Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (11)

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

7.

Giữa lúc lúc Hãng phim truyện lớn nhất nước bắt đầu vào giai đoạn “chết lâm sàng”, đạo diễn Khải học trước Thế vài khóa, đương phụ trách một mục văn hóa của Đài Truyền hình Việt Nam đã đề nghị Cơ quan ông cho thành lập một Trung tâm Nghe – Nhìn với mục đích để xây dựng các bộ phim truyện mà trước đó Đài chỉ thực hiện các chương trình Truyền hình, phim tài liệu, tiểu phẩm sân khấu và quảng cáo… Ông Khải đã kêu gọi các thành phần sáng tác và kỹ thuật bên Hãng phim truyện sang làm phim với ông, mới đầu là hợp đồng lẻ tẻ theo vụ việc, sau nhiều người của Hãng phim truyện Việt Nam đã ào ạt “di cư”, đầu quân chính thức cho Trung tâm để sau đó nhanh chóng thành Hãng phim Truyền hình (VFC). Ông Khải bảo Thế: “Cậu còn tiếc rẻ gì cái nơi đã coi cậu như cục đất thó vậy? Về đây đi, tớ biết cậu có nhiều kịch bản lý thú, cậu sẽ được làm nghề phim truyện hẳn hoi, sẽ có khán giả riêng của cậu!” Không đợi đến lời mời thứ hai, Thế “khăn gói” chuyển hẳn biên chế sang VFC, và mặc nhiên anh trở thành Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, bởi thực chất các bộ phim truyện được thực hiện tại đây nhằm cái đích cao nhất của Đài là Tuyên truyền cho các mục tiêu Chính trị – Xã hội, bằng nghệ thuật điện ảnh!

Sang bên VFC cùng Thế là không ít biên kịch, đạo diễn đã có “lưng vốn” tác phẩm điện ảnh đáng nể, hầu như đều chán ngán với cơ quan Hãng phim truyện và thất vọng với tương lai nền điện ảnh dân tộc, trong đó có nhà biên kịch Nhuận – người mà Thế có nhiều kỷ niệm nhất và có sự gắn bó đặc biệt với anh…

Nhuận vào ngành điện ảnh trước Thế cả 10 năm, với chức danh biên kịch, rồi thi vào học khóa đạo diễn điện ảnh cùng Thế nhưng không đỗ… Gia tài kịch bản được làm phim của Nhuận không phải là ít so với nhiều nhà biên kịch điện ảnh Việt Nam. Kịch bản đầu tay của Nhuận là Sau cánh cửa, khi vào sản xuất, Thế mới về xưởng phim được giao làm phó đạo diễn. Khi Thế chọn được diễn viên Hà Sơn vào vai chính, Nhuận rất mừng, bảo: “Tay Sơn này ra dáng kỹ sư Hà Nội lắm, cũng phù hợp với suy nghĩ của tôi khi tạo ra nhân vật, đóng với con gái tôi làm hai bố con rất “ăn” đấy!”… Về VFC một thời gian, hình như Nhuận không bắt nhịp được với lối “nửa phim nửa báo” và tiến độ thúc ép của sản xuất chạy theo định mức lao động đó, anh bị chuyển sang phụ trách mục “Gặp nhau cuối tuần” của chương trình “Văn nghệ Chủ Nhật”, rồi anh bắt đầu nổi danh với nhân vật Bác sĩ Hoa hồi. Thế thường xót xa khi thấy “anh hề” Nhuận phải múa may quay cuồng vì miếng cơm manh áo – dĩ nhiên không phải là kiểu hề của “vua hài” Chaplin; suốt thời gian dài Nhuận phải làm người ta cười trong nước mắt của anh, nước mắt của một kẻ đau nghề, sống chết với nghề, muốn làm một cái gì cho tử tế, cho ra hồn trong nghiệp điện ảnh mà phải giấu khát vọng trong cái hài bất đắc dĩ…

Cũng trong giai đoạn về Đài Truyền hình Trung ương, sau đó trở lại cơ quan cũ là Hãng phim truyện, Nhuận đã cùng người vợ thứ ba là một diễn viên đứng ra thành lập Hãng phim tư nhân, lấy tên “Vân Điệp Phim”. Nhưng với chất thi sĩ, nghệ sĩ ngấm vào trong máu của hai vợ chồng, họ không thể trở thành nhà sản xuất đích thực được, không thể kêu gọi vốn sản xuất của ai, vì thế, “Vân Điệp Phim” nhiều năm vẫn chỉ là một cái tên đăng ký trên Sở Kế hoạch – Đầu tư khai lỗ dài… Nhưng khát vọng “làm phim ra phim” – chưa nói tới chuyện cao siêu là phim ra chợ phim quốc tế, Liên hoan phim quốc tế mà Nhuận mơ ước từ khi còn là sinh viên, rồi hơn chục năm sau sẽ theo anh rời Cõi Tạm với bao nhức nhối, vẫn khắc khoải Mỗi đêm một tờ giấy trắng mồ côi…

Còn Thế, sau nỗi nhục nhằn của bộ phim nhựa “Vầng trăng núi”, anh đã vui vẻ hào hứng làm phim truyện truyền hình một tập và nhiều tập theo định mức (chứ không phải theo cảm hứng sáng tạo) mà Cơ quan mới quy định, với niềm tin có ít nhiều ảo tưởng: nhiều Âm bản của anh sẽ có cơ may trở thành Dương bản trên chất liệu kỹ thuật dành cho màn ảnh nhỏ nhưng đảm bảo những quy luật cơ bản của Điện ảnh dành cho màn ảnh lớn; quan trọng hơn cả là anh có cơ hội nói được những cảm nghĩ của bản thân với cuộc đời bằng ngôn ngữ của điện ảnh kinh điển – dù nhiều khi phải gượng gài vào bài học luân lý – chính trị theo đòi hỏi của một đài Truyền hình Quốc gia, và hơn nữa, anh sẽ có thêm rất nhiều khán giả… Anh và các nhà điện ảnh từ Hãng phim truyện sang đã tạo nên một thương hiệu khá huy hoàng suốt nhiều năm là “Văn Nghệ Chủ nhật” trên sóng truyền hình quốc gia…

Nhưng xét cho cùng, đó là chuyện làm phim lắm bi nhiều hài thời “nửa bao cấp nửa xã hội hóa” diễn ra suốt mấy chục năm. Và dù có đôi lần phải ngậm đắng nuốt cay cắt xén “đứa con tinh thần” của mình theo yêu cầu kiểm duyệt phát sóng đến độ không dám xem lại phim của mình khi ra công chúng, cuối cùng thì lần nào Thế cũng chịu đựng được, và bắt buộc phải chịu đựng, bởi anh đã không bị quy là kẻ “có âm mưu chống đối”, kẻ “có tư tưởng lệch lạc”, không bị cảnh cáo bằng bảng chữ to nữa, bởi anh vẫn được làm phim và có thu nhập đều đặn đem về cho mẹ anh chi tiêu gia đình…

Sau khi bố anh mất, trong nhà chỉ còn hai mẹ con. Những lần anh đi làm phim xa, mẹ anh đã làm sẵn cho con trai những gói ruốc, thịt rang mặn không mỡ. Những lúc Thế ở nhà, mẹ thu gấp quần áo của anh cẩn thận đến nỗi lắm khi anh phải gào lên với mẹ đang chơi đàn ở tầng trên: “Quần đùi áo may ô của con mẹ cất đâu, mẹ?” – khiến hàng xóm cũng phì cười. Thấy Thế cứ sống xê-li-ba-te (độc thân) mãi, mẹ anh buồn ra mặt, nhưng không hề than vãn với bất kỳ ai. Bà chơi đàn xong, chỉ biết ôm con mèo rồi mong các cháu nội – ngoại tới thăm. Hiểu được nỗi niềm của mẹ suốt mười năm, kể từ khi bố anh mất, anh đã quyết định xây dựng gia đình…

Chuyện hôn nhân đó diễn ra sau một lần Thế làm phim một tập để phát vào dịp Tết âm lịch. Trong phim có một vai cô cave của phòng trà, ông bầu diễn viên của Thế đưa tới mấy cô sinh viên năm cuối khoa sân khấu dân tộc trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội tới cho anh chọn. Không hiểu ma xui quỷ khiến thế nào mà anh lại chọn một cô nhút nhát e lệ nhất, có vẻ quê mùa nhất vào vai này, khiến anh phải gắng công thị phạm tới mấy lần… Sau đó ông bầu diễn viên đưa cả mấy cô đó tới thăm nhà anh, khi nhận ra cô sinh viên đóng vai cave là cô gái giản dị, chân thực tỏ lòng yêu quý anh, muốn gắn bó với anh không phải với mục đích được vào vai như nhiều cô gái khác trong trường, và khi thấy mẹ và cô ấy quyến luyến nhau, anh đã ngỏ lời và được chấp thuận tắp lự. Như vậy anh đã bị ứng nghiệm luôn điều định mệnh: “ghét trời nào trời trao của ấy”, tự xé toạc lời thề nguyền: không bao giờ dính với giới diễn viên về quan hệ tình ái! (Và việc liên hệ với diễn viên để vào vai, bao giờ anh cũng thực hiện qua Bầu diễn viên, hoặc trợ lý đạo diễn, danh mục điện thoại của anh không có một tên của diễn viên nào). Sau khi cưới, cô tham gia nhõn một vai chính cho phim một tập của Thế xong thì hùng hồn tuyên bố: “Em không có khả năng làm diễn viên, kể cả diễn viên điện ảnh – truyền hình lẫn diễn viên cải lương nghề vừa học; em muốn làm nghề cô nuôi dạy trẻ cơ!” – “Nuôi dạy hổ càng tốt! – Thế hý hửng chiều luôn, thu xếp cho cô học trường Sư phạm mẫu giáo Trung ương, học xong thì mở nhóm trông trẻ tại nhà. “Vậy là một kẻ làm phim như anh thoát cảnh phải nghe chín câu vọng cổ của một diễn viên trước khi chết hát từ giã mọi người…” – Thế nói vui và nhận được những cú đấm yêu bồm bộp vào lưng của một cô diễn viên cải lương hụt đã tự tước quyền hát chín câu vọng cổ…

Ở cơ quan mới có một cô làm nghề hóa trang hợp đồng, được Thế thường xuyên mời làm phim vì thương cho hoàn cảnh nuôi con một mình: anh chồng bỏ “vợ cái con cột” để lấy vợ mới sau hai năm đi xuất khẩu lao động. Cô này có tình ý với anh đạo diễn độc thân, tung tin khắp Hãng anh là bồ của cô, song Thế nhiều lần tìm cách lảng tránh. Khi thấy anh xây dựng gia đình, lại chẳng mời cô dự đám cưới, cô tức tối thuê viết một bài báo cho địa phương của “địch thủ” kia với nội dung: Môt cô sinh viên cải lương vừa tốt nghiệp đã lấy một ông đạo diễn có vợ, và vợ ông ta đến tận trường cô sinh viên đánh ghen, tạt a-xít!… Khi Thế về quê vợ, gia đình vợ quây lại truy anh đủ điều. Thế chỉ lắc đầu cười và kể lại chuyện này để hóa giải: Hồi ở Hãng phim truyện, anh đến ở nhà ông biên kịch Văn để giúp con ông, nhà có làm nghề phụ là đóng gói nhân trần, và anh đã “được” lên báo chính thống là “Đạo diễn điện ảnh chuyển nghề sản xuất nhân trần”!

Trong đời làm phim lắm gian nan, Thế có nhiều ấn tượng khó quên với các diễn viên lớn tuổi – bởi sự lao động nghệ thuật rất đáng kính nể của họ; và cũng bởi, tuy sự thù lao quá hẻo so với công sức mà tuổi già đã bỏ ra dành cho nghệ thuật thứ bảy song đối với họ, điều đó “chẳng là cái đinh rỉ” gì! Bà An, ông Thế, ông Hạnh, ông Hiệp, ông An, ông Thụ… là những người diễn viên kỳ cựu mà mỗi khi nghĩ tới, anh đều lắng lòng lại trong một niềm cảm mến kỳ lạ. Trong đó, người gắn bó khá đặc biệt với nghề nghiệp của Thế, và giúp cho Âm bản phim anh có từ hồi ở Nhà máy Bê tông đúc sẵn Vinh Quang trở thành Dương bản, thực hiện được lời hứa với Giám đốc Minh – đó là diễn viên mà dân trong nghề thường gọi là “lão tướng” Thụ.

Lần đầu tiên ông Thụ vào vai là một bác sĩ chủ nhiệm khoa, ông phải quay tới 5 đúp. Các diễn viên gạo cội khích bác: “Ông bác sĩ ơi, bệnh nhân của tôi có sao không đấy?” Đạo diễn đã động viên ông bình tĩnh, tự tin. Ông ra một chỗ vắng, nghiền ngẫm đoạn kịch bản. Rồi tới lần quay thứ 6, ông đã thành công xuất sắc, mọi người vỗ tay hoan nghênh…

Khi Thế mời ông vào vai Bí thư Đảng ủy nhà máy phim Tầng cao nghiệt ngã, thì thành phần chủ chốt của đoàn đều lo lắng, không tin tưởng. Bởi đó là một vai diễn nhiều tâm trạng phức tạp, lời thoại cũng khó nhằn. Mới đầu, Thế cũng hoang mang. Nhưng anh cảm thấy, ở ông ngoài một trái tim đôn hậu và một sự lao động nghiêm túc mà ai cũng biết, còn tiềm tàng khả năng diễn tả một tâm hồn trí thức nhiều dằn vặt, không bằng lòng với những biểu hiện đơn lẻ của thực tế – và trong khi đối thoại với người khác cũng đồng thời tranh luận với những niềm tin sẵn có của mình: đó là điều mà anh đòi hỏi ở nhân vật của anh để thoát khỏi những khuôn mẫu khô cứng thường thấy. Và anh đã không lầm. Chính ông Thụ cũng đã nói với nhiều người: đó là một trong những vai ông thấy tâm đắc nhất, và ông rất biết ơn đạo diễn (Còn riêng anh thì lại biết ơn ông gấp mấy lần thế!). Nhưng phải tới 16 tập phim Đại gia và Người đẹp của Thế, “bản lĩnh” của diễn viên Thụ mới có điều kiện để bộc lộ hết, ít nhất là trong các bộ phim của anh. Vẫn chăm chú không bỏ sót bất cứ lời căn dặn nào của đạo diễn về nhân vật, vẫn gạch dưới bằng bút màu toàn bộ những câu thoại để nghiền ngẫm mọi nơi mọi lúc như cung cách làm việc quen thuộc của ông. Song ở bộ phim này, Thế nhận thấy niềm mê say kỳ lạ của ông đối với nhân vật. Ông vào vai họa sĩ Bình, một nhân vật có hình bóng của bố anh, nhân vật không chỉ mải mê tìm kiếm vẻ đẹp cuộc đời trong màu sắc, mà còn trong quan hệ ứng xử, trong những triết lý của ngôn từ, hay đúng hơn là người đi tìm bí ẩn của màu sắc qua mọi biểu hiện nhỏ bé của đời phản chiếu vào một trái tim nhạy cảm… Lần đi quay ngoại cảnh ở Sầm Sơn, Thế đã kể cho ông nghe nhiều kỷ niệm về bố anh, trong đó kỷ niệm sâu đậm nhất của tuổi thơ anh là ông đưa các con tắm biển ở Sầm Sơn, và đọc ông nghe bài thơ “Về Sầm Sơn nhớ bố”: Như bố vẫn còn đây, mải mê bên giá vẽ/ Nhìn ngắm lũ con thơ nghịch đùa trên bãi cát tinh khôi/ Đâu con thuyền ngày xưa, đâu bến lở bến bồi/ Cả bóng mây in hằn trong nét hoạ?/ Bố đã từng nói gì với biển trời Thanh Hóa/ Để chiều nay con sóng cứ rưng rưng… Trên bãi biển nhìn ra khơi xa lúc bình minh, hay bên một ngôi nhà tranh vách nát có chiếc thuyền úp còn sẫm bùn buổi chiều tà, những câu chuyện của bố anh kể về đức Phật, chúa Giê-su, hay lời thơ của K. Gibran khi bước vào lời thoại của ông họa sĩ già nói với một cô gái trẻ đã trở thành những yếu tố của tâm lý, và rung động biết bao! Ông Thụ còn chịu khó đi tham quan nhà của hai hoạ sĩ thật để quan sát đời sống và cách làm việc của họ; và trong khi quay lại chăm chú với những thị phạm của Thế vốn xuất thân trong một gia đình hội hoạ, từ cách bơm tuýp sơn dầu, cách cầm bút lông, cách cầm palet màu. Đặc biệt, bối cảnh phim nhà hoạ sĩ Bình đã huy động được hàng chục bức tranh của bố anh, một cố hoạ sĩ xuất thân Trường Mỹ Thuật Đông Dương. Hình tượng ông hoạ sĩ già kiêm “triết gia ẩn dật” – với sự cố gắng hoá thân đáng khâm phục diễn viên Thụ đã được tô đậm một cách khá chân thực, đến nỗi có những lúc nhìn ông diễn trước ống kính Thế chợt hình dung ra bố anh và cúi mặt trước monitor để lau vội nước mắt…

Những khi có dịp trò chuyện với các thành phần đạo diễn, quay phim, họa sĩ…, càng ngày anh càng hiểu rõ cái lý do của sự kính trọng, yêu quý “lão tướng Thụ”. Vào bất cứ phim nào, làm việc với bất kỳ đạo diễn nào dù lớn tuổi hay ít tuổi, ông đều dốc hết tinh thần trách nhiệm, niềm mê say, sự cầu thị mà nhiều diễn viên trẻ chuyên nghiệp đã đánh mất! Ông hào hứng kể lại cho anh: có lần ông đi chơi Đà Lạt đúng dịp đang phát sóng phim “Chủ tịch tỉnh” mà thì bị nhiều người phát hiện, liền quây lại đòi chữ ký, đòi chụp hình cùng ông “chủ tịch tỉnh”! Lại có cả sự lầm lẫn “nguy hiểm”: khi ông tới Sầm Sơn tắm biển cùng gia đình, vào nhà nghỉ thì có người hỏi: “Tuần trước bác mới vào, bây giờ lại vào à?”. Thì ra, tuần trước đó phát sóng một phim có cảnh ông vào nhà nghỉ Sầm Sơn! Còn mấy cô cave tưởng ông là tay chơi, đuổi theo: “Lát nữa anh quay lại nhé?”… Ông trân trọng lưu giữ các cảnh phim đã đóng trong nhiều tập anbum. Ông giữ gìn như báu vật tất cả các cuốn kịch bản phân cảnh đã “qua lửa” trường quay. Ngôi nhà trong hẻm vắng phố Tức Mặc của ông luôn tràn ngập kỷ niệm về những vai diễn, nhất là vai diễn Bí thư Đảng ủy nhà máy Bê tông – vai diễn ông bảo là “khó nhằn” nhất song lại lý thú nhất đối với đời làm diễn viên của ông…

Diễn viên “lão tướng” Hạnh cũng là một trong những người để lại cho Thế nhiều ấn tượng không kém ông Thụ – không phải vì tài năng diễn xuất, vì cá tính đặc biệt gì, mà bởi sự mực thước, chân thật, với một bầu tâm sự nhiều khắc khoải như lúc nào cũng muốn giấu kín qua gương mặt khắc khổ… Ông lao động nghệ thuật cực kỳ nghiêm túc dù chỉ là trong vai phụ. Mọi người có cảm tưởng ông là người không biết đùa, và cũng không thích ai đùa mình; nhưng có đôi lần trong khi dán mắt vào moniteur, Thế đã thoáng nghe được vài câu nhận xét hóm hỉnh tinh tế của ông về bạn diễn, khiến anh có dịp được nhìn sâu vào tâm hồn ông – một trái tim nhân hậu, nhạy cảm, chan chứa bao nỗi dịu dàng…

Thế được cộng tác với ông trong vài ba phim, nhưng chỉ tới phim Bóng dáng người cha, anh mới mời ông vào vai chính. Đó cũng là năm Thế vừa tháo khăn tang đưa tiễn bố anh về nơi an nghỉ cuối cùng; câu chuyện phim và hình ảnh ông Hạnh đã gợi cho Thế bao cảm xúc, cái tên phim nảy ra cũng xuất phát từ nỗi nhớ bố anh và khi anh trực tiếp tìm ông để mời vào vai…

Trong bộ phim này, có thể nói ông Hạnh không phải “diễn” gì cả. Nó là câu chuyện như được viết ra cho ông, kể lại câu chuyện về một cựu chiến binh trở nên lạc lõng giữa đời thường nhốn nháo, con trai con dâu xa lạ với ông, xung đột với ông trong cách dạy dỗ cháu gái… Chỉ tới khi ông ngã bệnh và mất ở một chiến trường cũ, các con ông mới bắt đầu thấm thía về sự tồn tại của ông, cũng như tình thương thầm lặng của ông trong những năm tháng cuối đời… Khi phim phát sóng, một dồng nghiệp bảo Thế: “Sao ông không khai thác nhân vật và vấn đề theo kiểu phim Tướng về hưu rầm rĩ dư luận, mà lại theo lối cổ điển thế?”. Anh nhún vai: “Tôi là tôi, còn ông đạo diễn Tướng về hưu là ông ấy. Với lại, ông cựu chiến binh trong phim của tôi mang bóng dáng bố tôi và nhiều bậc cao niên trong lẫn ngoài quân đội – chính họ làm nên chất Cổ điển quý hơn vàng mười giữa cái thời nhố nhăng thật giả lẫn lộn này đó, ông!”.

Và Thế không sao quên nổi nụ cười mang phong vị trí thức của lão diễn viên Căn, sau lần ông tham gia vai diễn phụ trong một phim của anh. Phim đó đang làm hậu kỳ, anh có việc vào trường Đại học Văn hóa thì gặp ông. Ông vẫy anh mời vào quán uống nước. Sau khi nói vài nhận xét về kịch bản phim vừa làm, ông nheo mắt bảo anh: “Này đạo diễn, bảo cậu trợ lý của em là: lần sau gửi thù lao thì đừng trả bằng phong bì nhé?”.

Thế ngạc nhiên, ông phì cười: “Thế này này, đạo diễn lắm việc quá nhưng cũng cần biết điều tế nhị này: các trợ lý của đạo diễn thường cắt xén thù lao của diễn viên lắm, lại bằng cách “lịch sự“ là đưa phong bì – nhưng chỉ đưa bằng một tay như kiểu bố thí, rồi vội vàng chạy đi, xập xí xập ngầu, coi như xóa bỏ giao ước về thù lao thay hợp đồng…”.

Anh giật mình. Rồi thấy thương ông quá. Anh liền gọi cậu trợ lý đến và bảo: “Tôi là người làm phim không hề dính vào cái tai tiếng khốn nạn là ăn chặn thù lao của diễn viên, nhé! Diễn viên ta thường nghèo – nhất là các diễn viên không chuyên như bác Căn, họ tham gia phim là vui, song cũng góp vào thu nhập hàng ngày của họ. Cậu hãy chấm dứt chuyện ăn chặn của diễn viên bằng cái lối “phong bì” đưa bằng cách ném vội cho họ đi!”.

Cậu trợ lý của anh tái mặt khi bị “điểm huyệt”, xin lỗi rối rít. Anh bảo: “Đi mà xin lỗi bác Căn và các diễn viên hiền lành đã bị cậu ăn chặn đi, và trả lại họ phần thù lao họ đáng được hưởng!”.

Mặc dù cậu trợ lý này đã sửa sai, song Thế đã không mời cậu ta trong các phim sau nữa. Dù câu ta rất tháo vát, năng nổ, giúp anh đỡ vất vả nhiều trong việc tổ chức sản xuất phim; song cứ mỗi khi nhớ lại nụ cười châm biếm của bác Căn về câu chuyện “phong bì trả thù lao” là anh lại thấy gai người, và quyết định tìm trợ lý khác để “an toàn”…

8.

Song lắm chuyện bi hài nhất chính là những ngày làm phim truyện Đường trần ngược xuôi bốn tập – và đó cũng là thời “hoàng kim” của một Hãng phim truyền hình quốc gia…

Ngày đó, nữ diễn viên Ngọc Linh, sau một thời gian do Thế phụ đạo về nghiệp vụ đạo diễn, đã thi đỗ vào Khoa Đạo diễn trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội; và vào năm thứ 2, cô đã tâm sự với anh muốn được làm phim, bởi có người yêu sẽ tài trợ thêm kinh phí… Anh liền giới thiệu cô với họa sĩ Đặng, vốn là học trò của bố anh: lúc đó ông chưa phát về màu & cây cọ mà phát về tiểu phẩm và kịch bản hài để bán tứ tung cho nhiều cơ sở sản xuất chạy theo thị hiếu dễ dãi… Nhưng không ngờ ông Đặng lại có sẵn ba tập kịch bản khá chỉn chu, về một đề tài nghiêm trang là Đạo Phật, thế là cô Ngọc Linh đã nhanh tay mua đứt kịch bản này làm kịch bản của cô gửi lên Ban giám đốc Hãng, và được duyệt làm phim tắp lự! Ban Giám đốc mời Thế lên giao kịch bản này làm đạo diễn, với sự gửi gắm cô Ngọc Linh sẽ là diễn viên chính và làm phó đạo diễn! Hoan hỷ ngay! Với Thế, nhiều chi tiết – tình tiết về mối tình của cô Ngọc Linh với ông người yêu đại gia, vốn một trong những đàn em của Năm Cam, qua quan sát cá nhân và được nghe họa sĩ Đặng kể lại, anh đã biến hóa chúng vào 16 tập phim truyện Đại gia và người đẹp.

Nhưng để quay Đường trần ngược xuôi ở xa Thủ đô ngoài bán kính 30km, với những bối cảnh phức tạp, nhất là đoàn làm phim phải vào Nam ra Bắc để có những cảnh quay tại nhiều ngôi chùa, thì người làm phim buộc phải tìm cách “quảng cáo trá hình”, hoặc trông mong vào cái mà mọi người vẫn gọi một cách hay ho lịch sự là “xã hội hóa” – trong đó có tài trợ, giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân yêu phim ảnh. Nhưng bộ phim này đã dính phải một sự “xã hội hóa” của những thế lực mà người làm phim phải chịu bao tủi nhục và Giám đốc Khản suýt mắc phải vòng lao lý oan uổng!

Hôm đó, sau khi “đóng máy” cảnh quay cuối cùng, khi cả đoàn phim từ đạo diễn tới phụ quay đều mồ hôi mồ kê đầm đìa, quần ống thấp ống cao, tóc tai phờ phạc rời khỏi bối cảnh, thì thấy hai hàng người với vẻ háo hức hân hoan chào đón đoàn phim. Một người (sau đó được biết đó là trợ lý tin cậy của trùm Năm Cam) bước đến Thế, cung kính:

– Thưa đạo diễn! Chúng tôi biết hôm nay đoàn ta “đóng máy” (không biết anh ta học ở đâu nhanh thế từ của dân làm phim!), nên đại ca chúng tôi có bữa tiệc nhẹ chiêu đãi đoàn, để bày tỏ lòng yêu nghệ thuật phim ảnh của anh em chúng tôi! Xe đã chờ sẵn rồi đây!

Thế rồi đèn flash máy ảnh nhoay nhoáy như trước hết chào mừng lời diễn văn mà chắc anh chàng kia phải khó khăn tập dượt cả ngày, sau đó mới là chào mừng đoàn phim đang như lũ đói ăn nhếch nhác thất trận trở về nhà! (May mắn làm sao, cái bộ ảnh dày cộp duy nhất của lần tiếp đón vừa long trọng vừa hài hước đó, cuối cùng chẳng hiểu sao biến mất tiêu cả, không còn một chứng cứ nào cho Ban Thanh tra của Cơ quan Lớn sau này “hoạnh tội” anh em làm phim – mà Thế là “chủ trò” – sau khi ông chủ giấu mặt của bữa tiệc nhẹ đó bị xộ khám!).

Gọi là tiệc nhẹ (cách nói khiêm nhường hiếm thấy của dân ăn chơi trác táng có vấy máu dân lành), buổi đó cả đoàn phim đã được thưởng thức đến ngập mồm ngập miệng những món ăn hết sức sang trọng, quý giá nhất của Sài Gòn hoa lệ, bia ngoại rượu Tây chảy như suối… Trong lúc “ngất ngây như con gà Tây”, Thế nhớ lại như in chuyện tuần trước: giữa lúc bế tắc vì tìm một khẩu súng lục thứ thiệt làm đạo cụ để thay cho đạo cụ giả (vào thời kỳ chống bạo động khắp Thành phố thì điều đó khó như lấy trăng trên trời), thì “nhà tài trợ” hào hoa, người yêu của diễn viên chính, đàn em của Năm Cam đã vẫy một chàng thiếu tá công an đang đi trên đường vào khách sạn sang trọng (được tài trợ) của Đoàn phim. Trước những con mắt kinh ngạc của mấy “con vịt” làm phim, chàng thiếu tá đã ngoan ngoãn tháo xanh-tuya-rông, lấy ra khẩu súng lục sĩ quan kèm bao da bóng lộn, rồi trút hết đạn, kính cẩn trao cho “nhà tài trợ” quý hóa – đại diện của đoàn làm phim mượn, coi như “một sự đóng góp cho nghệ thuật!” …

Sau khi phim Đường trần ngược xuôi phát sóng, được khán giả toàn quốc trong đó có nhiều Phật tử khen ngợi, đôi tình nhân nọ hoan hỷ lắm, và họ tỏ lòng biết ơn họa sĩ Đặng như một cánh cửa tốt đưa họ vào sâu hơn, leo cao hơn trong lĩnh vực Nghe – Nhìn (không dám nói là Điện ảnh!). Sau đó, đôi tình nhân đại gia đã đăng ký vợ chồng, và lễ đính hôn sang trọng của họ được tổ chức tại Đà Lạt. Ông họa sĩ ngây thơ đáng thương cũng được “đôi tình nhân Romeo Juliet” hiện đại mời đi theo với tư cách “phù rể”! Và cũng trong đêm Hạnh phúc lứa đôi tưng bừng “tầm thế kỷ” đó, đôi tình nhân đã bị công an xích tay bởi những nghi án liên quan tới trùm Năm Cam; và ông họa sĩ nhà ta cũng bị tóm “ăn theo”!
Được tin, Thế chỉ biết thở ngắn than dài, thanh minh với giới họa sĩ, ca sĩ, diễn viên, biên kịch… hộ ông rằng: Không những ông Đặng mà bất cứ ai là nghệ sĩ mà ngây thơ hồn nhiên thì sẽ đều rơi vào cảnh ngộ đó mà thôi! Dĩ nhiên, sau đó ông được cơ quan chức năng xác minh là không có dính dáng gì tới lợi ích tiền bạc của dân xã hội đen, được thả ra, song chắc chắn sẽ để lại trong ông họa sĩ những ấn tượng nặng nề – và những ấn tượng đó ông đã thể hiện qua những nét vẽ, hình dáng, màu sắc ngày một mang phong cách của danh họa Lập thể, Dada, Siêu thực người Tây Ban Nha Salvador Dali cho đến khi nắm mắt!

Khi Trưởng Ban thanh tra “Cơ quan Lớn” mời Thế lên hỏi: “Cớ gì mà cô Ngọc Linh, đã là tác giả kịch bản rồi, lại là diễn viên chính, mà còn có chức danh ‘phó đạo diễn’?”, anh nén sự ngao ngán bảo ông ta: “Thưa đồng chí, nếu đồng chí đi làm phim với tôi, có lao động thực sự như một phó đạo diễn, thì trừ chức danh ‘đạo diễn’ ra thì đồng chí thích chức danh gì tôi cũng có thể gắn vào cho đồng chí được, không có gì sai trái. Nữa là cô Ngọc Linh, hiện là sinh viên đạo diễn năm cuối, lại là người có lao động sáng tạo xứng đáng với chức danh đó, thưa đồng chí!”. Nếu ông ta đã thân thiết từ trước, anh có thể nói thêm: “Lẽ ra các ông nên thắc mắc điều này: vì sao một cô sinh viên mới 24 tuổi mà lại là tác giả của một kịch bản đề tài liên quan tới đạo Phật cả hai miền thế? Dễ hiểu thôi ạ: Giám đốc Hãng đã giao cho tôi làm đạo diễn chính phim, tức là đã tin tưởng ở sự hiểu biết của tôi trong lĩnh vực này để phim ra đời, các tăng ni Phật tử khắp nơi đã không ai phàn nàn kêu ca gì…”. Nhưng chỉ câu “thoại” ngoài phim trên cũng là nút gỡ chính cho Giám đốc Hãng phim khỏi sự nghi ngờ của cơ quan chức năng: Liệu có gì khuất tất trong chuyện giao hơi nhiều vai trò quan trọng của bộ phim phát sóng quốc gia cho một cô diễn viên có liên quan tới “xã hội đen”?…

Giữa những ngày xã hội nóng bỏng bởi sự phẫn nộ trước tội ác của nhiều kẻ trong hàng ngũ công quyền phải đứng trước vành móng ngựa qua các vụ Đại Án – Đại Ác, Thế lục tìm lại những ghi chép cũ của mình về câu chuyện một người trung thực bị vu là “kẻ tâm thần” – kinh khủng chẳng kém truyện Phòng số 6 của A. Chekhov – trong cuộc chiến chống lại bê bối ở Tổng cục Cao su mấy chục năm trước, tới lúc đó còn nóng bỏng thời sự: Ông Tổng cục trưởng, Ủy viên Trung ương Đảng Đỗ Văn Nguyện đã tìm mọi cách vô hiệu hóa bản kết luận của Ban thanh tra dựa vào lời khai tố cáo tiêu cực của ông Ngô Văn Định – Giám đốc Công ty phục vụ đời sống, bằng cách biến ông Định thành bệnh nhân tâm thần! Nhưng các nhà báo của báo Lao động đã dũng cảm bất chấp mọi đe dọa nhằm vạch trần sự thật, cùng với một số nhà khoa học có lương tâm và một số người lãnh đạo “tử tế” thật sự đã bác bỏ các giám định y tế “bẩn” được Thứ trưởng Bộ Y tế, Tiến sĩ Phạm Song xác nhận; họ truy đến cùng lời tố cáo, và kết cục nhiều kẻ tội phạm đã bị khởi tố, bắt giam… Anh thầm hy vọng Bộ Văn hóa nước mình ủng hộ những dự án phim kiểu này, để tôn vinh những con người tử tế đích thực đã/ sẽ góp phần to lớn bảo vệ và xây dựng một xã hội trong sạch với những người cầm quyền trong sạch!

Và Thế bắt đầu suy ngẫm cái định đề LƯU MANH HÓA TRÍ THỨC VÀ TRÍ THỨC HÓA LƯU MANH mà sau đó anh sẽ thể hiện qua hai nhân vật trong bộ phim truyện 16 tập Đại gia và người đẹp làm trong năm ấy: nhân vật Giới – lãnh đạo cao nhất của địa phương nọ, và nhân vật Hoàn – một đại gia có quan hệ mật thiết với “xã hội đen”. Anh đã hình dung ra vài câu thoại đầy kịch tính giữa họ trong bộ phim đang chuẩn bị thực hiện:

GIỚI: Này, trong khung cảnh tĩnh lặng và bí mật này, chỉ có hai chúng ta và hồn những người chết oan, cậu có thể cho tớ biết bí quyết của cậu là gì không?

HOÀN: Bí quyết gì cơ, thưa anh?

GIỚI: Còn bí quyết gì nữa! Bí quyết dẫm đạp lên mọi đối thủ, bí quyết thu phục nhân tâm, bí quyết chinh phục người đẹp, bí quyết làm giàu… nói tóm lại là bí quyết thành công?

HOÀN: Anh vốn ưa sòng phẳng, nên em không nên thần bí hóa những bí quyết đó với anh làm gì… Đơn giản là em chỉ thực hiện một quá trình, quá trình đồng hóa… Hay có thể nói trắng ra là: Lưu manh hóa trí thức và trí thức hóa lưu manh…

Giới nhún vai vẻ không hiểu.

HOÀN: Chẳng hạn như, xin lỗi anh, như các quan chức trong tỉnh, em biến quyền lực của họ thành quyền lợi riêng, rồi cột chặt quyền lực của họ với quyền lợi của em; và lại biến quyền lợi đó thành quyền lực mới, mạnh hơn nhiều lần quyền lực cũ. Đó chính là cái gọi là lưu manh hóa trí thức, hoặc lưu manh hóa quyền lực đấy!

Giới sửng sốt nhìn Hoàn như nhìn kẻ từ hành tinh xuống.

HOÀN: Còn với bọn lưu manh thuộc hạ, thì phải trí thức hóa chúng, dạy chúng hiểu biết văn hóa, pháp luật – dù chỉ là cái vỏ thôi, và chỉ cho chúng biết các kẽ hở của cơ chế mà luồn lách, biết cách che đậy hình dạng bên ngoài và che đậy bản chất bên trong bằng các hành động xã hội, như tuyên truyền tài trợ, từ thiện…

GIỚI (Giơ hai cánh tay dang rộng): Tôi chỉ là bản lề cho hai phía, thế thôi! Hóa ra, tôi chưa hiểu gì về cậu. Cậu còn hơn Bố già Corleon. Cỡ Chủ tịch tỉnh như tôi thật bé nhỏ so với cậu!

HOÀN: Chết, sao anh lại tách chúng ta ra như vậy! Chúng ta là đầu và cuối của xã hội. Khi đầu và cuối kết hợp với nhau sẽ thành Luân xa, và tiền bạc sẽ khiến bánh xe đó chuyển động. Thế đó ông anh ạ!

GIỚI (Lau mồ hôi trán): Làm bạn với cậu tôi vừa thấy thích vừa thấy sợ. Cậu vừa là con mèo vừa là con hổ…

HOÀN (cười): Không, em là con mèo, anh là con hổ chứ!

Thế đã viết một bài báo về “Dòng phim ám ảnh”, liên hệ tới nhiều phim Nga hiện đại và kết luận: dòng phim này chưa bao giờ cần phải xuất hiện đến thế, vào lúc này, ở nước ta!

9.

Nửa đêm đang ngủ li bì sau một ngày quay vất vả, Thế nghe một cuộc điện thoại hụt hơi của anh lái xe lớn tuổi biên chế trong đoàn: “Đạo diễn ơi, cứu anh với… Đến ngay phố N. đi, ô tô của cơ quan ta đang bị dọa phá nát đây này… Anh đến bị đuổi khỏi cơ quan, rồi phải bán nhà mà đền mất thôi!… Hu hu…”. Thế vội gọi trợ lý dậy, gọi xe khác của đoàn tức tốc đến một con phố của Thị xã B. mà mấy hôm trước đoàn đã quay ngoại cảnh.

Hóa ra, ông lái xe nhà ta đã làm cái việc dại dột có thể coi là “đại kỵ” này: cậy là người của một hãng sản xuất phim truyện truyền hình to đùng làm phim cho cả nước xem, ông ta “tranh cướp” gái của thanh niên lêu lổng thị xã bằng cách nỉ non với một cô gái chủ cửa hàng giải khát các câu chuyện phim ảnh mà ông nghe lỏm từ dân làm phim, rồi hứa hẹn giới thiệu vào đóng vai như một nhân vật có thừa uy lực sai khiến đạo diễn! (Lúc về, ông ta mới thật thà vẻ thẹn thò kể lại riêng cho Thế như để lấy lòng anh, để anh khỏi báo cáo giám đốc cơ quan, tuy chỉ một phần sự thật thôi nhưng anh liền bóc mẽ ông ta!).

Lúc Thế và trợ lý đến, dăm bảy thanh niên ra dáng “đầu gấu” đang cãi nhau với ông lái xe, một người tay lăm lăm cầm búa định đập chiếc xe 15 chỗ chuyên chở diễn viên có in biển hiệu hãng phim ở thành xe. Ông lái xe hét to: “Chúng mày động vào xe công vụ của Nhà nước thì sẽ ốm tù đó các con!”. Như để phụ họa cho lời dọa đó, một tiếng “choang”, một kính cửa sổ xe vỡ tan. Thế chạy đến cậu thanh niên vừa đập búa, đỡ lấy chiếc búa đang định vung lên lần nữa, cầu khẩn: “Này anh bạn trẻ, có gì tức giận thì từ từ đã nào. Bạn có gì ấm ức thì đập tôi đây này, chứ cái xe chở diễn viên có tội tình gì đâu?”. Cậu ta gườm gườm nhìn Thế, nhưng rồi cũng hạ búa xuống. “Anh bảo người của anh đi! Ông ta cậy là người của đoàn làm phim Trung ương về đây coi thường ức hiếp chúng tôi!”.

Anh ra bộ sửng sốt:

– Chết thật, dám coi thường ức hiếp các bạn à? Nhìn các bạn, thấy toàn là người tốt, lương thiện. Đến ông Tổng giám đốc của chúng tôi cũng không dám coi thường các bạn đâu! Nhưng nếu các bạn và bác lái xe đây không hòa giải được với nhau, có lẽ tôi phải nhờ đến Chủ tịch tỉnh thôi. Ông ấy vừa tiếp đoàn phim xong mà!

Thế móc túi lấy điện thoại đưa cho cậu trợ lý, bí mật nháy mắt với cậu ta:

– Cậu làm ơn tìm số bác Hưng Chủ tịch đi, xin ý kiến của bác ấy xem sao…

Mấy cậu thanh niên hùng hổ chợt biến thành lũ rắn mùng Năm, len lét, nhớn nhác. Anh chợt thấy thương hại cho mấy cậu chàng tỉnh lẻ đang xử thế kiểu “chó cậy gần chuồng”, thích tỏ vẻ yêng hùng, nghệ sĩ nhớn chẳng là gì nhé, nữa là cái tay cầm lái hầu hạ các nghệ sĩ! Anh bảo cậu trợ lý:

– Thôi, đừng làm phiền bác Chủ tịch vào giờ này nữa! Chuyện nhỏ như con thỏ thôi mà! – Anh quay sang nói với mấy cậu thanh niên, họ đang tìm cách lủi đi mà vẫn làm sao giữ được chút thể diện – Các bạn trẻ ơi, bác lái xe có gì không phải với các bạn, khi về chúng tôi sẽ kiểm điểm nghiêm khắc. Còn cái kính vỡ này, coi như là hậu quả của một cuộc hiểu lầm không đáng kể, các bạn không cố ý làm vỡ, mà tôi thì có lỗi là không quản nổi người trong đoàn, vì vậy sẽ bỏ tiền riêng ra đền cho cơ quan… Thế nhé, tạm biệt các bạn. Ngày mai chúng tôi quay trên Di tích núi Lạn, mời các bạn tới cổ vũ, và tham gia diễn viên quần chúng đi dự hội nhé! Nhớ ăn mặc gọn vào, lấy tay áo dài che mấy hình Mỹ thuật kia đi, vì tuy rất đẹp nhưng không hợp với cảnh quay. Cám ơn các bạn trước!

Thế chủ động giơ tay ra bắt chặt tay từng người. Họ cảm động, khúm núm, lúng búng tìm lời cảm ơn, quên phứt rằng chưa đầy 10 phút trước là đối thủ “không đội trời chung” với một người của đoàn phim, tức là với cả đoàn! Sau lần ấy, ông lái xe bỗng dưng trở nên ít nói đi, đúng ra là thận trọng hơn, không dám vui đùa tự xưng kiểu “người dẫn đường thông thái”, “tay lái vĩ đại của đoàn phim quốc gia”, bớt tỏ ra cũng có máu “nghệ sĩ” như ai khi đi cùng các nghệ sĩ phim ảnh – nhất là đi với nhà quay phim Phạm Mạnh hào hoa phong nhã…

Phạm Mạnh là người đi với Thế trong khá nhiều phim với tư cách nhà quay phim chính, một chức danh mà bây giờ phải gọi là “giám đốc hình ảnh” (image director), còn người bấm máy và xử lý các động tác máy theo chỉ đạo của “giám đốc hình ảnh” là “người quay phim” (cameraman).

Trong các đoàn phim, Phạm Mạnh bao giờ cũng nổi bật là một anh chàng đào hoa mà có cô gái nịnh anh rằng “điển trai và hút hồn đàn bà kiểu Clark Gable” (diễn viên Mỹ trong phim kinh điển Gone with the Wind – Cuốn theo chiều gió). Anh đáng được tôn là bậc thầy trong nghệ thuật tán tỉnh chị em và thường được chị em mê mẩn bởi lối nói chuyện có duyên, sự hiểu biết về điện ảnh – nhất là những câu chuyện bi hài của hậu trường phim trong nước và nước ngoài mà anh đọc được thì ít mà nghe lỏm được thì nhiều. Anh có một trí nhớ khá quái đản, và sự biến báo những gì anh nghe lỏm được cũng quái đản không kém: có khi chính tác giả của những câu chuyện khi tình cờ được nghe anh kể lại chuyện “thuổng” ấy cũng ngơ ngẩn trước những gì bản thân mình đã kể, song được lọc qua một khiếu hài hước bẩm sinh, cách sắp xếp tình tiết láu lỉnh, góc nhận xét chủ quan đôi khi cực đoan thái quá. Nhưng mọi sự cực đoan của Phạm Mạnh cuối cùng cũng được mọi người gật gù chấp thuận bởi chất nghệ sĩ lãng tử hết sức chân thành và đáng yêu của anh. Vì thế, ấn tượng về một kẻ nổi tiếng “sát gái” thường bị chìm đi mỗi khi anh góp ý với chị em diễn viên về một cảnh phim, hay nôn nóng rời monitor nhảy ra bối cảnh “cướp địa bàn” của đạo diễn để chỉ đạo diễn xuất. Và trong hiện trường quay phim, lúc anh nổi nóng với diễn viên cao tuổi thậm chí văng tục ra bởi họ diễn xuất vượt khỏi phạm vi ống kính máy quay đã quy định, cả đoàn làm phim khó ai có thể giận anh được lâu.

Tuy thế, khí chất “máu gái” của anh cũng mấy lần gây trắc trở cho đoàn phim, thậm chí tiến độ sản xuất phim bị ngưng trệ, phim đứng trước nguy cơ đổ bể trong tích tắc. Tiêu biểu như chuyện này, mà những ai tò mò thích chuyện “giật gân” sẽ có điều kiện hiểu thêm câu chuyện về “Pho tượng người” xin được kể sau:

Sáng nay, cả đoàn phim đang căng thẳng với một trường đoạn quay để giải phóng bối cảnh, thì có một chiếc xe taxi sơn rồng vàng rồng đỏ 7 chỗ ập đến che kín ống kính máy quay đang vận hành. Bảy người đàn ông lực lưỡng, có người mình xăm trổ, hùng hổ bước ra vẻ bực tức đầy hung hãn.

– Ai là đoàn trưởng? – Một trung niên nhìn quanh hỏi trống không, hách dịch.

Thế bình tĩnh bước tới trước mặt anh ta.

– Vâng, chào các anh. Tôi là đạo diễn, tạm thời là trưởng đoàn… Có chuyện gì thế ạ? Chúng tôi có thể giúp gì được các anh…

Thấy anh vẻ nhẫn nhịn, lịch sự, người đàn ông chắc là trưởng nhóm cũng dịu đi đôi phần, song giọng vẫn lạnh tanh sắt máu:

– Tôi nói để các anh biết: Người của các anh đã dụ dỗ vợ người khác – tức là em trai tôi, để vào đóng phim mà không được sự đồng ý của gia đình. Nó đang trong thời kỳ ly hôn với em tôi, chưa có pháp luật chứng giám đồng ý, vậy mà đã tự do đi bồ bịch lăng nhăng với người của các anh lấy cớ là đóng phim! Con ấy đâu? Thằng ấy đâu?

Sáu người còn lại mắt gườm gườm, tay chống nạng như sẽ ăn sống nuốt tươi các nhân vật đang bị “truy nã”!

Thế hoảng hồn, song kịp trấn tĩnh, vì cần phải trấn tĩnh trong hoàn cảnh này. Không nên đổ thêm dầu vào lửa. Cũng không thể dối trá, lừa bịp, thoái thác. Nhưng lại phải bảo vệ nhà quay phim (anh đoán ra ngay ai là nguyên nhân của vụ này), và bảo vệ bộ phim đang quay…

Và tình thế hoàn toàn khác, không phải là chuyện “tranh chấp” đàn bà của giới bình dân nữa, mà là chuyện có thể liên quan tới luật Hôn nhân và Gia đình… Người đàn ông trung niên gay gắt hỏi lần nữa:

– Con ấy đâu? Thằng ấy đâu?

Phạm Mạnh từ tổ quay điềm tĩnh bước ra, tuy mặt anh hơi tái lại.

– Các anh định tìm tôi? Chính tôi là người giới thiệu cô Hoa tham gia đóng phim đây, và được cả đoàn chấp thuận…

Bảy người như bảy võ sĩ Samurai trong phim Nhật hùng dũng xấn tới vây quanh Phạm Mạnh. Thế khẽ hất đầu, trừ mấy diễn viên già, còn những diễn viên nam tuổi tráng niên và toàn bộ tổ quay, ánh sáng, kịch vụ, bảo vệ cũng bước tới đứng cạnh nhà quay phim.

Người thanh niên chồng cô Hoa bắt đầu vung tay kể tội:

– Lần này thì tao bắt quả tang cái thằng nghệ sĩ này rủ rê con vợ tao đóng phim để bồ bịch rồi nhé! Thanh thiên bạch nhật rồi nhé, chính mày đã công khai nhận tội! Mày có biết vợ tao đã bỏ con nhỏ đang ốm đi theo mày đêm qua để hú hí với nhau? Chúng tao ly thân, nó đâm đơn ly dị, nhưng tòa đang hòa giải, nó vẫn là vợ chính pháp của tao… Sao mày đang tâm làm thế?

Thế thấm hiểu nỗi đau lòng bất lực của người thanh niên làm nghề chân tay kia. Song công lý không hoàn toàn nằm ở anh ta. Hơn nữa, lúc này tình thế liên quan tới toàn bộ đoàn làm phim và sản phẩm của hãng phim, bởi vậy chỉ một ly sơ sẩy của anh trong xử lý sẽ dẫn tới hậu quả khôn lường…

Viết ra thì dài dòng, nhưng đó chỉ là ý nghĩ chớp nhoáng. Với sự cảm thông thực lòng, Thế bước tới gần anh chồng “bất hạnh”.

– Anh à, chúng tôi quả thực không hề biết con nhỏ của anh chị đang bị ốm nên đã nhờ anh Mạnh mời chị Hoa tới để quay nốt một bối cảnh tối qua…

Mấy ánh mắt ngạc nhiên trong đám diễn viên cả già – trẻ. Rõ là Thế đã bịa chuyện một cách rất ngọt. Tối qua không hề có cảnh quay nào hết. Đúng ra là tối trước đó cũng có quay cả đêm, nhưng không có cảnh liên quan tới cô Hoa diễn viên phụ này. Dù sao, việc lầm lẫn cố ý đó cũng đã là một cú xì hơi đáng kể: ánh mắt giận dữ của người chồng mang ấn tượng bị phụ bạc đã nguôi đi phần nào.

– Nhưng các ông làm nghệ thuật nghệ thọt cao siêu gì thì cũng phải nghĩ đến hoàn cảnh riêng của diễn viên chứ! Con bé nhà tôi ốm nặng, sao không để buổi khác đi mà cứ cố đấm ăn xôi thế…

Xong rồi! Thế thầm reo. Thế là mấy người kia – có anh chồng làm đại diện cho nhóm “bị nạn” đã rơi vào tròng của anh: họ nghiễm nhiên thừa nhận cô vợ chán chồng đang tham gia vào công việc của một đoàn phim, làm “diễn viên”. Với tiền đề áp đảo này, anh đã tấn công liên tiếp, đánh lạc hướng, nằm bịt miệng đối phương một cách thiếu lương thiện:

– Các anh à, chúng tôi xin rút kinh nghiệm sâu sắc, đã chạy theo tiến độ sản xuất mà lãng quên hoàn cảnh khó khăn của các diễn viên… Nhưng cũng đáng hoan nghênh chị Hoa – Thế gọi – Chị Hoa đâu rồi các anh chị?

Một cô gái xinh xắn có gương mặt bầu bĩnh trẻ thơ bước ra, mặt mũi bơ phờ, tóc chưa kịp chải, vừa thức dậy sau một đêm không phải trong ánh sáng trường quay mà trong bóng tối của mối tình tội lỗi với anh chàng quay phim đang đẩy cả đoàn phim vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

Cô gái mới 23 tuổi, nhưng Thế phải đôn lên làm “chị” để tạo thêm trọng lực cho bên đang yếu thế là đoàn phim.

– Xin lỗi chị Hoa, làm phiền chị rồi, cả đêm quay vất vả mà chưa được nghỉ ngơi… Người nhà chị đến thăm đoàn phim và hỏi thăm chị đó!

Hoa ngơ ngác và ngượng nghịu cúi chào mấy vị hung thần nhà cô mà lúc này khí sắc dữ dội đã hạ từ 10 phần chỉ còn 4 phần.

– Thưa các anh, chị Hoa tuy mới lần đầu tham gia đóng phim nhưng đã bộc lộ nhiều năng khiếu diễn xuất, có triển vọng trở thành ngôi sao màn ảnh lớn nhỏ… Các anh thấy đấy, diễn viên chuyên nghiệp chúng tôi chỉ đưa về ba người, còn toàn bộ diễn viên thứ chính, diễn viên phụ, đều lấy tại địa phương ta tới hơn chục người, mà chị Hoa có thể nói là xuất sắc nhất…

Quả là Hoa cũng có cảm xúc nghệ thuật khá, thể hiện được tương đối một vai phụ – vai vợ của một anh bộ đội, tuy đoàn phim cũng có lúc phải “đẩy xe bò” với cô. Nếu xuất sắc thì chỉ có thể là xuất sắc trên giường chiếu dưới sự “chỉ đạo diễn xuất ngoài luồng” của anh chàng quay phim đã lao vào cuộc tình phạm pháp này như một con thiêu thân!

Anh chồng bị “cắm sừng” tuy lòng vẫn còn đầy nghi ngờ không còn sừng sộ như lúc nãy, nhưng vẫn tỏ ra cương quyết:

– Biết vậy! Nhưng thù lao của đoàn phim chắc không đủ cho chúng tôi mua sữa mua thuốc cho con bé nhà tôi được một tuần, trong khi đó thì cửa hàng chúng tôi bị bỏ bê, mất khách… Thôi, không phim phiếc gì nữa, hú hí thế đủ rồi, về với con đi!

Anh ta tới nắm tay vợ kéo đi xềnh xệch. Thế không lường đến tình huống này. Giải thoát được cho anh chàng đào hoa song cả bộ phim lại gặp nguy. Vì hoảng lên mà Thế buộc phải lấy uy quyền của một kẻ đang chịu trách nhiệm về “sản phẩm văn hóa quốc gia”:

– Này anh! Chúng tôi không dám giữ chị Hoa đóng phim nữa. Nhưng chị ấy đã tham gia trong nhiều trường đoạn phim, nếu bỏ dở chừng, chúng tôi buộc phải tổ chức quay lại toàn bộ hết sức tốn kém, gia đình ta có chịu đựng nổi không?!

Anh chồng ngẩn ra như cố gắng hiểu điều Thế vừa thốt lên.

– Tôi xin mời Chính quyền địa phương tới làm chứng rằng: gia đình đồng ý chi toàn bộ kinh phí quay lại phim, vì đã phá bỏ hợp đồng làm phim khiến bộ phim bị vỡ…

May có một bác diễn viên cao tuổi dường đã hiểu hết tình thế, vào cuộc “đỡ đòn” cho anh bằng lời lẽ từ tốn, rành mạch, chân tình, không một chút gì biến báo:

– Các anh ạ, đạo diễn nói đúng đấy! Pháp lệnh sản xuất đâu phải trò đùa. Mỗi ngày quay tốn kém biết bao tiền của, trong đó có mồ hôi nước mắt đóng thuế của cả các anh nữa đó… Cô Hoa đã đồng ý tham gia vào vai, có đóng với tôi trong vài phân đoạn, và còn độ vài phân đoạn nữa mới xong vai. Giờ cô Hoa bỏ dở, nghĩa là phải mời diễn viên khác, và phải quay lại hết những gì đã quay… Cô Hoa đã là người trưởng thành, có quyền quyết định tham gia đóng phim khi được mời, và giờ nghe gia đình phá ngang thì tất phải chịu trách nhiệm trước pháp luật thôi…

Người đàn ông trung niên “khai hỏa” lúc đầu tới đận này vẫn găng theo kiểu cù nhầy:

– Đền thì đền! Các ông tưởng phim ảnh các ông quý hóa lắm à? Đi phá hoại hạnh phúc gia đình người ta, bây giờ lại ăn vạ đòi đền!…

Thế nóng mắt, dù lời người đàn ông này có phần sự thật.

– Thưa anh, tôi hiểu là với tư cách huynh trưởng, anh đã lo lắng nhiều cho hạnh phúc gia đình cậu em… Nhưng nếu anh bảo chúng tôi có người phá hoại hạnh phúc gia đình anh, thì tức là mắc tội vu khống đó! Anh có bằng chứng nào thế ạ? Nếu có, chúng tôi xin cùng các anh ra tòa phán xử, cùng việc phán xử bồi hoàn thiệt hại cho đoàn phim… Ông Chủ nhiệm ơi, mời ông tính toán ngay cho: các anh ấy sẵn sàng đền bù cho việc quay lại toàn bộ, thì phải chuẩn bị bao nhiêu tiền? Và tôi đề nghị tạm dừng quay hôm nay, mời Ủy ban Huyện tới chứng kiến, phân xử.

Anh chồng hoàn toàn xuống nước:

– Vậy cái Hoa vợ tôi còn phải đóng phim bao nhiêu ngày nữa?

Trợ lý đoàn phim giở luôn sổ ghi chép kè kè bên mình, dò một lúc rồi phán như mõ tòa:

– Còn ba trường đoạn nữa có cô Hoa, chắc sẽ chỉ quay gọn trong hai ngày thôi!

Ông chủ nhiệm khá tâm lý, bảo Thế:

– Xét hoàn cảnh diễn viên Hoa, tôi đề nghị đạo diễn đồng ý thanh toán một nửa hợp đồng làm phim cho cô ấy, để cô ấy lo thuốc thang cho con, chú em nhá?

Thế nhìn ông chủ nhiệm vẻ biết ơn, gật đầu sái cổ.

Buổi tối ở bãi biển, Phạm Mạnh bảo anh:

– Ông đúng là cứu tôi một bàn thua trông thấy…

Thế lừ mắt:

– Tôi cứu là cứu bộ phim, cứu cả đoàn, chứ ông thì tôi ngán tận cổ rồi! Không có lần thứ hai đâu đấy nhé?

Phạm Mạnh cười hì hì:

– Thôi biết rồi! Tôi đền ơn ông bằng một câu chuyện cực kỳ thú vị nhé, cho ông góp vào cái “kho bần tiện” là kho ý tưởng kịch bản của ông… Chuyện này, đến bây giờ tôi vẫn chưa thể hiểu nổi… Ông còn nhớ, có lần ông kéo tôi xem một phim ở Đại sứ quán Pháp, xem xong tôi chẳng hiểu bộ phim nói cái gì? Ông bảo: “Ông đã đọc các vở kịch phi lý của Iônescô, Bếchkét chưa? Có những thứ viết ra không phải để cho người xem người đọc hiểu, mà chỉ có thể cảm thôi… Bộ phim này cũng thế”. Nhưng câu chuyện này của tôi, tạm gọi là “Pho tượng người” đã, chẳng có chút gì phi lý cả, thế mà hai năm nay tôi ngẫm nghĩ, vận dụng nhiều suy luận, cả những kiến thức mỹ học ký hiệu học rắc rối mà ông nhồi nhét cho, nhưng vẫn bế tắc…

Thế trả lời anh bạn nghề từng gây cho anh và các đoàn phim không ít khốn khổ:

– Nếu không có bế tắc và tìm cách lý giải những bế tắc đó, thì đã không phải là ông – một nhà điện ảnh có nhiều tìm tòi trăn trở, và tôi đâu mời ông làm phim cùng tôi! Nhưng trước tiên ông hãy kể tôi nghe nguồn cơn bế tắc đó đã…

– Ông còn nhớ em diễn viên xuất thân dân trường múa của phim ta năm kia không? Chỉ mới vài ngày quay, tôi đã cảm mến em rồi si mê em như điếu đổ… Đấy là một cô gái đầy nghị lực, có thể nói là nghị lực sắt đá. Tôi biết là ông đã đồng ý phụ đạo cho em thi vào Khoa Đạo diễn Đại học Sân khấu – Điện ảnh. Ông từng kể: Trong lúc giảng cho em, có một diễn viên nổi tiếng gọi điện mời em tới khai trương cửa hàng của anh ta, em đã trịnh trọng trả lời: “Xin lỗi anh nhé, tôi đang học thầy để ôn thi…”. Tôi biết nhiều em xinh đẹp trong giới diễn viên trẻ, giới tạo nguồn điện ảnh – sân khấu, nhưng lần đầu tiên mới gặp một em mang vẻ tiên nữ mà lại có ý chí vươn lên bằng học vấn và trí tuệ như thế… Ông chắc chưa biết: Em sinh ra trong một gia đình nghèo vùng chiêm trũng quê thi hào Nguyễn Khuyến, tự bỏ nhà năm 13 tuổi theo một ông bầu ca nhạc về quê em tổ chức biểu diễn, nhưng ông này thấy em có năng khiếu múa đã cho em thi vào học trường múa, và nuôi dưỡng em thành bồ non mấy năm sau… Rồi em tốt nghiệp thủ khoa. Đúng lúc ta tuyển chọn diễn viên, lần casting đầu tiên em đã được chính ông gật đầu không gượng gạo cho vào vai chính… Trong những ngày quay vất vả ở nhiều bối cảnh cách xa nhau, bao giờ em cũng tới sớm trước nhiều phút, chăm chú nghiên cứu kịch bản phân cảnh, hỏi bất kỳ diễn viên nào và bất kỳ ai trong tổ đạo diễn về những gì em chưa hiểu nội dung hay cách thể hiện vai… Chẳng một ai nỡ từ chối sự chân thành học hỏi và quyết tâm chinh phục vai của em… Tôi hay nổi nóng với diễn viên kể cả các bác lớn tuổi, ông biết thói xấu của tôi rồi đó, nhưng tôi không dám, và không có cớ gì để nổi nóng hoặc bực bội lần nào với em. Những cậu trẻ trong đoàn hễ tỏ thái độ tán tỉnh, trêu đùa em, thì chỉ ánh mắt sắc lạnh của em cũng khiến mọi ý định không lành mạnh phải rụt cổ lại, tịt ngóm. Sự nghiêm túc của em trong lao động nghệ thuật và thái độ ứng xử tựa có áo giáp sắt che chở kia khiến em vô tình giống một vị Thánh nữ đối với cả đoàn phim – nhất là đối với những kẻ mọi khi vẫn nhìn em hau háu như mèo thấy mỡ thì bắt đầu lè lưỡi lảng cho xa kẻo gặp họa…

– Nhưng trừ ông ra chứ?! – Thế chêm vào chế giễu.

– Cái thằng cận ông sau giờ quay thì chỉ cắm đầu vào sách, làm sao biết được cái gì cho nên hồn, hả! – Mạnh tự ái vặc lại – Ông làm sao hiểu rằng, chính sự tôn trọng của tôi với em, tình cảm thầm lặng chân thành của tôi đã chinh phục được em…

Thế nhìn Mạnh vẻ kính nể thật sự.

– Tôi tin ông không bịa… Nhưng xin ông đừng hư cấu những thành tích chinh phục nhé? Một năm làm việc với cô bé ấy, tôi cũng có thể hình dung được ông đã xầy da tróc vẩy thế nào để có nổi sự cảm mến, lòng yêu quý của em… Song kiểu chinh phục mà ông muốn nói thì chắc không dễ như ăn cỗ đâu…

– Tôi sẽ không hư cấu làm gì cái cuộc chinh phục này, dù tôi thừa sức hư cấu cho ông tin. Bởi… Tôi là kẻ thất bại… Và thất bại lớn nhất là tôi đã không sao lý giải nổi…

Anh nhìn Mạnh dò hỏi.

– Ông là người duy nhất tôi kể chuyện này, giữ bí mật cho tôi… Sau mấy tối hẹn hò đưa em đi chơi công viên, và sau một cái hôn khiến cả hai như bị điện giật, tôi rụt rè rủ em đi chơi xa Hà Nội… Không ngờ em gật đầu ngay. Không phải sự bằng lòng dễ dãi đâu ông…

– Ông thừa lời rồi! – Anh ngắt lời Mạnh.

– Ừ, tôi thừa lời thế, để ông có thể hiểu thêm những gì đã xảy ra… – Mạnh im lặng hồi lâu như chìm trong ký ức – Trong đêm đầu tiên ở một nhà trọ Tam Đảo… Ông đã bao giờ được sống cảnh này chưa: nơi du lịch vắng vẻ, một cô gái đẹp trần truồng nằm cạnh, ngoan ngoãn chờ đợi… Em vốn có một thân hình đang nảy nở của một cô gái mới lớn, lại là của một nghệ sĩ múa từng tập luyện kỹ thuật cơ thể hết sức công phu, nên mỗi đường nét đều đẹp như tượng cẩm thạch… Phải, trong ánh trăng rọi qua cửa sổ, tôi lặng ngắm em tựa một bức tượng Hy Lạp cổ, với tâm trạng của một họa sĩ trước mẫu vẽ mà tôi từng được đọc viết về một họa sĩ nước ngoài… Lạ quá ông ơi, không hề có một chút dục vọng nào nảy sinh trong tôi, dục vọng của thằng đàn ông khỏe mạnh trước một cô gái sẵn sàng dâng hiến tâm hồn và thể xác cho mình… Tôi nhẹ nhàng nằm cạnh em, vuốt nhẹ tay trên bầu vú em, nhưng không hề thấy mảy may phản ứng gì cả, ví như một nỗi run rẩy lo lắng mơ hồ, hay một tiếng rên nhè nhẹ làm nũng, chẳng hạn… Tôi thoáng nghĩ: Trời ơi, cô ta là tượng đá hay sao? Hoặc đang định “diễn” làm tượng đá? Mắt em mở to trong đêm, lóe sáng như mắt cáo nhìn mãi lên trần như tìm kiếm cái gì đó mà quên hẳn người con trai đang yêu đang thèm khát đến mê mẩn ở bên cạnh mình… Chẳng lẽ em đang nhớ về vai diễn của bộ phim vừa quay, hay những nhân vật em sẽ đóng nay mai? Hoặc em đang nghĩ tới lúc có bằng đạo diễn, được cầm cờ chỉ huy sẽ giống mấy bà đạo diễn nổi tiếng nước ta hét ra lửa, được mệnh danh là “nữ tướng” của trường quay khiến cả những thằng quay phim có tiếng “đầu gấu” như tôi cũng phải nem nép tuân phục? Còn đâu ánh mắt mơ màng khi nghe tôi kể lại truyện Hơi thở nhẹ của Bunin? Tôi chợt lạnh toát người liên tưởng tới chuyện ma nữ thành tinh biến thành gái đẹp làm vợ chàng nho sinh một đêm trong cuốn sách gì đấy tôi mượn ông… Em hóa đá hay trái tim tôi đã hóa đá? Không còn một tẹo teo cảm xúc nào nữa, kể cả cảm xúc của một họa sĩ đang cầm bảng màu trước thân hình trần trụi tuyệt mỹ của em, lúc đó, đối với tôi quả là một thất bại ê chề…

– Không, tôi cho rằng ông không thất bại – Thế ngắt lời – Ngược lại thì có… – Mạnh nhìn anh chờ đợi – Ông chạy theo nhiều bóng hồng quá nên quên chuyện tôi đã kể về Paustovski có lần đứng trước những tranh, tượng khỏa thân nữ ở một Bảo tàng nghệ thuật và nhà văn thốt lên trong nước mắt: “Trời ơi, con người ta vốn đẹp đẽ nhường kia, vậy mà sao ý nghĩ về họ lại xấu xa nhơ nhuốc đến thế!”. Ông là kẻ tham gia sáng tạo cái Đẹp như các đám đông nghệ sĩ xưa – nay, nhưng giờ đã may mắn bước vào hàng ngũ hiếm hoi những kẻ thật sự biết thưởng thức cái Đẹp…

– Ông đúng là thằng dở hơi dở hám – Mạnh tức tối – Ông may mắn thì có, bởi chỉ nói với tôi điều này, nếu không ông sẽ bị “ném đá” tới thân tàn danh liệt! Hóa ra, thâm tâm ông cũng đã coi em như một Thánh nữ… Nhưng nếu ông trong cảnh ngộ tôi đêm đó, ông sẽ hiểu nhanh hơn tôi rằng: toàn bộ con người em, cả tâm hồn lẫn thân xác đều đã bán đứt, bán đau đớn cho Tham vọng… Tham vọng điên cuồng tìm mọi cách mau chóng chiếm đoạt lấy tài năng, địa vị, các mối quan hệ, để vươn tới đỉnh cao danh vọng và tiền bạc… Tình yêu, nó thiêng liêng quý giá đối với ai, chứ với em chỉ là một thứ phương tiện. Em đồng ý đi với tôi không phải nhằm lợi dụng gì thằng nghệ sĩ quay phim hạng bét trong ngành. Em ngoan ngoãn đi cùng tôi, thoát y bên tôi như nhiều lần trước đây em đã làm với những kẻ em có thể lợi dụng được, bởi em cũng cảm nhận được sự chân thành ở tôi, điều đó khiến tôi rung động, thấy yêu em hơn… Nhưng sao em lại có thể băng giá đến thế? Sao em lại biến mình thành một Pho tượng vô tri vô giác như thế, bên một kẻ tuy mang tiếng lăng nhăng trai gái song cũng biết trân trọng Tình yêu, thậm chí biết hy sinh cả đời mình cho một Tình yêu thật sự khi nó đến với mình… – Mạnh nói gần như khóc than.

– Bi kịch đó không chỉ của riêng ông đâu!… Lòng vả cũng như lòng sung, tôi cũng như ông từng trải qua không ít tình mưa bóng mây, tình một đêm, nhưng tận đáy lòng luôn mơ ước một mối tình chân thật dài lâu để có thể sống chết với nó… Hôm nay tôi mới tâm sự thật với ông: lắm khi tôi không dám nhìn thẳng vào em trong lúc em diễn hay trong lúc dạy em học, bởi tôi có cảm giác rằng: em chỉ là cái dáng bên ngoài thôi, tựa một pho tượng của tự nhiên, còn thực chất con người em, mọi thứ em tìm đến, em học hỏi, mọi sự chân thành mà em tạo ra, kể cả tình yêu thực sự em đã có – đối với em đều là các bậc thang và các mẩu phương tiện giúp em vươn đến chiếm đoạt một cái đích nào đó thực cao xa – đúng như ông cảm nhận… Cũng là do hoàn cảnh thôi, ông… Em đáng thương hơn đáng giận đáng ghét. Dù sao, em cũng đáng quý hơn nhiều mỹ nữ nhiều quý bà kiều diễm tâm hồn trống rỗng đem vẻ đẹp thân xác ra trao đổi lấy cuộc sống giàu sang từ đám quan chức hư hỏng và bọn đại gia ăn cướp hiện nay… Em rất yêu nghề đấy, mong sao cái Tình yêu nghề đáng trọng đó của em tìm được cánh buồm xứng đáng che chở bảo vệ – ví như ông chẳng hạn – để em có thể tới được bến bờ sáng tạo chân chính… Hy vọng ông có thể chinh phục được Pho tượng người đó…

Thoáng nhìn vào đôi mắt Phạm Mạnh phản chiếu những ánh đèn câu li ti trên biển đêm, anh chợt nhận ra sự vô vị thậm chí giả dối như nhiều lần anh buộc phải giả dối, trong những lời cuối này của anh. Bởi nghiệm lại những gì mà Thế và anh bạn quay phim đã làm, thì hầu như chỉ là những cố gắng tuyệt vọng, trên những cơ sở chông chênh mất gốc rễ, khiến anh và nhiều kẻ từng oan uổng mang danh nghệ sĩ trong khi đi tìm cái Đẹp lại ngày một xa cách nguồn cảm hứng vĩnh cửu và đích thực của những nghệ sĩ cổ xưa từng tạo ra những tượng thần Vệ Nữ thành Milo, tượng Nữ thần của Tình yêu và Sắc đẹp Aphrodite, tượng Nữ thần của Mặt Trăng và sự Trong trắng Artemis…