Mai An Nguyễn Anh Tuấn
Phần bốn
HÀNH TRÌNH HƯỚNG NGHIỆP CHO CON GÁI
1.
Năm con gái Thế sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học quyết định thi vào một chuyên ngành điện ảnh, “theo vết xe đổ” của bố, cũng là năm ra đời bộ phim Mỹ The Fabelmans (Gia Đình Fabelman, 2022) mang nhiều yếu tố tự thuật, có thể gọi là phim “bán chân dung” của đạo diễn Steven Spielberg – một trong những đạo diễn vĩ đại nhất Hollywood, bộ phim nhận 7 đề cử ở Oscar 2023. Spielberg dành tặng tác phẩm này tưởng nhớ cha mẹ quá cố của ông. Bộ phim khai thác chủ đề về tình yêu điện ảnh trong mối quan hệ gia đình tưởng êm đềm hạnh phúc song chứa đầy bi kịch… Chú bé Sammy được nuôi dưỡng niềm đam mê điện ảnh, nảy nở năng khiếu nghệ thuật bằng chiếc máy quay 8 mm do ông bố là nhà khoa học tặng, để ghi lại những cảnh sinh hoạt của các thành viên gia đình; và thậm chí bằng cảnh quay “chộp“ tự nhiên, cậu đã phát hiện bí mật của mẹ với người bạn thân của gia đình, kiến cậu dằn vặt một thời gian dài… Nhưng chính chiếc máy quay và những thước phim được tạo ra bằng tình yêu điện ảnh cũng đã giúp Sammy vượt qua nhiều sức ép tâm lý – nhất là chuyện cậu bị các bạn học bắt nạt vì là người Do Thái, rồi sau đó bị tan vỡ mối tình đầu… Tác phẩm đã nhận “mưa” lời khen từ giới phê bình. Tờ Daily Telegraph nhận định: “Bộ phim đan xen giữa thực tế và tưởng tượng. Ở tuổi 76, Spielberg vẫn là cậu bé nâng niu tình yêu nghệ thuật trong tay…”.
Nhưng bộ phim có một trường đoạn cực kỳ lý thú – dùng làm kết phim, chưa được ai nói tới. Anh sẽ viết cho sinh viên các chuyên ngành Điện ảnh suy ngẫm, nhưng trước tiên, anh “xi-nê mồm” cho con gái:
Khi chàng thanh niên Sammy nhận được một hợp đồng làm mấy chương trình truyền hình, anh đến gặp giám đốc sản xuất, và được ông ta giới thiệu đến để gặp “một đạo diễn vĩ đại” – theo lời ông ta. Sammy vào phòng ông đạo diễn này chờ đợi, với lời cảnh báo của bà trợ lý to béo: “Lâu đấy, có thể vài ba giờ…” Nhìn quanh, chàng trai ôm mộng Điện ảnh đã ngỡ ngàng trước hàng loạt tấm ap-phich phim Viễn Tây của đạo diễn gạo cội John Ford còn đang thống trị màn ảnh hồi ấy (đầu những năm 60 thế kỷ trước), như Stagecoach, The Searchers, The Grapes of Wrath, How Green Was My Valley… Thế rồi ông đạo diễn lớn trở về phòng mình, chẳng thèm nhìn ai. Bà trợ lý vội vã mang giấy ăn vào rồi trở ra với những miếng giấy thấm máu mũi của ông, với lời nhắn Sammy: “Cậu được 5 phút thôi đấy!”
Chỉ 5 phút thôi mà Sammy được một bài học đầu nghề đích đáng và quý giá hơn mọi giáo trình điện ảnh! Sau khi rề rà châm xong điếu xì gà, John Ford hỏi: “Cậu yêu nghề làm phim à?” Sammy: “Vâng, thưa ông”. John Ford dội ngay một gáo nước lạnh: “Thế cậu có biết rằng nghệ thuật là thứ xé con người ta thành từng mảnh?”. Ở đầu phim, bà của Sammy trước khi mất đã gieo lại trong tâm hồn con gái bà – mẹ của Sammy một điều: không thể cho người em trai bà căm ghét, một nghệ sĩ xiếc bước vào nhà, sau đó người xem hiểu lý do khi người nghệ sĩ đó đã nói cho chú bé yêu phim ảnh rằng: Nghệ thuật sẽ phanh thây con người ta ra; và nếu không có đủ lòng dũng cảm cho đầu vào miệng sư tử như ông bởi tình yêu nghệ thuật, thì hãy lánh cho xa! Rồi ông đạo diễn mệt mỏi vì vinh quang và những cuộc thăm viếng kiểu này đã hỏi chàng trai về ba bức tranh treo trong phòng ông, và chỉ hỏi căn vặn mỗi điều: “Thế đường chân trời ở chỗ nào?” Khi thấy anh chàng khù khờ hâm mộ mình trả lời được đúng về đường chân trời, giơ ngón tay lên khẳng định một chân lý làm bài học đầu đời – đầu nghề cho Sammy: “Đường chân trời ở trên, là tốt! Đường chân trời ở dưới, là tốt! Còn Đường chân trời ở giữa, là vứt đi!” Nói xong cái “mật khẩu” đó, ông đuổi Sammy ra ngoài. Anh chàng như bị say sóng vì chợt tỉnh ngộ, bước ra, không quên quay lại cám ơn vị đạo diễn vĩ đại.
Sammy bước đi, còn quay đầu ngắm mãi căn phòng làm việc trên gác của John Ford, rồi anh đi như chạy bởi niềm hạnh phúc trên con đường đọng nước mưa và đang đón cả bầu trời của xưởng làm phim…
– Mai, thế “Mật khẩu” của John Ford là gì, con có biết không?
Dĩ nhiên là con bé ngắc ngứ. Anh bảo:
– “Mật khẩu” của vị đạo diễn lớn kia thực ra chẳng có gì bí hiểm, và chúng đã được làm sáng tỏ bởi những kinh nghiệm sống của chàng trai dù chỉ mới bước vào làm phim thể nghiệm: nghệ thuật thực sự không chấp nhận sự lưng chừng, nửa vời. Nghệ thuật đỉnh cao là phải vươn tới cái cao cả nhất hoặc kéo người ta xuống tận đáy sự sống để tìm kiếm chân lý…
Sau hôm chuyển đường link bộ phim The Fabelmans tìm được trên mạng cho con gái, Thế đưa nó ra Trung tâm chiếu phim Quốc gia để xem một phim của Liên hoan phim Châu Âu. Khi tới sảnh lớn nhất, hai bố con dừng trước một cỗ máy đồ sộ cũ kỹ, có các cô cậu đứng cạnh để chụp ảnh. Mai ngẩn ra nhìn ngắm. Thế bảo: “Đó là chiếc máy chiếu phim nhựa. Phim nhựa mấy năm nay đã vào Bảo tàng Điện ảnh, mọi người có thể không cần biết, song các con vào ngành Điện ảnh thì cần biết một bộ phim nhựa được làm ra như thế nào. Nhưng nếu gõ cả ngày trên mạng sẽ chỉ biết được các quy trình sản xuất phim chung chung, nhưng không thể có nổi một thông tin và hình ảnh để hiểu thế nào là phim nhựa. Vậy mà, chính phim nhựa mới là thủy tổ của Điện ảnh từ ngày nó sinh ra ở nước Pháp, và suốt hàng chục năm qua, phim nhựa đã mang điện ảnh thế giới cùng nền Điện ảnh dân tộc đến với dân ta, qua các rạp chiếu phim, các bãi chiếu bóng toàn quốc – Anh chỉ tay – Máy chiếu này là chiếc cổ lỗ nhất được sản xuất ở Mỹ, từng ngự trị trong các rạp ở Sài Gòn từ trước năm 75. Nhưng, các loại máy chiếu hiện đại hơn, như máy chiếu Xê-nông sau này, cũng theo nguyên lý kinh điển là chỉ “nuốt” phim nhựa Positif (phim Pô, dương bản) 35mm có rãnh âm thanh. Mỗi hộp phim chiếu chứa đựng dung lượng phim của 10 phút, tức là nếu phim 2 tiếng thì cần 12 hộp phim – cần tới một xe ba bánh của bác thương binh để chở tới rạp – trong khi đó, một phim KTS hiện đại chỉ chứa trong một ổ cứng 1T.
Nhưng để có được một bản phim Pô như thế ra rạp, phải trải qua một quy trình sản xuất hết sức công phu, phức tạp, tốn kém! Bố sơ lược thế này: Trước hết phải quay bằng phim Négatif (phim Nê, âm bản), mỗi cảnh quay có khi tới 8, 9 đúp. Sau đó, để người dựng phim làm việc – và trước hết là để cắt dán nối lại đã, thì phải in sang bản Positif đúng bằng toàn bộ các cảnh đã quay Nê! Khi các cảnh đã quay được montage (dựng) theo kịch bản phân cảnh, trước tiên đem đuyệt ở Ban Giám đốc. Sau khi có bản Pô tương đối chuẩn, được duyệt lần đầu, thì cán bộ dựng phim lại đem nó so với toàn bộ Nê nháp để tạo ra một bản Nê chuẩn. Từ bản Nê này, nhà quay phim cùng các kỹ thuật viên bắt đầu định sáng cho chuẩn, các chuyên gia âm thanh bắt đầu tạo bản âm thanh băng từ, v.v. để làm ra “Bản đầu” Pô của bộ phim, đem chiếu duyệt chính thức, rồi nhân ra các bản Pô để phát hành… Lần đầu tiên bố được xem “bản đầu tươi dãy đành đạch” như thế là của phim Cho đến tháng Mười của bác đạo diễn Đặng Nhật, khi về Hãng phim để làm lính mới tò te! Với công nghệ Kỹ thuật số hiện đại, việc sản xuất phim đơn giản hơn rất nhiều, không kể là có thuận lợi lớn trong việc làm kỹ xảo Điện ảnh. Không phải qua mấy lần bản Nê, bản Pô, bản hòa âm quang học, định sáng, v.v. Trong lúc quay, lượng đèn giảm khá nhiều, cũng giảm bớt thời gian sản xuất. Nhà quay phim quay tới đâu là ăn chắc cảnh quay tới đó, không phải hồi hộp chờ đợi đem nháp quay Nê từ bối cảnh xa về in tráng, nếu xước, hỏng thì mồ hôi tiền của suốt cả tuần lao động của đoàn làm phim ném xuống sông biển! Các nền Điện ảnh lớn thế giới cũng đã chuyển sang việc thực hiện sản xuất phim bằng công nghệ KTS từ khâu tiền kỳ hậu kỳ tới phát hành. Nhưng cũng có Hãng phim ở Mỹ, sau khi quay KTS xong, lại cho chuyển sang phim nhựa, bởi nhu cầu của nhiều khán giả vẫn yêu thích vẻ đẹp riêng không thay thế nổi của phim nhựa! Ở nước ta, bộ phim nhựa cuối cùng là của một Hãng phim X cách đây vài năm, sau khi sắm được máy ARI 4 hiện đại nhất thế giới về quay phim nhựa 35mm, chỉ quay một lần duy nhất rồi đưa vào Bảo tàng Điện ảnh! Các bộ phim nhựa (cả bản Nê) hiện chỉ có thể được lưu giữ tại Viện Lưu trữ Điện ảnh VN, còn cá nhân thì chắc chẳng có ai giữ làm gì! Bản thân bố phải lục lọi mãi mới tìm được một đoạn phim Pô của phim mình giữ làm kỷ niệm, và giới thiệu cho các sinh viên Điện ảnh – Truyền hình! Đoạn phim đó là phim thông dụng chiếu rạp 35mm, theo nguyên lý chạy 24 hình/ giây qua máy. Ngoài ra, còn có phim Nê và phim Pô 16 mm dành cho các nhà điện ảnh nghiệp dư. Hồi còn bé, bố may mắn được làm quen với mấy chục bộ phim nhựa Pô 8 mm cùng máy chiếu và màn ảnh – phần thưởng của một cuộc thi tranh vẽ thiếu nhi quốc tế tại Hunggari, chắc con chưa biết?”.
Sau khi hai bố con ra khỏi phòng chiếu bộ phim The Silence of Others (Sự im lặng của đồng loại), gần như là hai người cuối cùng vì cố nán cho hết chữ phim, anh thấy vài phóng viên báo chí đang phỏng vấn mấy khán giả. Có hai cậu phóng viên mang máy quay ập đến anh. “Chú, cho chúng cháu được hỏi về bộ phim được không ạ?”. Chợt một cậu sáng mắt lên khi nhận ra anh. “Ôi, thầy! Thầy vẫn đi xem đều đợt Liên hoan phim Châu Âu này chứ ạ?”.
Mai nhận ra cậu sinh viên đạo diễn từng đến nhà để bố hướng dẫn phim Tốt nghiệp, cô chào: “Em chào các anh!” Thế giới thiệu: “Mấy năm trước em tới, nó đang lớp 11, bây giờ đang chuẩn bị làm đồng nghiệp của các em đó!” Cậu sinh viên cũ hiện đang làm thuê cho một công ty truyền thông, mà công ty truyền thông này lại nhận “gia công” cho một Đài Truyền hình. Sau những mẩu trò chuyện, biết về một số thông tin thầy trò mấy năm qua, thấy cậu phóng viên cứ nằn nì đề nghị anh đứng trước ống kính, anh bảo: “Em tìm người khác mà phỏng vấn tiếp đi, bởi thầy mà nói về phim này, chắc chắn hình ảnh quay của em sẽ bị cắt đi nhiều đấy, thậm chí không được phát sóng đâu…”. Cậu ta phụng phịu: “Thôi, em phỏng vấn đủ rồi, nếu thầy không nói với khán giả truyền hình, thì nói với riêng em vậy ạ…”.
Thế nói luôn: “Vậy thì, thầy có một phỏng vấn nhỏ với phóng viên trẻ đây: Trong phim có nhiều nhân vật, nhiều sự kiện quanh các nạn nhân của chế độ độc tài Franco suốt 40 năm… Hơn một triệu người đã bị sát hại hoặc bị đày ải biệt xứ dưới chế độ ấy, trong đó nhiều nghệ sĩ, trí thức và nhà chính trị tiến bộ người Tây Ban Nha đòi tự do báo chí, tự do hội họp, cùng các thành quả của chế độ dân chủ mới hình thành luôn bị đe dọa bóp nghẹt, giết chết… Thế nhưng có một nhân vật không xuất hiện trên màn ảnh…”.
Cậu học trò cũ thông minh của anh đáp ngay: “Đó là các nhà làm phim thầy ạ… Lúc nhân vật bà già trên 80 tuổi khóc trước cái sọ của cha mình nằm trong hố chôn tập thể hàng chục năm vừa được đào lên, em cảm thấy có cả nước mắt của người quay phim…” – “Giỏi đấy! Thầy không rõ mấy năm qua em đã tích lũy được những gì, phát triển nghề nghiệp đến đâu, song chỉ thế thôi, thầy cũng hiểu là em đã trưởng thành, và có thể đi xa được…”
Trên đường về, anh nói với con gái: “Về bộ phim trên, bây giờ bố muốn nói thêm điều này, trước hết là cho bản thân bố, sau đó là cho con: Người nghệ sĩ, nếu sợ hãi trước tội ác, quay mặt bưng tai trước nỗi khốn khổ nhục nhã của đồng bào mình, thì cũng vô tình phạm tội ác, trở thành trợ thủ cho các chế độ độc tài sinh sôi nảy nở và tồn tại như một nỗi kinh hoàng trong cuộc sống cùng giấc mộng của loài người…”.
2.
Năm con gái bước vào tuổi mà một nhà văn người Nga bảo “Khi người ta mười chín tuổi người ta là bà hoàng” (A. Tolstoy) thì “Bà Hoàng” nhóc chẳng hiểu lôi ra từ đâu con búp bê mà bố mua cho từ 18 năm trước ngắm nghía rồi hỏi “Nó có giống con hồi ấy không hở bố?”…
Hôm ấy bố lang thang trong gian hàng thú bông và thấy hoang mang, không biết chọn cho con gái thứ đồ chơi đầu tiên nào đây? Thú bông hình thỏ, hình gấu, hình vịt, hình gấu, hình chú lùn… Chúng nhiều màu sắc, nhiều dáng vẻ, nhưng đều có chung một điểm giống nhau: đôi mắt to tròn, giống mắt con lần đầu tiên nhìn thế giới chào đón con; đôi mắt vô tư, trong trẻo, không vướng chút tham vọng và hận thù – cái tham vọng và hận thù đang thiêu đốt trẻ thơ, người vô tội, biến con người thành thú vật, biến tình yêu đồng loại thành đối tượng bị truy đuổi… Bố run người xúc động trước sự hồn nhiên câm lặng của những con thú bông và muốn đem cho con tất cả sự bình yên vĩnh cửu mà chúng chứa đựng trong khoảnh khắc hữu hạn giữa thế gian này…
Bố liền chọn một con búp bê chú lùn có đôi mắt giống con nhất, đôi mắt lần đầu nhìn thấy những người thân yêu đang ghé sát môi lên vầng trán con thơm lừng mùi sữa mẹ. Búp bê đầu tiên của con sẽ dẫn con vào thế giới của tình yêu thương…
Bố nhớ lại đôi dòng của mấy chục năm trước, khi đang là chàng “giáo khổ” Tây Bắc:
NĂM CON GÁI CHÚNG MÌNH MƯỜI CHÍN TUỔI
(Khi người ta mười chín tuổi, người ta là bà hoàng – A. Tolstoy)
Những năm tháng buồn, anh đi lang thang
Trên những nẻo đường rừng quanh co thăm thẳm
Nương lúa khô khan, cỏ tranh cháy xạm
Gốc ban già cô đơn trong nắng mưa
Những năm ấy anh đã viết cho con gái chúng ta
Năm con mười chín tuổi
Bằng tuổi em khi em đến với anh
Mối tình vụng dại chân thành
Của cô học trò phố huyện…
Những năm tháng mai sau khi buồn đau đã thành dĩ vãng
Anh sẽ nói với con những gì từng làm hồn anh nhức bỏng
Những cô bé cậu bé cởi trần da cháy như hun
Lớn lên như rừng hoang, cỏ dại
Chúng đang ngơ ngác nhìn anh
Bên một hủm suối
Còn anh, một người trai Hà Nội
Đứng nhìn chúng hoài, lòng rưng rưng…
Mộng lãng du đưa anh đi qua bao nẻo rừng,
Bao con suối, bao dòng sông, bao khoảng trời xa lạ
Đâu cũng là Đất Nước nghèo trong câu ca và rơm rạ
Lán nứa mái tranh che tạm nỗi cơ hàn
Những mái đình chùa cong trĩu nặng kiếp nhân gian
Những cơn đói của anh nối tiếp những cơn đói của ông cha hàng thế kỷ
Và nỗi buồn vui của anh có muối mặn gừng cay của bao đời thường không đếm xuể
Có những khi anh ngẩn ngơ trước một điệu dân ca đồng bằng
Giữa trưa nắng chói chang, trên vùng quê mới
Núi lại núi, mây giăng vời vợi
Giờ em ở đâu, sau núi và thời gian ?
Anh đã viết cho con gái chúng ta năm con mười chín tuổi
Bằng tuổi em khi em đến với anh
Mặc dù không biết đến khi nào con mới ra đời
Anh không hình dung nổi ra con
Song những gì anh yêu, anh buồn và mong mỏi
Sẽ in dấu trong tâm hồn con
Năm con mười chín tuổi…
“Khi người ta 19 tuổi, người ta là bà hoàng” – đó là một câu trong bộ tiểu thuyết sử thi “Con đường đau khổ” (A. Tolstoy) mà bố từng lấy làm đề từ cho bài cảm ngôn trên, từ những năm bố còn là một chàng trai mơ mộng lang thang trên những nẻo rừng Tây Bắc. Vài chục năm sau, vào lúc con đọc những dòng này của bố, khi con chuẩn bị bước vào năm thứ nhất đại học, cũng là lúc cả xã hội ta đang trong một cơn xáo động kinh hoàng với bao giá trị đảo lộn quay cuồng khiến những cô cậu sinh viên quen sống trong vòng tay gia đình che chở như con phải hoang mang, ngơ ngác, hoảng sợ…
Và bố cùng nhiều bậc phụ huynh lương thiện cũng phải hoang mang, ngơ ngác, hoảng sợ chẳng kém, bởi những tấm gương, những nguyên mẫu đời sống-lịch sử mà các con cần noi theo như các bậc nữ anh hùng Bà Trưng, Bà Triệu, Zoya… thời trước, Đặng Thùy Trâm, Dương Thị Xuân Quý, Phạm Thị Đoan Trang… thời nay đã bị chìm đi, bị nuốt chửng trước những “tấm gương” đen ngòm mà bố từng miêu tả trong bài viết Sắc đẹp và trái tim chứa đầy nọc độc (vanviet.info): những “mẫu hậu”, “nữ hoàng”, “hoa hậu”, “đại sứ văn hóa-tình yêu”, v.v. mang cái vỏ mỹ miều đã/ đang/ sẽ liên kết với những “thế lực đen”, “quyền lực nhóm” đủ mọi cấp đương góp phần tàn phá mọi giá trị nhân văn tốt đẹp mà bao thế hệ đã phải đổ máu xương để tạo ra và gìn giữ…
Khái niệm “Bà hoàng” bố mượn ở trên khác rất xa, đúng hơn là đối lập với cái mà người ta vẫn vỗ ngực rêu rao về tính chất “Quý tộc”, “Tinh hoa” của những kẻ ở tầng lớp thượng lưu thối nát, hư hỏng hiện nay đương tìm cách đục khoét ngân khố quốc gia, hút máu dân lành, chiếm dụng đất rừng để sống ngập ngụa xa hoa, để ngang nhiên hưởng thụ “những bữa ăn láo xược” (Lưu Trọng Lư) – kệ thây và trâng tráo giẫm đạp lên nỗi khổ đau đói nghèo đã tới tận đáy của đồng bào họ!
“Bà hoàng” mà bố nói đây chính là một Tư cách sống đàng hoàng, tử tế, khi con hiểu rõ về giá trị cùng trách nhiệm của bản thân mình trước Tổ quốc và Nhân dân – dù là một “Nhân dân” từng được nhà văn Vũ Thư Hiên khái quát: “Thế hệ chúng tôi bất hạnh: chúng tôi ra đời trong thân phận nô lệ, lớn lên trong khói lửa chiến tranh và trưởng thành trong nỗi sợ hãi các đồng chí” (hồi ký Đêm giữa ban ngày). Con sẽ là một “Bà hoàng” đáng tự hào như vậy, không phải để được tuyên dương trên báo chí, truyền hình mà để những “thế hệ bất hạnh” như các bác Nguyễn Hữu Đang, Trần Độ, Lê Đạt, Trần Dần, Vũ Thư Hiên, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Bùi Minh Quốc, Hoàng Hưng… cũng phải ấm lòng, được an ủi, và thêm tin rằng: cái Dân tộc khốn khổ đau thương này dù có bị cố tình hay vô tình đưa vào quỹ đạo hủy diệt, song vẫn có những thế hệ kế tiếp xứng đáng đương hàng ngày lặng lẽ vượt qua muôn trùng sự đểu cáng, lừa đảo, cướp bóc, tìm cách lấy lại danh dự Quốc gia lâu nay đã bị đánh mất một cách đau xót và oan uổng!
Và con sẽ là một “Bà hoàng” đúng nghĩa và cao quý nhất của khái niệm này một khi con mang được trong trái tim con Tình thương lớn của Dân tộc, cái Tình thương mà Đại thi hào Nguyễn Du đã mang cả cuộc đời vất vưởng “nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương” cùng “cuốn kinh của Tình thương” – kiệt tác Truyện Kiều của ông để minh chứng: “Thương thay cũng một kiếp người!”. Vậy đó con, nếu không có thứ Tình thương này, con người ta dẫu xinh đẹp lộng lẫy tựa tiên giáng trần cũng chỉ có thể thành một Bà Chúa Tuyết lạnh giá nguy hiểm, thù địch với đời sống! Nhưng để có được Tình thương ấy, trước hết con cần có lòng Dũng cảm. 15 năm trước, bằng quãng thời gian lưu lạc của nàng Kiều, bố đã viết cho con bài cảm ngôn: “Dũng cảm lên con”, nhắc lại con đoạn kết:
Dũng cảm lên con, để mai sau nếu có khóc bên thảm án Lệ Chi Viên, con còn có nụ cười sáng lệ trước ngọn đèn xanh hoà mưa đêm… Con sẽ cần tới lòng dũng cảm không chỉ để cõng nổi chiếc cặp sách quá tải trên lưng hay chịu đựng được ánh mắt của cô giáo khi chẳng chịu học thêm mà còn để có sức dùng được ngọn trúc của Ức Trai dò lòng suối tìm đến cánh rừng Mai nguyên thuỷ của Tình người…
Con cần đủ lòng dũng cảm để có thể hiểu thực chất hai chữ “đồng bào” chính là sự dâng hiến cao cả cho phần máu mủ ruột rà của con đang chịu bao khổ đau bất hạnh trong cuộc mưu sinh rủi ro và để biết căm giận những kẻ tham lam độc ác chà đạp lên đồng bào mình.
Lòng dũng cảm giúp con bớt nghĩ về bản thân để cảm thương cho số phận cô con gái bé bỏng bị bão cuốn trôi giữa khi người cha lấn biển gian nan và khi đó con đã vô tình mang tâm hồn của Đức Mẹ Maria hay Đức Quán Âm Tống Tử khiến bố nghiêng mình trước con đúng hơn là trước cái lý do bố tồn tại trên cõi đời này.
Lòng dũng cảm cũng chính là tình yêu của con trước mọi điều trong lành chỉ có trong thần thoại cổ tích giúp bố vượt qua cái thời buổi mà sự đểu giả đốn mạt thường không bị trừng trị nhưng lòng dũng cảm nhỏ bé của con sẽ là đốm lửa nhỏ góp vào đống lửa của Lương tri đang phẫn uất cần được thổi bùng.
Sau này nếu con hỏi: con tiếp tục lấy đâu ra lòng dũng cảm? Con có cả cuộc đời trước mặt cộng với nỗi buồn và sự phẫn nộ của bố trước những gì đểu cáng để tìm câu trả lời!
15 năm sau, bố lại lại chúc con Lòng Dũng cảm này, trong dịp Sinh nhật con vào tuổi làm “Bà hoàng”!
Đó cũng vào thời kỳ từng có hàng mấy tuần đỏ rực mạng xã hội những hình ảnh & bình luận về nhiều người trong một giới nhân sinh mà những nhan sắc diễm lệ, xinh đẹp như mộng chỉ là cái vỏ che đậy của phần nhân tính khiến thiên hạ thở dài ngán ngẩm, bố buộc nhớ tới thơ Nguyễn Du, và xót đau trước sự tương phản trớ trêu giữa “Sắc đẹp” và “Trái tim chứa đầy nọc độc” mà Cụ cảnh báo, lên án từ hai trăm năm trước! “Trái tim chứa đầy nọc độc” là ý trong một bài thơ vịnh sử của đại thi hào viết bên tượng sắt quỳ của đôi vợ chồng độc ác Tần Cối và Vương Thị tại đền thờ Nhạc Phi ở Giang Nam – Trung Quốc. Nguyễn Du đã dành cho mỗi đứa hai bài thơ tựa những nhát búa tạ giáng không thương tiếc xuống đầu sắt ô nhục của chúng, và đã khái quát bản chất thực của hai kẻ cả khi sống lẫn khi chết bị thiên hạ ngàn đời phỉ nhổ, bằng hai câu vào loại “đỉnh” của thơ chữ Hán Việt Nam: Nhất thể tử tâm hoài đại độc, Thiên niên sinh thiết phụ kỳ oan. Suốt đời trái tim chết của nó chứa đầy nọc độc. Nghìn năm cục sắt sống kia phải mang nỗi oan kỳ lạ! Khi sống, trái tim của nó mang đầy chất độc đã đành, nhưng chết đi, nó vẫn mang đầy chất độc đó trong trái tim chết (tử tâm). Cùng với chồng, sức mạnh của Vương Thị là sức mạnh phá hoại, thiêu hủy kết quả của lòng dũng cảm, sự hy sinh, hàng đống xương máu của những người ái quốc trung quân trong thời kỳ ấy, và ảnh hưởng của thị chắc cũng không phải là ít trong sự phá hoại luân thường đạo lý xã hội nhiều thời đại sau. Vì thế, thị cần được/ bị bêu để “làm gương” cho bọn nữ “loạn thần” trước công luận bằng bức tượng mộ ô nhục kia! Thị có tội lớn ngang với chồng mình trước lịch sử và sự phán xét của lương tri, nhưng chắc hẳn thị còn đáng trách hơn đối với Nguyễn Du bởi thị nằm trong cái giới nhân sinh mà bản thân ông bao giờ cũng trân trọng và dành cho những tình cảm thắm thiết trĩu nặng: Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung! (Truyện Kiều), Đau đớn thay phận đàn bà/ Hỡi ôi thân ấy biết là mấy thân! (Văn chiêu hồn)…
Sắc đẹp phụ nữ là vưu vật của thế gian, trời ban cho, văn học nghệ thuật Cổ – Kim Đông – Tây đã dành bao sự ngợi ca thấm thía tuyệt mỹ. Tuy Sắc đẹp cũng là nguyên nhân của bao cuộc chiến tranh, của sự đổ vỡ điêu tàn một quốc gia, song Sắc đẹp lý tưởng của phụ nữ mang trong sứ mệnh tồn tại của mình vẫn là cái đích mà nhân loại vươn tới… Bố nhớ nhà văn K. Pautovski có lần đứng trước những tranh, tượng khỏa thân nữ ở một Bảo tàng nghệ thuật và ông thốt lên trong nước mắt: Trời ơi, Con người ta vốn đẹp đẽ nhường kia, vậy mà sao ý nghĩ & hành động của họ trong đời lại xấu xa nhơ nhuốc đến thế!
Nhưng, góp phần làm nhơ nhuốc vẻ đẹp thần thánh kia cũng do chính không ít kẻ được may mắn mang Sắc đẹp trời ban! Bố nhớ đến những nhân vật nữ quý tộc xinh đẹp đài các song tâm hồn giá lạnh như bà chúa Tuyết và mang bao âm mưu rắn rết trong trái tim đồi trụy mà nhiều nhà văn Phương Tây và Nga từng miêu tả, khi được nghe, được chứng kiến hành xử của những Sắc đẹp Việt Nam thời kinh tế thị trường dị dạng này – những Sắc đẹp chứa nọc độc góp phần tàn phá lương tâm, nhân tính, cả tính mệnh của đồng bào họ!
Đồng tiền – không kể là Sạch hay Bẩn – và một cuộc sống vật chất lộng lẫy đã trở thành lý tưởng sống cao cả nhất đối với họ, thống trị tâm tư họ, và họ đã không từ bất kỳ thủ đoạn gì để có được thật nhiều tiền! Trước họ, bên trên họ, là những “tấm gương rực rỡ” luôn cổ vũ họ – những “Vương Phi”, Mẫu Hậu”, “Nữ Quý Tộc” đời mới nảy nòi từ hàng ngũ “Cha Mẹ Dân” cao chót vót hàng ngày đục khoét tài nguyên và ngân khố Quốc gia, vơ vét mồ hôi xương máu của hàng chục triệu dân lành! Họ đang sống trong những ngôi nhà dát vàng dát bạc mà tâm hồn đen kịt như địa phủ, trái tim đã chứa đầy nọc độc chết người như mụ Vương Thị xưa, sắc đẹp của họ trở thành biểu tượng cho nỗi sợ hãi của người lương thiện, sự đáng căm ghét, đáng khinh bỉ cho cả thế gian!
Buồn quá, đau quá con ơi!
Lục lại các tập nhật ký cũ, bố bắt đầu viết tập tùy bút Bà Hoàng Nhóc dành riêng cho con đây.
3.
Con gái hồ hởi báo tin đã trúng tuyển vào Khoa Biên kịch điện ảnh… Bố vui, sau đó lặng đi cả giờ nhớ lại những năm tháng long đong vào Nam ra Bắc tìm đường làm phim, trong tiếng bánh sắt ầm ào của con tàu Thống Nhất… Nhớ những ngày “Đói Rách vĩ đại”, các ông “Chủ” Hãng phim Nhà nước tìm mọi cách “tẩy chay” bố chẳng biết vì lý do gì, bố thân cô thế cô, nợ nần ngập đầu, hạnh phúc gia đình tan nát, sự nghiệp dang dở, vậy mà bất hạnh thay, tình yêu Điện ảnh không nguội lạnh phút nào!…
Nhớ ngày bố lang thang gần khắp thành phố Huế với chiếc máy quay, bố gặp mấy đứa trẻ nước ngoài đi theo bố mẹ thăm quan các Lăng vua, đồi thông, hồ nước… Những khung cảnh tuyệt vời thi vị và tĩnh lặng làm bố thêm nhớ đến con và thầm hứa sẽ đưa con tới thăm những địa danh nổi tiếng của Huế: Lăng Tự Đức, Chùa Từ Hiếu, Chùa Thiên Mụ, Hồ Tĩnh Tâm, v.v. Lúc đó, chắc chắn bố chỉ đơn thuần là khách du lịch, không còn phải dán mắt vào vi-zơ máy quay và chạy đến chồn chân tìm cảnh đẹp cho ống kính – như suốt bao năm qua bố đã phải làm ở những khu du lịch Đà Lạt, Sapa, Huế, Quảng Ninh, v.v. khi không được làm phim truyện… Bố nhớ lần bước chân lên một Giáo đường bỗng dưng sống lại với trường đoạn cuối của một bộ phim đen trắng do bà nội con dẫn đi xem, bởi liên tưởng tới cảnh ngộ mình: đó là phim Bản giao hưởng dang dở (La symphony inachevée) kể về cuộc đời nhạc sĩ thiên tài Áo Franz Schubert. Sau khi cô người yêu buộc phải ngậm ngùi chia tay với Schubert vì gia đình phản đối quyết liệt, cô nói trong nước mắt: “Đừng buồn anh ạ, bởi một người như anh có cái mà những người khác không có, đó là sự bất tử…” Lời động viên đó hẳn không thể làm vợi nỗi buồn của chàng nhạc sĩ nghèo, anh ngơ ngác đi lang thang trên con đường đất chìm ngập trong biển lúa mỳ. Ngay sau đó, chồng hình chuyển cảnh sang người nhạc sĩ bước từng bước lên bậc thang Nhà thờ, và Bản giao hưởng dang dở nổi tiếng bắt đầu dâng lên, cùng với những dòng chữ phim cuối xuất hiện cho đến khi hết bản nhạc…
4.
Cũng vào năm này, có một sự kiện khá chấn động đối với con gái Thế, và cả với anh… Hôm ấy, Thế dắt xe vào cổng, đập ngay vào mắt anh là một bộ nâu sồng trong phòng khách. Không lẽ là vị Đại đức yêu văn chương – điện ảnh kết nối FB với anh mấy tháng trước đã tìm đến, sau khi anh cho địa chỉ nhà riêng?
“Bố! Mẹ Thơm đã về!” Con gái Thế reo lên hồ hởi khi thấy anh bước vào. Nó nói với mẹ: “Mẹ đừng nói, xem bố có nhớ mẹ Thơm của con không?”. Thế thoáng ngỡ ngàng trước vị ni sư vẻ tiều tụy, rồi nhận ra ngay cô hàng xóm của mình gần 10 năm trước…
“Chào bác! Bác còn nhận ra tôi chứ?” Ngày trước, cô xưng “Anh – Em” thân mật với anh, còn bây giờ, cô đã ở một thế giới khác, nên xưng hô vậy là phải lẽ, song anh vẫn thấy là lạ. “Chúc mừng hai bác nhé, bé Mai đã là sinh viên rồi! Mừng lắm ạ…”. Trước đây, cô sẽ bộc lộ niềm vui đó bằng nụ cười lẽn bẽn cơ. “Cám ơn ni sư” – “Không, em vẫn còn là ni cô, chưa được thành ni sư”. Cô dần trở lại cách xưng hô xưa kia. Rồi sau vài câu chào hỏi xã giao nữa, Thế lên gác làm việc, để hai mẹ con tiếp tục trò chuyện với khách.
Nhưng đọc chưa hết một trang cuốn sách đang đọc dở, mái đầu cạo trọc đã lấm tấm xanh sau một đoạn đường dài và cặp mắt buồn khó tả không giấu nổi của ni cô chợt khuấy động tâm tư anh…
Thơm từng làm dâu một gia đình cách nhà anh vài bước chân. Đó là một cô gái quê vùng chiêm trũng Sơn Nam Hạ nhỏ nhắn, rụt rè, tự ti, khi nói chuyện với bất kỳ ai đều không dám nhìn thẳng mặt. Tính khí đó lại bị nhấn chìm đi giữa một gia đình toàn kẻ ăn to nói lớn, và có chí “làm ăn nhớn” – từ chồng, bố chồng, mẹ chồng, chị chồng. Dĩ nhiên, chẳng cần tìm hiểu kỹ, Thế cũng hiểu cái chí “làm ăn nhớn” của những người ít học nhưng ham giàu xổi đó là gì, và họ đã thực thi cái “chí” đó ra sao. Kết cục: chị chồng bị bóc lịch ba năm vì tổ chức gái bán dâm trong khu nhà trọ gia đình; bố chồng thổ huyết mà chết sau một vụ cá cược bị thua đậm; chồng thì treo cổ tự tử ngay trong nhà bởi dốc vốn liếng vào một vụ buôn lậu từ biên giới đã đổ bể trắng tay, trốn nợ không xong, nghề nghiệp chỉ có mỗi món chữa khóa học lỏm nhưng khách trong ngõ tẩy chay sau một lần chữa khóa cho nhà người ta bằng cách dùng búa đập khóa… Mấy năm làm dâu, nhiều lần Thơm đã trốn sang nhà anh, kể lể tâm sự, và khóc với vợ anh. Từ khi nhà chồng dựng một cái gian hàng nhỏ bán tạp hóa, Thơm được làm chủ quán, song hàng ngày phải kê khai trình báo cho sự quản lý sít sao của mẹ chồng, tỷ mỷ tới từng nghìn bạc lẻ. Thỉnh thoảng Thơm có một khoản tiền tiết kiệm nho nhỏ, liền bí mật đem sang cho vợ anh cất giữ hộ, phòng bố chồng hay chồng lục lấy mất ném vào các cuộc đỏ đen và rượu chè – vợ tôi kể lại thế… Khi bố chồng Thơm mất, chưa hết 49 ngày, bà mẹ chồng đã ngang nhiên đưa “bồ rách” về nhà, đóng cửa hú hí với nhau dường không hề trong nhà có cô “con dâu vô vị, nhạt như nước ốc” như bà vẫn bô bô tuyên bố vậy với hàng xóm…
Sau nửa năm Thơm bỏ đi, bà chị chồng cùng hai tên đầu gấu đã lần mò tìm đến ngôi chùa náu thân của Thơm, buộc Thơm phải ký vào tờ giấy bán ngôi nhà mà Thơm có đăng ký hộ khẩu. Sau đó Thơm không được người ta chia cho một xu cắc bố thí nào, và được trả công cho mười năm làm người hầu gái chăm chỉ bằng lời đe dọa: cấm không được đòi hỏi, kiện cáo gì cả, nếu muốn được yên thân chốn Thiền môn!
Thế chợt nhớ ba năm trước, Thơm có được về thăm quê, dịp đó đã lên Hà Nội, vào thăm nhà anh. Khi đi công tác xa về, anh có nghe Mai đang học lớp 10 kể lại vắn tắt, và nhờ anh đánh vi tính một bài văn chuẩn bị nộp cho lớp, đề tài “Gia đình”. Nó đã viết về người nó gọi là “mẹ nuôi” như sau, dù hơi ngây ngô vụng dại song lại nói hộ được vợ chồng anh rất nhiều, bài này anh chỉ sửa giúp đôi chút về chính tả để nộp:
Cuộc đời mỗi người đều có những con người, những sự kiện in dấu sâu đậm trong tâm trí suốt nhiều năm tháng… Đối với tôi, đó là câu chuyện về một người hàng xóm thân thiết của gia đình tôi… Giờ đây cô đã là “Ni cô”, nhưng tôi vẫn gọi cô là “mẹ” như trước đây…
Trong trí nhớ của tôi, “mẹ” từng là một người phụ nữ bộc trực nhưng cũng đầy vô tư của tuổi trẻ. Nhưng có lẽ do lúc đó tôi còn quá nhỏ để hiểu rõ được nội tâm của lòng “mẹ”. Ai mà biết được trong “mẹ” là một tâm hồn mong manh, yếu đuối, cần được chở che? Và trách sao được cái tâm tính thơ ngây của một đứa bé con, tôi chỉ muốn chạy thật nhanh tới cái gian hàng xén nhỏ của “mẹ” để vui chơi thỏa thích? “Mẹ” luôn tìm cách đem tới cho tôi những tiếng cười thật sảng khoái, “mẹ” thích ôm tôi vào lòng và rúc vào cái bụng bé xinh của tôi mà nói: “ Con đáng yêu quá, Quyên ơi”. Khao khát được làm mẹ, mong ước được ôm đứa con mà chính mình mang nặng đẻ đau 9 tháng 10 ngày lúc ấy đang trào dâng trong lòng “mẹ”. Nhưng thiên chức làm mẹ thiêng liêng không bao giờ đến được với “mẹ”, bởi chồng “mẹ” mắc cái bệnh xã hội nguy hiểm do chơi bời trác táng – như người lớn nói thế…
Làm dâu, làm vợ, sống với những con người vị kỷ chỉ biết đặt đồng tiền lên tất thảy, những kẻ mà lòng ham muốn vật chất làm mờ mịt lương tri, cuộc đời “mẹ” đã rơi vào bế tắc, không lối thoát. Bản thân tôi lúc ấy, dù mới là một đứa trẻ lên 6, cũng đã cảm nhận được phần nào sự vô tâm của người chồng và sự nghiệt ngã của mẹ chồng đối với “mẹ”. Ấy vậy mà tôi vẫn thấy sự nhẫn nại và hết lòng yêu thương với chú Cường – người chồng mà “mẹ” coi là tất cả. Thế rồi chuỗi ngày xót xa ấy đã kết thúc với sự ra đi đau đớn, giống như cái kim đâm sâu vào trái tim “mẹ“. Và “mẹ” quyết định tìm đến nơi cửa Phật, sống một cuộc sống khép kín và chuyên tâm cho việc tu hành, cầu nguyện…
Ngày “mẹ” đi, bây giờ hồi tưởng lại, bao phủ lòng tôi lúc ấy là sự tiếc nuối, buồn bã. Tôi vẫn còn nhờ hình ảnh cuối về “mẹ”: loay hoay gửi cho mẹ của tôi giữ hộ số tiền nhỏ nhặn còn lại mà “mẹ” tiết kiệm trong mấy năm qua, những đồng tiền lẻ nhàu nát như nhiều lần “mẹ” đã gửi mẹ tôi, và gửi lời chào tới gia đình tôi trước khi bước vào con đường mà “mẹ” đã chọn. “Mẹ” đi, một số người hàng xóm đã khóc, họ thương cho số phận bấp bênh của “mẹ”. Lúc ấy lòng tôi rối bời nên tôi không thể nói được với “mẹ” những lời yêu thương, nhắn nhủ nào cả.
Sau này khi thời gian trôi dần đi, khi tình cảm cùng những kí ức tuổi ấu thơ bên “mẹ” dần phai nhòa, lúc “mẹ” trở về thăm nơi cũ, tôi chợt mừng vui khôn tả… “Mẹ” của tôi dường như bao lâu nay phải kìm nén cảm xúc, đã để nước mắt cứ tuôn rơi. Tôi sững sờ, một xúc cảm thực khó tả. Lẽ ra, khi gặp lại người mình thương yêu, phải chạy tới ôm họ và giãy bày tâm trạng của mình. Nhưng một cái gì níu lại, tôi không còn như cô bé của ngày xưa nữa. Tôi và “mẹ” nhìn thấy nhau mà như có sự xa cách. “Mẹ” dường như trầm tĩnh hơn, tôi không còn thấy nụ cười tươi tắn trên môi như ngày nào. Phải chăng vì bão tố cuộc đời đã khiến “mẹ” không còn sợ hãi khi đối diện với những thế lực độc ác?…
Và tôi luôn mong muốn rằng có một ngày nào đó tôi có thể một lần nữa được ôm “mẹ” và nói hai tiếng “mẹ ơi” trìu mến và thân thương nhất dành cho “mẹ”…Mẹ” à, cảm ơn “mẹ” vì đã vun đắp trong cuộc đời con những kí ức của một thời tuổi thơ đáng nhớ. Dù sau này cuộc sống “mẹ” bế tắc, “mẹ” hãy về đây với con, với gia đình của con “mẹ” nhé, con sẽ luôn ở bên “mẹ”, “mẹ” ơi!”.
Thế đã nhớ lại những mẩu đời chẳng có gì vui về người đàn bà hàng xóm ấy trong sự dẫn dắt bởi những cảm xúc vụng dại chân thành của tuổi vị thành niên. Anh thầm cảm ơn Thơm đã để lại cho tuổi thơ của con gái anh những điều dịu ngọt của tình thương, của sự quan tâm săn sóc giữa con người với con người – dù là dịu ngọt trong cay đắng. Nhưng nếu anh biết được, trong đêm đó ni cô đã kể lại cho con anh những gì đã diễn ra với cô trong ba năm qua, anh sẽ bảo vợ mời cô ra nhà nghỉ đầu ngõ, một cách lịch sự, để con bé sinh viên trường Đại học khoa học xã hội & nhân văn năm nhất khỏi sớm đau lòng thất vọng về cái cuộc đời đang mở ra trước nó, với bao mộng ước và hy vọng tươi đẹp…
Đây là tóm tắt những gì mà ni cô đã tâm sự với sinh viên năm nhất, khiến mắt nó đỏ hoe vào sáng hôm sau:
Sau khi xuống tóc, Thơm được mang pháp danh Tuệ Minh tại một ngôi chùa quê. Mấy năm sau, cô lọt vào “mắt xanh” của một vị cao tăng, và được ưu tiên “tuyển chọn” vào một ngôi chùa lớn mà dư âm của các đại tiệc ăn mừng chúc tụng Lễ khánh thành – khánh an ngôi đại tự kiêm khu du lịch văn hóa Tâm linh khủng sẽ còn làm mê mẩn các sư sãi, Phật tử toàn vùng nhiều năm tháng sau nữa… Chẳng hiểu là may hoặc không may, cái pháp danh mới kia đã vận vào số phận ni cô, Thơm nhanh chóng thấy lạc lõng giữa môi trường mà cô nghĩ là Thiền lặng, Thanh cao này. Bởi hàng ngày cô được chứng kiến không ít vị đại sư cô hằng ngưỡng vọng chỉ hăng hái, mê mải bàn cách kiếm thật nhiều tiền từ khách thập phương và các Phật tử nghèo trong vùng, bằng đủ các kiểu cách tên kêu như chuông mõ: “Dâng sao giải hạn”, “Cúng sao La Hầu”, “Cúng Âm hồn”, “Cúng oan gia trái chủ”, “Thỉnh vong giải oán”, “Cúng dường qua bát vàng”, v,v, thậm chí bằng các lễ Lên đồng vài chục giá mấy trăm triệu đồng ở ngay giữa chùa… Những từ ngữ của dân buôn bán, cờ bạc mà cô từng quen thời làm vợ, giờ được nghe lại, với mật độ dày đặc từ miệng những người cô trọng vọng tôn kính làm sư phụ – như: “Không khéo lỗ chổng vó”, “Lãi to rồi”, “Lãi nhảy cẫng lên được”, “Tao sẽ khiến cho nó phải mạt vận”, “Kiện cho nó chết sặc tiết đi”, “Lên tới chức ấy rồi mà còn tham như chó”… Những lời khuyên của Đạo Phật đối với người tu hành về tinh thần Lục hòa (6 điều hòa hợp) mà ni cô được thuyết pháp, như Thân hòa đồng trụ, Giới hòa đồng tu, Khẩu hòa vô tranh, Ý hòa đồng duyệt, Kiến hoà đồng giải, Lợi hòa đồng quân, thì cô tận mắt tận tai thấy nhiều đồng đạo và không ít bậc được gọi là “chân tu” đã ngang nhiên giẫm đạp lên mà không hề thấy ăn ăn, xấu hổ. Hàng ngày – nhất là vào dịp Rằm, các ngày Lễ Phật, nhìn những đám đông chen chúc, giẫm đạp lên nhau len vào chùa với những lời niệm cầu thực dụng chướng tai và thô bỉ trên những khuôn mặt thành kính, đờ đẫn, ni cô đã nhiều lần thấy buồn nôn. Cô ngày một chán nản với Kinh Kệ, với các Phật sự; còn các nhà lãnh đạo Khu Tâm linh trong đó có trụ trì chùa đã lợi dụng sự xinh đẹp và thon thả của cô, thường xuyên dụ khéo cô vào làm vai Tiên nữ trong các hoạt cảnh mô phỏng truyện thần bí huyền ảo có khói tạo mây thiên cảnh hoặc địa ngục nhằm lôi kéo ngày một đông dân chúng lắm tiền, rỗi việc đến chùa để thưởng lãm và móc túi để cầu Phật. Cũng có đôi lần, ni cô bị dụ vào một phòng kín để người ta dở trò đồi bại, song cô đều khéo léo viện cớ gặp ngày “mình bẩn” từ chối được. Nhưng cô lo lắng: không biết mình sẽ có thể tiếp tục từ chối được nữa hay không? Dù cô chưa hết “mùi trần”, song khi đã quyết lánh xa bụi đời, cô càng cảm thấy ghê sợ cái chuyện tục tĩu mà mẹ chồng cô đã làm, nhất là tại nơi vẫn được coi là linh thiêng…
Thế là cô gái hàng xóm năm nào của anh, bà quả phụ mà con gái anh âu yếm gọi là “Mẹ nuôi” quyết trở thành ni cô rồi ni sư để thoát khỏi một tầng địa ngục này để rơi vào một tầng địa ngục khác, sâu hơn, dữ dằn hơn, dĩ nhiên là nhiều quỷ sứ hơn! Thế thực lòng không muốn con gái anh buổi đầu đời được biết những chuyện như thế này. Nhưng nó đã trót biết, và kể lại cho anh nghe chi tiết với sự đồng cảm đặc biệt mà chỉ giới phụ nữ với nhau mới có được… Và anh chỉ còn biết hy vọng rằng, ba năm nữa, khi “mẹ nuôi” con gái anh trở về thăm nơi cũ, nó sẽ được nghe kể những câu chuyện đỡ buồn thảm hơn, phấn khích hơn, của hành trình “vượt địa ngục” của vị ni sư bất đắc dĩ. Anh sẽ gợi ý nó viết bài luận văn có tên ”Một ni sư hạnh phúc” – mặc dù điều này vi phạm một “luật vàng” của điện ảnh mà một nhà lý luận biên kịch Mỹ từng bảo: “Không ai mua vé vào xem bộ phim có tên Cả nhà hạnh phúc”; song vì nó chưa bước vào con đường văn chương – điện ảnh thương mại nên cần nuôi dưỡng cảm hứng “lãng mạn”, duy trì tâm hồn mơ mộng để ít nhất an ủi được cho người “mẹ nuôi” đáng thương của nó…
Con gái à, qua Tết lục tìm tư liệu, tình cờ bố tìm lại được tấm hình về tượng bé gái Ukraine gầy gò ôm bông lúa giữa một quảng trường – cô bé bằng tuổi em gái con, bố chợt nhớ đến tâm trạng của một nhà văn người Hung trong cuốn sách đau buồn của ông: Kinh cầu nguyện Kaddis cho một đứa trẻ không ra đời[111], và hiểu vì sao người từng trải qua địa ngục trần gian Auschwitz khủng khiếp đã quyết định không sinh con, bởi ông thấy rõ rằng ông không có quyền trao tương lai, trao số phận Do Thái cho đứa con chưa ra đời của vợ chồng mình trong một hoàn cảnh phi nhân tính, của xã hội toàn trị phát-xít… Cái hoàn cảnh đó đã lặp lại hôm nay ở nhiều nơi trên trái đất, và khiến không ít người làm cha mẹ ở góc trời Đông Âu khói lửa kia chắc đang trải qua tâm trạng đau đớn của Kertész Imre khi phải thốt lên từ “Không” – quyết định vô sinh đầy tuyệt vọng. Ông nhà văn được trao giải Nobel văn chương năm 2002 đã viết cuốn sách trên với thôi thúc nội tâm: “tôi không viết để tìm niềm vui, trái lại tôi viết để tìm nỗi đau đớn… có lẽ vì đau đớn là sự thật”. Khi con bước vào Đại học, đây là một trong những cuốn sách con cần đọc. Con sẽ cảm thông hơn cho số phận “mẹ Thơm” của con.
5.
Ba câu chuyện nghề Thế dành cho con gái:
I. Quanh sự kiện “Chiếc xe nôi Ukraine” bố nói hôm nọ, là câu chuyện giữa bố và một sinh viên đạo diễn cũ, giờ là phó giám đốc Đài Phát thanh – Truyền hình một tỉnh miền núi, “hạ sơn” về Thủ đô – con cũng biết anh ấy trong một lần đến nhà mình để bố hướng dẫn làm phim Tốt nghiệp, và con cũng tham góp vào cuộc trò chuyện này (dù chỉ bằng ánh mắt mở to và cái gật đầu tán thưởng). Giờ bố miêu tả lại, như kiểu xi-nê mồm quen thuộc của bố: Quanh quẩn một lúc những chuyện chỉ thầy trò mới biết, lại nhảy ngay sang chuyện nóng chiến sự Nga – Ukraine. Bố nói vui: “Chẳng mấy khi bản Đài “xuất tướng”, em vốn là một đạo diễn – phóng viên giỏi, hành nghề đi thôi, thầy có sẵn máy quay và mic chuyên dụng đây!”. Chẳng ngờ anh ấy hào hứng: “Hay quá thầy, em cũng đang muốn thực hiện một phóng sự về dư luận – phản ứng của dân ta về cuộc chiến này cho khán giả miền núi… Thầy sẽ là nhân vật đầu tiên của chúng em! Đồ nghề lúc nào em cũng mang theo!”. Bố biết mình đã trót dại, song chẳng còn cách nào khác, đành chỉnh sửa qua loa cổ áo nhàu nát sau những ngày nằm bẹp đọc sách và gõ kịch bản – trong khi cậu ta xăng xái chuẩn bị…
Bố bảo: “Nhưng này em, có những vấn đề nhạy cảm lắm, lại liên quan tới “nhóm lợi ích chính trị” trong cách nhìn nhận về Nga và Ukraine. Hôm trước, thầy chỉ mới đưa lên hình ảnh bé gái Nga chắp tay khóc như cầu xin các vị “đầu têu” chiến tranh, cùng mấy lời cảm ngôn, thế mà đã có những lời hằn học, chửi rủa cay độc… Nhưng thôi, thầy trò ta hẵng tạm quên cái đám đông “cuồng Pu” và cả cái ông Tổng thống “cuồng chiến tranh” kia, để trò chuyện về nghề nghiệp cho vui. Mà vẫn không xa rời thời sự, như chức năng nhiệm vụ của các Đài địa phương và Đài Trung ương. Như thế, thầy và em sẽ đỡ bị “ném đá” thảm khốc, thầy đỡ bị vu là “nhà thơ nhà thẩn”, còn công sức lao động của em sẽ dễ được duyệt để phát sóng… Ví dụ, lấy cái hình ảnh này làm chi tiết trung tâm: những chiếc xe nôi tại nhà ga của những bà mẹ trẻ ở Ba Lan để sẵn dành cho phụ nữ trẻ tị nạn có con nhỏ từ Ukraine tới…”
NGƯỜI PHỎNG VẤN:
Tuyệt lắm thầy! Trên một trang Web mới đưa bài báo của nguyên Tổng Biên tập báo Quốc Tế phàn nàn: “Nga đánh vào Ukraine mà nhóm phóng viên truyền hình của ta đang thường trú tại Moscow lại không hề có một thông tin nào đặc biệt “tại chỗ” cả. Có chăng là cứ ngày vài lần một chị phóng viên hiện hình, với sự xào xáo tin tức từ các bản tin quốc tế của nước khác…” Nếu là em… với tư cách là phóng viên mặt trận…
NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN (Ngắt lời):
Nếu là tôi, tôi cũng vứt máy quay và bút để cầm lấy khẩu súng cùng đàn ông đàn bà Ukraine bảo vệ đất nước của họ…
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Ôi, máu thế, thầy! Nhưng khi chưa tìm được súng, và chưa được người có trách nhiệm quân sự đồng ý, với máy quay trong tay cũng là một thứ vũ khí, em sẽ ghi lại thật nhiều hình ảnh về sự ngoan cường của người dân – cả trẻ em nữa, trong việc ngăn chặn những bước chân xâm lược…
NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN
Thế nhà báo – đạo diễn trẻ quên mất quy ước giữa chúng ta là chỉ xoay quanh những chiếc xe nôi à? Cũng lỗi tại tôi trước…
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Em bỗng nhớ tới bộ phim kinh điển Chiến hạm Potemkin mà thầy bắt chúng em phải xem học tập ở năm đầu, có cảnh người mẹ trẻ bị đạn bắn trúng bụng, chị ta ngã xuống và sau đó chiếc xe nôi có một em bé liền tự lăn xuống các bậc đá của Cung điện, qua các xác người cùng những bước chân lính Sa hoàng giẫm lên xác người…
NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN
Được đấy, liên tưởng khá hay, và nhất là nhắc khéo người ta sự trùng hợp giữa Sa hoàng xưa với Sa hoàng nay… Nhưng một đằng là biểu tượng của sự chà đạp – bỏ rơi quyền sống của trẻ thơ, một đằng lại là biểu tượng của tình hữu ái giữa Con người hiện đang mất dần đi trong thế giới bạo tàn này… Nếu cảnh những con sư tử đá trong phim Chiến hạm Potemkin như chồm lên được dựng theo lối montage độc đáo của Eisenstein, thì cảnh chiếc xe nôi đơn độc trôi đi, nhảy xuống từng bậc đá là cảnh thực – có điều, nó đã được phát hiện bởi một trái tim nghệ sĩ lớn, và được miêu tả không phải bằng ống kính khách quan lạnh lùng… Và thầy hy vọng là em sẽ liên tưởng tới cả những điểm sửa xe miễn phí, điểm nấu hàng trăm suất ăn, những chốt phát tiền cho bà con về quê trong cuộc tháo chạy khỏi Sài Gòn trong đại dịch năm ngoái…
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Thú thực, em tới thăm thầy lần này một phần cũng bởi đọc được một stt. của thầy hôm trước viết về những Tấm lòng nhân hậu Ba Lan: “Đó là Đất nước của nhạc sĩ thiên tài F. Chopin, của nhà thơ vĩ đại Adam Mickiewicz, của văn hào đoạt giải Nobel Henryk Sienkiewicz… Đất nước từng bị bọn phát xít đày đọa, dựng lên bao trại tập trung rùng rợn, lò thiêu người, đất nước đã cùng các binh đoàn Hồng quân Xô Viết sát cánh tiêu diệt từng tên lính dã thú đeo thập ngoặc… Lòng Nhân hậu Ba Lan được nhân lên trong những cơn “Đại hồng thủy” – như tên một tác phẩm của Sienkiewicz, duy trì cho tới hôm nay, để vô tư, hết lòng cưu mang người dân lành của nước bạn đang lâm nguy… Tôi đã chảy nước mắt xúc động, và bởi niềm vui nữa, trước lòng Nhân hậu cao cả của người dân Ba Lan – trong một thời đại sắt máu, trống vắng tình người, khi mà tham vọng của những kẻ độc tài đang là mối đe dọa khủng khiếp của Hòa Bình”. Và hôm nay lại nghe thầy nói về những chiếc xe nôi Ba Lan cụ thể dành cho các bà mẹ trẻ Ukraine chạy nạn…
NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN
Hiện tại, thầy chỉ là dân làm phim viết báo tự do, đã ở “Dưới đáy” (tên một tác phẩm của M.Gorki) của giới báo chí – nghệ thuật, còn em dù là lãnh đạo của một Đài thì cũng chỉ là tỉnh lẻ; và tiếng nói của báo chí – nghệ thuật nói chung ở nước ta xét cho cùng chỉ là tiếng nói cần phải được “định hướng cho mục tiêu chính trị”, vì vậy em đừng có tham vọng gì quá sức mà để thất vọng… Có điều, chúng ta có một thứ “vũ khí” riêng, đó là sức mạnh của hình tượng nghệ thuật để nói về nỗi khổ đau chất chồng và nghị lực sống phi thường của dân tộc mình. Hơn thế, các vị lãnh đạo lớn của ta chẳng đã khuyến khích nhà văn ta phấn đấu đoạt giải Nobel trong văn học (và dĩ nhiên là cả giải Oscar hay Canne trong điện ảnh) là gì! Các ông ấy có lý đấy, bởi bao lâu nay cứ tự hào chiến thắng hết giặc này đến giặc nọ (kể cả thắng “thế lực thù địch” tưởng tượng), đâm ra cũng hơi bẽ bàng, bởi trên bản đồ Văn học – Điện ảnh – Văn hóa thế giới chẳng thấy Việt Nam đâu cả – ngoài mấy cái đồ mây tre đan, thổ cẩm trong vài cuộc triển lãm vội vàng của các Đại sứ quán nhằm báo cáo thành tích…
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Vâng, em hiểu… Nhưng liên quan gì tới câu chuyện “Những chiếc xe nôi Ba Lan” kia ạ?
NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN
Có đấy em! Nếu một nhà sản xuất phim kiểu “Ông hoàng Hollywood” (tên tác phẩm của F. Scott Fitzgerald) xuất hiện, họ sẽ đưa tấm hình “Những chiếc xe nôi Ba Lan” đang chờ đợi người tới nhận kia như một ý tưởng hay (không phải mua bản quyền) cho các nhà biên kịch & đạo diễn phù hợp để hình thành kịch bản điện ảnh, rồi làm thành phim ăn khách. Cái chất ăn khách của họ thực ra gắn chặt với giá trị nhân bản toàn cầu và tâm lý mong đợi ở khán giả Mỹ và khán giả khắp thế giới… Trong lúc chưa có một nhà sản xuất như vậy (ở Việt Nam ta thì chẳng biết bao giờ có), thầy thử “đặt hàng” em và Đài bên em, sẽ hay hơn đứt tất cả những phim điện ảnh & Truyền hình nước ta đã “ăn theo” kịch bản nước ngoài một cách sống sượng và đáng xấu hổ:
Bối cảnh nhà ga vắng tanh. Bảy chiếc xe nôi như Bảy võ sĩ đạo (phim Nhật). 7 người mẹ trẻ Ba Lan, 5 người không hề quen biết nhau, không hẹn mà cùng tới nhà ga chưa có chiến sự nọ – nơi họ đoán chắc sẽ có những người mẹ Ukraine ôm con tới đây để chạy qua biên giới. Trong số đó, có đến 4 người là cháu của các cựu binh đã hy sinh trong tận chiến chống phát xít, họ thấm hiểu nỗi khổ chiến tranh qua bố mẹ, ông bà. Có hai cô, sau khi để lại xe nôi, đã gửi con mình cho bạn gái mới quen, để ra trận cùng chồng chống xâm lược… Rồi những người mẹ trẻ Ukr. ôm con chạy tới đây, mỗi người một số phận, và đã thể hiện sự xúc động, lòng biết ơn của từng người với những chủ chiếc xe nôi không gặp mặt kia ra sao… Một tình tiết này khá thú vị: số người mẹ trẻ Ukr. có con nhỏ là những 10 người, trong đó chỉ có 7 chiếc xe nôi. Sự nhường nhịn tất yếu của họ, nhường nhịn một cách tinh tế, không ra vẻ đàn chị, cũng là một bài ca của lòng nhân hậu – tiếp nối sự nhân hậu của những bà mẹ trẻ Ba Lan…
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Thực quá hóc đối với em, và với Đài tỉnh lẻ của em. Chắc ngay cả Đài TW cũng khó mà thực hiện nổi… Nhưng em cũng cám ơn thầy…
NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN
Thực ra thầy trò ta phải cám ơn những người dân Ukr. đang đổ máu cho không phải chỉ Đất đai, Tổ quốc của họ, mà còn cho cả nhân loại yêu Hòa Bình… Và Những chiếc xe nôi này không chỉ là một gợi ý đề tài cho những người làm phim, mà còn là lời kêu gọi hữu ích đối với những người tâm hồn đã bắt đầu nguội lạnh với số phận Con người…
Khi trái tim nguội lạnh, nhỡn tiền là sự xuất hiện HỘI CHỨNG SÚC SINH đó, con gái ạ!
II. Đây là cuộc trò chuyện của bố với một đạo diễn trẻ chuẩn bị làm phim về hành giả Minh Thành:
Giữa lúc bố vất vả leo núi cùng cán bộ xã Mùn Chung, huyện Tuần Giáo tìm một hang của quần thể hang động Mùn Chung để xác định bối cảnh quay, đồng thời giúp bà con vùng Thái này xây dựng địa chỉ du lịch mới; sau khi vấp ngã suýt văng máy quay và người xuống chân núi, đang phải xé tất để tạm “băng bó” giày dã chiến đã bật tung đế, thì cậu sinh viên cũ hiện là Phó giám đốc một Đài Phát thanh & Truyền hình tỉnh gọi bố như kêu cứu.
– Thầy ơi, em rất mong thầy giúp cho… Thế này ạ: Đài em có quyết định xây dựng một phim tài liệu phóng sự về ông sư khất sĩ đang làm dậy sóng dư luận… Tất cả đạo diễn phóng viên đều tìm cách từ chối, tập thể Lãnh đạo Đài chỉ định em, với lý do là cựu sinh viên xuất sắc của trường Đại học Sân khấu Điện ảnh, lại là Đảng viên ở trong Ban giám đốc…
– Thế là chuẩn rồi đó! Bởi đây là đề tài nhạy cảm, cần phải có bản lĩnh chính trị thì mới tiêu hóa được hàng núi thông tin trái ngược, để cho ra tác phẩm có thể lên sóng đàng hoàng…
– Thầy hình như mỉa mai em à?
– Sao em lại nghĩ đó là mỉa mai? Nhầm đấy! Vậy em cần gì ở thầy?
– Vâng, em xin lỗi thầy, vì đã hiểu lầm ý thầy…
– Khỏi cần xin lỗi! Chắc cậu đang lúng túng về hướng khai thác đề tài, xử lý chất liệu sắp thu thập?
– Trời ạ, thầy nói như thần phán ấy…
– Khổ, cậu lại làm cái chuyện “khen phò mã tốt áo” rồi! Thú thực với em, nếu có thời gian, và dư dả kinh phí nữa, thầy cũng đã vác máy đi theo ông hành giả đó để mong làm một phim tài liệu ra hồn đấy! Nhưng, dân điện ảnh chuyên nghiệp chẳng lẽ lại đi “cướp cơm” của mấy anh chàng cầm máy nghiệp dư săn tin săn hình… Đùa đấy. Mà có em với tư cách là dân chuyên nghiệp thực hiện thay cả cho thầy thì cũng “bõ” cho cái đề tài thú vị này…
– Vâng, em rất mong thầy chỉ dẫn cho ạ…
– Về kỹ thuật, hay là các “bảo bối” trong nghề, thầy đã trút cho các cô cậu hết cả còn gì! Nhưng có điều quan trọng các thầy chưa kịp nói thì các em đã ra nghề làm công chức ăn lương: người làm phim – phim tài liệu hay phim truyện đều thế – là kẻ suốt đời “đi tìm” một cái gì đó, là một cuộc hành hương tinh thần đầy chông gai, nguy hiểm, thậm chí trả giá bằng mạng sống. Em hãy nhớ lại cuộc đời nhà đạo diễn phim Xô viết Roman Karmen – người đi khắp thế giới ngập khói lửa để ghi hình Nội chiến Tây Ban Nha, các trận đánh tại Moskva và Leningrad trong Thế chiến II, chiến tranh Đông Dương lần I… vì vậy đã có được những thước phim vô giá về lịch sử chiến tranh. Hay gần đây nhất, là câu chuyện về anh sinh viên Pháp ngành điểu học Luc Jacquet đã trở thành nhà điện ảnh chuyên nghiệp khi một năm ròng sống ở Nam Cực dõi theo chu kỳ sinh sản của chim cánh cụt hoàng đế, suýt nữa mất cả mạng để có được 120 giờ tư liệu quay làm thành bộ phim tài liệu khoa học 80 phút “Bước đi của hoàng đế” (La marche de l’empereur); bộ phim được hoan nghênh khắp thế giới, bởi những bước chân chim xứ xở băng giá đã gợi lên toàn bộ lịch sử loài người mà nổi bật là lòng quả cảm và sự kiên tâm, những giá trị của sự chia sẻ và hợp tác, vai trò trụ cột của gia đình trong những cuộc đấu tranh khắc nghiệt để sinh tồn…
Thầy nhắc tới phim “Bước đi của hoàng đế” mà có lần đã yêu cầu các em phải xem, là vì sắp tới em sẽ đi theo bước chân của hành giả Minh Thành, với những thước phim tự em ghi lại được và những hình ảnh chọn lọc từ hàng trăm clip đã có và sẽ có, em sẽ tìm ra được điều gì đó thật ý nghĩa – trong cuộc hành hương của một Du sĩ đang tu tập theo hạnh Đầu-đà, cũng là Pháp tu của Phật hoàng Trần Nhân Tông khi xưa…
Chắc chắn rằng, Lãnh đạo Đài sẽ căn dặn em cần phải khai thác tư liệu và bình luận bộ phim tương lai theo hướng này: “Lợi dụng hình ảnh một người bộ hành “tập học Phật” để gieo rắc những thông tin phỉ báng, công kích Giáo hội Phật giáo và các nhà tu hành Phật giáo, gây mất niềm tin của nhân dân, Phật tử, phá hoại Phật pháp, gây chia rẽ giữa các tôn giáo, chống phá chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Đó là những biến tướng nguy hiểm từ những ồn ào liên quan đến hiện tượng ông Thích Minh Thành, cần phải được nhận diện và ngăn chặn” – trong một bài báo mới nhất thầy vừa đọc: “Nhận diện âm mưu lợi dụng ‘hiện tượng Thích Minh Thành” (Báo X).
Dĩ nhiên, là công chức cầm bút cầm máy quay, em và thầy cũng sẽ phải làm theo những định hướng đó, có vậy tác phẩm mới được duyệt và được phổ biến. Nhưng là một nghệ sĩ thực sự, một nhà báo đúng nghĩa thì không thể chỉ giới hạn trong vòng “kim cô” tất yếu đó. Chắc rằng tác giả bài báo nói trên đã bị buộc không được nói đến mặt tích cực, tiến bộ của một người tu hành mà “gương mặt và nụ cười đưa ta tới ánh sáng” như một nhà văn ta đã cảm nhận. Một bà giáo Tây Bắc cũ có nhắn dưới một stt. của thầy: “Không ai có thể khẳng định cách tu của thầy Minh Thành là duy nhất đúng. Nhưng phải khẳng định rằng đó là một cách tu ít ai làm được, nếu không gạt bỏ hết mọi tham – sân – si, và không có một ý chí nghị lực phi thường. Không nên vì sợ kẻ thù lợi dụng và sợ đụng chạm đến lợi ích của ai đó mà bỏ qua cơ hội nghìn năm có một này để chấn chỉnh lại các hoạt động tôn giáo cho lành mạnh hơn thì thật đáng tiếc!”.
Thầy nghĩ rằng, đó cũng là tâm niệm chung của tất cả người dân Việt lương thiện ta lúc này – từ người dân thường tới lãnh đạo Nhà nước, từ Phật tử – cư sĩ tới bậc Hòa thượng… Máy quay và cây bút của em trong cuộc hành trình sắp tới đã có một trụ đỡ tâm hồn và tư tưởng vững chãi đó!
Thầy chỉ gợi ý thêm điều nhỏ này cho em tham khảo. Lâu nay, những người làm điện ảnh nước ta thường trăn trở về chuyện phim ảnh của ta bị các Giám khảo Liên hoan phim quốc tế than phiền rằng: phim của các bạn ít có Thiên nhiên quá mà chỉ nhiều máu đổ, khói lửa; Tình yêu thương vốn có của dân tộc các bạn sao thiếu vắng mà chỉ tràn lan chuyện lừa đảo, giết chóc, thù hận… Câu chuyện hành giả Minh Thành hôm nay khiến nhiều người làm điện ảnh Việt chợt ngỡ ngàng, bởi những chặng đường của thầy đã vượt bao cảnh vật thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng Tổ quốc, lại được bao phủ bởi tình yêu mến, kính trọng của hàng ngàn người dân lao động, Phật tử nghèo… Trong kịch bản điện ảnh của thầy đang viết về nhân vật khất sĩ này, thầy cố gắng tái hiện lại cảnh người dân Thừa Thiên – Huế cầm hoa sen, đội mưa chờ đón vị hành giả như đón một vị Thiên sứ của Tình yêu thương và khát vọng tìm đến những điều tốt lành, bình an, bằng trái tim giàu lòng tha thứ, nhẫn nhịn. Ở nhân vật Hành giả, bên cạnh những động cơ Tôn giáo và đời thường đưa ngài lên đường phiêu du bất định, là có khát vọng được chiêm ngưỡng bao kỳ quan thắng cảnh thiên nhiên từ Nam ra Bắc, để có thể tìm được Hồn Non Nước của Tản Đà mà ông đã thấm từ ngày tu tập ở Chùa Am, qua giọng ngâm của vị Hòa thượng trụ trì là Trưởng lão Thích Thông Lạc…
Và một trải nghiệm của riêng thầy: sau những bước nhọc nhằn leo núi dốc vừa đi vừa gỡ gai góc, vừa cố tránh giẫm vào những cây ngô mới trồng của đồng bào, và sau lúc bị ngã một cú suýt tan máy mất mạng vừa rồi, thầy chợt cười thầm: Ồ, so với những gian truân của ông Minh Thành thì có thấm tháp gì đâu! Và hành giả này có một niềm tin sắt đá giúp ông ấy mỉm cười vượt qua tất cả thử thách gian nan, kể cả sự lăng nhục, bị đánh đập đến tóe máu mồm, phải chăng cũng là một sự nhắc nhở đáng quý đối với những ai đang đau đáu tìm kiếm một cái đích nào đó, rằng: Thử thách vượt qua các kiếp nạn trời ban hay nhân tạo là điều không thể tránh khỏi! Vậy thì than vãn có ích chi, hãy cắn răng mỉm cười và tiếp tục cuộc hành trình đi tới đích. Có thể ngã gục trước khi tới đích, hay sẽ chẳng bao giờ tìm thấy đích; song cái nghị lực và khát vọng tinh thần mãnh liệt của người thực hiện cuộc hành trình sẽ là cái đích vươn tới của biết bao người trong cuộc mưu sinh khốn khổ…
Đó, đạo diễn trẻ hãy vững tin lên đường, theo bước hành hương của ông Minh Thành, với một cái gậy dò đường bé tẹo của thầy có thể giúp đỡ phần nào lúc cần thiết…
– Em cám ơn thầy ạ.
– Em hãy cám ơn vị Hành giả Minh Thành ấy!
III. Một sinh viên đạo diễn cũ giờ là đồng nghiệp ở phía Nam hồ hởi gọi cho bố: “Thầy ạ, em vừa làm qua một cuộc khảo sát khán giả, thấy tâm lý nôn nóng chờ đợi một vài phim điện ảnh hay truyền hình dài tập nói về Phật giáo Việt hiện nay. Em đang suy tính thực hiện một dự án điện ảnh có thể tham góp cho Giải Cánh Diều Vàng của Hội nghề nghiệp ta, nhân vật chính là từ nguyên mẫu sinh động một nhà tu hành đang được cộng đồng mạng bàn tán phân tích rầm rộ như một người đang phá hoại đạo Phật, phá hoại nền tảng luân lý đạo đức xã hội, lũng đoạn giáo dục… Thầy cho ý kiến ạ?”
Bố bảo: Đúng là thứ phim mà khán giả đang mong đợi! Điện ảnh thế giới đã có nhiều phim về đạo Phật, như: Xuân, Hạ, Thu, Đông…rồi lại Xuân – Tiểu Phật – Mật Lặc Nhật Ba truyện ký – Cuộc Đời Đức Phật Thích Ca – Quán Thế Âm Bồ Tát – Ngọc Lâm Quốc Sư – Sự tích Địa Tạng Bồ Tát, v.v. Còn ở ta, bên cạnh rất nhiều hình ảnh Thiền sư chói ngời gương Hoằng pháp cao cả, thì cũng có những hình ảnh u ám, tương phản với vẻ đẹp trên, cũng cần miêu tả thành hình tượng Điện ảnh giúp cho công chúng và giới tăng ni-Phật tử hiểu thêm thế nào là nhà tu hành chân chính, thế nào mới là sự gắn kết Đời – Đạo tích cực như các vị Thiền sư-Thánh tăng nước ta đã làm mà tiêu biểu là Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông – nhân vật lịch sử mà thầy ấp ủ nhiều năm nay cho điện ảnh…
Nhân vật nhà tu hành mà em định dựng thành phim, nói đúng ra là giả tu hành, mượn tu hành để mua danh trục lợi – quả là một khối u nhọt kinh khủng cần mổ xẻ giúp đời và đạo Phật trong sạch hơn. Thầy xin góp mấy nội dung chính trên cơ sở tâm lý nhân vật:
– Ông này trong mối quan hệ rộng rãi và sâu trên cơ sở “nén bạc đâm toạc tờ giấy”, với: + Đồng đạo + Phật tử + Ngành Giáo dục + Giới kinh doanh + Giới chính trị + Giới văn nghệ…
– Ông này với tham vọng: Trở thành thủ lĩnh tinh thần theo kiểu Bang Hội không chỉ trong đạo Phật, không chỉ một địa phương, mà còn cả nước – thậm chí quốc tế nữa (Lập ra hàng chục tổ chức Chúng TN Phật tử, sửa đổi giới luật, mua hàng loạt bằng cấp & danh hiệu cho bản thân và đàn em thân tín, với tham vọng làm “Bố già” tinh thần – tư tưởng cho hàng trăm ngàn thanh niên-sinh viên…).
– Nhưng, để có chất đời thường của Phim, nhất định không thể đơn giản hóa chất mâu thuẫn – bi kịch trong con người ông ta: Muốn nêu gương đạo hạnh từ bỏ Tham Sân Si song lại không thể từ bỏ được thú vui dục lạc trần tục, không thể ép con tim mình trước rung động thèm khát các cô gái trẻ xinh đẹp đang mộng vươn tới đỉnh cao thiên thần âm nhạc…
– Về tài năng, năng lực tinh thần: Cần sòng phẳng mà thấy rằng, ông ta rất có tài – tài ăn nói, tài thuyết phục người khác dâng hiến của cải cho mình, năng khiếu thơ ca nhạc họa, võ thuật… Song các năng khiếu đó lại bị dàn trải, lại nhằm mục đích trục lợi thâm hiểm, nên chúng trở nên méo mó và nguy hiểm với đông đảo mọi người – nhất là những đối tượng mà ông ta nhắm vào “hút máu mủ” của họ đến cạn kiệt song vẫn mù quáng cho đến chết và nguyện làm con ch… trung thành cho ông ta…
Bộ phim này chắc chắn sẽ được sự ủng hộ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Tôn giáo Chính phủ và đông đảo tầng lớp xã hội …
[111] Kaddis a meg nem született gyermekért – kiệt tác của nhà văn người Hungary Kertész Imre (1929 – 2016).