Tác giả: Bùi Mẫn Hân
Người dịch: Nguyễn Quang A
NXB Princeton University Press, 2026.

Hầu hết các tài liệu về lịch sử kinh tế Trung Quốc sau thời Mao đều mô tả chủ nghĩa dần dần (gradualism) là một quyết định có chủ ý của các nhà lãnh đạo nhằm tránh các sai lầm tốn kém ban đầu.1 Như hầu hết các quan điểm thông thường, nhận định này chỉ đúng một phần. Tuy nhiên, cách kể chuyện này rõ ràng đã hạ thấp thực tế rằng đảng đã quyết định theo đuổi một lộ trình cải cách thận trọng và từng bước vì sự phản đối của phe cứng rắn khiến việc thực hiện những cải cách triệt để hơn trở nên bất khả thi. Quan trọng hơn, một khi Đặng Tiểu Bình quyết định dựa vào các công cụ tư bản chủ nghĩa để cứu ĐCSTQ, phạm vi lựa chọn thực tế cho chiến lược cải cách kinh tế đã bị hạn chế. Nói một cách đơn giản, việc ủng hộ hoàn toàn và vô điều kiện nền kinh tế thị trường là điều không thể chấp nhận về mặt chính trị vì điều này sẽ đồng nghĩa với việc phá hủy nền tảng kinh tế của chế độ một đảng. Mối nguy hiểm này không ngăn cản Đặng tiếp cận chủ nghĩa tư bản trong thập niên 1980 vì ông sẵn sàng thử mọi cách để cứu vãn một chế độ bị tàn phá bởi ba thập kỷ cai trị sai lầm của Mao, nhưng mối đe dọa từ một nền kinh tế thị trường phi tập trung đối với chế độ một đảng sẽ bùng phát mạnh mẽ hàng thập kỷ sau đó khi khu vực tư nhân vượt qua khu vực nhà nước trở thành lực lượng kinh tế năng động nhất.
Trong thập niên 1980, may mắn thay, viễn cảnh chủ nghĩa tư bản lật đổ độc quyền chính trị của ĐCSTQ dường như quá viển vông, nên dù gặp sự phản đối quyết liệt từ phe bảo thủ, đảng vẫn ủng hộ Đặng Tiểu Bình và mở cửa cho các doanh nhân tư nhân trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Điều mà Đảng không lường trước được là tốc độ phát triển và thịnh vượng của chủ nghĩa tư bản trong một môi trường nửa-thù địch. Thật không may, logic của sự phụ thuộc vào con đường phát triển cũng có nghĩa là sự ủng hộ nửa vời của Đảng đối với chủ nghĩa tư bản sẽ đặt ra những ranh giới vững chắc cho phạm vi của thị trường và duy trì sự kiểm soát của chế độ đối với những “đỉnh cao chỉ huy” của nền kinh tế mà Vladimir Lenin từng gọi. Nền kinh tế hỗn hợp nảy sinh sẽ dần cạn kiệt động lực ban đầu và bắt đầu cứng nhắc và trì trệ.
Sự xuất hiện của hệ thống kinh tế hỗn hợp của Trung Quốc vào những năm 1980 có thể được chia thành hai giai đoạn. Thành tựu quan trọng nhất trong giai đoạn đầu 1979–1983, là quá trình phi tập thể hóa nông nghiệp diễn ra nhanh chóng. Bước đột phá này không chỉ nâng cao đáng kể năng
suất và sản lượng nông thôn mà còn mở đường cho sự trỗi dậy của khu vực tư nhân năng động và thiết lập nền tảng cho nền kinh tế hai chiều của Trung Quốc: một khu vực tư nhân hiệu quả cao song song với khu vực doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả. Cải cách khu vực đô thị, nơi nền kinh tế bị chi phối bởi các doanh nghiệp nhà nước, bắt đầu một cách dè dặt trong giai đoạn này và không đạt được tiến bộ đáng kể. Trong giai đoạn này, các nhà cải cách do Đặng Tiểu Bình dẫn đầu cũng khởi xướng “cởi mở” — hội nhập với nền kinh tế toàn cầu thông qua thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và thúc đẩy thương mại quốc tế. So với những thành công của cải cách nông thôn và chính sách mở cửa đạt được trong giai đoạn đầu, thì giai đoạn thứ hai (1984–1989) mang lại kết quả cải cách kém ấn tượng hơn nhiều, chủ yếu do những thách thức phức tạp trong việc cải cách các doanh nghiệp nhà nước, sự phản đối bảo thủ ngày càng gia tăng, và việc Đặng Tiểu Bình cách chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Diệu Bang vào tháng 1 năm 1987, một động thái đã làm suy yếu nghiêm trọng phe cải cách ở cấp cao.
Mặc dù Trung Quốc không thể cải cách thành công khu vực doanh nghiệp nhà nước lớn và kém hiệu quả trong giai đoạn thứ hai, nước này vẫn xây dựng được nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh chóng và bền vững trong thập niên 1980, nhờ vào sự phát triển nhanh chóng của khu vực tư nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều trớ trêu là sự phát triển này, đặc biệt là sự trỗi dậy của một khu vực tư nhân trong nước sôi động, không phải là kết quả được lên kế hoạch của cải cách do Đặng Tiểu Bình đề xướng. Do sự phản đối chính trị và những khó khăn kỹ thuật trong việc cải cách các doanh nghiệp nhà nước, những người ủng hộ cải cách đã khôn ngoan lựa chọn con đường ít cản trở nhất: tự do hóa nền kinh tế để đưa vào thị trường các doanh nghiệp phi nhà nước hiệu quả hơn nhiều, trở thành động lực mới cho tăng trưởng. Bỏ qua những toan tính chính trị, cách tiếp cận thực dụng này đối với cải cách cũng trở nên khả thi nhờ, một cách nghịch lý, sự vắng mặt của một chiến lược rõ ràng và toàn diện để chuyển đổi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa nhà nước thành nền kinh tế định hướng thị trường. Thay vì tuân theo một cách tiếp cận cứng nhắc, các nhà cải cách Trung Quốc dựa vào việc học hỏi qua thực tiễn và tránh mắc phải những sai lầm tốn kém trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi, những sai lầm có thể đe dọa sự thành công của toàn bộ quá trình.
Nguồn gốc của chủ nghĩa thực nghiệm Trung Quốc
Khi Trung Quốc bắt đầu cải cách hệ thống kinh tế vào đầu những năm 1980, các nhà lãnh đạo nước này đang ở trong một vùng đất chưa được khám phá, vì họ không thể rút ra nhiều hướng dẫn từ lí thuyết kinh tế hay các ví dụ thực tế.2 Văn học kinh tế tân cổ điển không phù hợp với một quốc gia đang chuyển đổi từ nền kinh tế phi thị trường sang một hệ thống khác. Kinh nghiệm cải cách kinh tế hạn chế ở Đông Âu (chủ yếu là Hungary và Nam Tư) trong những năm 1960 và 1970 chỉ hữu ích một phần nhỏ vì những nỗ lực này tập
trung vào các doanh nghiệp nhà nước và cuối cùng không mang lại những cải thiện kinh tế đáng kể.
Tuy nhiên, những gì các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc thiếu về mặt lí thuyết đã được bù đắp hơn cả bởi những yêu cầu chính trị cấp bách và bản năng thực dụng của họ. Về mặt chính trị, các nhà lãnh đạo cấp cao biết rằng họ phải tạo ra mức tăng trưởng cao hơn để củng cố tính chính danh của ĐCSTQ sau hàng thập kỷ quản lí kinh tế sai lầm dưới thời Mao. Đặng Tiểu Bình đã nói thẳng thắn vào tháng 10 năm 1979: “Công tác kinh tế là vấn đề chính trị lớn nhất hiện nay. Vấn đề kinh tế là vấn đề chính trị quan trọng nhất.”3 Về cách thức đạt được mục tiêu này, câu trả lời của Đặng Tiểu Bình rất thẳng thắn, dù thiếu chi tiết cụ thể: “Mục tiêu của cuộc cách mạng của chúng ta là giải phóng và phát triển năng suất.”4
Để “giải phóng năng suất”, những nỗ lực ban đầu của Trung Quốc tập trung vào việc làm cho hệ thống hiện có hiệu quả hơn chủ yếu thông qua phân quyền, thay vì thay thế hoàn toàn hệ thống đó. Bắt đầu từ năm 1979, phân quyền bao gồm việc trao cho chính quyền địa phương nhiều quyền tự chủ hơn trong quản lí kinh tế và khuyến khích họ bằng “hợp đồng tài chính”. Điều này cho phép các chính quyền tỉnh giữ lại phần thu nhập dư thừa sau khi đã hoàn thành chỉ tiêu thu thuế phải nộp cho chính phủ trung ương.5 Bản năng thực dụng của các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã khiến họ ưa chuộng các biện pháp thử nghiệm hơn là những bước đi quyết liệt nhưng rủi ro. Cách tiếp cận thận trọng này được thúc đẩy bởi cả sự phản đối từ các lực lượng bảo thủ chống lại việc tự do hóa hoàn toàn và sự thiếu hụt kiến thức cần thiết hoặc hướng dẫn lí thuyết. Do đó, các biện pháp cải cách được triển khai dần dần, thường bắt đầu ở một số địa phương nhỏ để thu thập kinh nghiệm quý báu và tránh những sai lầm.6 Một ví dụ điển hình là việc mở cửa kinh tế với phương Tây, diễn ra thông qua một loạt cải cách thận trọng, như việc thành lập bốn Khu kinh tế đặc biệt (SEZ) tại Quảng Đông và Phúc Kiến vào đầu thập niên 1980, việc mở rộng dần các chính sách đến các thành phố ven biển quan trọng, và các cải cách từng bước đối với chế độ thương mại quốc tế. Một ví dụ khác là cải cách giá cả thập niên 1980, bắt đầu với hệ thống định giá “hai đường (dual track- hai giá)” độc đáo, kết hợp cả giá do chính phủ quy định và giá do thị trường quyết định.7 Đột phá cải cách “đại phẫu” duy nhất – trong lĩnh vực nông nghiệp – không phải do chiến lược có chủ đích của lãnh đạo cấp cao, mà do sự kết hợp giữa các sáng kiến từ dưới lên của nông dân và sự ủng hộ của các nhà cải cách tại một số tỉnh trọng điểm vào năm 1979.8
Mặc dù thường được cho là chiến lược “học qua thực tiễn” của Trung Quốc trong thập niên 1980 đã mang lại thành công ban đầu cho cải cách kinh tế, nhưng sẽ là không công bằng nếu bỏ qua ảnh hưởng của các ý tưởng và bài học từ Đông Âu và phương Tây trong việc giúp các nhà hoạch định chính sách và nhà kinh tế Trung Quốc có được sự hiểu biết sâu sắc và tinh tế hơn về bản chất, phạm vi và thách thức của nhiệm vụ của họ. Nếu có thể nói, một trong những động thái ban đầu của Trung Quốc là cử một
số quan chức cấp cao đến thăm các nước ở Đông Âu, Tây Âu và Đông Á để thu thập những bài học, hiểu biết và kiến thức hữu ích về cải cách kinh tế.9 Ngân hàng Thế giới, mong muốn góp phần định hướng con đường phát triển của Trung Quốc, đã cung cấp sự hỗ trợ kỹ thuật vô giá. Trưởng văn phòng của ngân hàng tại Bắc Kinh đã tổ chức các hội thảo cho các chuyên gia kỹ thuật và các nhà kinh tế trẻ trong chính phủ Trung Quốc. Sự kiện có ảnh hưởng nhất là một hội thảo kéo dài bảy ngày trên một chuyến du thuyền dọc sông Dương Tử vào tháng 9 năm 1985, với sự tham gia của các nhà kinh tế nổi tiếng từ Đông Âu và phương Tây. Nhiều người tham gia Trung Quốc trong hội thảo sau này trở thành những nhân vật có ảnh hưởng trong quá trình cải cách của Trung Quốc, như Wu Jinglian, Gao Shangquan, Guo Shuqing và Lou Jiwei. Ấn tượng trước giá trị của sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ngân hàng Thế giới, vào năm 1983, Đặng Tiểu Bình đã mời ngân hàng này tiến hành một nghiên cứu toàn diện về nền kinh tế Trung Quốc và xác định các lựa chọn chính sách mà nước này phải đối mặt. Điều này dẫn đến một nghiên cứu mang tính bước ngoặt của Ngân hàng Thế giới, được công bố vào năm 1985 với tiêu đề “Các Vấn Đề và Lựa Chọn Cho Phát Triển Dài Hạn”, dựa chủ yếu vào kiến thức của ngân hàng về các nền kinh tế đang phát triển.10
Dần dần và tích lũy, những tương tác trí tuệ này, đặc biệt là với các nhà kinh tế Đông Âu (những người có ảnh hưởng nhất là János Kornai từ Hungary, Włodzimierz Brus từ Ba Lan và Ota Šik từ Tiệp Khắc), đã khiến một số nhà cải cách Trung Quốc kết luận rằng cải cách kinh tế “không phải là tập hợp các chính sách ngẫu nhiên” mà là “sự chuyển đổi hệ thống”.
Tự do hóa và phân quyền, những đặc trưng của mô hình cải cách dần dần trong thập niên 1980, quá hạn chế để đạt được sự chuyển đổi sang một hệ thống kinh tế khác. Do đó, các nhà cải cách Trung Quốc bắt đầu tìm kiếm những gợi ý và cảm hứng từ nơi khác. Hai mô hình—mô hình tự do phương Tây và mô hình nhà nước (kiến tạo) phát triển Đông Á—bắt đầu có ảnh hưởng. Đối với Đặng Tiểu Bình, mô hình Đông Á có sức hấp dẫn mạnh mẽ hơn do vai trò lãnh đạo của một nhà nước độc đoán.11
Tóm tắt ngắn gọn về sự phát triển của chiến lược cải cách kinh tế Trung Quốc cho thấy rằng vào thập niên 1980, Trung Quốc chủ yếu theo đuổi một cách tiếp cận thử nghiệm và linh hoạt, được thể hiện một cách chính xác qua thành ngữ “dò đá qua sông”. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã áp dụng chiến lược này chủ yếu vì sự cần thiết. Các nhà lãnh đạo cấp cao chia rẽ về mục tiêu và tốc độ cải cách, và ngay cả những người cam kết với cải cách cũng thiếu các công cụ trí tuệ cần thiết hoặc các mô hình thực tiễn. May mắn thay, sự tương tác với các đồng nghiệp ở phương Tây và Đông Âu đã giúp các nhà kinh tế Trung Quốc nhận ra giới hạn của các thí nghiệm từng bước và phân quyền hành chính, và dẫn họ đến việc hướng tới một chiến lược chuyển đổi toàn diện và nhất quán hơn nhiều. Do tình trạng hỗn loạn chính trị sau sự kiện Thiên An Môn và sự giật lùi bảo thủ
ngắn chống lại cải cách trong giai đoạn 1990–1991, Trung Quốc phải chờ đến sau chuyến đi lịch sử của Đặng Tiểu Bình đến miền Nam vào năm 1992 mới có thể thực hiện một gói cải cách thể chế toàn diện, đánh dấu sự khởi đầu của một giai đoạn chuyển đổi mang tính chất hoàn toàn khác biệt.
Những bước đột phá ở nông thôn
Khi các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc chuyển hướng từ đấu tranh giai cấp theo chủ nghĩa Mao sang hiện đại hóa kinh tế vào năm 1979, một trong những lựa chọn chiến lược mà họ phải đối mặt là nên bắt đầu cải cách kinh tế từ đâu. Vào thời điểm đó, cơ cấu kinh tế Trung Quốc bị méo mó nghiêm trọng về mặt dân số và sản lượng. Năm 1978, nông thôn chiếm 82% dân số, nhưng khu vực nông thôn chỉ chiếm 28% sản lượng kinh tế. Nói cách khác, Trung Quốc vừa thiếu đô thị hóa vừa có mức độ công nghiệp hóa cao (với ngành công nghiệp chiếm 48% sản lượng vào năm 1978).12 Về mặt kinh tế, có vẻ như việc cải cách khu vực công nghiệp, đóng góp lớn nhất vào sản lượng kinh tế, có thể mang lại kết quả nhanh hơn và tốt hơn.
Tuy nhiên, quá trình cải cách ở Trung Quốc không bắt đầu từ khu vực công nghiệp đô thị mà từ những vùng nông thôn nghèo khó. Việc cải cách khu vực công nghiệp tập trung ở các khu vực đô thị có thể trông giống như một hướng đi đầy hứa hẹn để nâng cao hiệu quả và tạo ra tác động mạnh mẽ hơn, nhưng sự phản đối về mặt chính trị đối với cải cách trong khu vực công nghiệp do các doanh nghiệp nhà nước (SOE) chi phối lại rất mạnh mẽ. Về mặt kỹ thuật, cải cách công nghiệp cũng phức tạp hơn nhiều, không chỉ đòi hỏi những thay đổi trong quản lí và sở hữu doanh nghiệp mà còn cả một loạt các cải cách thể chế bổ sung liên quan đến giá cả, thị trường tài chính và mạng lưới an sinh xã hội.
Nếu sự phản đối chính trị và những thách thức về mặt kỹ thuật khiến cải cách nông thôn trở nên hấp dẫn hơn cải cách công nghiệp, người ta có thể kỳ vọng các lãnh đạo cấp cao của Đảng sẽ chủ động theo đuổi con đường này vào năm 1979 hoặc đầu những năm 1980. Nhưng họ đã không làm vậy. Cải cách nông thôn chủ yếu bắt đầu như một cuộc cách mạng từ dưới lên do những người nông dân chịu nhiều khổ cực tiến hành, những người này trong giai đoạn đầu chỉ nhận được sự ủng hộ của một số ít lãnh đạo đảng cấp tỉnh, đáng chú ý nhất là Vạn Lợi ở An Huy và Triệu Tử Dương ở Tứ Xuyên. Thực tế, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ban hành một chỉ thị chính sách nông thôn vào tháng 9 năm 1979, trong đó rõ ràng khuyến cáo không nên giải thể hợp tác xã.13 Những người phản đối cải cách nông thôn bao gồm Hoa Quốc Phong, người vẫn giữ chức Chủ tịch Đảng trên danh nghĩa, Lí Tiên Niệm và Hồ Kiều Mộc, hai nhân vật cứng rắn luôn phản đối cải cách kinh tế trong thập niên 1980, cùng một số lượng lớn các bí thư tỉnh ủy. Tuy nhiên, Trần Vân, người đại diện cho phe bảo thủ, lại giữ thái độ trung lập. Ngay từ đầu, Hồ Diệu Bang đã là người ủng hộ nhiệt tình nhất cho cải cách nông thôn trong số các nhà lãnh đạo
cấp cao. Đặng ủng hộ “hệ thống trách nhiệm hộ gia đình”,* cải cách nông thôn đã thực chất giải thể hợp tác xã nông nghiệp, nhưng ông không công khai ủng hộ cải cách này cho đến tháng 5 năm 1980.14 Theo Triệu Tử Dương, sự ủng hộ ngầm của Đặng là yếu tố quyết định cho thành công của cải cách nông thôn vì nó ngăn chặn sự hình thành của một khối đối lập thống nhất trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp của đảng.15 Đảng không chính thức phê chuẩn hệ thống trách nhiệm hộ gia đình cho đến đầu năm 1982.16
Dựa trên tốc độ và quy mô của quá trình phi tập thể hóa nông nghiệp, bắt đầu từ năm 1978 và hoàn tất trên toàn quốc vào năm 1982, cải cách nông thôn nên được xem là một “đại bùng nổ” mang tính cách mạng trong một trong những lĩnh vực kinh tế quan trọng nhất.17 Mặc dù cải cách kinh tế hậu Mao của Trung Quốc thường được mô tả là một trường hợp “từng bước”, trên thực tế, đất nước này đã trải qua cả một “đại bùng nổ” lẫn một quá trình cải cách từng bước. Cách tiếp cận “đại cách mạng” của Trung Quốc trong cải cách nông nghiệp là khả thi và thành công chủ yếu vì hệ thống xã hội chủ nghĩa nhà nước chưa ăn sâu vào nông thôn, và nông nghiệp tập thể hóa đã gây thiệt hại cho hầu hết dân cư nông thôn. Ngược lại, sự phản đối chính trị mạnh mẽ ở cấp cao, các nhóm hưởng lợi từ nền kinh tế chỉ huy (các nhà hoạch định, quản lí và công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước), cùng những khó khăn kỹ thuật thực sự trong cải cách công nghiệp đã buộc Trung Quốc phải áp dụng một cách tiếp cận thận trọng, từng bước trong lĩnh vực này.
Sự kết thúc của nông nghiệp tập thể đã mang lại sự gia tăng năng suất ngay lập tức. Sản lượng nông nghiệp, tính theo giá cố định, tăng trung bình
8,7% mỗi năm trong giai đoạn 1979–1984.18 Các nghiên cứu học thuật cho thấy sự thay đổi thể chế triệt để—thay thế các công xã nhân dân theo mô hình Mao bằng mô hình canh tác hộ gia đình tư nhân—đã đóng góp ít nhất một nửa vào sự tăng trưởng sản lượng trong ngành nông nghiệp trong giai đoạn này.19 Bước đột phá ở nông thôn vào đầu thập niên 1980 đã mang lại những tác động to lớn—và tích cực—cho cuộc cải cách của Đặng Tiểu Bình. Sự gia tăng nhanh chóng về năng suất và mức sống do quá trình phi tập thể hóa nông nghiệp đã tạo ra nguồn vốn chính trị quý giá cho các nhà cải cách khi thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn tăng gấp ba lần từ năm 1978 đến 1985 theo giá trị thực.20 Hiếm ai nhận thức được lợi ích chính trị từ thành công ban đầu của cải cách ở khu vực nông thôn một cách sâu sắc như Đặng Tiểu Bình, người đã phát biểu vào năm 1985, “Để làm cho nền kinh tế trong nước trở nên năng động, chúng ta phải bắt đầu từ nông thôn. Tám mươi phần trăm dân số Trung Quốc sống ở nông thôn. Việc xã hội Trung Quốc có ổn định và nền kinh tế Trung Quốc có phát triển hay không phụ thuộc vào việc nông thôn có phát triển và cuộc sống của nông dân có được cải thiện hay không.”21
Quan trọng hơn, việc giải phóng nông dân khỏi ách thống trị của các công xã nhân dân là bước đầu tiên trong việc tạo ra khu vực tư nhân, sau này trở thành động lực tăng trưởng mạnh mẽ nhất. Mối liên hệ giữa việc giải thể hợp tác xã và khu vực tư nhân chỉ trở nên rõ ràng khi nhìn lại. Trên thực tế, sự xuất hiện của khu vực tư nhân ở nông thôn trong thời kỳ hậu Mao là kết quả tất yếu của cuộc cải cách nông thôn thành công. Sự gia tăng năng suất và sản lượng đã giải phóng một lượng lớn lao động và cho phép nông dân tích lũy tiết kiệm để tài trợ cho các hoạt động phi nông nghiệp, từ đó tạo ra hai điều kiện cần thiết cho khu vực tư nhân đang hình thành: doanh nhân và vốn.
Việc giải thể các hợp tác xã đã mở ra một cơ hội bất ngờ cho các doanh nhân nông thôn vì các hợp tác xã đã tích lũy được tài sản công nghiệp đáng kể trong thời kỳ Đại nhảy vọt (1958–1959) và chiến dịch cơ giới hóa nông nghiệp trong Cách mạng Văn hóa. Sau khi các hợp tác xã biến mất, một số tài sản này đã được tư nhân hóa một cách hiệu quả (thường dưới hình thức cho thuê), trong khi những tài sản khác được chuyển giao cho các công ty tập thể mới thành lập, trên danh nghĩa thuộc sở hữu của chính quyền thị trấn và làng xã. Sự phát triển này đã đặt nền móng ban đầu cho các doanh nghiệp hương trấn của Trung Quốc.22
Một số yếu tố khác cũng góp phần vào sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp cấp xã và thôn. Do quá trình phân quyền tài chính vào đầu thập niên 1980, các cơ quan địa phương có động lực mạnh mẽ để hỗ trợ sự phát triển công nghiệp tại khu vực của mình vì các hoạt động phi nông nghiệp tạo ra nhiều thu nhập thuế hơn.23 Việc bỏ qua ngành công nghiệp nhẹ và lĩnh vực dịch vụ để ưu tiên ngành công nghiệp nặng liên quan đến quốc phòng trong thời kỳ Mao Trạch Đông cũng dẫn đến tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng hàng tiêu dùng và dịch vụ, tạo ra cơ hội lớn để các doanh nhân nông thôn khai thác. Do đó, các TVE định hướng thị trường nhanh chóng giành được lợi thế cạnh tranh so với các SOE trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng. Chúng cũng bắt đầu đóng góp một tỷ trọng ngày càng tăng trong xuất khẩu của Trung Quốc.24
Sự hỗ trợ chính sách từ Bắc Kinh chủ yếu bao gồm việc cho phép các doanh nhân nông thôn tiếp cận các hợp tác xã tín dụng nông thôn và nguồn tài chính phi chính thức.25 Cải cách giá hai giá, dù còn nhiều thiếu sót, đã cho phép các TVE mua các nguyên liệu thiết yếu một cách hợp pháp vì cải cách này khuyến khích các SOE, vốn độc quyền sản xuất thép, nhôm, hóa chất và các nguyên liệu thượng nguồn khác dùng cho sản xuất hàng tiêu dùng, bán sản phẩm của họ cho các TVE với giá cao hơn, theo thị trường.26
Sự phát triển bùng nổ của các TVE trong thập niên 1980 (Bảng 2.1) là một diễn biến tích cực hoàn toàn nằm ngoài dự đoán ngay cả của những nhà cải cách nhiệt thành nhất. Năm 1987, Đặng Tiểu Bình thừa nhận rằng “thành công lớn nhất của chúng ta—và đây là điều chúng ta hoàn toàn không lường trước được—chính là sự xuất hiện của một số lượng lớn các doanh nghiệp do các làng và thị trấn thành lập. Chúng giống như một lực
Bảng 2.1. Sự phát triển của các TVE trong thập niên 1980
| Năm | Số TVE | Số lao động | Tổng sản lượng (tỷ yuan) |
| 1980 | 1.420.000 | 29.997.000 | 65,69 |
| 1984 | 6.065.000 | 52.081.000 | 170,99 |
| 1989 | 18.686.000 | 93.668.000 | 742,84 |
Nguồn: ZGTJNJ 1995, 363–65.
lượng mới vừa tự phát hình thành. Ban Chấp hành Trung ương không nhận công lao nào cả.”27
Vì các TVE được chính thức chỉ định là các doanh nghiệp “tập thể” không thuộc sở hữu của nhà nước hay cá nhân tư nhân mà thuộc về một thực thể tập thể địa phương, chẳng hạn như một làng hoặc một thị trấn, người ta có thể có ấn tượng rằng chúng không phải là các doanh nghiệp tư nhân thực sự. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều doanh nghiệp trong số đó là các doanh nghiệp tư nhân thực sự mặc dù được gọi là “doanh nghiệp tập thể”, bởi vì danh xưng này mang lại sự bảo vệ chính trị nhiều hơn trong một thời kỳ mà quyền sở hữu tư nhân về tài sản chưa được Đảng chính thức công nhận hoặc được Hiến pháp Trung Quốc bảo vệ về mặt pháp lí (Hiến pháp chỉ được sửa đổi vào năm 2004 để bảo vệ tài sản tư nhân). Nghiên cứu của Yasheng Huang cho thấy đến năm 1987, các TVE tư nhân chiếm một nửa sản lượng của tất cả các TVE ở tám tỉnh và 30–50% sản lượng của các TVE ở mười lăm tỉnh. Năm 1989, các TVE tư nhân đóng góp 58% lợi nhuận sau thuế của tất cả các TVE và chiếm 45% tổng chi phí lương của tất cả các TVE.28
Một hậu quả sâu rộng khác của các TVE là chúng đã tạo ra một thế hệ mới của các doanh nhân tư nhân.29 Những người thuê tài sản của các TVE hoặc sau này đảm nhận trách nhiệm quản lí trong các TVE đã xây dựng nên các doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh mẽ. Những người thành công nhất trở thành các tỷ phú dẫn dắt các công ty cạnh tranh toàn cầu, như Tập đoàn Kính Công nghiệp Fuyao (nhà lãnh đạo toàn cầu về kính ô tô do Cao Dewang thành lập) và Tập đoàn Wang Xiang (nhà sản xuất phụ tùng ô tô do Lu Guanqiu thành lập). Những doanh nhân không thuê hoặc quản lí các TVE nhưng có thể gom góp đủ vốn cũng đã khởi nghiệp và phát triển thành các công ty tư nhân thịnh vượng, như Tập đoàn New Hope, bắt đầu từ một công ty nhỏ ở Tứ Xuyên sản xuất thức ăn chăn nuôi. Một nghiên cứu do chính phủ tài trợ về các doanh nhân nông thôn vào năm 1991 cho thấy 19% là người đứng đầu các TVE và 13% từng làm việc tại các TVE. Nói cách khác, khoảng một phần ba tổng số doanh nhân nông thôn có liên quan đến các TVE. Các nghiên cứu khác cho thấy từ 17% đến 47% doanh nhân tư nhân từng là nhà điều hành cấp cao hoặc công nhân tại các TVE.30
Mở cửa ra thế giới
So với quy mô của mình, sự tham gia kinh tế của Trung Quốc với thế giới là rất khiêm tốn do chính sách “tự lực cánh sinh” của Mao. Năm 1978, tổng kim ngạch ngoại thương chỉ đạt 20,6 tỷ USD, tương đương 10% GDP của Trung Quốc.31 Tuy nhiên, việc tái hòa nhập kinh tế vào hệ thống thương mại toàn cầu là yếu tố then chốt cho sự thành công của quá trình hiện đại hóa đất nước. Đặng Tiểu Bình, người có lẽ đã hình thành quan điểm quốc tế trong thời gian 5 năm lưu trú tại Pháp (từ tháng 12 năm 1920 đến tháng 1 năm 1926), coi việc mở cửa là ưu tiên hàng đầu và sau đó đã đầu tư rất nhiều vốn chính trị để thúc đẩy các cải cách nhằm thu hút vốn nước ngoài.32 Hơn bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc nào khác vào cuối những năm 1970, Đặng Tiểu Bình nhận ra rằng một môi trường bên ngoài thuận lợi, đặc biệt là quan hệ ấm lên giữa Trung Quốc và phương Tây, sẽ mang lại một cơ hội. Vào tháng 5 năm 1979, ngay sau khi đạt được quyền lực tối cao, Đặng Tiểu Bình đã nói với một phái đoàn Pháp rằng: “Hiện nay chúng tôi đang hưởng điều kiện quốc tế tương đối thuận lợi và có thể tiếp nhận công nghệ tiên tiến, sản phẩm nghiên cứu, cùng nguồn vốn quốc tế đáng kể từ Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Trong hai mươi năm đầu của [Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa], chúng tôi không có những điều kiện quốc tế như vậy. Chúng tôi phải áp dụng chính sách mở cửa.”33
Trong những năm đầu của quá trình cải cách, Đặng Tiểu Bình thực sự đã tự biến mình thành người đại diện chính của Trung Quốc tại phương Tây. Các chuyến thăm của ông đến Hoa Kỳ (vào đầu năm 1979) và Nhật Bản (vào tháng 10 năm 1978 và tháng 2 năm 1979) đã củng cố nền tảng ngoại giao với hai quốc gia quan trọng nhất đối với quá trình hiện đại hóa của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình cũng tiến hành một chiến dịch không mệt mỏi với các quan chức và doanh nhân nước ngoài đến thăm để quảng bá chính sách mở cửa của mình. Lịch sử chính thức về các hoạt động của Đặng Tiểu Bình vào năm 1978 cho thấy rằng trong năm đó, ông đã gặp gỡ 31 đoàn đại biểu doanh nhân và chính trị gia nước ngoài để thảo luận về chính sách mở cửa của mình. Năm 1979, ông đã truyền đạt thông điệp tương tự đến 35 đoàn đại biểu.34
Đồng thời, Đặng Tiểu Bình đã làm rõ với Đảng rằng việc mở cửa với phương Tây là một phần không thể tách rời của chương trình cải cách của ông, và ông nhiều lần nhấn mạnh rằng Trung Quốc phải nắm bắt cơ hội này. Trong cuộc gặp với các bí thư tỉnh ủy vào tháng 10 năm 1979, Đặng Tiểu Bình đã dành hẳn một phần trong bài phát biểu của mình để nói về đầu tư và thương mại nước ngoài. “Chúng ta phải tận dụng vốn nước ngoài dưới mọi hình thức,” ông nhấn mạnh. “Đây là một cơ hội hiếm có và sẽ thật đáng tiếc nếu bỏ lỡ. Tận dụng vốn nước ngoài là một chính sách quan trọng… Tôi tin rằng chúng ta nên kiên trì. Chúng ta phải khuyến khích xuất khẩu.”35 Một tháng sau, ông còn nói rõ hơn: “Để đạt được bốn hiện đại hóa, cần phải có chính sách mở cửa ra bên ngoài đúng đắn. Mặc dù chúng ta sẽ chủ yếu dựa vào nỗ lực, nguồn lực và nền tảng của chính mình, [bốn hiện
đại hóa] sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu hợp tác quốc tế.”36 Một lí do quan trọng khiến Trung Quốc vẫn tụt hậu về kinh tế, theo Đặng, là “chính sách đóng cửa đất nước với thế giới bên ngoài. Kinh nghiệm cho thấy Trung Quốc không thể tự tái thiết sau cánh cửa đóng kín.”37
Về mặt chính trị, không khó để hiểu tại sao Đặng Tiểu Bình ưu tiên mở cửa. Ông tham gia trực tiếp hơn trong việc thúc đẩy các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài và tăng xuất khẩu so với việc thúc đẩy cải cách trong nước. Ngoài ra, cải cách kinh tế trong nước gặp phải sự phản đối chính trị lớn hơn vì nó đe dọa các nhóm lợi ích đã được thiết lập vững chắc, như trong khu vực doanh nghiệp nhà nước. Ngoài lĩnh vực nông nghiệp, vốn đã được tư nhân hóa nhanh chóng, cải cách triệt để ở các khu vực đô thị cũng sẽ gặp nhiều khó khăn thực tế hơn và tiềm ẩn rủi ro chính trị lớn hơn. Ví dụ, việc tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ thông qua phá sản hoặc tư nhân hóa sẽ cần các công cụ pháp lí mới và một thị trường vốn hoạt động hiệu quả, điều mà Trung Quốc vẫn thiếu vào đầu những năm 1980.38 Trong khi đó, cải cách giá cả, vốn có thể gây ra lạm phát tạm thời, là một vấn đề chính trị rủi ro. Là một nhà thực hành địa chính trị sắc sảo, Đặng Tiểu Bình đã tận dụng triệt để vai trò quan trọng của Trung Quốc như một đối trọng với Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh để thu được những lợi ích kinh tế đáng kể từ phương Tây, đặc biệt là vốn, công nghệ và quyền tiếp cận thị trường. Trước logic chính trị áp đảo về việc mở cửa, Đặng Tiểu Bình đã ủng hộ một loạt các cải cách nhằm thu hút đầu tư nước ngoài và tăng xuất khẩu của Trung Quốc.
Luật pháp để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đứng đầu chương trình nghị sự của Đặng Tiểu Bình để thu hút vốn nước ngoài là việc thiết lập khung pháp lý. Tháng 5 năm 1979, ông đã thông báo với một đoàn đại biểu nghị sĩ Nhật Bản rằng Trung Quốc đang xem xét thành lập các liên doanh với nhà đầu tư nước ngoài và ban hành luật về đầu tư nước ngoài để khẳng định chính sách mở cửa của mình. Ông cũng liệt kê một số luật về bằng sáng chế và thương mại quốc tế cần được ban hành.39 Vào tháng 7 năm 1979, Hội nghị Nhân dân Trung Quốc (NPC) đã thông qua Luật Liên doanh Vốn Trung-Ngoại lịch sử để thiết lập khung pháp lí cho phép nhà đầu tư nước ngoài hoạt động tại Trung Quốc. Trong số các quy định khác, luật này quy định rằng đối tác nước ngoài phải góp ít nhất 25% vốn cổ phần trong liên doanh. Mặc dù luật không giới hạn tổng số vốn mà các đối tác nước ngoài có thể đầu tư, nhưng trên thực tế, tổng đóng góp của họ không được vượt quá 50% vốn điều lệ. (Dự thảo luật ban đầu nhằm giới hạn rõ ràng tỷ lệ vốn của nhà đầu tư nước ngoài ở mức 49%, từ đó khiến các nhà đầu tư nước ngoài trở thành cổ đông thiểu số, nhưng
Đặng Tiểu Bình đã bác bỏ ý tưởng này sau khi biết rằng quy định như vậy không phải là thông lệ quốc tế.)40 Các liên doanh nước ngoài được khuyến khích sử dụng nguyên liệu địa phương, đưa công nghệ tiên tiến vào và xuất khẩu sản phẩm để đổi lấy các ưu đãi thuế. Các đối tác Trung Quốc có thể góp đất làm một phần vốn góp (luật này sau đó đã được sửa đổi ba lần trước khi bị bãi bỏ vào năm 2020).41 Mặc dù luật này không mang lại lợi ích đáng kể cho các nhà đầu tư nước ngoài, những người thường cho rằng các quy định của luật này hạn chế và mơ hồ, nhưng nó vẫn thể hiện mong muốn của Trung Quốc trong việc chào đón vốn nước ngoài và mở ra một cánh cửa nhỏ cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào một thị trường tiềm năng khổng lồ vốn đã đóng cửa với thế giới bên ngoài trong một thời gian dài. (Đặng nói rằng, mặc dù có những khuyết điểm, luật này là một tuyên bố về “mong muốn và mục tiêu chính trị của chúng ta.”)42
Luật thứ hai, được Quốc hội Trung Quốc ban hành vào năm 1986, có khả năng làm cho đầu tư nước ngoài trở nên hấp dẫn hơn cả các liên doanh, là “Luật Doanh nghiệp Vốn Nước ngoài”, cho phép các nhà đầu tư nước ngoài thành lập các công ty 100% vốn nước ngoài tại Trung Quốc. Luật này chỉ bao gồm một số quy định chung, nhưng giống như luật về liên doanh, nó khuyến khích các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đưa công nghệ tiên tiến vào, sử dụng nguyên liệu địa phương và xuất khẩu sản phẩm để đổi lấy ưu đãi thuế.43 Hội đồng Nhà nước đã ban hành một quy định chi tiết hơn nhiều về các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài vào năm 1990, với các quy định cụ thể hơn nhưng cũng hạn chế hơn. Điều quan trọng nhất là nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài nếu (1) họ đưa vào công nghệ và thiết bị tiên tiến; (2) họ có thể sản xuất sản phẩm để thay thế hàng nhập khẩu; hoặc (3) họ có thể kiếm đủ ngoại tệ để trang trải chi phí ngoại hối.
Trung Quốc cũng cấm các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tham gia vào nhiều lĩnh vực như truyền thông, phát thanh, điện ảnh, bán lẻ trong nước, thương mại quốc tế, bảo hiểm và viễn thông. Các lĩnh vực khác như dịch vụ công ích, giao thông vận tải và bất động sản được mở cửa cho đầu tư nước ngoài nhưng với các hạn chế nghiêm ngặt. Hơn nữa, tất cả các dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài đều phải trải qua đánh giá an ninh quốc gia.44
Vào cuối thập niên 1980, chính phủ Trung Quốc ban hành một luật khác, “Luật Liên doanh Hợp đồng Trung-Ngoại”, tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty nước ngoài mang quyền sở hữu trí tuệ và kiến thức quản lí vào Trung Quốc thay vì vốn.45 Ba luật này, sau đó được sửa đổi nhiều lần để nới lỏng hơn, đã tạo nền tảng pháp lí để thu hút vốn và công nghệ nước ngoài. Tuy nhiên, dựa trên các quy định vẫn còn tương đối hạn chế của chúng, có thể phản ánh cả sự phản đối bảo thủ và sự thiếu tin tưởng dai dẳng đối với vốn nước ngoài, có thể nghi ngờ rằng ba đạo luật này tự thân đã đóng vai trò then chốt trong việc thuyết phục các nhà đầu tư nước ngoài
mang vốn của họ đến một quốc gia chưa có thành tích là nơi an toàn và chào đón người nước ngoài. Bất chấp những nỗ lực anh hùng của Đặng trong việc chào đón đầu tư nước ngoài, chỉ có một lượng vốn nước ngoài khiêm tốn thực sự chảy vào Trung Quốc trong những năm 1980.
Các Khu Kinh tế Đặc biệt
Một bước đi dè dặt nhưng táo bạo về mặt chính trị mà Đặng Tiểu Bình và các nhà cải cách đồng hành thực hiện vào cuối thập niên 1970 là việc thành lập các Khu Kinh tế Đặc biệt (SEZ). Đúng vậy, ý tưởng thu hút nhà đầu tư nước ngoài bằng cách cung cấp ưu đãi thuế và các đặc quyền khác để họ thiết lập cơ sở sản xuất tại một khu vực được chỉ định dành cho chế xuất không phải là sáng kiến của Trung Quốc. Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia và các nước khác ở châu Á đã tiên phong trong việc thành lập các khu chế xuất (EPZ) vào thập niên 1960 để thúc đẩy xuất khẩu lao động.46 Tuy nhiên, đối với một quốc gia vẫn còn nhớ rõ những “nhượng địa” của phương Tây (các khu vực tại Trung Quốc nơi người phương Tây từng thực hiện quyền kiểm soát gần như chủ quyền) trong thời kỳ trước năm 1949, việc thành lập các khu vực sẽ cấp cho nhà đầu tư nước ngoài những đặc quyền mà người Trung Quốc bị từ chối là đầy rẫy rủi ro chính trị.
Nhưng phản ứng tiêu cực về mặt tư tưởng và chủ nghĩa dân tộc tiềm ẩn không làm nản lòng Đặng Tiểu Bình. Vào tháng 4 năm 1979, ông đã nhiệt tình ủng hộ đề xuất của Tập Trọng Huân ([bố Tập Cận Bình] lúc đó là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông) và Dương Thượng Côn (một đồng minh thân cận của Đặng) về việc thành lập các khu chế xuất tại Thâm Quyến, Chu Hải và Sán Đầu, ba khu vực kém phát triển gần Hồng Kông. Điểm khác biệt duy nhất là đề xuất của Đặng Tiểu Bình rằng các khu vực này nên được gọi là “khu đặc biệt” (tequ). Theo ông, chính phủ trung ương sẽ cung cấp các ưu đãi chính sách thay vì tiền để thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đến các khu vực này. Nhờ sự can thiệp của ông, vào tháng 7 năm 1979, lãnh đạo trung ương đã phê duyệt các đề nghị từ Quảng Đông và Phúc Kiến về việc áp dụng chính sách đặc biệt và linh hoạt, và đến tháng 5 năm 1980, chính phủ trung ương chính thức phê duyệt việc thành lập bốn khu kinh tế đặc biệt (SEZ) — tại Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu và Hạ Môn.47 Thâm Quyến là khu vực lớn nhất: Mặc dù lúc đó nó chỉ là một làng chài nhỏ với dân số ba mươi nghìn người, toàn bộ lãnh thổ rộng hơn 327 km² đã được dành cho SEZ. Trung Quốc đã chọn Thâm Quyến làm SEZ lớn nhất vì nó giáp với Hồng Kông và có thể thu hút đầu tư từ thuộc địa Anh lúc bấy giờ. Ba khu SEZ còn lại nhỏ hơn nhiều: Chu Hải, giáp với Macao, chỉ có diện tích 14 km², và Sán Đầu chỉ có 6 km². Ban đầu, chỉ có một quận ở Hạ Môn được chỉ định là khu SEZ, nhưng vào năm 1985, chính phủ trung ương đã mở rộng khu SEZ Hạ Môn để bao gồm toàn bộ thành phố, với diện tích đất 131 km².48
Mục tiêu chính trong việc thành lập các SEZ là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thiết lập các nhà máy chế biến xuất khẩu để kiếm ngoại tệ.49 Hội Nghị Nhân dân Toàn quốc (NPC) đã thông qua luật đặc biệt vào tháng 8 năm 1980 về các SEZ của Quảng Đông, cung cấp cho nhà đầu tư nước ngoài chế độ thuế ưu đãi và quyền tự chủ hoạt động. Ví dụ, các nhà đầu tư này có thể thành lập các công ty 100% vốn nước ngoài trong các SEZ để giữ quyền kiểm soát quản lí hoàn toàn, một đặc quyền bị từ chối đối với nhà đầu tư nước ngoài ở các khu vực khác trong nước. Các công ty hoạt động trong các SEZ có thể nhập khẩu thiết bị và nguyên liệu miễn thuế. Hơn nữa, lợi nhuận của họ chỉ bị đánh thuế 15%, và các khoản trợ cấp thuế bổ sung sẽ được cung cấp cho các công ty đầu tư hơn 5 triệu đô la hoặc tái đầu tư lợi nhuận của họ vào các SEZ. Đổi lại, các công ty trong các SEZ phải xuất khẩu sản phẩm của họ.50
Mặc dù các Khu kinh tế đặc biệt (SEZ) nhận được sự quan tâm rất lớn, nhưng đóng góp trực tiếp của chúng vào sự phát triển kinh tế của Trung Quốc trong thập niên 1980 vẫn còn khiêm tốn, bởi vì chúng được thành lập tại các khu vực kém phát triển (ngoại trừ Hạ Môn). Năm 1980, bốn SEZ chỉ chiếm 0,2% sản lượng công nghiệp của Trung Quốc. Năm 1989, mặc dù đóng góp của chúng đã tăng gấp sáu lần, nhưng vẫn chỉ chiếm 1,3% tổng sản lượng công nghiệp của cả nước. Tuy nhiên, về nhiều mặt, các SEZ là những thành công kinh tế đáng kinh ngạc. Tốc độ tăng trưởng của chúng cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn quốc vào thời điểm đó (sản lượng công nghiệp của Thâm Quyến tăng trung bình 20% mỗi năm từ năm 1981 đến 1992, so với 14% của mức trung bình toàn quốc). Các SEZ cũng thu hút được 4,1 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được sử dụng trong giai đoạn 1980-1989, chiếm khoảng 26% tổng vốn FDI được sử dụng của Trung Quốc trong cùng kỳ.51 Xuất khẩu từ bốn SEZ này ghi nhận mức tăng trưởng bùng nổ trong thập niên 1980. Trong giai đoạn 1983-1989, xuất khẩu từ các khu vực này đã tăng gấp 17 lần. Tỷ trọng của chúng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng từ 1% vào năm 1983 lên 6,4% vào năm 1989.52 Trong số tất cả các SEZ, Thâm Quyến chắc chắn là câu chuyện thành công lớn nhất. Trong vòng ba thập kỷ, nó đã được chuyển đổi thành một siêu đô thị (với dân số hơn mười hai triệu vào năm 2020), một trung tâm sản xuất điện tử và một cụm công nghệ cao.53
Một số yếu tố, như chính sách ưu đãi đối với vốn nước ngoài, quyền tự chủ địa phương, và sự gần gũi cùng mối quan hệ lịch sử với Hồng Kông (trong trường hợp Thâm Quyến) và Đài Loan (trong trường hợp Hạ Môn), đã góp phần vào thành công của các SEZ. Tuy nhiên, có lẽ yếu tố thuận lợi quan trọng nhất chính là yếu tố thể chế vô hình. Cụ thể, các thể chế của nhà nước đảng Leninist, đặc biệt là nền kinh tế chỉ huy, ít được áp dụng nhất tại các SEZ thành công nhất. (Tại Thâm Quyến, khu vực tư nhân chiếm hơn ba phần tư tổng sản lượng kinh tế vào năm 1992.) Khu vực tư nhân có thể phát triển mạnh mẽ mà không bị sự kiểm soát ngột ngạt của nhà nước, như
được minh họa qua sự tương phản giữa hai SEZ thành công, Thâm Quyến và Hạ Môn. Năm 1980, sản lượng công nghiệp của Thâm Quyến chỉ là 84 triệu nhân dân tệ, ít hơn 10% so với 943 triệu nhân dân tệ của Hạ Môn. Nhưng đến năm 1989, sản lượng công nghiệp của Thâm Quyến đã tăng lên 11,6 tỷ nhân dân tệ, gấp đôi sản lượng công nghiệp của Hạ Môn.54
Ngoài vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và xuất khẩu, các SEZ còn mang lại những lợi ích vô hình và gián tiếp đáng kể cho Trung Quốc. Thí nghiệm mở cửa ra thế giới bên ngoài này đã mang lại những bài học quý giá về cách hội nhập với nền kinh tế toàn cầu thông qua đầu tư và thương mại. Kiến thức thu được từ quá trình học hỏi qua thực tiễn này đã mang lại cho các nhà cải cách, do Triệu Tử Dương dẫn đầu, sự tự tin để biến toàn bộ khu vực ven biển thành các SEZ trên thực tế vào cuối những năm 1980 (kế hoạch này đã được thực hiện đầy đủ vào những năm 1990, ngay cả sau khi Triệu bị lật đổ vào năm 1989).55
Cải cách thương mại quốc tế
Tích hợp với nền kinh tế quốc tế — “chính sách mở cửa” của Đặng — đã dẫn đến sự gia tăng đột biến về thương mại quốc tế của Trung Quốc. Tăng trưởng kinh tế của đất nước có thể được nâng cao đáng kể nếu tận dụng lợi thế so sánh về lao động rẻ và xuất khẩu hàng hóa thâm dụng lao động.56 Tuy nhiên, trong thời kỳ Mao Trạch Đông, Trung Quốc đã theo đuổi một chiến lược phát triển ưu tiên công nghiệp nặng và tìm kiếm thay thế nhập khẩu, trái ngược với lợi thế so sánh của mình. Quan trọng hơn, sự tự cô lập và thái độ thù địch của Trung Quốc đối với cả phương Tây tư bản và khối Liên Xô đã khiến nền kinh tế nước này bị tách biệt khỏi thương mại quốc tế. Năm 1978, vào thời điểm trước khi cải cách, thương mại quốc tế của Trung Quốc chỉ chiếm 10% GDP.57 Con số này thậm chí còn phóng đại mức độ mở cửa thương mại của Trung Quốc do đồng tiền Trung Quốc bị định giá quá cao. Ngoài ra, chính GDP của Trung Quốc cũng bị định giá thấp. Nếu cả GDP và tỷ giá hối đoái đều được điều chỉnh theo các biện pháp dựa trên thị trường, mức độ mở cửa thương mại của Trung Quốc vào thời điểm bắt đầu cải cách sẽ chỉ là 5–6% GDP, gần một nửa so với con số danh nghĩa.58
Điều trớ trêu là bản chất khép kín của nền kinh tế Trung Quốc và chiến lược phát triển kém hiệu quả, ưu tiên ngành công nghiệp nặng sử dụng nhiều vốn, lại ngụ ý rằng nước này có thể thúc đẩy thương mại quốc tế và thu được những bước nhảy vọt về năng suất nếu cải cách hệ thống thương mại quốc tế. Song song với nỗ lực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng triển khai một loạt cải cách nhằm thúc đẩy xuất khẩu và nâng cao hiệu quả của hệ thống thương mại quốc tế.
Vì nhà nước độc quyền thương mại quốc tế thông qua các tổ chức ngoại thương trung ương chuyên biệt (foreign trade organization-FTO), các doanh nghiệp chỉ có thể tiến hành thương mại thông qua các độc quyền này. Bước đầu tiên là giải thể các độc quyền này thông qua phân cấp hành
Bảng 2.2. Ngoại thương và xuất khẩu, 1978–1988 (tính bằng tỷ USD)
| Năm | 1978 | 1980 | 1982 | 1984 | 1986 | 1988 |
| Tổng kim ngạch thương mại | 20,6 | 38,1 | 41,6 | 53,5 | 73,8 | 102,7 |
| Xuất khẩu | 9,7 | 18,1 | 22,3 | 26,1 | 30,9 | 47,5 |
| Nguồn: ZGTJNJ 1990, 641. |
chính. Chính quyền các tỉnh và các tổ chức ngoại thương (FTO) của họ do đó được phép trực tiếp tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế. Khi độc quyền trung ương bị phá vỡ, tác động của việc phân cấp là tức thì và mạnh mẽ, như được thể hiện qua sự gia tăng nhanh chóng của thương mại quốc tế Trung Quốc (bảng 2.2).59
Tuy nhiên, cải cách thương mại quốc tế không phải là một quá trình suôn sẻ. Trong chiến dịch thắt lưng buộc bụng kinh tế do Trần Vân phát động từ năm 1981–1983, ngoại thương đã được tập trung hóa lại thông qua hệ thống giấy phép, với lí do là để điều tiết và tránh sự cạnh tranh quá mức giữa các doanh nghiệp ngoại thương cấp tỉnh, điều này đã làm giảm giá xuất khẩu của Trung Quốc.60 Tuy nhiên, phản ứng bảo thủ này nhanh chóng lắng xuống, và một đợt cải cách ngoại thương theo hướng thị trường hơn nhiều đã diễn ra trong giai đoạn 1984–1986. Các biện pháp mới cho phép các doanh nghiệp lớn trực tiếp tham gia thương mại quốc tế mà không cần thông qua các tổ chức thương mại quốc tế nhà nước. Ngoài ra, Bộ Quan hệ Kinh tế Đối ngoại và Thương mại (MOFERT) bị tước quyền giám sát hoạt động kinh doanh của các tổ chức thương mại quốc tế địa phương (FTO), từ đó các FTO này có thể trở thành những trung gian thực sự trong thương mại quốc tế.
Số lượng các tổ chức ngoại thương (FTO) do đó tăng nhanh lên khoảng 800 trên toàn quốc. Các biện pháp khuyến khích xuất khẩu được tăng cường bằng cách cho phép các doanh nghiệp giữ lại phần lớn hơn thu nhập ngoại tệ của mình và đổi ngoại tệ giữ lại tại các trung tâm hoán đổi ngoại hối được chỉ định theo tỷ giá thị trường thay vì tỷ giá chính thức bị định giá cao, từ đó chuyển đổi ngoại tệ với tỷ giá thuận lợi hơn. Trong nửa cuối thập niên 1980, Trung Quốc hạn chế kế hoạch hóa nhà nước đối với thương mại quốc tế chỉ áp dụng cho các mặt hàng chủ lực (như dầu thô, gạo, khoáng sản, gia cầm và thép), cho phép tất cả các mặt hàng khác (chủ yếu là hàng công nghiệp) được giao dịch mà không có kiểm soát hành chính. Mặc dù chính phủ đặt ra các mục tiêu xuất khẩu chung, Bộ Thương mại và Xuất nhập khẩu (MOFERT) đã ngừng lập và ban hành các kế hoạch xuất khẩu cụ thể.61 Các cải cách định hướng thị trường bổ sung cũng được thực hiện. Đồng tiền Trung Quốc (được định giá quá cao) đã bị hạ giá nhiều lần. Các khoản trợ cấp cho thương mại quốc tế đã được cắt giảm. Một hệ thống hoàn thuế đã được giới thiệu để khuyến khích thương mại gia công (liên quan đến việc nhập khẩu linh kiện không chịu thuế để lắp ráp và tái xuất khẩu).62 Các cải cách ban đầu này đã dẫn đến sự gia tăng tức thì và nhanh chóng trong thương mại quốc tế (xem bảng 2.2). Tổng kim ngạch
thương mại quốc tế đã tăng gấp năm lần, từ 20 tỷ USD lên 102 tỷ USD trong giai đoạn 1978–1988. Xuất khẩu cũng tăng với quy mô tương tự. Khi hàng hóa chế biến bắt đầu chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong xuất khẩu, cơ cấu thương mại quốc tế của Trung Quốc đã được cải thiện đáng kể. Năm 1980, hàng hóa chế biến chiếm khoảng một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu; đến năm 1989, hàng hóa chế biến chiếm 71% tổng kim ngạch xuất khẩu.63 Nhìn chung, sau một thập kỷ cải cách, nền kinh tế Trung Quốc đã trở nên cởi mở hơn nhiều. Năm 1978, thương mại quốc tế chỉ chiếm khoảng 10% nền kinh tế theo tỷ giá hối đoái; đến năm 1988, con số này đã tăng lên 27%.64 Sự cởi mở hơn đã giúp nền kinh tế phát triển nhanh hơn. Một nghiên cứu ước tính xuất khẩu đã làm tăng trưởng kinh tế Trung Quốc thêm 1 điểm phần trăm mỗi năm trong giai đoạn 1981-1988.65 Các nghiên cứu về lợi ích của việc Trung Quốc mở cửa ra thế giới cũng đã đưa ra bằng chứng cho thấy tăng trưởng ngoại thương sau năm 1979 đã dẫn đến sự xuất hiện của các cụm công nghiệp chế tạo năng động ở các vùng, và cải thiện năng suất.66
Tuy nhiên, cải cách chế độ thương mại quốc tế của Trung Quốc vẫn còn xa mới hoàn tất. Nước này duy trì hệ thống tỷ giá hối đoái kép làm méo mó giá cả (việc thống nhất tỷ giá hối đoái chỉ diễn ra vào năm 1994). Hầu hết các doanh nghiệp vẫn không thể tham gia trực tiếp vào hoạt động ngoại thương, cản trở sự cạnh tranh và hiệu quả. Mức thuế danh nghĩa vẫn cao, mặc dù mức thuế thực tế thấp hơn do nhiều mặt hàng nhập khẩu — máy móc và nguyên liệu đầu vào cho chế xuất — được miễn thuế. Giấy phép và các rào cản phi thuế quan được sử dụng rộng rãi để bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước (chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước).67
Sự trỗi dậy của khu vực tư nhân
Sự xuất hiện và mở rộng nhanh chóng của khu vực tư nhân trong thập niên 1980 không phải là kết quả của một nỗ lực có kế hoạch hay phối hợp từ phía Đảng. Trên thực tế, Đảng không lường trước được sự trỗi dậy của khu vực tư nhân, cũng như không chủ động thúc đẩy khu vực này do sự phản đối từ phe bảo thủ. Thay vào đó, các nhà cải cách đã thực hiện những bước đi thận trọng để cho phép khu vực tư nhân dần dần có được địa vị pháp lí và tự do kinh tế. Không giống như ở khối Liên Xô cũ, nơi khu vực tư nhân xuất hiện chủ yếu là kết quả của việc tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản, sự xuất hiện của khu vực tư nhân ở Trung Quốc được đánh dấu bằng sự gia nhập của một số lượng lớn các doanh nghiệp nhỏ và “quá trình tư nhân hóa dần dần” các tài sản nhà nước.68 Trong suốt thập niên 1980, sự năng động của khu vực tư nhân – vốn gần như không tồn tại trước thềm cải cách – đã tạo ra một động lực mới cho tăng trưởng kinh tế, định hình lại nền kinh tế Trung Quốc một cách cơ bản và góp phần vào thành công lâu dài của nó, có thể nói là hơn bất kỳ chính sách hay cải cách nào khác. Do kết quả, có thể khẳng định một
cách hợp lí rằng thành công kinh tế của Trung Quốc chủ yếu là do “phát triển vượt ra khỏi kế hoạch” hơn là do cải cách các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả.69
Tóm tắt hay nhất về quá trình “phát triển vượt ra khỏi kế hoạch” này được đưa ra bởi Triệu Tử Dương, Thủ tướng phụ trách kinh tế trong phần lớn thập niên 1980. Theo Triệu, một trong những khía cạnh quan trọng nhất của cải cách kinh tế Trung Quốc trong thập niên này là sự phát triển và củng cố dần dần của một nền kinh tế thị trường mới, bao gồm các doanh nghiệp hợp tác xã (TVEs), doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nền kinh tế thị trường mới tồn tại bên ngoài nền kinh tế kế hoạch và hoạt động theo các quy luật thị trường. Nhờ hiệu quả và tính năng động, các doanh nghiệp này phát triển nhanh hơn nhiều so với các doanh nghiệp nhà nước. Do đó, ngay cả khi nền kinh tế kế hoạch vẫn cơ bản chưa được cải cách, tỷ trọng của nền kinh tế thị trường tiếp tục tăng lên, và theo thời gian, sự phát triển này đã thay đổi bản chất của nền kinh tế Trung Quốc.70
Nhìn lại, lợi ích của việc phát triển vượt ra khỏi kế hoạch là điều hiển nhiên. Cơ chế này đơn giản nhưng mạnh mẽ. Vì các doanh nghiệp tư nhân hiệu quả hơn, chúng phát triển nhanh hơn và theo thời gian có thể chiếm thị phần từ các doanh nghiệp nhà nước, đồng thời chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng sản lượng kinh tế.71 Sự phát triển của khu vực tư nhân và sự suy giảm tương ứng của khu vực nhà nước — đặc trưng nổi bật của quá trình “phát triển vượt ra khỏi kế hoạch” — có thể thấy rõ qua các số liệu thống kê kinh tế thập niên 1980 (và các thập niên sau đó). Về mặt tuyệt đối, khu vực nhà nước đã tăng trưởng trong thập niên 1980, nhưng vì khu vực phi nhà nước (chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân) tăng trưởng nhanh hơn nhiều, nên khu vực này chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng sản lượng kinh tế. Dữ liệu chính thức cho thấy sản lượng công nghiệp của các doanh nghiệp nhà nước (SOEs) tăng từ 367 tỷ lên 1.234 nghìn tỷ nhân dân tệ từ năm 1979 đến 1989, trong khi khu vực phi nhà nước tăng từ 100 tỷ nhân dân tệ lên 967 tỷ nhân dân tệ.72 Do đó, tỷ trọng sản lượng công nghiệp do các doanh nghiệp nhà nước (SOEs) đóng góp đã giảm từ gần 78% xuống 56% trong giai đoạn 1979–1989 (bảng 2.3).
Bảng 2.3. Đóng góp của khu vực ngoài nhà nước vào sản lượng công nghiệp, 1978–1989 (%)
| Năm | DNNN | Khu vực ngoài nhà nước |
| 1978 | 77,63 | 22,37 |
| 1980 | 75,97 | 23,54 |
| 1983 | 73,36 | 25,74 |
| 1986 | 62,27 | 33,51 |
| 1989 | 56,06 | 35,69 |
Nguồn: ZGTJNJ 1990, 416.
Về mặt kinh tế, việc phát triển dựa trên kế hoạch đã giúp duy trì tăng trưởng và tránh được sự sụt giảm sản lượng kinh tế vốn là đặc trưng của quá trình chuyển đổi ở khối Liên Xô cũ. Hiệu quả kinh tế vượt trội của khu vực tư nhân cũng tạo ra áp lực cạnh tranh đối với khu vực nhà nước và đẩy nhanh sự suy giảm tương đối của khu vực này trong thời kỳ hậu Mao Trạch Đông. Về mặt chính trị, việc thoát khỏi kế hoạch đã cho phép các nhà cải cách Trung Quốc trong thập niên 1980 nhanh chóng tích lũy vốn chính trị trong khi gác lại nhiệm vụ khó khăn hơn là cải cách các doanh nghiệp nhà nước (SOEs), một bước đi gần như chắc chắn sẽ dẫn đến đối đầu với các lực lượng bảo thủ phản đối việc phá bỏ nền tảng kinh tế của nhà nước-đảng. Đồng thời, điều này đã tạo ra những người thắng cuộc và tránh làm cho các nhóm quyền lực trở thành kẻ thua cuộc, ít nhất là ở giai đoạn ban đầu quan trọng của quá trình cải cách.73
Tuy nhiên, việc phát triển từ kế hoạch này có những hạn chế nghiêm trọng. Vì Đảng tiếp tục ưu ái các SOE kém hiệu quả và không cung cấp quyền sở hữu tài sản an toàn cùng sân chơi công bằng cho khu vực tư nhân, các doanh nhân tư nhân Trung Quốc phải hoạt động trong môi trường pháp lí và thể chế bất lợi, làm hạn chế nghiêm trọng tiềm năng của họ. Lợi ích kinh tế do sự phát triển nhanh chóng của khu vực tư nhân mang lại đã làm giảm áp lực cải cách các DNNN kém hiệu quả cho đến cuối thập niên 1990, dẫn đến việc trợ cấp ngày càng tăng cho các DNNN, điều này cuối cùng góp phần vào việc tích tụ các khoản vay xấu trong hệ thống ngân hàng nhà nước. Nền kinh tế hỗn hợp của Trung Quốc cũng tạo ra nhiều cơ hội cho hoạt động tìm kiếm đặc lợi vì các nguồn lực do khu vực nhà nước kiểm soát, như các phê duyệt quy định, đất đai và tín dụng ngân hàng, có thể được phân bổ thông qua các biện pháp hành chính cho các doanh nhân tư nhân có quan hệ tốt và gia đình các quan chức.74 Như Triệu Tử Dương đã nhận xét sau khi bị thất sủng, sự tồn tại song song của hai hệ thống kinh tế cơ bản khác nhau — khu vực nhà nước được ưu ái và khu vực tư nhân năng động — đã gây ra những tác động tiêu cực đáng kể đối với nền kinh tế. Mặc dù việc áp dụng chiến lược “phát triển vượt ra khỏi kế hoạch” như một chiến lược chuyển tiếp là khôn ngoan, nhưng về lâu dài, chiến lược này sẽ không còn hiệu quả.75
Sự trỗi dậy của khu vực tư nhân
Trọng tâm chính của cải cách kinh tế của Đảng ở các khu vực đô thị trong thập niên 1980 là các doanh nghiệp nhà nước (SOEs). Đáng ngạc nhiên là khu vực tư nhân đã phát triển mạnh mẽ trong thập niên này, mặc dù Đảng không cung cấp các động lực kinh tế có ý nghĩa để thúc đẩy nó. Điều tối đa mà Đảng làm là tạo ra không gian pháp lí hoặc chính sách tối thiểu cần thiết để khu vực tư nhân xuất hiện và tồn tại, mặc dù quá trình này diễn ra chậm chạp, dần dần và còn dè dặt. Đảng đã mở cửa một chút cho khu vực tư nhân vào tháng 7 năm 1981 khi Hội đồng Nhà nước ban hành một văn bản cho
phép thành lập các doanh nghiệp kinh doanh cá thể (geti jingji-cá thể kinh tế) tại các khu vực đô thị. Văn bản “Một số quy định chính sách về các hoạt động kinh tế do cá nhân điều hành ngoài lĩnh vực nông nghiệp tại các khu vực đô thị” cho phép các doanh nhân tư nhân thuê tối đa bảy nhân viên và chủ yếu kinh doanh các dịch vụ quy mô nhỏ, như bán lẻ, nhà hàng, thủ công mỹ nghệ và sửa chữa nhà ở.76 Ngay sau đó, với việc sửa đổi lớn Hiến pháp Trung Quốc năm 1982, Đảng đã chính thức công nhận sự tồn tại hợp pháp của geti jingji. Điều 11 của Hiến pháp sửa đổi quy định rằng “các hoạt động kinh tế của người lao động cá nhân được thực hiện trong phạm vi pháp luật cho phép là một phần bổ trợ của nền kinh tế nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các hoạt động kinh tế do cá nhân điều hành. Nhà nước, thông qua các biện pháp hành chính, hướng dẫn, hỗ trợ và giám sát các hoạt động kinh tế này.”77 (Hiến pháp đã được sửa đổi thêm vào các năm 1988, 1993, 1999 và 2004 để tăng cường bảo vệ cho khu vực tư nhân.) Vào đầu năm 1983, Đảng đã thực hiện một bước đi nhỏ khác bằng cách cho phép cư dân nông thôn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp và, quan trọng hơn, mua máy kéo, phương tiện cơ giới và tàu thuyền để kinh doanh vận tải.78
Khi khu vực tư nhân bắt đầu phát triển và thịnh vượng, phe bảo thủ đã phản đối. Trần Vân, đối thủ tư tưởng của Đặng, người kiên quyết phản đối sự trỗi dậy của khu vực tư nhân, đã phát động một chiến dịch chống lại “tội phạm kinh tế” vào năm 1982.79 Năm 1985, ông và các đồng minh của mình đã tạo ra một vụ bê bối quốc gia, được gọi là “Vụ thuốc giả ở Jinjiang.” Các doanh nhân tư nhân sản xuất thực phẩm chức năng tại Jinjiang, tỉnh Phúc Kiến, bị cáo buộc sai sự thật là sản xuất thuốc giả trên quy mô lớn. Ngay sau đó, Trần đã dàn xếp việc lật đổ Bí thư Tỉnh ủy cải cách Xiang Nan, đổ lỗi cho ông về vụ bê bối này.80
Chiến thuật mạnh mẽ nhất mà phe bảo thủ triển khai là tấn công vào thực trạng phổ biến của các doanh nghiệp tư nhân sử dụng hơn bảy công nhân (giới hạn pháp lí là tối đa bảy công nhân). Khi các doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh, họ buộc phải mở rộng quy mô bằng cách thuê thêm công nhân, từ đó vi phạm giới hạn pháp lí do tài liệu năm 1981 của Hội đồng Nhà nước về “geti jingji” quy định. Chính sự can thiệp cá nhân của Đặng vào năm 1984 dường như đã ngăn chặn phe bảo thủ trấn áp khu vực tư nhân.
Tại một cuộc họp với nhà cách mạng các kỳ cựu trong Ủy ban Tư vấn Trung ương vào năm 1984, phe bảo thủ đã kêu gọi trừng phạt các doanh nhân tư nhân thành công (đặc biệt là một doanh nhân tư nhân nổi tiếng đã thuê hơn một trăm công nhân và kiếm được một gia tài nhờ bán đồ ăn vặt). Nhưng Đặng Tiểu Bình đã phản đối mạnh mẽ. “Theo quan điểm của tôi,” ông tuyên bố, “chúng ta không nên can thiệp vấn đề tuyển dụng lao động
[vượt quá giới hạn bảy người] trong hai năm. Việc [cho phép doanh nhân tư nhân kinh doanh] có làm xáo trộn tình hình chung của chúng ta không? Nhưng nếu các vị động đến anh ta [doanh nhân], người dân sẽ nói rằng chính sách của chúng ta đã thay đổi. Niềm tin sẽ bị lung lay. Hãy để ‘Idiot Seeds’ [thương hiệu đồ ăn vặt do doanh nhân này bán] kinh doanh trong một thời gian. Có gì phải sợ đâu?”81
Phải đến tháng 4 năm 1988, Đảng mới chính thức công nhận các doanh nghiệp tư nhân (siying qiye), khi Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (NPC) sửa đổi Hiến pháp để cho phép khu vực tư nhân tồn tại và phát triển. So với sửa đổi Hiến pháp được thông qua năm 1982, vốn chỉ cho phép các doanh nghiệp tư nhân do cá nhân điều hành (geti jingji), việc Hiến pháp năm 1988 công nhận và bảo vệ khu vực tư nhân đã đánh dấu một bước đột phá lớn về mặt tư tưởng, mặc dù vào thời điểm đó, khu vực tư nhân đã phát triển mạnh mẽ trong một vùng xám pháp lí rộng lớn trong phần lớn thập kỷ qua.82 Vào tháng 6 năm 1988, Hội đồng Nhà nước đã ban hành một văn bản mang tính bước ngoặt, trao cho các doanh nghiệp tư nhân hầu hết các quyền cần thiết để hoạt động và phát triển. Các quy định chính của văn bản này, được gọi là “Quy định tạm thời của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về các doanh nghiệp tư nhân”, bao gồm việc cho phép thuê hơn tám lao động, trách nhiệm hữu hạn, phạm vi kinh doanh được mở rộng, quyền thuê và sa thải lao động cũng như xác định mức lương của họ, và quyền thành lập liên doanh, tham gia giao dịch với các công ty nước ngoài, tiến hành thương mại quốc tế, và tiếp cận tín dụng ngân hàng.83
Nhờ sự ủng hộ chính trị từ các nhà cải cách, khu vực tư nhân đã phát triển với tốc độ đáng kinh ngạc trong thập niên 1980. Vào cuối năm 1978, khu vực tư nhân, vốn chỉ có 150.000 người làm việc trong các doanh nghiệp siêu nhỏ do hộ gia đình quản lí (geti), là một lực lượng kinh tế không đáng kể. Nhưng đến năm 1988, các doanh nghiệp siêu nhỏ này đã bùng nổ thành14,5 triệu doanh nghiệp, tạo việc làm cho 23 triệu người.84 Các doanh nghiệp TVE, phần lớn là doanh nghiệp tư nhân dù mang nhãn hiệu chính thức “tập thể”, đã chứng kiến số lượng lao động tăng từ 28,3 triệu lên 93,7 triệu trong giai đoạn 1978–1989.85 Như Bảng 2.4 cho thấy, sự phát triển của khu vực tư nhân trong thập niên 1980 thực sự phi thường.
Cả các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều phát triển nhanh chóng trong thập kỷ 1978–1989 (đóng góp của các doanh nghiệp thuộc hai loại này vào sản lượng công nghiệp đã tăng từ 0% lên hơn 8% chỉ trong một thập kỷ). Tuy nhiên, những đơn vị nổi bật nhất trong khu vực tư nhân thập niên 1980 chắc chắn là các doanh nghiệp TVE. Sản lượng của họ tăng từ 49 tỷ nhân dân tệ lên 742 tỷ nhân dân tệ từ năm 1978 đến 1989, chiếm 21% “tổng sản lượng xã hội” của Trung Quốc vào năm 1989.86
Ngoài sự bảo hộ chính trị và khung pháp lí cần thiết cho phép khu vực tư nhân non trẻ tồn tại và mở rộng, còn có một số nhân tố khác cũng đã
Bảng 2.4. Tỷ trọng sản lượng công nghiệp, 1978–1989 (%)
|
Năm |
Sở hữu nhà nước |
Khu vực
phi nhà nước |
TVEs |
Geti
(sở hữu cá nhâ) |
Hợp tác xã |
Khác
(đầu tư nước ngoài) |
| 1978 | 77.63 | 22.37 | ||||
| 1985 | 64.86 | 14.65 | 1.85 | 1.56 | 1.21 | |
| 1989 | 56.06 | 19.58 | 4.80 | 2.25 | 3.44 |
Nguồn: ZGTJNJ 1990, 413, 416.
thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của khu vực tư nhân. Một số học giả cho rằng hiện tượng này xuất phát từ lợi ích cá nhân của các bên liên quan chính, đặc biệt là chính các doanh nhân và quan chức địa phương. Trong khi sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân giúp các doanh nhân xây dựng và tích lũy tài sản, sự phát triển này cũng giúp quan chức địa phương mở rộng nguồn thu, nâng cao thành tích về việc làm và tăng trưởng, đồng thời thu được tài sản tư nhân từ các cơ hội kiếm lợi và làm giàu cá nhân trước đây không tồn tại.87
Tuy nhiên, các yếu tố kinh tế và chính trị khác có lẽ đã đóng vai trò quan trọng và trực tiếp hơn nhiều trong việc thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của khu vực tư nhân. Yếu tố quan trọng nhất là thành công của quá trình phi tập thể hóa nông nghiệp. Vòng lặp tích cực do các cải cách nông thôn là đã tạo ra những điều kiện thiết yếu để khu vực tư nhân cắm rễ và phát triển mạnh mẽ. Ở phía cung, năng suất cao hơn ở khu vực nông thôn đã tăng thu nhập tổng thể, từ đó thúc đẩy tiết kiệm tư nhân cho đầu tư và cho phép một số ít doanh nhân huy động vốn, hoặc bằng cách vay mượn từ gia đình, họ hàng và bạn bè, hoặc bằng cách tận dụng tiết kiệm của chính họ. Hiệu quả cao hơn trong sản xuất nông thôn cũng giải phóng nguồn lao động dư thừa hoặc chưa được khai thác đầy đủ ở nông thôn, hướng họ vào các ngành sản xuất và dịch vụ có năng suất cao hơn.
Về phía cầu, năng suất nông thôn cao hơn đã nâng cao thu nhập của nông dân và thúc đẩy nhu cầu của họ đối với hàng tiêu dùng. Đồng thời, những méo mó kinh tế từ thời kỳ Maoist đã dẫn đến tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng về hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, từ đó tạo ra một lượng nhu cầu dồn nén khổng lồ mà khu vực tư nhân có thể đáp ứng. Nhu cầu việc làm trong khu vực hiện đại, mà các doanh nghiệp nhà nước (đã quá cồng kềnh) không thể đáp ứng, cũng buộc Đảng phải tự do hóa nền kinh tế để các doanh nghiệp tư nhân mới có thể hấp thụ những người mới tham gia thị trường lao động (chỉ riêng trong giai đoạn 1980-1985, đã có hơn 37 triệu người ở khu vực thành thị cần việc làm).88
Tuy nhiên, bất chấp những điều kiện thuận lợi đó, các doanh nhân tư nhân vẫn thận trọng bằng cách che giấu quyền sở hữu doanh nghiệp của mình. Một phương pháp phổ biến là đăng ký dưới dạng “doanh nghiệp tập thể” thay vì “doanh nghiệp tư nhân” hoặc “doanh nghiệp tư nhân” (theo luật, nhà nước không chính thức công nhận các doanh nghiệp tư nhân cho đến năm 1988). Ngoài sự bảo hộ chính trị, các doanh nghiệp tư nhân đăng ký dưới danh nghĩa “doanh nghiệp tập thể”, trong một thực hành được gọi là “đội mũ đỏ,” để có thể vượt qua nhiều rào cản pháp lí nhằm xin giấy phép kinh doanh, tiếp cận dịch vụ ngân hàng và tín dụng cũng như các hợp đồng chính phủ. Tuy nhiên, việc “đội mũ đỏ” cũng có nhược điểm vì các doanh nghiệp tư nhân này thực chất đang trả tiền để đổi lấy sự bảo hộ chính trị, đồng thời phải gánh chịu các gánh nặng tài chính thêm (như đóng góp bắt buộc vào ngân sách địa phương và tạo việc làm). Các doanh nhân tư nhân áp dụng chiến lược sinh tồn này cũng phải đối mặt với rủi ro pháp lý, như tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và thậm chí bị truy tố hình sự.89
Mặc dù việc “đội mũ đỏ” rất phổ biến, tỷ lệ chính xác của các doanh nghiệp tư nhân trong số các TVE vẫn là vấn đề tranh cãi.90 Theo một cuộc điều tra năm 1995 do Cục Quản lí Công nghiệp và Thương mại Nhà nước (SAIC) thực hiện, trong số 178.000 “doanh nghiệp tập thể,” khoảng một phần năm trong số đó có sở hữu đa số thuộc về tư nhân.91 Con số này gần như chắc chắn đánh giá thấp tỷ lệ các doanh nghiệp tư nhân trong số các doanh nghiệp tập thể. Nghiên cứu của Yasheng Huang đã phát hiện ra bằng chứng thuyết phục hơn rằng, dựa trên dữ liệu do Bộ Nông nghiệp thu thập, gần 90% các TVE vào năm 1985 thực chất là các doanh nghiệp tư nhân.92
Các doanh nhân tiên phong trong thập niên 1980 đến từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng phần lớn xuất thân từ nông thôn, một lần nữa khẳng định đóng góp quan trọng của cải cách nông thôn đối với sự chuyển đổi của nền kinh tế Trung Quốc. Theo một cuộc điều tra quốc gia năm 1991 với 1.187 chủ doanh nghiệp tư nhân ở nông thôn, 42% từng là cán bộ xã, 19% từng là cán bộ chủ chốt của các doanh nghiệp TVE, 13% từng là công nhân trong các doanh nghiệp TVE, và 9% là cựu binh Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA). Một cuộc điều tra khác với 1.853 chủ doanh nghiệp tư nhân (dường như ở khu vực thành thị), cũng được thực hiện vào năm 1991, cho thấy 30% đã từ chức tại các doanh nghiệp nhà nước, 31% từng là nông dân, 16% từng là người tự kinh doanh, và 12% từng thất nghiệp.93 Nói cách khác, phần lớn những người tiên phong trong khu vực tư nhân đến từ bên ngoài khu vực nhà nước.
Cải cách các doanh nghiệp nhà nước
Trước thềm cải cách của Đặng, các doanh nghiệp nhà nước chiếm ưu thế trong các ngành kinh tế hiện đại Trung quốc, chiếm 87% thu ngân sách nhà nước, 77,6% sản lượng công nghiệp và 78% việc làm ở các khu vực đô thị.94
Tuy nhiên, giống như các doanh nghiệp cùng loại ở khối Liên Xô cũ, các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc cũng bị cản trở bởi những bất cập mang tính hệ thống.95 Là các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp này giống với các cơ quan hành chính nhà nước hơn là các chủ thể kinh tế tìm kiếm lợi nhuận, bởi vì chúng được chính phủ quản lí thông qua các chỉ thị điều chỉnh gần như tất cả các vấn đề hoạt động. Là một phần của nền kinh tế kế hoạch hóa, chúng không có những quyền tự do cơ bản trong hoạt động kinh doanh, chẳng hạn như quyết định sản xuất gì hay sản xuất bao nhiêu. Các SOE cũng không có quyền kiểm soát trong các vấn đề như số lượng lao động cần tuyển dụng, việc bổ nhiệm ban quản lý, và tiền lương của công nhân và ban quản lý, vì chính các cơ quan hành chính nhà nước giám sát mới là những người đưa ra các quyết định này. Giống như các SOE trong các chế độ cộng sản của khối Liên Xô cũ, các SOE Trung Quốc có hai khuyết điểm thể chế quan trọng: sự vắng mặt của chủ sở hữu thực sự và các ràng buộc ngân sách mềm. Trên danh nghĩa, “nhà nước” sở hữu các doanh nghiệp này. Trên thực tế, không có chủ sở hữu thực sự mà thay vào đó là nhiều cơ quan hành chính (như các cơ quan nhà nước phụ trách kế hoạch sản xuất, thu ngân sách và các vấn đề liên quan đến lao động) kiểm soát các doanh nghiệp này. Tình trạng này không chỉ tạo ra xung đột lợi ích giữa các bên liên quan mà còn khiến các SOE không thể theo đuổi các mục tiêu kinh tế hiệu quả. “Ràng buộc ngân sách mềm” có nghĩa là các doanh nghiệp này không phải chịu trách nhiệm về sự thất bại của mình vì chúng luôn có thể dựa vào nhà nước để cứu trợ.96
Khuyết điểm hệ thống cuối cùng của các SOE Trung Quốc là gánh nặng chính sách. Là thành phần thiết yếu của hệ thống đảng-nhà nước, các SOE phải thực hiện nhiều vai trò phi kinh tế phục vụ nhu cầu của đảng, chẳng hạn như duy trì việc làm bất chấp chi phí và cung cấp các dịch vụ xã hội, bao gồm y tế, nhà ở, chăm sóc trẻ em và thu nhập hưu trí.97
Với vị trí trung tâm của các DNNN trong nền kinh tế Trung Quốc và những khó khăn kỹ thuật đáng gờm trong việc tái cơ cấu các doanh nghiệp này (thực tế là tất cả các nỗ lực cải cách DNNN ở khối Liên Xô cũ và Nam Tư đều kết thúc trong thất bại), các nhà cải cách buộc phải áp dụng một cách tiếp cận thận trọng và từng bước hơn nhiều.98 Bước đầu tiên của họ là mở rộng quyền tự chủ của các DNNN và trao thêm các ưu đãi tài chính cho ban lãnh đạo DNNN với niềm tin rằng tự do hoạt động và phần thưởng vật chất nhiều hơn có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này. Sau khi các thí điểm tại Tứ Xuyên và Bắc Kinh vào đầu năm 1979 mang lại kết quả đầy hứa hẹn, Hội đồng Nhà nước đã chính thức thông qua các biện pháp mở rộng quyền tự chủ của các SOE vào tháng 7 năm 1979.99 Theo “Một số quy định về việc mở rộng quyền tự chủ quản lí của các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước”, ban lãnh đạo các DNNN có thể giữ lại một phần lợi nhuận, tuyển dụng công nhân, bổ nhiệm cán bộ quản lí và thực hiện một loạt các quyền hành pháp miễn là họ hoàn thành các mục tiêu do nhà nước đề ra.100
Tuy nhiên, việc mở rộng quyền tự chủ nhanh chóng gây ra những vấn đề riêng, đặc biệt khi các nhà quản lí của các doanh nghiệp nhà nước lợi dụng chính sách mới để giữ lại nhiều lợi nhuận hơn, dẫn đến thu nhập của nhà nước giảm và thâm hụt ngân sách tăng lên.101 Đối với các nhà kinh tế tự do, việc mở rộng một mình quyền tự chủ quản lí của các doanh nghiệp nhà nước khó có thể mang lại những cải thiện bền vững trong hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này. Quyền tự chủ thực sự của các doanh nghiệp nhà nước là điều không thể đạt được vì nhà nước vẫn nắm giữ phần lớn quyền lực trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả và hoạt động của các doanh nghiệp. Việc mở rộng quyền tự chủ của các DNNN cũng làm trầm trọng thêm vấn đề “chủ thể-đại lí (principal-agent)” trong hệ thống xã hội chủ nghĩa nhà nước vì nó cho phép các nhà quản lí hành động theo cơ hội hơn.102 Quan trọng nhất là, vì các DNNN là một phần của thị trường, việc trao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp khi chính thị trường có những khiếm khuyết hệ thống là khó có thể thành công. Cụ thể, khi giá cả méo mó, ngay cả các doanh nghiệp có quyền tự chủ hoàn toàn cũng không thể phản ứng với thị trường méo mó hoặc chịu trách nhiệm về lợi nhuận và lỗ.103
Khi rõ ràng rằng việc mở rộng quyền tự chủ của các DNNN là một đề xuất không khả thi, các nhà lãnh đạo Trung Quốc bắt đầu tìm kiếm các giải pháp thay thế. Các nhà kinh tế tự do lập luận rằng một cuộc cải cách thành công đối với các DNNN chỉ có thể thực hiện được khi nó là một phần của gói cải cách các cơ chế khác, như giá cả, thuế, lương, an sinh xã hội và hệ thống tài chính, những yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến các DNNN. Tuy nhiên, Đảng đã không chấp nhận đề xuất cải cách toàn diện của họ.104
Giải pháp thay thế mà Đảng cuối cùng đã chọn vào năm 1986 là “hệ thống trách nhiệm theo hợp đồng” (chengbao zerenzhi). Về bản chất, hệ thống trách nhiệm theo hợp đồng là phiên bản cập nhật của nỗ lực năm 1981 của chính phủ nhằm đặt ra các điều kiện cho quyền tự chủ của các DNNN.105 Điều khiến cuộc cải cách được đề xuất vào năm 1986 trở nên khác biệt là việc trao quyền tự chủ hoàn toàn trong hoạt động đổi lại cam kết hoàn thành các mục tiêu tài chính cố định. Một văn bản do Hội đồng Nhà nước ban hành vào tháng 2 năm 1988 đã chính thức hóa hệ thống này (việc thực hiện đã bắt đầu từ năm 1987).106
Về mặt cụ thể, “trách nhiệm theo hợp đồng” của các DNNN bao gồm việc đạt được các mục tiêu tài chính, chẳng hạn như lợi nhuận, tăng trưởng, giảm lỗ, đầu tư vốn, đổi mới công nghệ và nộp thuế. Các SOE đạt được các mục tiêu này có thể giữ lại nhiều lợi nhuận hơn để trả lương cao hơn cho người lao động.107 Tuy nhiên, hệ thống trách nhiệm hợp đồng nhanh chóng chứng tỏ là một thất vọng. Do sự đa dạng của các doanh nghiệp và điều kiện cấu trúc khác biệt đáng kể (như cạnh tranh, cung và cầu) giữa các ngành công nghiệp, chính phủ gần như không thể quy định các điều khoản hợp đồng tiêu chuẩn hoặc thiết lập các tiêu chuẩn hiệu quả.108
Tệ hơn nữa, hệ thống trách nhiệm hợp đồng khuyến khích hành vi ngắn hạn của các SOE vì thời hạn hợp đồng thông thường là ba năm, điều này khuyến khích các nhà quản lí SOE cắt giảm chi tiêu cho đầu tư vốn và nâng cấp công nghệ để đạt được mục tiêu lợi nhuận. Các SOE cũng có động lực mạnh mẽ để tăng giá nhằm nâng cao biên lợi nhuận—một việc dễ dàng thực hiện trong các ngành mà các SOE hiện hữu ít phải đối mặt với cạnh tranh. Mặc dù đã ký kết các hợp đồng chính thức giữa ban quản lí SOE và các cơ quan nhà nước giám sát, các SOE vẫn tiếp tục hưởng lợi từ các ràng buộc ngân sách lỏng lẻo và do đó không phải chịu trách nhiệm khi không thực hiện các điều khoản hợp đồng. Vì hệ thống trách nhiệm hợp đồng không đụng chạm đến vấn đề cốt lõi của “sở hữu nhà nước”, nó rõ ràng không thể giải quyết được tất cả các vấn đề của hình thức sở hữu này.109
Mặc dù có những thiếu sót trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với việc cải cách các SOE trong những năm 1980, một số nhà kinh tế đã ủng hộ các biện pháp hạn chế này nhưng với điều kiện, lập luận rằng chúng đã giúp cải thiện hiệu quả tài chính, sản lượng và khả năng đổi mới của các SOE.110 Tuy nhiên, bằng chứng ủng hộ quan điểm chung của các nhà hoạch định chính sách và nhà kinh tế Trung Quốc rằng các cải cách SOE trong thập niên 1980 về cơ bản là thất bại.111 Thí nghiệm ban đầu nhằm mở rộng quyền tự chủ của các SOE chỉ tồn tại trong thời gian ngắn; nó đã được thay thế bằng hệ thống trách nhiệm theo hợp đồng, vốn sau đó cũng bị bỏ rơi vào đầu những năm 1990 khi ban lãnh đạo hậu Thiên An Môn đưa ra một đợt cải cách mới nhằm “xây dựng một hệ thống doanh nghiệp hiện đại.” Đến lúc đó, hầu hết các SOE đều lâm vào khủng hoảng vì đơn giản là chúng không thể cạnh tranh với các doanh nghiệp tư nhân hay hàng nhập khẩu. Vào cuối những năm 1990, chính phủ, không còn khả năng duy trì các SOE thua lỗ mà không gây nguy hiểm cho hệ thống ngân hàng, buộc phải áp dụng một chiến lược mới là “giữ lại những cái lớn và buông bỏ những cái nhỏ”, theo đó chỉ giữ lại các SOE lớn trong các ngành then chốt (ngân hàng, viễn thông, giao thông và năng lượng) và để các SOE vừa và nhỏ phá sản hàng loạt.112 Triệu Tử Dương, Thủ tướng cải cách phụ trách kinh tế trong thập niên 1980, có lẽ là người có thẩm quyền nhất để đưa ra phán quyết về vấn đề này. Khi suy ngẫm về quá trình cải cách của Trung Quốc trong thời gian bị quản thúc tại gia vào thập niên 1990, Triệu đã nói: “Cải cách cơ chế của các SOE không đụng chạm đến những yếu tố cơ bản.” Khi nói đến “yếu tố cơ bản”, ông có lẽ ám chỉ những yếu tố thể chế quan trọng nhất ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các SOE, như sở hữu nhà nước, hệ thống định giá, thị trường vốn và mạng lưới an sinh xã hội. Tuy nhiên, ông Triệu tin rằng, thật trớ trêu, việc không cải cách các DNNN lại có tác động tích cực trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của Trung Quốc.113 Mặc dù ông không giải thích chi tiết về điểm này, nhưng có lẽ ông đang nghĩ đến những rủi ro và chi phí chính trị tiềm ẩn của những cải cách mạnh mẽ hơn, những cải cách có thể đã làm cho các SOE hiệu quả hơn
nhiều nhưng cũng sẽ gây ra sự phản đối mạnh mẽ từ cả những người bảo thủ về mặt tư tưởng và các nhóm lợi ích bị ảnh hưởng.
Cải cách giá theo hai hướng
Giống như trong các nền kinh tế kiểu Liên Xô, giá cả ở Trung Quốc trong thời kỳ trước cải cách được nhà nước quy định, chứ không phải do thị trường quyết định (mặc dù với tư cách là một nền kinh tế phân quyền hơn, một số giá cả ở Trung Quốc được các cơ quan địa phương, chứ không phải trung ương, quy định).114 Về mặt lí thuyết, cải cách giá cả nên là ưu tiên hàng đầu trong quá trình một quốc gia chuyển đổi từ chủ nghĩa xã hội nhà nước sang nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, như kinh nghiệm của khối Liên Xô cũ vào đầu những năm 1990 cho thấy, cải cách giá cả chỉ có thể hoàn thành thông qua một “cuộc cách mạng lớn” giải phóng tất cả các mức giá cùng một lúc — với cái giá là lạm phát phi mã, gây rối loạn kinh tế và phá hoại chính trị đối với những người cải cách.115
So sánh với điều đó, Trung Quốc đã áp dụng một cách tiếp cận từ từ và thận trọng hơn nhiều đối với cải cách giá cả trong thập niên 1980, vì hai lí do. Về mặt kinh tế, khác với khối Liên Xô sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, Trung Quốc không phải đối mặt với lạm phát cao vào đầu thập niên 1980 và do đó không cần đến chương trình ổn định mà tất cả các nước khối Liên Xô đều phải áp dụng. Về mặt chính trị, các nhà cải cách Trung Quốc vào đầu thập niên 1980 phải chia sẻ quyền lực với phe bảo thủ, do đó họ không có khả năng thúc đẩy các cải cách triệt để, như việc thả nổi giá cả. Quan trọng hơn nữa, các nhà cải cách Trung Quốc có lẽ đã nhận ra rằng một cuộc cải cách giá cả thất bại có thể gây thảm họa cho toàn bộ chương trình cải cách (những lo ngại này đã trở thành hiện thực khi chỉ cần đề cập đến cải cách giá cả đã kích hoạt tình trạng mua sắm hoảng loạn và lạm phát cao vào mùa hè năm 1988).
Do đó, Trung Quốc không bắt đầu cải cách hệ thống giá cả cho đến năm 1984, khi chính phủ triển khai chương trình thí điểm “giá hai mức”. Thay vì chấm dứt việc định giá bắt buộc do nhà nước quy định, giá hai mức vẫn duy trì định giá bắt buộc nhưng đồng thời giới thiệu một hệ thống giá song song do thị trường quyết định. Ý tưởng ban đầu được đề xuất bởi một sinh viên cao học tại một hội nghị học thuật vào năm 1984. Các nhà kinh tế ủng hộ định giá hai chiều lập luận rằng vì giá của hầu hết các sản phẩm không thể được tự do hóa mà không làm suy yếu nền kinh tế chỉ huy, cách duy nhất để cải cách nền kinh tế kế hoạch hóa mà không từ bỏ nó ngay lập tức là đưa vào hệ thống định giá cho phép cả giá do kế hoạch quy định và giá tự do hóa hoạt động song song để cân bằng cung cầu.116
Chính phủ nhanh chóng chấp nhận khái niệm hấp dẫn này. Vào tháng 5 năm 1984, Hội đồng Nhà nước chính thức cho phép các doanh nghiệp nhà nước áp dụng cơ chế giá hai mức. Cụ thể, các doanh nghiệp nhà nước có thể bán sản lượng dư thừa với giá do chính họ tự đặt (nhưng chỉ cao hơn
hoặc thấp hơn 20% so với giá do nhà nước quy định).117 Các nhà kinh tế hàng đầu sau đó đã ca ngợi cải cách giá hai mức là một biện pháp sáng tạo tạo ra người thắng mà không có người thua.118 Điều này có lẽ cũng tạo động lực lớn hơn cho các SOE tăng sản lượng vì họ có thể thu phí cao hơn cho các sản phẩm vượt quá mục tiêu kế hoạch. Các sản phẩm được bán với giá cao hơn này cũng cung cấp một nguồn đầu vào quan trọng cho khu vực ngoài nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân (TVE), những đơn vị vốn không thể mua sản phẩm do các SOE sản xuất ngoài kế hoạch.119
Tuy nhiên, hệ thống giá hai mức cũng tạo điều kiện cho hành vi trục lợi và tham nhũng vì các DNNN và những cá nhân có quan hệ tốt có thể dễ dàng kiếm lời nhanh chóng bằng cách mua sản phẩm với giá thấp hơn do nhà nước quy định trong kế hoạch và sau đó bán chúng với giá cao hơn. Nhiều DNNN cũng lợi dụng hệ thống mới này bằng cách cố gắng lấy thêm nguyên liệu “giá cố định” (giá thấp hơn thị trường) từ kế hoạch và báo cáo sản lượng thấp hơn thực tế để có thể bán nhiều hơn với giá cao hơn mức kế hoạch.120
Dù chính sách giá hai mức trong thập niên 1980 đã thu hút rất nhiều sự chú ý, nhưng không thể đánh giá được đóng góp của nó đối với cuộc cải cách giá cả của Trung Quốc. Mặc dù tỷ trọng các sản phẩm chịu sự điều tiết giá của nhà nước tiếp tục giảm, nhưng điều này rất có thể là kết quả của sự gia tăng sản lượng, vốn có thể được quy cho các yếu tố khác, đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng sản lượng công nghiệp của các doanh nghiệp ngoài nhà nước.121 Đáng chú ý là khi gần như tất cả các mức giá được tự do hóa hoàn toàn vào những năm 1990, thành tựu này không phải do bất kỳ cải cách giá cả nào mang lại. Vào thời điểm đó, Trung Quốc không còn là một nền kinh tế thiếu hụt nữa. Việc tự do hóa giá cả gần như chắc chắn là kết quả của nguồn cung dồi dào nhờ sự tăng trưởng bùng nổ của khu vực tư nhân và ngoại thương.
Tóm tắt
Dựa trên các chỉ số chính về hiệu quả kinh tế, Trung Quốc đã đạt được thành công vượt trội trong thập niên 1980. Thông qua cải cách trong nước và hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, đất nước này đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhất kể từ năm 1949. thu nhập bình quân đầu người, vốn là 315 nhân dân tệ vào năm 1978, đã tăng lên 1.189 nhân dân tệ vào năm 1989. Tính theo giá trị thực (đã điều chỉnh lạm phát), thu nhập bình quân đầu người đã tăng gần gấp ba lần trong giai đoạn này. Tổng sản phẩm xã hội (một thước đo gần đúng của tổng sản phẩm quốc nội) đã tăng từ 677,6 tỷ nhân dân tệ vào năm 1978 lên 3,46 nghìn tỷ nhân dân tệ vào năm 1989, tương đương mức tăng 3.600% sau khi điều chỉnh theo lạm phát. Mặc dù lạm phát cao trong giai đoạn 1988–1989, Trung Quốc vẫn duy trì được sự ổn định vĩ mô tổng thể, với mức lạm phát trung bình 6,8% mỗi năm trong giai đoạn 1979–1989. Cơ cấu kinh tế cũng được cải thiện. Tiêu dùng hộ gia đình chiếm trung bình 65% thu nhập quốc gia trong giai đoạn này, phản
ánh một nền kinh tế tương đối cân bằng. Sự phát triển nhanh chóng của khu vực ngoài nhà nước đã làm giảm vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, thể hiện qua việc tỷ trọng của khu vực này trong sản lượng công nghiệp giảm từ 78% vào năm 1978 xuống còn 56% vào năm 1989.122
Quá trình hội nhập của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới cũng diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Kim ngạch ngoại thương tăng từ 20,6 tỷ USD vào năm 1978 lên 111,6 tỷ USD vào năm 1989, với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 49%. Xuất khẩu tăng từ 9,75 tỷ USD lên 52,5 tỷ USD trong cùng giai đoạn. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt tổng cộng $15,4 tỷ trong thập kỷ này.123 Mặc dù Trung Quốc sẽ thu hút lượng FDI lớn hơn nhiều trong thập niên 1990, con số này vẫn thể hiện sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài vào cuộc cách mạng kinh tế của Đặng Tiểu Bình.
Ngoài những thành tựu có thể đo lường được này, cải cách trong thập niên 1980 còn đạt được những đột phá chính trị và thể chế quan trọng. Rõ ràng, bằng cách mang lại một “mùa thu hoạch sớm” thành quả cải cách, Đặng Tiểu Bình và những người ủng hộ đã thu được vốn chính trị khổng lồ để củng cố lập luận cho việc tiếp tục cải cách. Do đó, thành công quan trọng nhất của cải cách trong thập niên 1980 là việc đặt nền móng cho sự cất cánh kinh tế của Trung Quốc trong hai thập kỷ tiếp theo.
Như chương này cho thấy, cải cách và mở cửa của Đặng Tiểu Bình trong thập niên này đã làm suy yếu đáng kể nền kinh tế chỉ huy bằng cách phát triển vượt ra ngoài kế hoạch. Việc giải thể hợp tác xã nông thôn không chỉ phá vỡ một trụ cột chính của hệ thống kinh tế Maoist mà còn giải phóng năng lượng kinh doanh bị dồn nén và tạo ra một chu trình tích cực thúc đẩy sự hình thành và phát triển của một khu vực tư nhân mới và năng động. Đồng thời, việc tích hợp Trung Quốc vào nền kinh tế toàn cầu thông qua thương mại và đầu tư đã cho phép một nền kinh tế từng tự cô lập tận dụng lợi thế so sánh về lao động rẻ. Sự kết hợp giữa khu vực tư nhân trong nước hiệu quả và sự tích hợp với nền kinh tế toàn cầu nhanh chóng trở thành động lực của sự tăng trưởng Trung Quốc.
Tuy nhiên, việc thoát khỏi kế hoạch hóa đã tránh phải đối mặt với vấn đề nan giải về cải cách doanh nghiệp nhà nước (SOE). Thực tế, các nỗ lực cải cách những “con khủng long” của chủ nghĩa toàn trị này trong thập niên 1980 của Trung Quốc chủ yếu không thành công. Phải mất thêm một thập kỷ và một cuộc khủng hoảng ngân hàng đang rình rập, Đảng mới có đủ can đảm để thúc đẩy các cải cách SOE quy mô lớn. Tuy nhiên, thất bại cụ thể này cần được hiểu trong bối cảnh chính trị của thời đại. Với các lực lượng bảo thủ mạnh mẽ do Trần Vân dẫn đầu đã củng cố vị trí tại đỉnh cao của ban lãnh đạo đảng, việc Đặng và các nhà cải cách đồng hành mạo hiểm đối đầu để thực hiện các cải cách SOE táo bạo hơn (như phá sản hàng loạt và tư nhân hóa — phương pháp mà đảng cuối cùng đã áp dụng vào cuối thập niên 1990) là điều không thể tưởng tượng được. Xét đến sự thiếu hụt hoàn toàn kiến thức vào thập niên 1980 về cách cải cách các SOE và cùng với
giải pháp thay thế vượt trội hơn nhiều là nuôi dưỡng các lực lượng kinh tế mới và hiệu quả hơn, như các doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, việc ưu tiên phát triển vượt ra khỏi kế hoạch thay vì cải cách chính kế hoạch đó là hoàn toàn hợp lí về mặt chính trị và kinh tế.
Tuy nhiên, thành công của việc “phát triển vượt ra khỏi kế hoạch” trong thập kỷ đó đã đạt được bằng cách không dỡ bỏ, một lần và mãi mãi, nền tảng kinh tế của chủ nghĩa toàn trị — các doanh nghiệp nhà nước (SOEs) thông qua đó nhà nước-đảng kiểm soát các “đỉnh cao chỉ huy” của nền kinh tế. Mặc dù sản lượng của khu vực tư nhân cuối cùng đã vượt qua các doanh nghiệp này, chúng vẫn tiếp tục thống trị một số ngành quan trọng nhất của nền kinh tế, đặc biệt là tài chính, năng lượng, viễn thông và giao thông vận tải. Sự kiểm soát của đảng-nhà nước đối với các doanh nghiệp này không chỉ cho phép chế độ tiếp cận nguồn lực kinh tế dồi dào mà còn đòi hỏi việc bảo hộ tốn kém cho các doanh nghiệp này, điều này làm méo mó thị trường và làm suy yếu hiệu quả kinh tế. Triệu Tử Dương, nhà cải cách phụ trách chính sách kinh tế trong thập niên 1980, đã dự đoán nguy cơ lâu dài của quá trình chuyển đổi “hai đường ray” đặc trưng bởi sự phát triển nhanh chóng của khu vực tư nhân và sự thống trị tiếp diễn của nhà nước trong một phần lớn nền kinh tế. “Sự tồn tại lâu dài của hai hệ thống và hai đường ray,” ông cảnh báo vào thập niên 1990, “cuối cùng sẽ gây ra những tác động tiêu cực khổng lồ. Việc áp dụng chuyển đổi dần dần ban đầu là đúng đắn, nhưng phương pháp này không được tiếp tục trong dài hạn.”124 Nếu có chăng, cựu Thủ tướng và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc bị phế truất có lẽ đã đánh giá thấp chi phí kinh tế và chính trị của quá trình chuyển đổi hai đường lối. Quá trình chuyển đổi hai đường lối cuối cùng sẽ mất đà, và nhà nước-đảng sẽ buộc phải sử dụng quyền lực của mình để hỗ trợ một khu vực nhà nước cực kỳ kém hiệu quả, gây tổn hại cho khu vực tư nhân.125
Chú thích:
Chương 2. Cải cách và Tăng trưởng trong các năm 1980
- Lorean Brandt and Thomas G. Rawski, eds., China’s Great Economic Transformation (New York: Cambridge University Press, 2008).
- Wu Jinglian, “中国经济改革三十年历程的制度思考” [Những suy ngẫm về thể chế trong ba mươi năm cải cách kinh tế Trung Quốc], trong 中国经济 50 人看三十年:回顾与分析 [50 góc nhìn về nền kinh tế Trung quốc trong ba mươi năm: Nhìn lại và phân tích], ed. Wu Jinglian et al. (Beijing: Zhonghua jingji chubanshe, 2008), 4.
- Deng Xiaoping, “Some Comments on Economic Work,” October 4, 1979, https://www.marxists.org/reference/archive/deng-xiaoping/1979/82.htm.
- Deng Xiaoping, “We Can Develop a Market Economy Under Socialism,” November 26, 1979, https://www.marxists.org/reference/archive/deng-xiaoping/1979/152.htm.
- Justin Yifu Lin and Zhiqiang Liu, “Fiscal Decentralization and Economic Growth in China,” Economic Development and Cultural Change 49, no. 1 (2000): 1–21; Christine Wong, “Central–Local Relations in an Era of Fiscal Decline: The Paradox of Fiscal Decentralization in Post-Mao China,” China Quarterly, no. 128 (1991): 691–715.
- Sebastian Heilmann, “From Local Experiments to National Policy: The Origins of China’s Distinctive Policy Process,” China Journal, no. 59 (2008): 1–30.
- Lawrence Lau et al., “Reform Without Losers: An Interpretation of China’s Dual-Track Approach to Transition,” Journal of Political Economy 108, no. 1 (2000): 120–43.
- Wu Xiang, 中国农村改革实录 [Kỷ lục cải cách nông thôn Trung quốc] (Hangzhou: Zhejiang renmin chubanshe, 2001); Daniel Kelliher, Peasant Power in China: The Era of Rural Reform, 1979–1989 (New Haven, CT: Yale University Press, 1992); David Zweig, Freeing China’s Farmers: Rural Restructuring in the Reform Era (Armonk, NY: M. E. Sharpe, 1997).
- Wu Jinglian, “中国经济改革三十年历程的制度思考,” 4.
- Lin Chonggeng “中国改革开放过程中的对外思想开放” [Sự cởi mở tư tưởng của Trung quốc với thế giới bên ngoài trong quá trình cải cách và mở cửa], trong 中国经济50人看三十年, ed. Wu Jinglian, 20–40.
- Wu Jinglian, “中国经济改革三十年历程的制度思考,” 9–11; Lin Chonggeng, “中国改革开放过程中的对外思想开放,” 20–40; cho một tường thuật tuyệt vời về ảnh hưởng Tây phương và Đông Âu đến cải cách Trung quốc, xem Julian Gewirtz, Unlikely Partners: Chinese Reformers, Western Economists, and the Making of Global China (Cambridge, MA: Harvard University Press, 2017).
- 中国统计年鉴 1995 [Niên giám Thống kê Trung quốc 1995] (sau đây được trích như ZGTJNJ 1995) (Beijing: Zhongguo tongji chubanshe, 1996), 26, 59.
- Shukai Zhao, The Politics of Peasants (Singapore: Springer, 2017); David Shambaugh, The Making of a Premier: Zhao Ziyang’s Provincial Career (Boulder, CO: Westview, 1984); Kate Xiao Zhou, How the Farmers Changed China: Power of the People (Boulder, CO: Westview, 1996); Zhao Ziyang, 改革历程 [The course of reform] (Hong Kong: New Century, 2009), 136.
- Deng Xiaoping, “On Questions of Rural Policy,” May 31, 1980, in Selected Works of Deng Xiaoping (1975–1982) (Beijing: Foreign Languages Press, 1984), 297–99.
- Zhao Ziyang, 改革历程, 137–38.
- Yang Jisheng, 中国改革年代的政治斗争 [Các cuộc đấu tranh chính trị trong thời cải cách của Trung Quốc] (Hong Kong: Excellent Culture Press, 2004), 231.
- Yasheng Huang, “How Did China Take Off?,” Journal of Economic Perspectives 26, no. 4 (2012): 147–70.
- ZGTJNJ 1995, 32.
- Justin Yifu Lin, “Rural Reforms and Agricultural Growth in China,” American Economic Review 82, no. 1 (1992): 34–51; Guanzhong James Wen, “Total Factor Productivity Change in China’s Farming Sector: 1952–1989,” Economic Development and Cultural Change 42, no. 1 (1993): 1–41.
- ZGTJNJ 1995, 233, 279.
- Deng Xiaoping, “Our Magnificent Goal and Basic Policies,” October 6, 1984, in Selected Works of Deng Xiaoping, vol. 3 (1982–1992) (Beijing: Foreign Languages Press, 1994), 85–87.
- Hongyi Chen, The Institutional Transition of China’s Township and Village Enterprises: Market Liberalization, Contractual Form Innovation, and Privatization (London: Routledge, 2018); Louis Putterman, “On the Past and Future of China’s Township and Village-Owned Enterprises,” World Development 25, no. 10 (1997): 1639–55.
- Jean Oi, “Fiscal Reform and the Economic Foundations of Local State Corporatism in China,” World Politics 45, no. 1 (1992): 99–126.
- Enrico Perotti et al., “State-Owned Versus Township and Village Enterprises in China,” Comparative Economic Studies 41, no. 2 (1999): 151–79; Jeffrey Nugent et al., “Competition, Incentives, and Productivity in Chinese Township and Village Enterprises,” Pacific Economic Review 4, no. 2 (1999): 91–113; David Zweig, “Internationalizing China’s Countryside: The Political Economy of Exports from Rural Industry,” China Quarterly, no. 128 (1991): 716–41.
- Yasheng Huang, Capitalism with Chinese Characteristics: Entrepreneurship and the State (New York: Cambridge University Press, 2008); Kellee Tsai, Back-Alley Banking: Private Entrepreneurs in China (Ithaca, NY: Cornell University Press, 2004).
- Chen, Institutional Transition.
- Deng Xiaoping, “We Shall Speed Up Reform,” June 12, 1987, in Selected Works of Deng Xiaoping, 3:236.
- Huang, “How Did China Take Off?,” 155–57.
- Zhang Houyi and Ming Lizhi, 中国私营企业发展报告 1978–1998 [Báo cáo về sự phát triển doanh nghiệp tư nhân ở Trung Quốc 1978-1981] (Beijing: Shehui kexue wenxian chubanshe, 1999); Victor Nee and Frank W. Young, “Peasant Entrepreneurs in China’s Second Economy: An Institutional Analysis,” Economic Development and Cultural Change 39, no. 2 (1991): 293–310.
- Zhang Houyi, “私营企业主阶层在我国社会结构中的地位” [Vị trí của các chủ sở hữu doanh nghiệp tư nahan trong cấu trúc xã hội của nước ta], 中国社会科学 [Khoa học xã hội Trung quốc], no. 6 (1994): 101.
- ZGTJNJ 1990 (Beijing: Zhongguo tongji chubanshe, 1991), 33, 641.
- Nora Wang, “Deng Xiaoping: The Years in France,” China Quarterly, no. 92 (1982): 698–705.
- Leng Rong and Wang Zuoling, eds., 邓小平年谱上册 (1975–1997) [Niên biểu Đặng Tiểu Bình (1975–1997)] (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 2004), 512.
- Leng and Wang, 254–87.
- Deng Xiaoping, “Some Comments on Economic Work,” October 4, 1979, https://www.marxists.org/reference/archive/deng-xiaoping/1979/82.htm.
- Deng Xiaoping, “We Can Develop a Market Economy Under Socialism,” November 26, 1979, https://www.marxists.org/reference/archive/deng-xiaoping/1979/152.htm.
- Deng Xiaoping, “Our Magnificent Goal and Basic Policies,” October 6, 1984, in Selected Works of Deng Xiaoping, 3:86.
- Trung Quốc đã thông qua luật phá sản doanh nghiệp tạm thời vào năm 1986. Một thị trường vốn hoạt động một phần chỉ xuất hiện vào những năm 1990 với việc thành lập các sàn giao dịch chứng khoán và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng.
- Leng and Wang, 邓小平年谱上册, 519–20.
- Leng and Wang, 525.
- 全国人民代表大会 [National People’s Congress], “中华人民共和国中外合资经营企业 法” [Luật của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về các liên doanh Trung quốc-nước ngoài], July 8, 1979, https://law.pkulaw.com/falv/44fe519756440da6bdfb.html.
- Leng and Wang, 邓小平年谱上册, 529; Margaret Pearson, Joint Ventures in the People’s Republic of China (Princeton, NJ: Princeton University Press, 1992).
- “中华人民共和国外资企业法” [Law of the People’s Republic of China on foreign-funded enterprises], http://tfs.mofcom.gov.cn/article/ba/bl/201101/20110107349307.shtml.
- 中华人民共和国商务部 [Bộ Thương mại Cộng hòa Nhân dân trung Hoa], “中华人民共和国外资企业法实施细则” [Quy định thi hành của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài], December 12, 1990, http://wzs.mofcom.gov.cn/article/n/200208/20020800037017.shtml.
- Các quy định của luật này tương tự như luật liên doanh ban hành năm 1979, nhưng các khoản đóng góp của các đối tác liên doanh có thể bao gồm các khoản không bằng tiền mặt.. “中华人民共和国中外合作经营 企业法” [Luật của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về các liên doanh hợp đồng Trung quốc-nước ngoài], http://www.npc.gov.cn/zgrdw/npc/xinwen/2017-11/28/content2032723.htm.
- Hooshang Amirahmadi and Weiping Wu, “Export Processing Zones in Asia,” Asian Survey 35, no. 9 (1995): 828–49.
- Leng and Wang, 邓小平年谱上册, 510.
- Clyde Stoltenberg, “China’s Special Economic Zones: Their Development and Prospects,” Asian Survey 24, no. 6 (1984): 642–43; “国务院关于厦门经济特区实施方案的批复” [Hội đồng Nhà nước phê chuẩn kế hoạch thực hiện Khu Kinh tế Đặc biệt Hạ Môn], June 29, 1985, http://www.gov.cn/xxgk/pub/govpublic/mrlm/201309/t2013092966434.html.
- George Crane, The Political Economy of China’s Economic Zones (Armonk, NY: M. E. Sharpe, 1989); Wei Ge, “Special Economic Zones and the Opening of the Chinese Economy: Some Lessons for Economic Liberalization,” World Development 27, no. 7 (1999): 1267–85.
- 第五届全国人民代表大会常务委员会 [Ủy ban Thường vụ của Hội nghị Nhân dân Toàn quốc thứ Năm], “广东省经济特区条例” [Quy định về các khu kt đặc biệt ở tỉnh Quảng Đông], August 26, 1980, http://www.zhxz.gov.cn/xxgk/fggw/dfxfg/content/post1448488.html.
- Guo Shiping and Chen Hongbo, “深圳特区与其他特区经济发展状况的比较研究” [Nghiên cứu so sánh tình hình phát triển kinh tế của Khu kinh tế đặc biệt Thâm Quyến và các khu kinh tế đặc biệt khác], 特区经济 [Kinh tế khu kinh tế đặc biệt], no. 2 (1995): 47–49; ZGTJNJ 1990, 653.
- Guo and Chen, “深圳特区与其他特区经济发展状况的比较研究,” 49; ZGTJNJ 1990, 641.
- Yue-man Yeung et al., “China’s Special Economic Zones at 30,” Eurasian Geography and Economics 50, no. 2 (2009): 222–40.
- Guo and Chen, “深圳特区与其他特区经济发展状况的比较研究,” 47.
- Zhao Ziyang, 改革历程, 141–49; Fuh-Wen Tzeng, “The Political Economy of China’s Coastal Development Strategy: A Preliminary Analysis,” Asian Survey 31, no. 3 (1991): 270–84.
- Nicholas Lardy, Foreign Trade and Economic Reform in China (New York: Cambridge University Press, 1991), 1–15; Peter Harrold, “China: Foreign Trade Reform: Now for the Hard Part,” Oxford Review of Economic Policy 11, no. 4 (1995): 134; Changjun Yue and Ping Hua, “Does Comparative Advantage Explain Export Patterns in China?” China Economic Review 13, no. 2–3 (2002): 276–96.
- ZGTJNJ 1990, 33, 641.
- Harrold, “China: Foreign Trade Reform,” 135.
- Weijian Shan, “Reforms of China’s Foreign Trade System: Experiences and Prospects,” China Economic Review 1, no. 1 (1989): 35–38; Nicholas R. Lardy, Integrating China into the Global Economy (Washington DC: Brookings, 2002), 29.
- Shan, “Reforms of China’s Foreign Trade System,” 38–39; Nai-Ruenn Chen and Jeffrey Lee, China’s Economy, and Foreign Trade 1981–85 (Washington, DC: US Department of Commerce, 1984).
- Shan, “Reforms of China’s Foreign Trade System,” 39–44; Lardy, Foreign Trade and Economic Reform, 41; Yang Sujin, “论中国外贸体制的改革,” Modern China Studies, no. 2 (1997), https://www.modernchinastudies.org/us/issues/past-issues/57-mcs-1997-issue-2/401-2011-12-29-17-45-11.html.
- Shan, “Reforms of China’s Foreign Trade System,” 43–45; Harrold, “China: Foreign Trade Reform,” 136–38; Lardy, Foreign Trade and Economic Reform, 46–69.
- Shuanglin Lin, “Foreign Trade and China’s Economic Development: A Time-Series Analysis,” Journal of Economic Development 25, no. 1 (2000): 148.
- ZGTJNJ 1990, 33, 641.
- Lin Yifu and Li Yongjun, “对外贸易与经济增长关系的再考察” [Xem xét lại mối quan hệ giữa ngoại thương và tăng trưởng kinh tế], 国际贸易 [Thương mại quốc tế], no. 9 (2001): 23–27.
- Douglas Zhihua Zeng, How Do Special Economic Zones and Industrial Clusters Drive China’s Rapid Development? (Washington, DC: World Bank, 2011); Françoise Lemoine and Deniz Ünal-Kesenci, “Assembly Trade and Technology Transfer: The Case of China,” World Development 32, no. 5 (2004): 829–50; Qiao Yu, “Capital Investment, International Trade and Economic Growth in China: Evidence in the 1980–1990s,” China Economic Review 9, no. 1 (1998): 73–84.
- Harrold, “China: Foreign Trade Reform,” 138–39.
- Andrew Walder, “China’s Private Sector,” in China’s Domestic Private Firms, ed. Anne Tsui et al. (London: Routledge, 2006), 311–26.
- Barry Naughton, Growing Out of the Plan: Chinese Economic Reform, 1978–1993 (New York: Cambridge University Press, 1995).
- Zhao Ziyang, 改革历程, 122–24.
- Nicholas Lardy, “Private Sector Development,” in China’s 40 Years of Reform and Development, 1978–2018, ed. Ross Garnaut et al. (Canberra: ANU Press, 2018), 330.
- ZGTJNJ 1990, 414.
- Wu Jinglian, 当代中国经济改革 [Cải cách kinh tế ở Trung quốc đương đại] (Shanghai: Yuanjing chubanshe, 2003), 66–68; Lau et al., “Reform Without Losers,” 120–43.
- Wu Jinglian, 当代中国经济改革, 66–68.
- Zhao Ziyang, 改革历程, 122–24.
- 国务院 [Hội đồng Nhà nước], “关于城镇非农业个体经济若干政策性规定” [Vài quy định chính sách về các hoạt động kinh tế phi-nông nghiệp do cá nhân tiến hành trong các khu vực đô thị], July 7, 1981, http://www.reformdata.org/1981/0707/6330.shtml.
- “中华人民共和国宪法” [Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa], https://www.elegislation.gov.hk/hk/A1%21en -sc.assist.pdf.
- “当前农村经济政策的若干问题” [Vài vấn đề liên quan đến các chính sách kinh tế nông thôn hiện thời], January 2, 1983, https://finance.sina.cn/sa/2010-02-01/detail-ikftssan9543782.d.html; 国务院关于农民个人或联户购置机动车船和拖拉机经营运输业的若干规定 [Hội đồng Nhà nước quy định về việc các nông dân mua cá nhân hay chung xe, thuyền có động cơ, và máy kéo để hoạt động trong kinh doanh vận tải], February 27, 1984, https://www.flfgk.com/detail/8e66166d9c7e0a57577c1fd2f51a02f1 .html.
- Yang Jisheng, 中国改革年代的政治斗争, 240–43; Keith Forster, “The 1982 Campaign Against Economic Crime in China,” Australian Journal of Chinese Affairs, no. 14 (1985): 1–19.
- “中国改革先锋项南‘晋江假药案’蒙冤下台” [Nhà tiên phong cải cách Trung Quốc Xiang Nan bị oan trong ‘vụ án thuốc giả JinGiang’ và phải từ chức], September 4, 2008, http://phtv.ifeng.com/program/tfzg/200809/09042950764236.shtml.
- Leng and Wang, 邓小平年谱下册, 1008.
- Ngôn ngữ của sự sửa đổi thay thế geti jingji bằng. Không quy định khác nào được thay đổi. “中华人民共和国宪法修正案” [Sửa đổi Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa], 1988, https://www.elegislation.gov.hk/hk/A2%21zh -Hant-HK.assist.pdf.
- “中华人民共和国私营企业暂行条例” [Các quy định tạm thời của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về doanh nghiệp tư nhân], https://www.gov.cn/gongbao/shuju/1988/gwyb198815.pdf.
- Zhang Houyi, “又一支异军突起” [Lực mới khác nổi lên], trong Zhang and Ming, 中国私营企业发展报告, 16, 42.
- ZGTGNJ 1990, 400. Trong 1978 tất cả các TVE là tập thể, nhưng hầu hết các TVE mới thành lập là tư nhân.
- ZGTGNJ 1990, 20, 401. “Tổng sản lượng xã hội,” một phương pháp kế toán Trung quốc được dùng trong các năm 1980, vào khoảng 45 phần trăm của GDP.
- Yanjie Bian and Zhangxin Zhang, “Explaining China’s Emerging Private Economy,” in China’s Domestic Private Firms, ed. Anne Tsui et al., 25–39; David Wank, “Bureaucratic Patronage and Private Business: Changing Networks of Power in Urban China,” in The Waning of the Communist State: Economic Origins of Political Decline in China and Hungary, ed. Andrew G. Walder (Berkeley: University of California Press, 1995), 153–83.
- Zhang Houyi, “又一支异军突起,” 15.
- Anne Tsui et al., “Explaining the Growth and Development of the Chinese Domestic Private Sector,” in China’s Domestic Private Firms, ed. Tsui et al., 9; Zhang Houyi, “又一支异军 突起,” 51–53.
- David Daokui Li, “A Survey of Economics Literature on China’s Nonstate Enterprises,” in China’s Domestic Private Firms, ed. Tsui et al., 128–46.
- Zhang Houyi, “又一支异军突起,” 51.
- Huang, “How Did China Take Off?” 154.
- Zhang Houyi, “私营企业主阶层在我国社会结构中的地位,” 101–2.
- ZGTJNJ 1990, 29, 115.
- David Granick, “The Industrial Environment in China and the CMEA Countries,” in China’s Industrial Reform, ed. Gene Tidrick and Chen Jiyuan (Washington, DC: World Bank, 1987), 103–31.
- Wu Jinglian, 当代中国经济改革, 133–36; Janos Kornai, “The Soft Budget Constraint,” Kyklos 39, no. 1 (1986): 3–30.
- Xiaoyuan Dong and Louis Putterman, “Soft Budget Constraints, Social Burdens, and Labor Redundancy in China’s State Industry,” Journal of Comparative Economics 31, no. 1 (2003): 110–33; Justin Yifu Lin et al., “Competition, Policy Burdens, and State-Owned Enterprise Reform,” American Economic Review 88, no. 2 (1998): 422–27.
- Bernard Chavance and Charles Hauss, The Transformation of Communist Systems: Economic Reform Since the 1950s (Boulder, CO: Westview, 1994).
- Naughton, Growing Out of the Plan, 97–109; Ma Jiantang, “三十年巨变:国有企业改革进程简要回顾与评述” [Ba mươi năm thay đổi sâu sắc: Một tổng quan và bình luận ngắn về quá trình cải cách các doanh nghiệp nhà nước], trong 中国经济50人看三十年, ed. Wu Jinglian, 349–58.
- “关于扩大国营工业企业经营管理自主权的若干规定” [Một số quy định về việc mở rộng quyền tự chủ hoạt động và quản lí của các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước], http://www.reformdata.org/1979/0713/5879.shtml.
- Ma Jiantang, “三十年巨变:国有企业改革进程简要回顾与评述,” 350.
- Wu Jinglian, 当代中国经济改革, 142; Ligang Song, “State-Owned Enterprise Reform in China,” in Garnaut et al., China’s 40 Years of Reform and Development, 347.
- Wu Jinglian and Liu Jirui, 论竞争性市场体制 [Về hệ thống thị trường cạnh tranh] (Beijing: Zhongxin chubanshe, 2017), 118.
- Wu Jinglian, 当代中国经济改革, 156; Ma Jiantang, “三十年巨变,” 350–51.
- “国务院体制改革办公室关于实行工业生产经济责任制若干问题的意见” [Ý kiến
của Văn phòng Cải cách Cơ cấu Quốc vụ viện về một số vấn đề liên quan đến việc thực hiện
hệ thống sản xuất công nghiệp và trách nhiệm kinh tế], October 29, 1981, http://www.reformdata.org/1981/1029/5884.shtml.
- “全民所有制工业企业承包经营责任制暂行条例” [Quy định tạm thời về chế độ quản lí theo hợp đồng đối với các doanh nghiệp công nghiệp thuộc sở hữu toàn dân], https://www.gov.cn/gongbao/content/2011/content1860724.htm.
- Wu Jinglian, 当代中国经济改革, 140.
- Ma Jiantang, “三十年巨变,” 350–51.
- Wu Jinglian, 当代中国经济改革, 139–40; Ma Jiantang, “三十年巨变,” 351–52.
- Gary Jefferson and Thomas Rawski, “Enterprise Reform in Chinese Industry,” Journal of Economic Perspectives 8, no. 2 (1994): 47–70; William Byrd, Chinese Industrial Firms Under Reform (Oxford: Oxford University Press, 1992).
- Wu Jinglian, 当代中国经济改革; Ma Jiantang, “三十年巨变”: Wing Thye Woo et al., “How Successful Has Chinese Enterprise Reform Been? Pitfalls in Opposite Biases and Focus,” Journal of Comparative Economics 18, no. 3 (1994): 410–37.
- Weiye Li and Louis Putterman, “Reforming China’s SOEs: An Overview,” Comparative Economic Studies, no. 50 (2008): 353–80.
- Zhao Ziyang, 改革历程, 124.
- Zhang Jun, “China’s Price Liberalization and Market Reform: A Historical Perspective,” in Garnaut et al., China’s 40 Years of Reform and Development, 215–33.
- Edward Lazear, Economic Transition in Eastern Europe and Russia: Realities of Reform (Stanford, CA: Hoover Press, 1995).
- Zhang Weiying, “双轨制与价格改革” [Hệ thống hai đường ray và cải cách giá cả], trong 中国经济50人看三十年, ed. Wu Jinglian, 582–99.
- “国务院关于进一步扩大国营工业企业自主权的暂行规定” [Quy định tạm thời của Quốc vụ viện về việc mở rộng thêm quyền tự chủ của các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước], 广东省人民政府 [Chính quyền Nhân dân Quảng Đông], August 21, 1984, http://www.gd.gov.cn/zwgk/gongbao/1984/10/content/post3354361.html.
- Lau et al., “Reform Without Losers,” 120–43; Gang Fan, “Incremental Changes and Dual-Track Transition: Understanding the Case of China,” Economic Policy 9, no. 19 (1994): 100–22.
- Jinglian Wu and Zhao Renwei, “The Dual Pricing System in China’s Industry,” Journal of Comparative Economics 11, no. 3 (1987): 309–18; Anthony Koo and Norman Obst, “Dual-Track and Mandatory Quota in China’s Price Reform,” Comparative Economic Studies, no. 37 (1995): 1–17.
- Leong Liew, “Rent-Seeking and the Two-Track Price System in China,” Public Choice 77, no. 2 (1993): 359–75; Wu and Zhao, “The Dual Pricing System.”
- Naughton, Growing Out of the Plan, 220–27.
- ZGTJNJ 1990, 34, 250, 49, 250, 42, 414.
- ZGTJNJ 1990, 641, 653.
- Zhao Ziyang, 改革历程, 124.
- Nicholas Lardy, The State Strikes Back: The End of Economic Reform in China? (Washington, DC: Peterson Institute for International Economics, 2019).
*giống sự tự phát của nông dân Việt Nam trong những năm 1960, tự cứu mình đầu tiên tại Vĩnh Phúc mà bí thư Kim Ngọc làm ngơ cho nông dân tự ý làm và đã bị kỷ luật, rồi đến Chỉ thị 100CT-TW (1981) mở đường cho sự chính thức công nhận trong Nghị quyết 10-NQ-TW (1988). Cuối các năm 1970 và các năm 1980 quan hệ Trung Việt căng thẳng và không có việc học hỏi lẫn nhau về lĩnh vực này! Nhưng tiến trình tự phá rào của nông dân là rất giống nhau: dân tự cải cách để cứu mình chứ không phải ĐCSTQ hay ĐCSVN! (chú thích của NQA).