Nguyễn Thị Khánh Minh

Nhà văn Lê Lạc Giao
Khi đọc những tác phẩm hồi ký, truyện dài hay chứng từ về các trại tù cải tạo sau tháng 4.1975, điều làm người đọc day dứt không chỉ là sự khắc nghiệt của tù cảnh, mà còn là câu hỏi: Làm sao có những người vẫn sống sót, cả về thể xác lẫn tinh thần trong lúc bị tước đoạt tất cả, nhất là tự do?
Cảm nhận của tôi sau đây là từ các chương 1, 7, 8, 14, 15, 16, 17 và Lời mở đầu, của hồi ký tiểu thuyết Tổ quốc trăm năm[*] của nhà văn Lê Lạc Giao, là những chương để lại cho tôi cảm xúc sâu đậm.

Thoạt đầu cứ tưởng Tổ quốc trăm năm là một cuốn sách viết về những năm tháng tù và chốn lưu đày của bên thua cuộc sau biến cố tháng Tư 1975, nhưng càng đọc, tôi càng thấy tác giả không chỉ kể hành trình tù đày, ông đang kể một câu chuyện lớn hơn, sâu sắc hơn: thân phận con người trước vật đổi sao dời của lịch sử, cùng những hệ lụy của vấn đề ý thức hệ chính trị.
Ngay trong lời mở đầu, nhà văn Lê Lạc Giao đã xác định vị trí tư cách của người viết, “Tôi kể hoặc trình bày lại cuộc chiến tranh trong vai trò nạn nhân và nhân chứng của mình.”
Và sau đó ông mở rộng: “Tôi thiết nghĩ những ai liên hệ đến cuộc chiến đều không ở bên ngoài hai phạm trù này.”
Thay vì nhìn cuộc chiến qua tâm cảnh thắng-thua, ông nhìn nó bằng lăng kính nhân chứng và nạn nhân – nghĩa là Con Người. Đây là sắc thái nhân bản và nhân văn trong nhân sinh quan của tiểu thuyết gia Lê Lạc Giao.
Cũng ở Lời mở đầu, ông nói: “Tôi mong quyển sách là một chia sẻ hay hơn nữa một đóng góp cho dù nhỏ nhoi thông tin lịch sử của đất nước mình.”
Ông không viết chỉ để kể nỗi khổ của riêng mình. Ông muốn lưu giữ một ký ức tập thể, chống lại sự lãng quên, để gửi lại cho những thế hệ sau thông tin lịch sử của đất nước – một thái độ khách quan, công bằng và trung thực.
Những cảm nhận mà tôi có được là do cảm xúc từ tâm trạng và cách chịu đựng của tù nhân hơn là từ những sự kiện. Và, không chỉ là nỗi buồn về một giai đoạn lịch sử, mà còn có niềm tin như tác giả, rằng, phẩm giá con người có thể bị tổn thương, nhưng không dễ bị hủy diệt.
*
Tôi bị ám ảnh bởi hình ảnh những chuyến xe đêm âm thầm rời thành phố trong chương mở đầu. Những con người ấy ra đi mà không biết nơi đến, cũng không biết tương lai sẽ ra sao. Trong họ hai trạng thái tình cảm có sức công phá tâm tư ngang nhau: đó là sợ hãi và lặng im. Một sợ hãi của tay trắng, một im lặng của thúc thủ, của nghi vấn, về số phận, về cuộc sống, trước tấm lưới của tù ngục đang bổ xuống.
Qua các chương 1, chương 7, chương 8, chương 17 của Tổ quốc trăm năm, tôi đã có được những yếu tố để trả lời cho câu hỏi ban đầu, làm sao tù nhân sống sót qua cuộc sinh tử ấy:
1- Họ sống sót nhờ giữ được đời sống tinh thần và sở thích riêng tư
Để chịu đựng những khắc nghiệt của đói khát, lao động cật lực và sợ hãi, các nhân vật như Tuệ, viết nhạc ghi vào trí nhớ để mong lúc nào đó nó được hát lên, Cương dạy tiếng Pháp cho bạn tù, một nhóm đánh cờ tướng (không biết có nhắc nhở, chạnh lòng đến vai trò chốt thí trong bàn cờ quê hương?), người khác hát tình ca, một nhóm chơi đá dế. Tôi thực sự chấn động bởi hình ảnh một người trưởng thành, như Thạc, trong cảnh tù, vẫn hồn nhiên khoe bắt được con dế, giấu nó trong lon sữa bò, chờ mở cuộc đá dế, thoạt nghe tưởng là những chi tiết rất nhỏ, nhưng thực ra chúng cực kỳ quan trọng. Đó là những khoảnh khắc họ đang cố giữ lại phần người của mình. Nói cách khác, họ không để nhà tù đóng ấn, định nghĩa con người của họ, họ khẳng định mình qua những hoạt động tinh thần ấy. Với những người có trình độ văn hóa giáo dục từ trước, họ có thêm vũ khí là ký ức văn hóa khiến họ sống sót và xoay xở với tuyệt vọng, họ nói về Truyện Kiều, họ đọc thơ Chiều của Hồ Dzếnh, Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương… Thử hỏi không có ký ức văn hóa ấy, thì cơm tù, luật tù đã vùi nát nhân phẩm của họ xuống bùn đen rồi, bởi những thứ đó không là một thú thưởng ngoạn, nó là nơi trú ẩn tinh thần cho những thân xác bị giam hãm.
Tôi nhớ ý câu của nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn khi viết về Gulag: có những lúc một bài thơ thuộc lòng quý hơn một ổ bánh mì, bởi bánh mì nuôi thân xác một ngày, còn thơ giữ cho tâm hồn khỏi sụp đổ. Ở nhân vật Hảo, Tuệ… tôi thấy điều tương tự.
- Họ sống sót nhờ tình bạn
Chính nhờ những hoạt động âm thầm trên đã nuôi nấng nên tình bạn. Họ sống sót nhờ dưỡng khí tình bạn. Quanh Hảo thường xuyên có những: Kỳ, Tuệ, Thạc, Nhượng, Tánh, Chánh, Cương… họ tồn tại một nhóm nhỏ khép kín, nhưng là một ván thuyền đỡ họ trong sóng của nghi kỵ, dòm ngó, hình phạt. Trong tình bạn ấy họ chia sẻ được cho nhau tuyệt vọng, để nhen nhúm hy vọng.
- Họ sống sót nhờ vào khả năng suy tư
Từ nhận xét 1, tôi đi đến yếu tố này, và điển hình là nhân vật Hảo. Anh liên tục đặt câu hỏi: Thân phận mình là gì? Lịch sử là gì? Quê hương là gì? Tổ quốc là gì? Và anh đi qua được năm tháng đằng đẵng của tù ngục. Nhà văn Lê Lạc Giao đã bộc lộ sự tin tưởng, con người có thể bị cầm tù thân xác nhưng vẫn giữ được tự do nội tâm nếu còn khả năng tư duy, và vì thế, ông đã đưa vào rất nhiều đoạn triết luận về lịch sử và định mệnh. Như nhân vật Hảo, anh phân biệt “quê hương” với “chế độ”. Anh có thể bị chia ly với gia đình xã hội, mất quyền lực, địa vị, công việc, tương lai, bởi sự đổi thay chế độ, nhưng anh vẫn giữ được tình yêu đối với quê hương. Điều đó giúp anh không bị hủy diệt bởi hận thù. Và Hảo đau vì đất nước hơn là đau vì số phận cá nhân, đây là nội lực mạnh nhất giúp anh trong cuộc sống còn.
- Họ sống sót vì còn giữ được ý nghĩa cho sự tồn tại của mình
Ngay từ đầu nhà văn viết: “Thời gian tù tội trong cuộc đời một người, tự nó có ý nghĩa hay giá trị nhất định”.
Ông không xem quãng đời tù như một hình phạt đơn thuần, ông chia sẻ nó với tư cách nạn nhân – chứng nhân.
Với tư cách nạn nhân ông hiểu nó hơn ai hết, tư cách bị động của số phận bên thất thế, và nhẫn nại chịu đựng đau đớn thể xác lẫn tinh thần để bảo vệ phẩm giá, để chờ ngày trở về với gia đình, để không bỏ cuộc một khi sự đau khổ được gắn với ý nghĩa nó cho người ta thêm sức mạnh,
Nhà tâm lý học và cựu tù nhân trại tập trung Đức Quốc Xã là Viktor Frankl cho rằng con người có thể chịu đựng những hoàn cảnh tưởng như không thể chịu đựng được nếu họ còn nhìn thấy một ý nghĩa nào đó cho sự tồn tại của mình.
Với tư cách chứng nhân ông ghi lại nó, biến nó thành chứng từ của một biến cố lịch sử, nhưng đọc Tổ quốc trăm năm, tôi không có cảm giác mình đang đọc một bản cáo trạng, mà thấy như mình đang lắng nghe lời kể của một nhân chứng cố gắng giữ lại những ký ức có thể bị thời gian cuốn mất. Và trong những ký ức ấy, điều còn lại sau cùng không phải là hận thù, mà là câu hỏi về ý nghĩa của đời người trước những thăng trầm của lịch sử. Với tư cách này nhà văn Lê Lạc Giao đã thể hiện được sự khách quan cần thiết.
*
Qua ba chương 14, 15, 16, điều làm tôi suy nghĩ không phải những tranh luận về thắng bại hay những lý giải chính trị của một cuộc chiến đã lùi xa nửa thế kỷ. Điều còn ở lại là những câu hỏi lớn hơn: Con người là ai giữa những biến động lịch sử? Điều gì còn lại khi một ý thức hệ thất bại, một chế độ sụp đổ, một đời người bị cuốn vào vòng xoáy phi lý của chiến tranh? Và liệu lòng yêu nước có thể tồn tại bên ngoài mọi chủ nghĩa, mọi định kiến chính trị hay không?
Tác giả xoáy theo câu hỏi, ý thức hệ đã dẫn dắt chủ trương, hành động con người như thế nào. Khi quyền lực nắm công cụ ý thức hệ chính trị, xem nó là phương hướng thì con người bị nhìn như một phương tiện thay vì mục đích. Lúc ấy người ta không còn thấy một cá nhân tên Hảo, hay Tuệ, hay Thạc… mà chỉ còn thấy: đồng chí, địch, phản động, cách mạng, thắng cuộc, thua cuộc.
Nhà văn Lê Lạc Giao đã hóa giải cái nhìn ấy theo nhận xét rất nhân bản. Người lính miền Nam, người lính miền Bắc, người cán bộ, người tù cải tạo, người dân, mỗi người đều hành động trong những khuôn khổ tư tưởng, niềm tin và hoàn cảnh mà họ được sinh ra. Nhận xét như vậy, không có nghĩa xóa bỏ những hệ lụy của ý thức hệ, mà khiến người ta nhìn mọi điều xảy ra trong hoàn cảnh khắc nghiệt một cách cảm thông hơn. Tôi cho rằng đó là mấu chốt quan trọng để hai bên nhìn thấu nhau, đưa đến có thể, chuyện hội nhập.
Đây cũng là những nét mở rộng trọng tâm của tác giả ở ba chương 14,15,16.
Cảnh tù không phải là chính yếu, mà ở sự nhận thức của tù nhân về thân phận mình
Nhân vật Hảo nhìn lại cuộc đời tù đày như một phần của một bi kịch lớn hơn, câu nói làm ta suy gẫm: “Quá trình chấp nhận đớn đau để rồi yêu thương này là bi kịch bản thân, hay bi kịch dân tộc?“.
Phải chăng đây là một trong những câu hỏi cốt lõi của toàn bộ tác phẩm. Nếu chỉ là hồi ký tù cải tạo, câu hỏi sẽ là: “Tại sao tôi phải chịu cảnh này?”.
Nhưng Hảo hỏi: “Đây là bi kịch của riêng tôi hay của cả dân tộc?”. Câu hỏi ấy đưa tác phẩm vượt khỏi phạm vi một hồi ký tù nhân.
Tác giả đang tìm kiếm “con người” phía sau ý thức hệ
Có chi tiết thú vị trong hai chương 14, 15. Trong cuộc đối thoại với Phạm Văn Nhân, Hảo không thỏa mãn với những giải thích thuần túy chính trị: tổ chức đảng, viện trợ Mỹ, chiến lược quân sự, và còn nhìn thấy sự giới hạn của chính phía mình. Hảo không chỉ trách người chiến thắng, anh cũng chất vấn phe mình, tại sao miền Nam thất bại, điều gì đã thiếu sót, điều gì đã không hiểu được đối phương. Một thái độ trung thực, không nhằm biện hộ, kết án, chỉ cốt để hiểu, đó không phải là biểu hiện sâu sắc của tinh thần nhân bản hay sao?
Anh kéo cuộc trò chuyện với Phạm Văn Nhân với câu hỏi: “Sao anh không chút suy nghĩ đến bản chất con người Việt Nam chúng ta?” – một câu hỏi văn học hơn là chính trị. Bởi vì cuối cùng, chế độ được tạo ra bởi con người; ý thức hệ được vận hành bởi con người; chiến tranh được tiến hành bởi con người. Nếu không hiểu con người, thì mọi giải thích lịch sử đều thiếu sót và không trung thực.
Khái niệm “Tổ quốc trăm năm” bắt đầu hiện rõ
Nhất là ở chương 14, linh hồn của tư tưởng tác giả, khẳng định qua câu nói của nhân vật Hảo: “Lòng yêu nước của một Tổ quốc trăm năm hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc chủ nghĩa hay ý thức hệ.”
Đây là tư tưởng mà tôi, và tôi tin cũng của nhiều người, trân trọng. Nhân vật Hảo luôn dằn vặt, tìm lại ý nghĩa của quê hương, của tự do, của nhân phẩm, và cuối cùng là của chính sự hiện hữu, và thái độ Hảo chọn – tách quê hương ra khỏi những biến động chính trị của một giai đoạn lịch sử. Theo Hảo, tổ quốc lớn hơn chủ nghĩa, chế độ. Đó là lý do ông viết: -“Anh chỉ có một Tổ Quốc.”
Tiếng nói của một người đã đi qua tù ngục, qua sâu thẳm nhất của các trải nghiệm, để nhận ra tình yêu quê hương vượt lên mọi ý thức hệ, để từ đó đi tìm một căn cước con người hơn là căn cước chính trị.
Càng đi sâu vào tác phẩm, người đọc càng nhận ra rằng điều cứu rỗi con người không phải là thắng hay thua trong cuộc chiến, mà là khả năng giữ được lòng yêu thương, sự thấu hiểu và phẩm giá của mình giữa những biến động. Đó là chiến thắng thầm lặng nhất. Và cũng là phần nhân văn, nhân bản nhất của cuốn sách.
Khi người tù không còn chỉ hỏi “Ai đúng ai sai?“, mà hỏi “Làm thế nào để vẫn yêu được đất nước này sau tất cả những gì đã xảy ra?“. Đây không chỉ là câu hỏi của Hảo. Không chỉ là câu hỏi của Lê Lạc Giao. Mà còn là câu hỏi của rất nhiều người Việt thuộc những thế hệ đã đi qua chiến tranh, chia cắt, lưu đày, cải tạo, vượt biển, tha hương. Một câu hỏi khiến Tổ quốc trăm năm vượt khỏi phạm vi của một cuốn hồi ký tù nhân, để chạm đến những suy tư rộng lớn hơn về Tổ Quốc, Lịch Sử và Con Người.
*
Có khi nhiều năm sau, người ta quên những tên trại, quên những mốc thời gian, quên những chi tiết của câu chuyện. Nhưng người ta vẫn nhớ hình ảnh người tù đọc Truyện Kiều trong đêm, giây phút Hảo và ông Linh nói chuyện thơ Đường, Thạc và con dế than, Tuệ miệt mài viết nhạc trong thầm lặng, hai người tù ngồi nhìn nắng trên tàng cây bạch đàn trong ngày Tết thứ sáu ở tù, Hảo nghe tiếng mưa và nghĩ đến khả năng thanh lọc những nỗi đau. Mảng trời xanh nhỏ – mà bao la – từ khung cửa ngục, những câu thơ chống lưng, những tiếng nhạc thay cho hơi thở nặng, nắng vô tư trên tàng cây, tiếng mưa rơi vô nhiễm, những điều ấy chẳng phải là đáng giá hơn các học thuyết, khẩu hiệu chính trị sao?
Chính những điều ấy mà tác phẩm này cũng để lại trong tôi lòng trắc ẩn buồn bã về những số phận đã đi qua chúng, là niềm tin vào nhân phẩm, là hình ảnh một Tổ quốc trăm năm đau đáu trong tâm tư suy tưởng của nhà văn:
-“Quê hương chưa bao giờ phản bội, khước từ anh.”
-“Anh biết mình có quyền lựa chọn nhiều quê hương trong cuộc đời, nhưng chắc chắn một điều anh chỉ có một Tổ Quốc.”
Đây là hạt nhân tư tưởng của tác phẩm Tổ quốc trăm năm, có sức mạnh của một thông điệp.
Cũng là điều cuối, tôi muốn nói với người đọc: Khi bạn đọc Tổ quốc trăm năm, bạn đang ở trong cuộc gặp gỡ, một bên là Tổ quốc trăm năm, một bên là bạn.
– Cuốn sách giới thiệu tác giả với hai tư cách nạn nhân và chứng nhân, để kể lại, để giải thích một cách trung thực về biến cố lịch sử, về ngục tù, về thân phận con người trước thời cuộc, và cũng mang đến một cái nhìn sâu sắc hơn về ý thức hệ.
– Bạn mang đến sự quan tâm về mặt nhân văn, nhân bản trong văn chương, của sự được truyền tải về thân phận con người, của sự được chia sẻ tình cảm trong trẻo về quê hương, và cái nhìn cao đẹp về tổ quốc.
Nơi hai dòng chảy ấy gặp nhau, là nơi tác phẩm này ở lại trong lòng bạn.
Upland, tháng 6, 2024
*Tôi đọc Tổ quốc trăm năm ở giai đoạn lúc chưa phát hành, nên những câu ghi chú không ghi rõ số trang, mà chỉ ghi chương sách.
SƠ LƯỢC TIỂU SỬ NHÀ VĂN LÊ LẠC GIAO
Bút hiệu: Lê Lạc Giao. Tên thật: Lê Tấn Hà. Sinh năm 1951 tại Khánh Hòa Việt Nam
Đại học Văn Khoa ban Triết 1970-1974
Công chức chế độ cũ, sau 30-4-1975 đi tù cải tạo 8 năm
Sang định cư Hoa Kỳ tháng 3/1993
Chuyên viên dữ liệu công ty Boeing 22 năm
Về hưu 2017
Cư trú tại Orange County California
Các bút hiệu khác: Hồ Lạc Hồng, Lê Diên Thủy
Sách đã xuất bản:
– Một thời điêu linh (tập truyện/2013)
– Nửa vầng trăng ký ức (tập truyện/2015)
– Có một thời nhân chứng (truyện dài/2018)
– Nụ cười buồn mùa hè (tập truyện/2020)
– Mùa địa ngục (tập truyện 2022)
– Dòng đời (truyện dài 2023)
– Tổ quốc trăm năm (hồi ký tiểu thuyết 2026)
.
[*] Sách vừa xuất bản:
https://www.barnesandnoble.com/w/to-quoc-tram-nam-lac-giao-le/1150960191?ean=9798904526740