Ngu Yên

Hàn Mặc Tử
I. Hồn là ai qua ký hiệu và cấu trúc
Phần lớn người đọc Hồn là ai đều dừng lại ở một cảm giác chung: rợn người, ma mị, như đang chứng kiến một cơn mê sảng. Cảm giác đó không sai, nhưng nó khiến người ta chú trọng cảm xúc mà bỏ qua một điều đáng chú ý hơn nằm ngay trong cách bài thơ được dựng lên bằng chữ, trước khi bàn đến việc nó gợi cảm giác gì.
Hồn là ai? là ai?
Lẽ ra phải hỏi hồn là gì. Khi dùng chữ ai, nhà thơ đã phong cho hồn là một nhân vật hay linh vật. Rồi đọc hết bài thơ, ta vẫn không biết hồn là ai.
Cụm từ này vừa là câu hỏi vừa là ẩn dụ thao thức, gợi lên một hiện tượng tương đồng: một khao khát siêu nhiên không thể định danh. Một thứ gì không thể thỏa mãn mà vẫn nung nấu tâm can. “Hồn mớm cho tôi bao ánh sáng. Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến.”
Một thứ gì mà Freud giải thích là một xung năng không được thỏa mãn trực tiếp vì bị cấm đoán hoặc không thể đạt tới trong thực tế, sẽ chuyển hướng sang một mục tiêu khác, được xã hội chấp nhận hoặc thậm chí đề cao, như nghệ thuật, tôn giáo, khoa học. Freud từng phân tích chính hiện tượng sáng tạo nghệ thuật theo hướng này, xem tác phẩm là sản phẩm của một ham muốn bị chặn đường trực tiếp, phải đi vòng qua biểu tượng để giải tỏa.
Trong tâm lý học đương đại, ẩn dụ này được giải thích qua khái niệm compensatory fantasy hay wish fulfilling fantasy, ảo tưởng bù đắp. Đây là dạng suy nghĩ tự phát, không chủ đích, trong đó não tưởng tượng ra kịch bản thỏa mãn một nhu cầu hiện không đạt được trong đời thực.
Hồn và tôi
Đi sâu vào ký hiệu, hãy để ý, toàn bài chỉ có hai nhân vật, tôi và hồn. Không có em, không có nàng, không một bóng người thứ ba nào khác. Trong khi gần như toàn bộ sự nghiệp thơ tình của Hàn Mặc Tử đều cần một đối tượng bên ngoài để hướng tới, một Mộng Cầm, một Hoàng Cúc, một bóng áo trắng nào đó. Ở đây thì không.
“Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười.” Nếu ta nhìn sát vào ngôn từ mô tả, thì đây là cảnh ái ân giữa người và hồn, giữa tôi và niềm khát vọng. Một libido thăng hoa.
Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm,
Cho trăng ngập, trăng dồn lên tới ngực.
Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức,
Rồi bay lên cho tới một hành tinh,
Cùng ngả nghiêng lăn lộn giữa muôn hình,
Để gào thét một hơi cho rởn ốc
Có thể phản bác rằng đây chỉ là mô hình hồn xác vốn quen thuộc trong Thơ mới, không riêng gì Hàn Mặc Tử. Phản bác này có cơ sở. Nhưng cần phân biệt: mô hình hồn xác ở những tác giả khác thường vẫn giữ một tha nhân đứng ngoài làm điểm quy chiếu cho khát vọng, còn ở bài này, khát vọng không có nơi để phóng chiếu ra ngoài, nó buộc phải quay ngược vào trong. Sự vắng mặt của người thứ ba, do đó, không phải chi tiết trang trí, mà là điều kiện để toàn bộ cảnh tượng của bài thơ có thể xảy ra. Và khi đã xong giấc mơ hoa thì “Hồn mê mệt lả mà tôi thì chết giấc.”
II. Hồn là ai qua phép đọc của Umberto Eco
Ông là người có lối đọc thơ khác lạ. Eco (1990. The Limits of Interpretation. Bloomington: Indiana University Press) phân biệt ba thứ hay bị người ta gộp làm một khi đọc văn bản: intentio auctoris, ý định của tác giả, intentio lectoris, ý định của người đọc, và intentio operis, ý định của chính văn bản, thứ có thể kiểm chứng bằng sự mạch lạc nội tại của câu chữ mà không cần biết tác giả nghĩ gì lúc viết.
Eco sẽ không hỏi Hàn Mặc Tử định nói gì, cũng không cho phép người đọc muốn hiểu sao thì hiểu, mà sẽ hỏi, cấu trúc của chính bài thơ này cho phép và không cho phép những cách đọc nào. Nghĩa là ông tạo giới hạn cho việc suy tư về bài thơ không quá mông lung. Không phải muốn hiểu sao thì hiểu. Việc này cần thiết cho suy tưởng của phê bình, thường có khuynh hướng đắm chìm mông lung.
Theo ông, bài thơ mở ở câu hỏi nhưng đóng rất chặt ở phần cấu trúc quan hệ, độc giả được tự do đoán hồn là ai, nhưng không được tự do đoán quan hệ giữa hồn và tôi là gì, vì quan hệ đó đã bị văn bản quy định. Những suy đoán phải dựa lên ngôn từ và cấu trúc, vốn đã được tác giả biểu hiện.
Eco dùng khái niệm isotopy (sợi chỉ ngữ nghĩa giữ văn bản khỏi rã thành các câu rời rạc, cho phép người đọc chọn đúng nghĩa của một từ đa nghĩa dựa trên ngữ cảnh xung quanh, thay vì hiểu sai hướng), mượn của Greimas, để chỉ những sợi nghĩa lặp đi lặp lại giúp người đọc nhận ra một chuỗi từ đang cùng nói về một chủ đề, dù bề mặt câu chữ nhảy cóc. Bài này có ít nhất hai isotopy chạy song song, một isotopy: ánh sáng và trăng, mớm ánh sáng, sặc sụa mùi trăng, vũng trăng êm, trăng ngập, và một isotopy bạo lực thân thể: cấu, cào, nhai ngấu nghiến, tê điếng, rùng rợn. Cái khiến bài thơ giữ được tính mạch lạc, thay vì trở thành một chuỗi hình ảnh tùy tiện, là việc hai isotopy này không chạy tách rời mà liên tục cắt ngang nhau trong cùng một câu, ánh sáng được mớm cũng chính là thứ khiến người ta chết giả, trăng êm cũng chính là thứ nhấn chìm đến ngập ngực. Nếu tách hai isotopy ra riêng, mỗi cái đọc đều xuôi và có phần nhàm, một bài thơ về ánh trăng, một bài thơ về đau đớn thân xác. Chính sự giao thoa cố ý giữa hai isotopy độc lập mới sinh ra cái mà Eco gọi là hiệu ứng bất ngờ có tính cấu trúc, chứ không phải một trang trí tu từ ngẫu hứng. Sự giao thoa này tạo ra thơ.
Nếu bạn thấy khó hiểu, hãy nhìn vào hai đoạn thơ ngắn này:
1- Áo nàng vàng
Áo nàng xanh
và
2- Yêu hoa cúc
Mến lá sân trường
Hai bài thơ này tự thân là hai bài thơ tầm thường nhưng khi giao thoa (ý định văn bản) thì độc đáo:
Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường
(Nguyên Sa)
Qua phương pháp của Eco, chúng ta có thể nói: bài thơ này hay ở chỗ nó có một intentio operis (ý định của văn bản) rất mạch lạc, thể hiện qua hai isotopy song song, ánh sáng trăng và bạo lực thân thể, liên tục cắt ngang nhau, khiến văn bản không rã thành các hình ảnh tùy tiện dù bề mặt câu chữ có vẻ điên loạn. Ông cũng sẽ ghi nhận câu hỏi mở đầu và lúc khép lại, hồn là ai, là ai, là một cơ chế cố ý không đóng, một cái biểu đạt trôi nổi được thiết kế để hoãn lại ý nghĩa, để mỗi người đọc tự trả lời hồn là ai.
Nhưng ông sẽ phê bình gay gắt bất cứ ai muốn đọc thêm một tầng nghĩa tôn giáo, hiện sinh, hay tiểu sử học vào bài thơ mà không chỉ ra được chi tiết cụ thể nào trong chính câu chữ buộc phải hiểu theo hướng đó. Với ông, việc gán cho hồn ý nghĩa thi hứng, hay đọc câu thiên đàng trần gian địa ngục như một cử chỉ dị giáo, là những giả thuyết có thể thú vị nhưng chưa được intentio operis xác nhận, và người phê bình có nghĩa vụ tiếp cận sự chính xác qua văn bản.
Tóm lại, phê bình của Eco sẽ là một lời khen có điều kiện, bài thơ tự nó đã dựng một hệ thống ký hiệu chặt chẽ đáng được phân tích nghiêm túc, nhưng phần lớn những diễn giải giàu ý nghĩa mà người đọc muốn gán cho nó vẫn đang vay mượn từ bên ngoài văn bản nhiều hơn là được chính văn bản đòi hỏi.
III. Hồn là ai, tâm lý cô đơn
Hồn trong thơ là một mô hình rất phổ quát trong thơ lãng mạn. Tuy nhiên, trong trường hợp này, có chỗ khác. Năm 1938, Hàn Mặc Tử hai mươi sáu tuổi. Cơn đau của căn bệnh phong cùi, thứ mà một năm trước ông mới biết chắc là không thể chữa, đang ở giai đoạn đau đớn dữ dội. Người ta kể lại, không ai từng nghe ông rên rỉ than khóc. Ông chỉ gào thét ở trong thơ. Cùng năm đó ông chia tay với Mộng Cầm, và khi một người con gái khác, Mai Đình, lặn lội tìm đến chỉ vì yêu thơ ông, ông từ chối không gặp vì không muốn ai nhìn thấy thân thể mình đang trở thành dị dạng. Sự khổ đau gấp đôi của tâm hồn và thân xác lộ diện qua thơ. Lối thoát cụ thể duy nhất mà ông có thể, ngoại trừ cầu nguyện.
Cùng năm, Hồn là ai ra đời trong tập Thơ Điên. Chi tiết này cho thấy, ông khó có thể làm thơ mà chỉ lựa chọn tu từ thuần túy. Hiện tượng tâm lý depersonalization, mô tả trạng thái một người cảm thấy tách rời khỏi chính thân thể mình, như đang quan sát nó từ bên ngoài, thường xuất hiện như một phản ứng tự vệ trước đau đớn hoặc sang chấn vượt quá khả năng xử lý trực tiếp của tâm trí. Sự việc này không phải chọn lựa có ý thức, nó là cách hệ thần kinh tự bảo vệ khi cái đau thân xác trở nên không thể chịu đựng nổi. Tuy nhiên, ta không thể kiểm chứng minh bạch. Nhưng nếu sử dụng diễn ngôn và cấu trúc bài thơ, nơi thân xác liên tục được nói đến như một đối tượng bị hành hạ bởi một chủ thể khác gọi là hồn, mô phỏng rất sát dạng trải nghiệm tâm lý depersonalization.
Ai cũng có thể cảm nhận được sự cô đơn của ông vật vã như thế nào qua tuổi trẻ, bệnh nan y và chết. Vì vậy, khi đọc lại: “Thịt da tôi sượng sần và tê điếng, Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên.” thì không còn là chữ nghĩa nữa, mà là nỗi đau tột cùng.
Tôi nghĩ điều đáng giữ lại sau tất cả những phân tích trên không phải một chẩn đoán, vì không ai có quyền chẩn đoán một người đã khuất gần trăm năm chỉ qua vài trang thơ, mà là một hình dung cụ thể hơn về người đang cầm bút năm 1938, đang sống trong một xã hội xem căn bệnh của mình là điều đáng xấu hổ phải che giấu, và ông ta không có ai để than khóc ngoài chính tờ giấy trước mặt. Bài thơ, đọc đến tận đây, không còn là một trò chơi ký hiệu kỳ dị để phân tích, nó là chứng tích của một người đã phải tự biến mình thành hai người, chỉ để có ai đó cùng nhau trong đêm dài cô độc, chia sẻ sự đau đớn của thân xác, sự khổ não của tâm hồn, để thơ từ tận cùng đáy cô đơn bốc lên.
HỒN LÀ AI
Hàn Mặc Tử
Hồn là ai? Là ai? Tôi chẳng biết.
Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi.
Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười.
Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng…
Tôi chết giả và no nê vô vạn,
Cười như điên, sặc sụa cả mùi trăng.
Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng,
Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến!
Thịt da tôi sượng sần và tê điếng,
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên.
Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm,
Cho trăng ngập, trăng dồn lên tới ngực.
Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức,
Rồi bay lên cho tới một hành tinh,
Cùng ngả nghiêng lăn lộn giữa muôn hình,
Để gào thét một hơi cho rởn ốc
Cả thiên đàng, trần gian và địa ngục.
Hồn là ai? Là ai? Tôi không hay,
Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay,
Hồn mê mệt lả mà tôi thì chết giấc…