửng tối sáng. Cũng giống như thế hệ trẻ trung nhưng khao khát công lý, tìm đến hiện trường để được đặt hoa dưới gốc cây kia, tôi chợt hiểu vì sao Lê Thanh Trường kiên trì giữ lại những âm thanh nhỏ nhất. Trước những mất mát quá lớn, đôi khi lời nói lớn trở nên bất lực; chỉ một cử chỉ nhỏ hay một tiếng thì thầm mới còn đủ gần với nỗi đau của con người.
Thơ anh không cứu con người khỏi cái chết, cũng không trả lại nguyên vẹn những gì đã tiêu tán. Sự cứu chuộc của thơ, nếu có, khiêm nhường hơn rất nhiều – như một tiếng thì thầm giữ cho một biến mất còn được nhìn thấy, một im lặng còn được lắng nghe. Vì nếu không, ta còn biết sống với điều gì? Bởi thế, rất giản dị thôi, mà kiên quyết:
“chúng mình nên cứu lấy
vài tiếng thì thầm
của con người”
(“Một vụ bức tử”)

“Gốc cây công lý” – Hình trên Internet
N. H. A.
Sài Gòn, 14.8.2026