Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (8)

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

12.

Trước khi Dưỡng “thư ký trường quay hụt” ngậm ngùi rời Hãng phim đi xuất khẩu lao động, vào hôm chia tay, cậu ta ghé tai Thế: “Có bí mật này, anh phải chịu khó giữ kín, đừng loang rộng ra Hãng kẻo anh sẽ gặp nguy hiểm… Năm ngoái, Xưởng Thiết kế mỹ thuật có nhận một người vào thử việc tên là Vũ Nguyễn do Ban Giám đốc gửi gắm… Thằng bạn em cũng đang chân thử việc tại đó kể, ông Xưởng Trưởng dặn dò kỹ là phải đối xử tốt với anh ấy, song không nên gần gũi thân mật, không thể suồng sã… Bởi đó là con cháu của một cán bộ cấp rất cao, nhưng ông ấy vì quyền lợi chung nên suốt hàng chục năm nay đã không dám/ không thể nhận anh ta có máu mủ ruột rà với mình… Tỉ tê hỏi han thì dần được biết: anh ta từ lúc sinh ra đã phải đi làm con nuôi mấy lần, 6 tuổi vào Trung tâm trẻ mồ côi, rồi được gửi học trường Thiếu sinh quân, và từ trường này nhập ngũ đi chiến trường Quảng Trị, khi giải ngũ thì mới tiếp tục học hết bổ túc phổ thông trung học, và sau đó được gửi vào Hãng phim này… Vốn là người thuần hậu chất phác, ít được học hành hệ thống, nghe thiên hạ bóng gió gần xa anh mỗi lúc một hoang mang không biết mình gốc gác thực là đâu, con cái nhà ai. Anh ấy chỉ biết rõ một điều: ở đâu anh cũng được chiều chuộng, được kính nể một cách kín đáo – theo lối “kính nhi viễn chi” (kính nhưng mà xa), ngay ở giữa chiến trường khốc liệt cũng được một thế lực vô hình bảo vệ – nghĩa là chỉ phải làm công việc văn thư, liên lạc, được ưu tiên làm nhiệm vụ hậu cần cho chỉ huy, mà không phải cầm súng trực tiếp đối diện khói lửa bắn giết lần nào, tay chưa hề dính máu ai… Anh ấy bảo: “Dường như mình có Sao May Mắn chiếu mệnh, song mình luôn cảm thấy cô độc, lạc lõng, bị mọi người xa lánh, dù mình cố gắng hòa đồng, học hỏi hết sức chân thành… Mình là ai? Sao lúc nào cũng như có một huyền thoại bí hiểm và thiêng liêng ghê lắm bao bọc lấy mình, theo dõi mình, trấn an và trấn áp mình trong cả tâm sự riêng, trong từng giấc ngủ?… Những bậc cha mẹ nuôi khi gặp lại, họ rất vui thấy mình khỏe mạnh, song hễ mình hé ra thắc mắc về lai lịch mình thì họ lạnh tanh, coi ý định đó của mình là vớ vẩn, vô nghĩa, thậm chí là có hại!”…

Mấy năm sau đó, mỗi khi đến cơ quan, Thế đều tìm cách hỏi han và tìm cách tiếp xúc với nhân vật được bao bọc bởi “bí mật” và “huyền thoại” này. Hóa ra, lời dặn của Dưỡng về “điều bí mật, tối bí mật” nọ thì hình như khá nhiều người biết, song cái “biết” đó trở thành điều “cấm kỵ”, thành lời thề nguyền chớ được “phạm húy”. Có lần anh hỏi nhà biên kịch Cầm Kỳ về chuyện này thì ông giơ tay lên miệng “xuỵt”, mắt lấm lét nhìn tứ phía, kéo tay anh vào xưởng đang vắng người và khẽ bảo: “Cậu đừng có dại dột tò mò cái chuyện này làm gì, cẩn thận kẻo bị treo bút bịt miệng đấy! Đó là bí mật Cung đình liên quan tới những chuyện vĩ mô, thứ nghệ sĩ hạng bét chuyên mua vui cho Triều đình như chúng ta không nên mất thì giờ tâm sức vào làm gì, lại rất nguy hiểm…” Thế bật lại như một kẻ “ngựa non háu đá”: “Theo em, chỉ loại nghệ sĩ hạng bét chúng ta mới có thể tìm ra những sự thật cần thiết cho điện ảnh thôi… Kệ anh, còn em sẽ tìm hiểu chuyện này cho Âm bản của em…”.

Mạnh mồm thế thôi, chứ vào cuộc thì anh cảm thấy “rét” thực sự. Anh chắc chắn đã có tên trong “Sổ Thiên Tào” của các Thủ lĩnh cơ quan là kẻ thuộc nhóm “Nhân văn mới Làng Lủ” do đạo diễn Huy cầm đầu, mặc dù chỉ là tên “điếu đóm” thôi nhưng “ông Từ giữ Đền” tư tưởng Hoàng Thân quên thế nào được cái ương ngạnh của thằng trẻ ranh cậy có chút chữ nghĩa kia trong mấy buổi ông huấn thị nó! Việc anh bị “cướp cờ” đạo diễn khi đã được giao phim để nhường phim cho đạo diễn lão thành cần “hạ cánh xuống miền lãng quên”, việc các kịch bản tâm huyết của anh gửi lên Phòng Biên tập đều bị vứt vào sọt rác, chắc hẳn là có sự chỉ đạo tầm xa của ông. Vậy nên, để có thể tồn tại chốn này, anh không thể có một hành động bất cẩn nào nữa! Việc tìm hiểu lai lịch nhân vật hấp dẫn, lý thú kia cho “Kho lưu trữ bần tiện” các ý tưởng kịch bản biết đâu sẽ làm nguy hại tới tương lai nghề nghiệp của anh! Nhớ lại những lần gặp ông Hoàng Thân, giờ đây anh hình dung ra rõ rệt rằng: ông sẽ chỉ thẳng tay quyết liệt như ra lệnh tấn công và khắc các chân lý mà ông đại diện vào cái không gian nghệ thuật “thấp thoáng mộng bình yên”[64] đang diễn biến tệ hại thành “thấp thoáng mộng tự do” như sau: Tại Tiền đồn văn nghệ hàng đầu này, trong giai đoạn Cách mạng mới này không có chỗ cho những khái niệm TỰ DO – DÂN CHỦ – NHÂN QUYỀN – KHÁT VỌNG KHÁM PHÁ SỰ THẬT…

Anh đã kín đáo cẩn trọng hơn trong cuộc tìm hiểu này – cũng như các cuộc tìm hiểu khác về những “Vụ án chính trị”, những “Cuôc thanh trừng tư tưởng nội bộ” từng xảy ra trong cơ quan suốt mấy chục năm qua. Và khi gặp được anh Vũ Nguyễn, Thế đã quan sát anh từ xa, và nếu tới gần cũng là với lý do tìm hiểu công việc của những người làm thiết kế mỹ thuật, mà anh ấy đang là người học việc, làm phụ động để được xét Biên chế chính thức. Vì đã được đọc không ít tài liệu sách báo “ngoài luồng” – nhất là tài liệu của một nhà Biên kịch nổi tiếng đã rời bỏ Hãng để bán chất xám cho lĩnh vực kinh doanh phía Nam, cộng với những “huyền thoại” bao phủ quanh anh Vũ Nguyễn, Thế đã dần hình thành được đường dây truyện phim của một Âm bản về cuộc đời, số phận anh. Nhìn anh Vũ Nguyễn lúc làm việc, hay lúc ngồi giải lao cùng quân phụ động ngoài quán nước, lần nào Thế cũng thấy rõ là một con người hiền lành, không ưa tranh cãi tranh chấp dù nhỏ nhất, dường như anh muốn thu mình lại, nhẫn nhịn – không phải cái nhẫn nhịn chờ thời mà là cái nhẫn nhịn chấp nhận số phận trước bao sự khuyên răn, đe nẹt, cảnh báo từ lúc mới sinh ra. Anh có nét mặt của Thái tử Tất Đạt Đa lúc chuẩn bị rời bỏ Cung điện, vợ con và cuộc sống giàu sang để ném mình vào cõi bất định đầy cát bụi và đói khát. Nhưng cũng có lúc Thế hình dung ra anh có vẻ mặt của người Phật tử Việt đầu tiên họ Chử khi nhìn thấy hy vọng giải thoát cho ông và dân tộc đau khổ của ông từ nhà sư mang tên But-đa-bra-ba (Buddabrabha tức “Ánh sáng của Bụt”) – ông nhà sư vì thất vọng với Phật pháp suy đồi trên xứ sở mình nên lang thang truyền giáo và lạc tới vùng Quỳnh Viên – Nam Giới… Song sự xét đoán vẻ bề ngoài đó chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng vô bổ, chúng bị phá sản ngay khi Thế nhớ lại điều Dưỡng kể hôm chia tay nhau lần cuối… Anh Vũ Nguyễn đã chỉ tâm sự những điều cháy bỏng tâm can anh cho những người mà anh cảm thấy an toàn, vô hại, “cùng đẳng cấp” thấp cổ bé họng và hàng ngày bị quản lý từng ý nghĩ từng miếng ăn: “Mình là ai? Sao lúc nào cũng như có một huyền thoại bí hiểm và thiêng liêng ghê lắm bao bọc lấy mình, theo dõi mình, trấn an và trấn áp mình trong cả tâm sự riêng, trong từng giấc ngủ?”. Rõ ràng là anh đã hỏi để tự trả lời. Rõ ràng là anh đã biết rõ lai lịch, thân phận mình từ rất lâu, điều anh trăn trở là: vì sao lại như thế? Đằng sau tất cả những sự che giấu giống như một sự dối trá tầm cỡ lịch sử như vậy là gì? Tạo sao chúng đã diễn ra như một thứ định mệnh buồn thảm đến thế cho anh và gia đình nhỏ của anh – những thần dân khao khát Tự do-Hạnh phúc bình dị như tất cả mọi công dân?…

13.

Sau gần một năm nhà biên kịch Cầm Kỳ mất, Thế lên Sơn La để làm một phim chân dung về ông.

Anh trở lại Sơn La khi những cánh hoa đào phơn phớt mát dịu đương hối hả tranh giành lần cuối với màu xám bạc của lau và đá. Và khi bắt đầu qua Thung Khe để vào xứ sở sương mù, quê hương của suối sâu thác dữ, núi rừng trùng điệp, anh lặng đi nhớ tới người đồng nghiệp gần gũi và thân thiết nhất đối với anh. Ông mất giữa cái tuổi mà sự tích lũy sáng tạo đang căng đầy thôi thúc trong một trái tim nóng bỏng…

Xe Thế lúc này đang vượt đèo Chiềng Đông hiểm trở. Anh ngậm ngùi nhìn cái nơi mà Cầm Kỳ gặp tai nạn… Những điều ông dự báo và khẩn thiết kêu gọi trong kịch bản phim truyện Vùng rừng nóng bỏng chưa kịp lên màn ảnh đã rơi ập vào chính số phận của ông: chiếc xe chở Cầm Kỳ đã bị đổ do hậu quả của những cơn lũ rừng, sau nhiều năm tháng dài đốt phá rừng triền miên vô tội vạ! Cứ mỗi năm, những con suối Tây Bắc ngày một trở nên ngầu đục hung dữ hơn! Cả những cánh rừng hoa ban kỳ diệu mà chỉ riêng vùng rừng Tây Bắc mới có cũng đang bị chặt, bị đốt phá một cách không thương tiếc! Cầm Kỳ thường xót xa tâm sự cùng Thế sau nhiều lần từ Sơn La hoặc Lai Châu quay về Hà Nội. Ánh mắt ông ứ lệ, ngầu đỏ…

Tại thị xã Sơn La ngày đó, những dấu vết kinh hoàng của trận lũ tháng 7 năm trước vẫn đang còn in đậm trên làng bản, phố xá và trong tâm trí của mọi người. Đằng sau và bên cạnh ngôi mộ của Cầm Kỳ – ngôi mộ đầu tiên trên ngọn đồi sau trở thành Nghĩa trang Nhân dân Thành phố – khi ấy đã xuất hiện thêm hàng chục ngôi mộ của nạn nhân cơn lũ quét đè bẹp thị xã Sơn La vào năm 91 ảm đạm! Vợ con ông đang chăm sóc phần mộ ông. Đôi mắt cháu nhỏ mất cha nhìn ngơ ngác… Giữa núi rừng lặng lẽ, bên hương khói mộ ông, Thế cầu mong ông thanh thản mà lại như nghe thấy ông đang khóc hô hô cho một vùng rừng đang bị phá hoại tàn khốc, cho môi trường sinh thái đang bị thiêu hủy từng giờ, cho cái thiên nhiên đang cất lên lời kêu cứu tuyệt vọng cuối cùng… Những đàn kiến rừng khổng lồ đang ùn ùn bỏ tổ ra đi mà anh quay chộp được trên đường đi bộ từ Hua La về Mường Chanh phải chăng báo hiệu cho những cơn lũ rừng khủng khiếp sắp tới – những cơn lũ mang tên lũ ống, lũ tràn, lũ quét, lũ đầu mùa, lũ muộn…?

Năm Cầm Kỳ qua đời, cháu lớn của ông học chưa xong phổ thông, cháu nhỏ nói chưa sõi, vợ con ông sống nheo nhóc trong một ngôi nhà tranh sập xệ trên đường vào xã Hua La. Còn ông, sống giữa Thủ đô không ít năm nhưng lại giống người đồng rừng mới về thành thị, ngơ ngác trước mọi thứ mánh mung, chỉ biết mệt mài với những trang bản thảo, lại không ưa, không biết quỵ lụy trong những mối quan hệ rắc rối… Cầm Kỳ sống cảnh gà trống nuôi con nhiều năm ròng sau khi người vợ đầu là một ca sĩ bỏ đi xuất khẩu lao động… Nói đến ông, mọi người thường lắc đầu thương hại. Lúc nào ông cũng là người túng thiếu nghèo khổ nhất trong giới nghệ sĩ điện ảnh… Ông đã buộc phải trở về quê hương thường xuyên hơn để tìm đường kiếm sống – làm phim truyền thống cho các xã các huyện, viết các vở kịch ngắn cho ngành truyền thông địa phương, lên núi phá hoang trồng ngô khoai sắn, nuôi gia cầm cùng vợ con (người vợ thứ hai của ông là một cán bộ Đoàn tại Sơn La)… Và dĩ nhiên, những ý đồ sáng tác vẫn cồn cào thường trực trong ông. Ông vẫn viết với một tình yêu theo cách đồng bào ông bộc lộ: “Yêu người nào thì muốn bồng, muốn cõng người ấy lên” – như câu tục ngữ Thái anh yêu thích… Song ngôi nhà tranh vách nát ở Thị xã đâu có che nổi cho những trang viết, những chồng bản thảo khỏi bị mưa dột? Tệ hơn, những kịch bản tâm huyết của ông dần trở nên lạc lõng thảm hại giữa “chợ trời” phim ảnh… Nhưng chuyện cơm áo dày vò đâu có thể làm nguôi ngoai nổi những điều nung nấu tâm can người nghệ sĩ chót mang hồn vía của núi cao rừng thẳm và những bản tình ca dân gian say đắm như Tiễn dặn người yêu, Chàng Lù nàng Ủa, Nàng Tóc thơm, Ý Nọi Nàng Xưa…! Bữa no bữa đói, ông vẫn cắm cúi miệt mài viết, vẫn lắng nghe không bỏ sót một tiếng kêu cứu nào từ núi rừng quê hương! Vùng rừng nóng bỏng của ông dù phải vùi sâu trong chồng bản thảo hay phủ dày bụi trên bàn biên tập vẫn cựa quậy thôi thúc đòi được lên màn ảnh để đến với hàng chục triệu khán giả – bởi điều đó trước mắt có liên quan mật thiết đến sinh mệnh của các con ông, của những thế hệ em nhỏ Tây Bắc!…

Đằng sau vóc dáng đồ sộ nặng nề như gấu của ông là một tâm hồn nhạy cảm dễ ứa lệ và một khát vọng sáng tạo tựa ngọn lửa đêm lễ hội cao nguyên. Ông có lần bảo Thế: “Tớ phải viết, phải lao động nghệ thuật như một con trâu điên, cả cậu cũng vậy, đừng có dúm dó như thế, để mai sau mọi người sẽ hiểu: trong các đống bản thảo này là những trái tim khổng lồ rớm máu đã đập như thế nào…”

Khi Cầm Kỳ mất, Phó GS. TS. hóa học Cầm Cường, một người nghiên cứu rất sâu về văn học dân tộc Thái, nguyên là Chủ nhiệm chương trình Thái học Việt Nam tìm tới Hãng, Hãng đùn cho Thế tiếp; ông Cường đã ngậm ngùi kể cho Thế về người em trai của mình: “Cầm Kỳ say sưa nghề nghiệp đến mức có lúc dường như lãng quên cả hạnh phúc gia đình, bỏ quên cả vợ con, họ hàng. Nhưng thực ra, Cầm Kỳ là người rất giàu tình thương và trách nhiệm… Hai anh em tôi rất tâm đắc về việc khai thác phát huy vốn văn hóa dân tộc, đã bàn bạc nhiều về chuyện chuyển thể lên màn ảnh hai truyện thơ Xống chụ xon sao, Khun Lù náng Ủa và một số truyện cổ dân gian Thái, Mông, Kh’mú… Gia đình chúng tôi bị hẫng hụt lớn khi Cầm Kỳ mất sớm, và hy vọng các bạn đồng nghiệp của Cầm Kỳ sẽ tiếp tục hoàn thành nốt những công trình dang dở nhiều ý nghĩa đó…”

Thế đã tìm về Mường Chanh – huyện Mai Sơn, quê hương Cầm Kỳ.

Đó là một vùng căn cứ địa Cách mạng cũ, một địa phương nổi tiếng với cây lúa nếp Tan và nghề gốm đất nung cổ truyền. Thoạt tiên Thế ngẩn ngơ trước một thung lũng tuyệt đẹp, có những mảnh ruộng xinh xắn, có dòng suối trong vắt mềm mại tựa dải lụa từng tắm mát tuổi thơ Cầm Kỳ… Nhưng rời cái toàn cảnh rộng thi vị như tranh vẽ ấy, anh đã tới trước những lớp học tiêu điều, trống huếch, đầy phân súc vật dù đã sắp tới ngày khai giảng… Vốn xuất thân là một thầy giáo, chắc Cầm Kỳ đã không ít lần xót xa trăn trở về giáo dục miền núi sau mỗi lần về quê hay đi tới các vùng cao vùng xa ở Tây Bắc để thu thập tư liệu cho sáng tác… Đến bao giờ thì Tây Bắc mới thực sự trở thành một “hòn ngọc của Tổ quốc”? Đến bao giờ tất cả các em nhỏ miền núi đều được đến trường – những ngôi trường ít ra cũng được khang trang gần bằng các trụ sở Công quyền?… Đến bao giờ những cọn nước quay chầm chậm chỉ còn là một biểu tượng đẹp và buồn của quá khứ trên sông suối Tây Bắc?… Phải chăng, đó cũng là những điều đã ngày đêm dằn vặt nhà biên kịch và tạo nên âm hưởng trầm buồn đến bi tráng trong các trang kịch bản của ông?… Dưới mái nhà sàn ám khói, người chị cả đáng kính của ông đã hát cho Thế nghe. Và anh hiểu, nỗi buồn đó của Cầm Kỳ còn bắt nguồn từ giọng hát lê thê buồn bã bên bếp lửa sàn đêm đêm của người chị nghèo thay mẹ nuôi em:

Bố mẹ chúng ta khuất núi từ lâu rồi

mấy chị em đùm bọc rau cháo chăm nhau

không ngờ em lại ra đi trước chị

trên cõi Trời em hãy bình tâm

bởi điều đau đớn ấy chị để trôi trên dòng nước,

chị treo nó lên ngọn cây

cho gió bay xa,

tỏa khắp rừng sâu,

lan mọi phương trời

để con cháu biết rõ về em, noi gương em, tiếp tục công việc của em…

(Dịch nghĩa từ tiếng Thái)

Lời “khắp” Thái buồn như tiếng khóc – lúc thầm thì kể lể nức nở, lúc dâng cao nhưng nhức xoáy tâm can… Trong tiếng hát quấn quýt ngọn lửa sàn bập bùng, Thế lại hình dung ra những con nộc-phay, tức chim lửa mà Cầm Kỳ từng kể cho anh nghe sự tích về chúng – loài chim tượng trưng cho linh hồn những người chết vì đói ngày giáp hạt thường quay trở về nương rẫy làng bản thành chảo lửa trên nền trời xám đục bởi tro than, chúng hót lời não nuột nhắc đừng bao giờ quên những thời đói khổ…

Thế đâu biết rằng, từ ngày đó, anh sẽ phải nhiều lần “Lên ngọn suối” – tên một trường đoạn của kịch bản phim Vùng rừng nóng bỏng chưa kịp thực hiện, để tìm lại ngọn nguồn của một nỗi đau, một ước vọng trong “trái tim khổng lồ rớm máu” luôn hướng về quê hương Tây Bắc… Giai đoạn viết kịch bản này, cứ được trường đoạn nào Cầm Kỳ lại gọi Thế tới bắt nghe và góp ý, bên chén rượu trắng và đĩa lạc luộc… Vùng rừng nóng bỏng đề cập tới sự cần thiết phải giao đất giao rừng cho dân với một chính sách để dân có thể sống được mà không phải phá rừng đốt nương, và sẽ ngày một nóng bỏng trước những vấn đề thời sự nhức nhối cấp bách về thiên nhiên & môi trường sinh thái cần được bảo vệ, về phương thức làm ăn để thoát nghèo đói, về môi trường văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc Tây Bắc đã, hay đang có nguy cơ bị dìm vĩnh viễn trong nước lạnh hoặc bị xúc gọn vào bảo tàng… Nhưng cái tập kịch bản vang vọng tiếng kêu thống thiết của loài chim lửa kia cùng nhiều tập kịch bản ngồn ngộn sự sống khác chứa đựng huyết lệ của Cầm Kỳ đã rơi tõm vào khoảng không đáng sợ… Biết làm sao được, khi còn tồn tại những người có trách nhiệm thiếu lương thiện hay thiển cận khiến cả ngành Văn hóa lẫn Điện ảnh lao đao tựa bị lũ quét, khi mà những ông chủ sản xuất phim hiện tại (cả tư nhân lẫn nhà nước) đang cay cú đến mờ mắt với những canh bạc phim ảnh hốt ra vàng nhờ khoe chân dài, váy ngắn, ngực phơi lưng hở của những “siêu mẫu siêu sao” và trưng bày cuộc sống vương giả hoặc nhầy nhụa tình dục mà nếu có đem phim lên chiếu không phục vụ đồng bào miền núi thì  chỉ là một điều oái oăm đến xót xa, một sự điếm nhục!

Và Thế đâu ngờ rằng, từ ngày về quê hương Cầm Kỳ lần đó cho tới nhiều năm sau, anh vô tình đã là người tiếp tục thực hiện những khát vọng ấp ủ cho quê hương Tây Bắc đến giây phút cuối đời của ông… Anh đã thường xuyên quay trở lại nơi này, cũng là quê hương thứ hai của anh để được sống lại và hiểu thêm về tiếng “Khắp” (hát) buồn rưng rức ngay cả trong tiệc vui, và không ít lần dùng hình ảnh Chim lửa-Nộc phay – hiện thân của  linh hồn người bị chết vì đói trong nhiều trang viết, cảnh phim tương lai, dù chưa biết tới khi nào mới trở thành Dương bản, như một cách thay mặt cả nền điện ảnh tạ lỗi với “trái tim khổng lồ rớm máu” của nhà biên kịch xứ hoa đào…

Tiếng hát buồn xé rách dải sương mù

Khói đốt nương tạm ẩn mình đất khổ

Em gái quay sa đêm trường sương giá

Tiếng nhị khuya man mác cả vầng trăng

 

Anh từng qua những dòng-sông-suy-tưởng

Tìm em. Và ý nghĩa của đời anh

Nhưng chim lửa kêu thương mùa giáp hạt

Lại đưa anh về bên dòng-sông-màu-xanh…

14.

Thế về Hãng phim truyện được 7 năm, qua mấy phim làm phó đạo diễn, rồi bị hụt cả đạo diễn chính (bởi phải nhường phim đề tài lịch sử đã được giao, sau khi làm cả kịch bản phân cảnh cho đạo diễn lão thành chuẩn bị “hạ cánh toàn”) – con đường để có phim đầu tay nhằm khẳng định nghề nghiệp càng trở nên mờ mịt… Bởi anh là người kém quan hệ, rạp chiếu phim thì đã bị phá hết, đầu phim ít ỏi, trong khi vốn liếng tài sản của một anh “giáo khổ” Tây Bắc về chỉ có sách vở và khát vọng suông… Vài tập kịch bản tâm huyết gửi Phòng Biên tập thì mịt mù, chẳng thấy tăm hơi gì.

Không thể chịu cảnh “há miệng chờ sung”, chờ đợi “ơn mưa móc” của Lãnh đạo Hãng, Thế đã liều mạng gửi một kịch bản của mình lên Cục Điện ảnh với hy vọng mong manh (Bởi việc gửi kịch bản lên Cục xin tài trợ bao giờ cũng phải do Hội đồng Nghệ thuật Hãng quyết định). Không ngờ, kịch bản Vầng trăng núi của anh được Phó Cục trưởng, nhà quay phim Trần Dân rất thích thú, ông đã đề nghị rót tài trợ cho kịch bản này về Hãng Phim truyện sản xuất. Thế đã mừng chảy nước mắt.

Nhưng, Lãnh đạo Hãng – nhất là ông Giám đốc mới (thay đạo diễn Nguyễn Hải) chẳng hiểu vì sao đã gây khó dễ với dự án này của Thế, bằng nhiều lý do hợp lý lẫn phi lý mà nhiều năm sau anh vẫn còn nhớ cái lạnh toát người bởi lo lắng, run sợ… Thôi, nếu cái phim này mà đổ bể, chắc phải tự cuốn gói khỏi Hãng, vĩnh biệt mối tình đau đớn với “Nàng tiên thứ Bảy”…

Giữa lúc ngao ngán tuyệt vọng tới độ chẳng thiết sống nữa, thì Ân nhân đã xuất hiện…

Đạo diễn Đặng Nhật từng quý mến Thế sau lần anh giúp ông tài liệu gốc để thoát nạn bị đấu tố vì “Chợ Âm Dương tuyên truyền mê tín dị đoan” của phim Cho đến tháng Mười. Ông vốn là xưởng trưởng của một xưởng phim mà Thế được về biên chế năm đầu, sau đó ông rời Hãng làm Tổng thư ký Hội Điện ảnh. Những năm đó, Hội Điện ảnh có một Hãng phim riêng, gọi là Hodafilm song chưa có hoạt động gì, chưa có đầu phim nào. Sau khi nghe Thế tâm sự ở một quán nước ven đường, ông Tổng thư ký mới chưa nhả hết khói thuốc lào đã thốt lên: “Trời ạ, cậu lại bị họ bắt nạt rồi… Tớ đã thoát khỏi bao sự bắt nạt của họ, giờ lại đến cậu! Khốn khổ! Thôi, đưa về Hodafilm đi!”.

Thế như kẻ đang hấp hối bỗng được phục hồi toàn bộ sinh lực thường ngày bởi một phép màu, và không tin ở tai mình nữa. Đạo diễn Đặng Nhật dịu dàng nhắc lại, trong niềm thương cảm cho một thằng cùng nghề trẻ tuổi đang gặp bao trắc trở, thù ghét, rồi ông nói thêm, vẻ lưỡng lự: “Nhưng… với một điều kiện…”.

Anh phải chộp ngay lời ông, chỉ sợ ông thay đổi ý kiến thì nguy, nhưng nói không ra hơi: “Điều… điều kiện gì… hở đại ca?”

Sau một hơi thuốc lào đẫy nữa, ông mới nhìn thẳng vào mắt Thế, chỉ thẳng tay: “Cậu phải làm Giám đốc sản xuất!”.

Thế rụng rời chân tay. Đã qua mấy đoàn làm phim, anh thấm hiểu trọng trách, nỗi gian nan của người cầm bạc tỷ Nhà nước để điều hành & tổ chức sản xuất thành một bộ phim nhựa hơn 10 cuốn – qua biết bao công đoạn mà từng công đoạn chỉ mới nghĩ đến thôi cũng đủ toát mồ hôi hột! Giám đốc sản xuất cho chính phim của mình, trong khi còn phải lo từng câu thoại, từng cảnh quay, từng diễn xuất…! Mà lại mang tiếng, mang tiếng quái gì – sự thật là thế: “Để tâm hồn treo ngược trên cành cây”! Phim mà không thành, hãy giơ hai tay ra mà tình nguyện nhận xích!

Như hiểu tâm trạng của tay đạo diễn trẻ và an ủi anh, ông từ tốn giải thích: Hodafilm chưa có nhà sản xuất, còn nếu có giám đốc Hãng thì chỉ làm vì thôi, đúng hơn là ông giám đốc ấy còn phải học nghề tổ chức sản xuất chán… Thế đã ở bước đường cùng. “Vâng, em biết thân biết phận em rồi…”. Ngay lúc đó anh đã phải thầm liệt kê ra sẽ mời những thành phần nào của đoàn làm phim – trước hết là một ông chủ nhiệm phim đáng tin cậy (dù biết trước là tất cả những thành phần này sẽ bị lãnh đạo Hãng ghi vào “sổ đen” khi dám vô tổ chức vô kỷ luật đi làm phim ngoài cho tay Thế cận!).

Và cũng chính nhờ chuyện “biết thân biết phận” này mà Thế mới có được bộ phim đầu tay, chính thức bước vào hàng ngũ đạo diễn điện ảnh Việt Nam thế hệ thứ 4. Việc “biết thân biết phận” này đã được bù đắp bởi sự quan tâm chu đáo thiết thực của ông Tổng thư ký Hội Điện ảnh, người đàn anh biết cảm thông với kẻ đàn em ít may mắn trong nghề…

Còn Thế thực hiện bộ phim này quả là phải trải qua “Con đường khổ ải”[65] trong mấy cương vị: Giám đốc sản xuất, Tác giả kịch bản, Đạo diễn, và cả “Bảo mẫu” cho diễn viên nhí đi theo đoàn làm phim hai tháng trời ở một vùng cao Tây Bắc…

Lần đầu tiên trong đời, Thế dự một cuộc bảo vệ kinh phí làm phim tại Vụ tài chính của Bộ chi tiền cho việc sản xuất phim, mà lại bảo vệ cho chính phim mình! Anh vốn ù ù cạc cạc trước những con số về tiền bạc to đùng, nên đùn đẩy hết cho ông Chủ nhiệm phim anh đã trân trọng mời vào một trong những cương vị chủ chốt nằm trong màn chữ phim đầu; nhưng khi ông Chủ nhiệm gật đầu trước số lượng xăng dầu được ấn định dành cho việc di chuyển của một đoàn làm phim thì anh buộc phải lên tiếng:

– Thưa các vị làm kinh tế, ở đây các vị chắc là ai cũng đã từng đi ô tô lên miền núi, và điều sơ đẳng này ai cũng biết: mỗi lần xe vào ga lên dốc thì lượng nhiên liệu phải tiêu tốn gấp rưỡi tới gấp đôi so với cùng quãng đường bằng phẳng dưới xuôi… Phim này chúng tôi hoàn toàn quay ở một vùng cao so với mặt nước biển gần hai nghìn mét, lại phải thường xuyên đi lại xuống vùng núi thấp hơn lo thực phẩm và đặc biệt là phải đem phim đã quay về Hà Nội in tráng hàng tuần… Vậy mà, trong riêng bản dự toán về vận chuyển này, số ki lô mét đường của hai vùng địa hình: vùng cao phức tạp và vùng thông thường đồng bằng được các vị đánh đồng như nhau, lại chỉ tính có độc mỗi lần đi lần về của cả đoàn phim, chắc là một sự lầm lẫn nho nhỏ đấy ạ…

Tất cả những người có trách nhiệm cầm cân nảy mực cho số phận bộ phim về hình hài trong buổi đó đều ngẩn ra một lúc rồi gật gù “tâm phục khẩu phục” trước tay đạo diễn gầy gò đã từng có hàng chục lần lên các vùng cao Tây Bắc – Đông Bắc, lý lẽ khiêm nhường nhưng không bẻ được một từ…

Chủ nhiệm Thanh vốn là cựu sinh viên khoa Kinh tế điện ảnh trường VGK Liên Xô, có bằng đỏ hẳn hoi, song chuyên làm phim “bao cấp” của Hãng với đầy đủ ban bệ, theo kế hoạch chặt chẽ, may rủi đã có Hãng phim gánh cho, nên khi làm phim với Thế là ngoài “bao cấp” ông rất lo lắng, bảo anh:

– Thú thực là vì quý em lắm nên anh nhận lời em, dù biết Lãnh đạo Hãng sẽ không hài lòng đâu… Đây là phim tài trợ của Nhà nước song lại do một Hãng phim chưa bao giờ làm phim đứng ra tổ chức thực hiện, rồi một nhà sáng tác chuyên môn mà phải làm Giám đốc sản xuất… Điện ảnh nước ngoài chuyện đó là thường, còn ở nước ta chưa từng có… Anh lo lắm, mà…

– Chỉ cần anh thấy kịch bản của em đáng để anh đầu tư công sức, là anh em ta sẽ vượt qua được mọi thử thách anh ơi! – Thế ngắt lời ông – Hãng của Hội chưa có dịp làm phim thì bây giờ sẽ làm đây, và sẽ tạo thương hiệu ban đầu cho họ, còn tổ chức sản xuất đã có anh là dân điện ảnh ở Nga về làm thủ lĩnh, còn em thì sống chết với phim này, ta sợ gì nữa, anh!

Ông Thanh sau khi lãnh khoản kinh phí sản xuất phim ban đầu về, việc đầu tiên mà ông làm – theo đúng “quy trình” quen thuộc của ông và các nhà Chủ nhiệm phim, là đem tới nhà Thế, đặt lên bàn làm việc của anh một cục tiền to như cục gạch toàn tiền 500 ngàn đồng:

– Em cầm tạm nhé…

Thế sửng sốt:

– Tiền gì đây anh? Sao lại đưa em?

Ông Thanh hồn nhiên:

– Thì đó là khoản “bôi trơn” đầu tiên cho đạo diễn trưởng đoàn, khi chưa tính được cụ thể thù lao sáng tác theo quy định chung…

Thế nghiêm mặt:

– Anh à, em xin thưa lại với anh: chúng ta hiện không phải làm phim theo kế hoạch của Hãng ta. Em buộc phải làm Giám đốc sản xuất, thì toàn bộ kinh phí sản xuất là của em, dành cho phim của em, anh lấy tiền của em đưa cho em làm gì? Giờ, mọi chi tiêu của đoàn, là do em quyết định, anh chỉ là người quản lý chi tiêu giúp em, do em mời anh. Vì vậy, em sẽ cùng anh xây dựng các ba-rem thù lao cho các thành phần đoàn phim, mà anh là người đầu tiên. Anh tự tính đi, em sẽ phải trả anh bao nhiêu?

Ông Thanh có vẻ xấu hổ, ấp úng:

– Ừ, thì cái lệ xưa nay của các đoàn phim mà… Khi thành lập đoàn, đạo diễn là Vua em à… Em thông cảm… Còn, em trả anh bao nhiêu cũng được…

– Không, tất cả phải theo quy định tài chính, anh làm Chủ nhiệm nhiều phim chắc rõ hơn em, và em mời anh cũng chính là tin cậy vào nghiệp vụ của anh, cũng như sự trung thực của anh – cái trung thực thường bị mang tiếng là thật thà, là đần, là dại ở môi trường làm phim kinh phí lớn…

Ông Thanh gãi đầu gãi tai:

– Cám ơn em… Em dám sử dụng một kẻ mang tiếng thật thà, đần, dại là anh… Anh sẽ cố gắng hết sức…

– Trước mắt, em đề nghị trích ngay kinh phí để anh đăng ký điện thoại bàn ở nhà[66]. Sau đó, anh  tìm luôn cho em một ông đầu bếp phục vụ đoàn phim…

– Ồ, anh có ngay, người bà con của anh làm nghề anh nuôi vừa ra quân, khỏe mạnh xốc vác lắm…

– Sáng mai anh lên cơ quan, anh đặt luôn vấn đề với phòng Kinh doanh là chúng ta sẽ thực hiện toàn bộ khâu hậu kỳ[67] tại Hãng ta, nhé?

– Thế thì tốt qúa, đem việc về thì Hãng sẽ bớt căng thẳng với ta… Còn in tráng Nê và Pô?

– Em đã tính rồi, in tráng chỗ khác chuẩn hơn về kỹ thuật! Anh Tạ trưởng phòng Kỹ thuật tham vấn cho em thế. Thôi, anh về lo đăng ký điện thoại nhà ngay, rồi thu xếp chuyện gia đình vài hôm nữa đi với em một tuần lên Tây Bắc tiến hành khâu chuẩn bị hiện trường quay…

Suốt hơn một tuần đi theo đạo diễn lên tỉnh X và địa điểm quay tương lai cách Tỉnh gần trăm cây số, chủ nhiệm Thanh hầu như chỉ làm công việc bắt tay chào hỏi và đỡ rượu cho Thế, ông hết sức ngạc nhiên, cảm phục trước nhiều mối quan hệ thân thiết, chân tình của anh – người đã tích cực giúp địa phương về truyền thông trong việc phá bỏ cây thuốc phiện rồi hậu cây thuốc phiện, quảng bá các đặc sản chè, cà phê, măc ca… Dường như anh không phải trổ tài ngoại giao để được một nhà máy sản xuất tơ tằm cho mượn cả nghìn mét dây điện cao thế đem về trường quay, vậy là đỡ một khoản kinh phí lớn thuê máy nổ Ural và xe tải chở máy nổ cùng vật liệu từ Hà Nội lên. Tại bối cảnh quay chính, Thế và chủ nhiệm Thanh đã được nhà máy chè địa phương hoan hỉ đồng ý cho sử dụng điện sản xuất, cho mắc dây điện từ nhà máy về bối cảnh làng Mông, cử hai công nhân trực dây điện 24/24 giờ, với điều kiện đoàn làm phim nuôi ăn hai bữa gần hai chục công nhân suốt giai đoạn quay. Tại đây, Thế và ông Thanh vào một làng (jao) Mông gần nhà máy để liên hệ thuê hai con ngựa và người nài ngựa, sau đó gửi diễn viên chính và thứ chính lên tập cưỡi ngựa trước giai đoạn quay nửa tháng.

Vào giai đoạn tiền kỳ – tức giai đoạn quay, ông Thanh đã thống nhất với Thế dành riêng một chiếc xe Uoát phục vụ chuyển phim đã quay về Hà Nội, và sau vài ba ngày lại xuống vùng người Thái để “vơ vét” thực phẩm cho cả đoàn phim hơn ba chục người và gần hai chục công nhân nhà máy chè.

Việc chọn – mời diễn viên, “hóc” nhất với Thế là diễn viên nhí, vai chính trong phim! Lúc đó cuối năm, đang là năm học chuẩn bị hết học kỳ I, không gia đình nào ở Hà Nội cho con gái nhỏ đi đóng phim dịp này suốt hai tháng trời, lại xa tít mù như thế, kể cả mời phụ huynh đi theo. Cũng không thể mời diễn viên nhí ở địa phương, các cháu bé Mông nhút nhát, tiếng phổ thông chưa được sõi, nếu tham gia làm phim thì thời gian tiền kỳ không cho phép… May mắn là nhà thơ Võ Kim làm báo Bắc Giang vốn quý Thế, hiểu được tâm trạng của anh liền bảo: “Con bé nhà tôi nó đóng phim của ông được đấy! Vợ chồng tôi tin tưởng giao nó cho ông. Có điều, ông nên mời một thầy cô giáo trên ấy dạy nó chương trình lớp Ba nó đang học, trong thời gian quay…”. Thế đã tìm được một thầy giáo như vậy ở trường Phổ thông cơ sở xã, và đề nghị chủ nhiệm Thanh trả công cho thầy giáo khoản thù lao bằng cả năm dạy học của thầy!

Về thành phần tổ quay, do có sự giới thiệu và đảm bảo của anh Tạ trưởng phòng kỹ thuật, một nhà quay phim chiến trường K5 cũ, nên đoàn phim không gặp khó khăn trong chuyện mời người; ông còn bí mật giúp Thế chọn thuê phương tiện tốt nhất với giá phải chăng, và cử mấy ánh sáng viên, kỹ thuật viên tin cậy của ông đi giúp đoàn. Nhưng về tổ thiết kế mỹ thuật, Thế không sao mời được ai, bởi một số đang làm phim và một số thì lo sợ dính vào phim “ngoài luồng”, tức ngoài kế hoạch của Hãng, nên anh đành kéo cậu em họa sĩ mới từ Bun về vào làm thiết kế phim, đó là nhân vật trong truyện phim Âm bản Đóa hồng trên ngọn Vitôsa mà anh từng “xi nê mồm” cho người tình cũ là Thảo kỹ sư Bê tông… Nhớ đến nhà điêu khắc Vũ Anh nổi danh với cụm tượng Đề Thám và khu vườn tượng tại gia do nhà báo Võ Kim giới thiệu mấy năm trước, Thế liền phóng xe lên Bắc Giang thăm ông. Sau khi Thế rụt rè đề nghị ông tham gia tổ thiết kế mỹ thuật, ông hào hứng gật đầu luôn. “Tao cũng muốn đi làm phim với chú mày, để chú mày sai bảo” – “Chết, ông bác cứ nói đùa! Em muốn bác đỡ đần cho phim em, để bác có thêm chút thu nhập, và cái chính là được học hỏi thêm nhiều điều ở bác!” Ông cười xòa, nhận lời và bảo Thế: “Tớ còn đóng vai già làng Mông được ấy chứ!”. Không ngờ, lời nói vui đó lại biến thành sự thật.

Suốt hai tháng ròng rã quay phim ở một vùng cao Tây Bắc, ông Vũ đã làm phim cùng Thế trong cương vị tổ trưởng tổ thiết kế mỹ thuật, cùng với họa sĩ Lăng lo cả dựng cảnh lẫn phục trang đạo cụ… Ông đã chỉ huy tổ thiết kế tạo cả một vườn hoa thuốc phiện giả mà ngay đồng bào Mông cũng tưởng là hoa thật! Ông còn quan tâm đến bếp ăn của đoàn chỉ vì thằng em dại đạo diễn phải ăn kiêng do mắc lại bệnh đường ruột khá nặng đúng vào giai đoạn quay, ông đề nghị anh nuôi chuẩn bị mâm cơm riêng cho Thế – cái điều mà anh giữ ý không nỡ báo cho anh nuôi… Vào quãng thời gian rảnh của đoàn phim do chờ đợi mang phim négatif đã quay về Hà Nội in tráng, ông bàn với Thế về vài thoại phim, tâm lý nhân vật, tiếp tục tìm hiểu các bối cảnh mới sẽ quay, hoặc đi khắp mấy làng Mông xung quanh sưu tầm các vật dụng của đồng bào – như sừng trâu, lục lạc trâu, mõ trâu, dao Mông, súng kíp, mảnh thổ cẩm… làm đạo cụ cho phim, và cho bộ sưu tập của cá nhân ông. Có ngày nằm dài chờ đợi kết quả in tráng đưa lên, ông kể cho Thế nghe những ý tưởng làm tượng và ký ức về Rừng của ông, ông bảo: Vầng trăng núi của mày làm tao nhớ lại thời tuổi trẻ: Người ở phương nào tôi ở đây/ Nao nao rừng hết mấy tầng cây…

Tới trường đoạn phim cần có một vai phụ là già làng (phải “nhai” được mấy câu thoại phim), sau khi đoàn phim đi khắp mấy làng (jao) Mông xung quanh để tìm mà không ra, thì bé Trà diễn viên nhí bỗng kêu lên: “Đạo diễn ơi, con thấy bác Vũ Anh ngồi lên bếp lửa Mông làm mấy cái đạo cụ trông giống già làng lắm ạ”. Thế là anh liền mời ông thay phục trang Mông, đóng thử vai. Hóa ra, lời vui ngày nào của ông ứng nghiệm: ông vào vai già làng thực điệu nghệ, như ông sinh ra là để cho vai diễn này! Khi trong áo quần dân tộc, ông đi trong làng, nhiều người dân cứ tưởng ông là lão Mông ở làng khác tới, chào ông bằng tiếng Mông, khiến ông lúc đầu ngượng nghịu lí nhí, sau thì mỉm cười vẫy tay chào y như lãnh đạo về thăm bà con!

Trong giai đoạn quay căng thẳng nhất, xảy ra một vụ cháy trong làng Mông, ông là người đầu tiên phát hiện ra và gào thét cả đoàn phim bỏ việc chạy tới giúp đồng bào dập cháy kịp thời!…   Gần cuối đợt quay, cũng vào dịp sinh nhật diễn viên nhí Trà, ông đã chủ động tạo ra một bữa tiệc nhỏ đủ bánh trái hoa rừng để mừng cô bé, với sự tham gia của cả đoàn phim và nhiều trẻ em trong làng. Trong bữa tiệc ấy, ông đã kịp học được vài câu tiếng Mông kết hợp điệu bộ để trò chuyện với lũ trẻ người Mông quanh cô bé diễn viên chính của đoàn, như một già làng thực thụ…

Trở về Bắc Giang, ông đã mang theo mấy đạo cụ của phim và đồ sưu tầm riêng từ vùng cao để trưng bày trong gian phòng ám khói chất sách vở lâu nay đã quen thuộc với bạn bè và các đàn em yêu quý ông.

15.

Thư cho Yến:

Bộ phim Vầng trăng núi của anh đã được cấp duyệt cuối cho vào làm bản đầu để phát hành rộng rãi toàn quốc, và có thể ra quốc tế nữa. Nhiều người trong nghề thích bộ phim vì xúc cảm chìm sâu của nó, dù cách thể hiện hơi khác lạ của anh. Còn ra công chúng thì anh hy vọng sẽ tìm được không ít đồng cảm… Hơi tiếc vì kỹ thuật phim. Nhà quay phim, Cục phó Cục Điện ảnh Trần Dân hỏi anh: “Các cậu mang theo bao nhiêu ký đèn mà chiếu sáng phim đuối thế?” Chẳng lẽ anh thật thà đổ lỗi cho tổ quay phim: “Em cho thuê đủ đèn, đủ cơ số phim độ nhạy cao, nhưng các vị ấy không phải lo tới sự đánh giá xếp loại kỹ thuật A,B,C của Hãng như mọi khi, nên đã thỏa sức thể nghiệm, đúng hơn là lấy phim của em làm nơi thí nghiệm hiếm có cho nghề nghiệp khi chiếu sáng bối cảnh nhà người Mông vốn tranh tối tranh sáng giữa ban ngày…”. Nhưng tiếc nhất là anh đã không thể mời em về để xem “đứa con đầu lòng” của anh ra đời sau bao năm lận đận lủi thủi vào Nam ra Bắc, lên rừng xuống biển, vất vả tìm đường làm phim, và lo toan đến hộc máu mà không giữ được người mình yêu…

Sau khi phim được duyệt, anh một mình ra ngồi trên bãi cát sông Hồng, nhìn mấy đứa trẻ chơi đùa trên cát – những đứa trẻ chắc bằng lứa tuổi con đầu lòng mà chúng ta có thể có với nhau, lòng anh chợt tan tác, xót xa… Và anh cảm thấy sự thiếu vắng em trong đời là cái thiếu thốn đau đớn nhất… Anh thèm có được tâm hồn trong trẻo của em luôn bên anh để mọi điều khổ đau và vui sướng của anh sẽ hiển hiện qua đó tựa một tấm gương không cần giải thích, chứng minh, biện hộ, mà nếu phải lý giải chúng anh sẽ mất cả đời người với hàng vạn mét phim nhựa; và với tấm gương đó anh có thể soi rọi, vẽ nên chút gì đó về sự chật chội tù túng của tâm hồn con người, về sự tầm thường đến phát khóc của trái tim mà tuổi trẻ quanh anh vẫn lầm tưởng là Tình Yêu và không hề coi đó là bất hạnh… Nhìn quanh bạn bè thân thiết, ai cũng đều có gia đình nhỏ ríu rít ấm cúng, anh chạnh lòng và lại vùi đầu trong sách vở, bản thảo dở dang, để rồi thêm đơn độc và nhớ em…

Bức thư này, cũng như nhiều bức thư trước đó anh không gửi đi. Sợ ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình mà em đang có, và không muốn khơi lại cho em vết thương lòng chắc không bao giờ hàn gắn được và chẳng ai có thể hàn gắn được…

Bộ phim đầu tay của Thế được chiếu tại Rạp Tháng Tám ở trung tâm Thủ đô một tuần – như tất cả các phim thực hiện bằng nguồn đầu tư không hoàn lại của Bộ Văn hóa. Áp phich phim tại Rạp do họa sĩ Lăng – em Thế thể hiện ma két giúp Công ty phát hành. Vì không có kinh phí dành cho việc truyền thông – quảng bá, nên Thế và chủ nhiệm Thanh đã tự làm tờ rơi in màu đơn giản, kiểu capostal hai tờ gấp, gồm bốn trang: Trang đầu: HODAFILM SẢN XUẤT năm…- VẦNG TRĂNG NÚI – Phim nhựa màu Kodak 10 cuốn. Trang hai: Biên tập, Biên kịch, Đạo diễn, Giám đốc sản xuất và các thành phần chủ chốt: Quay phim, Họa sĩ, Nhạc sĩ, Âm thanh, Dựng phim & Diễn viên chính – thứ chính. Trang bốn: Hai cảnh phim. Còn trang ba có nội dung như sau do Thế soạn:

Mai Ly – cô gái dân tộc Mông có tên “Vầng trăng” trở về làng sau ba năm đi học dưới xuôi, với bao khát vọng đẹp cho quê hương vùng cao… Nhưng Vừ Tủa, người yêu của cô đã dần trở thành một kẻ buôn lậu thuốc phiện và nghiện hút. Tình yêu tan vỡ, Mai Ly còn phải gánh chịu nỗi bất công của sự hiểu lầm và ghẻ lạnh của của dân làng… Đau đớn, tuyệt vọng, Mai Ly tìm cách bỏ làng ra đi.

Liệu cô gái vùng cao có trụ lại được ở quê hương mình? Mối tình của đôi nam nữ người Mông có hàn gắn được hay không?

“Những kết thúc có hậu thường chỉ có trong những câu chuyện cổ tích Mông…”

Còn kết thúc của phim “Vầng trăng núi” ra sao, mong quý vị khán giả theo dõi.

Quả đúng như dự cảm của Thế và chủ nhiệm Thanh: những người đã đi làm phim ngoài Hãng cho phim của Thế, dù tất cả đã hoàn thành định mức lao động của Hãng đều bị cảnh cáo, nhưng bằng cách mà không ai có thể tưởng tượng nổi: Tên tuổi những nhân vật đó đã “được” trưng lên cả tháng ròng trên một bản công bố chữ to dán ngoài cổng Hãng để công khai trừng trị những ai đã ủng hộ tay đạo diễn dám qua mặt Hội đồng nghệ thuật chơi trèo tới ngọn nguồn tài trợ – “bầu sữa” Nhà nước, mà chỉ một Hãng phim có nhiều bằng khen, giải thưởng trong nước và quốc tế mới có quyền ưu tiên số Một được hưởng! Tác phẩm “con rơi” đó lẽ ra phải là sản phẩm theo Kế hoạch quý/ năm nhằm phục vụ các nhiệm vụ xã hội – chính trị lớn của một Hãng phim có bề dày lịch sử, chứ không phải chỉ là đơn vị làm thuê từng công đoạn sản xuất theo Hợp đồng cho tay đạo diễn vô danh tiểu tốt, “vua không biết mặt chúa không biết tên” nọ! Vậy là, đây là lần thứ hai Thế có “vinh hạnh” được bêu tên tuổi trước công luận bằng bảng Chữ to, bởi những người có quyền định đoạt tương lai nghề nghiệp của anh, ở cả hai vùng miền: miền xuôi và miền núi – theo quy định phân vùng địa lý tự nhiên từ trước tới nay…

Và trong kho “lưu trữ ý tưởng bần tiện” của Thế đã có thêm một prototype (nguyên mẫu) về một ông lãnh đạo các nhà làm phim có “Đít đồng”, “Đầu đất sét”, “Bụng cá sấu” và “Trái tim rắn rết” – như lời bàn luận sau lưng đầy hứng thú và sợ sệt của một số nghệ sĩ trẻ trong Hãng phim – dù có được hưởng ân huệ ban phát của ông ta hay không… “Thủ lĩnh” số một của những vị “Đít đồng” đó là người cầm đầu Liên hiệp Điện ảnh vào năm Liên Xô sụp đổ đã có một chủ trương khiến các ông chủ phim toàn thế giới phải kinh hoàng và ngả mũ kính nể: Biến tất cả các rạp chiếu phim toàn quốc thành quán bia, vũ trường và cơ sở dịch vụ đủ loại không dính dáng chút gì tới Điện ảnh!… Từ sự khốn nạn cay đắng của riêng mình, Thế có dịp hiểu thêm và cảm thông hơn với các đạo diễn – biên kịch đàn anh mấy thế hệ trước phải bỏ Hãng mà đi biệt tăm, hoặc đã chết mà không nhắm được mắt, chưa được mỉm cười nơi chín suối bởi chưa có kẻ đủ dũng khí kể lại những sự thật dau lòng, những bất công mà các ông/ bà phải chịu đựng thời những “Đít đồng” kia nắm quyền sinh quyền sát với tác phẩm tâm huyết và bữa ăn của gia đình họ… Đến thời của anh, không khí những cuộc “đấu tố”, “thanh trừng” và “loại bỏ” trong cơ sở làm phim truyện lớn nhất Đông Dương này đã hạ nhiệt khá nhiều như để dành không gian cho sự “ban ơn”, “chiếu cố”, “ưu tiên”, “dành riêng” – tuy cái sự “ban ơn”, “chiếu cố” này lắm lúc cũng gay gắt như một cuộc huy động quân dịch, đó là các đợt truy vét tổng kho toàn bộ nhân vật lực dành cho phim “khủng” nhằm chào mừng các Đại Lễ của những ông lớn đạo diễn “thủ lĩnh” Hãng, “thủ lĩnh” Xưởng… Một người bạn “đồng môn” đạo diễn của Thế sau khi phải đi làm phó đạo diễn cho một phim như vậy đã được “bố thí” cho bộ phim nhựa đen trắng đầu tay, để sau bộ phim đó đã bán xới khỏi Hãng, giơ tay chào vĩnh biệt Nàng Tiên Út-Nghệ thuật thứ bảy để vào làm văn nghệ quần chúng tận Đồng bằng Sông Cửu Long! Còn Thế thì không hiểu đã khôn ngoan hay dại dột khi từ chối khéo léo để thoát khỏi một lần “huy động quân địch” như thế, rồi sẽ “được” ghi dai dẳng trong bộ nhớ sáng suốt của những người cầm cương đoàn “chiến xa” Điện ảnh dân tộc…

Đoàn “chiến xa” mải mê hùng dũng phóng về “Hố Thẳm”.

 

[64] Thơ Hoàng Cầm: Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên (Bên kia sông Đuống – 1948).

[65] Les chemain des tourments – tên một cuốn tiểu thuyết bộ ba (trilogie) của nhà văn Nga A. Tolstoy

[66] Đầu những năm 90 thế kỷ trước, điện thoại bàn nhà riêng còn là của hiếm…

[67] Hậu kỳ phim truyện điện ảnh gồm các khâu: dựng phim (từ các đúp quay phim Nê và Pô đã in tráng), làm băng từ âm thanh, định sáng, kỹ xảo, làm chữ phim, v.v.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.