Nguyễn Phượng
Nguyễn Đình Thi là một khuôn mặt quan trọng của nền văn học Việt Nam hiện/đương đại. Cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền lịch sử văn học đất nước, từ những cuộc tranh đấu giành chủ quyền, đến hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.
Nguyễn Đình Thi hiển nhiên được coi là một nghệ sĩ tài hoa và tài năng qua nhiều bộ môn sáng tác: nhạc, thơ, tùy bút, bút ký, lý luận, truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch. Ðồng thời ông cũng đảm nhiệm nhiều trọng trách văn nghệ: Ủy viên chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam từ 1948, Tổng Thư ký Hội Văn Nghệ từ 1956 rồi Hội Nhà văn hơn ba mươi năm (1958-1989), làm Chủ tịch Ủy ban Liên hiệp các hội Văn học, Nghệ thuật Việt Nam.
Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh niên Cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa Cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc dân Ðại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I.
Nguyễn Đình Thi là Thủ khoa thi Tú tài toàn Đông dương năm 1941.
Từ 1942, khi còn rất trẻ ông đã viết hàng loạt sách triết học. Có thể liệt kê: Triết học nhập môn, Siêu hình học, Triết học Aristote, Descartes, Kant, Nietzsche, Darwin, Einstein …
Đó có thể là lý do, trong tư duy thơ Nguyễn Đình Thi có những “nề nếp và nền nét riêng” khiến ông như tách hẳn thành tiểu phái và độc hành.
Thời kỳ sau độc lập và đầu kháng chiến ông sáng tác nhạc, nổi tiếng nhất là bài Diệt Phát xít, Người Hà Nội, về mặt trận Hà Nội đầu 1947. Thời chống Pháp, ông tham dự hầu hết các chiến dịch lớn, Tây Bắc 1948, Biên giới 1949, Trung du 1951, Hòa Bình 1952. Ở mặt trận Ðiện Biên 1954, ông làm chính trị viên phó Tiểu đoàn, đánh lên đồi A1, sau đó làm công tác tù binh.
Có thể thấy cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Đình Thi cháy sáng trên nhiều lĩnh vực và thể loại sáng tác. Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất của Nguyễn Đình Thi vẫn là thơ với vai trò người đi tiên phong cho một loại hình thơ hiện đại thoát khỏi từ trường của thơ mới mà ngày nay nhiều người đã định danh là thơ tự do không vần.
I. Bối cảnh xuất hiện thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi
Dù thế nào, cách mạng tháng 8/1945 trên thực tế đã chấm dứt phong trào Thơ Mới và tạo điều kiện cho một cách tân trong thi ca.
Một phong trào cách tân trong thi ca đương nhiên cần một sự thay đổi lớn từ gốc rễ về thời đại, xã hội và môi trường nghệ thuật cùng sự tiếp sức của các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ.
Nguyễn Đình Thi dù khoảng cách tuổi tác không lớn với các thi sĩ thơ Mới như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… nhưng dường như ông không dính líu gì với cuộc cách mạng trong thi ca trước 1945 có tên thơ Mới và ông cùng với thế hệ mình có đủ những điều thuận lợi cũng như thử thách để tiến hành một cuộc chạy tiếp sức trong thi ca Việt Nam khởi hành từ thơ Mới.
Chính Nguyễn Đình Thi cũng đã nói lên điều đó: “Nhịp sống chúng ta, từ sau cách mạng, đập lên nhiều phen dữ dội đến bàng hoàng, đồng thời mở rộng ra ào ạt. Chúng ta không còn sống khoan thai như một thời nào trước. Nhịp điệu cũ, theo tôi, không còn đủ cho thơ của chúng ta. Nhiều nhà thơ đang đập vỡ để xây dựng, thơ tìm tòi trăm nghìn phía nhưng lúc nào cũng là một sức đang lên như thổi”.
Thực tế kháng chiến, những cảm hứng của một thời đại mới, tư thế phát ngôn nghệ thuật mới đã khiến Nguyễn Đình Thi nỗ lực viết mới và viết khác.
Sự xuất hiện của những bài thơ không vần như Không nói, Sáng mát trong như sáng năm xưa, Đường núi, Đêm mít-tinh…của Nguyễn Đình Thi, bên cạnh Nhớ máu của Trần Mai Ninh, Ðèo Cả của Hữu Loan, Ngoại ô Mùa đông 46 của Văn Cao… có thể xem như một dấu hiệu khá đặc biệt của một sự lên đường mới của thơ Việt.
Tuy nhiên, thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi cũng gần như ngay lập tức bị cản trở được đánh dấu bằng Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (từ 25 đến 28 tháng 9 năm 1949) trong đó có cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi, với sự lên tiếng khá sôi nổi và gay gắt của nhiều tên tuổi lớn của phong trào thơ Mới như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, cùng đương kim lãnh đạo văn nghệ kháng chiến: Tố Hữu. Tư liệu về cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi hiện còn lại là bài tường thuật đăng trên tạp chí Văn nghệ số kép 17-18, cũng gọi là số tranh luận (tháng 11&12/1949). Một buổi chiều tranh luận (thời gian dành cho tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi: chiều 28/9/1949) được đăng tải trên 14 trang tạp chí (khoảng 5 ngàn chữ) cho thấy tường thuật khá kỹ lưỡng.
II. Những đề xuất mỹ học và thi pháp mới qua thơ tự do không vần
Trước khi nói về những đóng góp về mỹ học và thi pháp của thơ tự do không vần xin nói vắn tắt những điểm quan trọng về mỹ học và thi pháp của thơ luật vần. Như đã biết, các yếu tố cơ bản tác động sâu sắc vào thể loại cụ thể với thơ bao gồm: một là cái Tôi, hai là cấu trúc, ba là thi ảnh, bốn là nhịp điệu, nhạc điệu và cú pháp và năm là ngôn ngữ. Theo đó, trong thơ truyền thống và thơ theo luật Đường thi cái Tôi thường bị phi ngã hóa, nó tuân thủ luật ”thuật nhi bất tác” hạn chế sáng tạo cá nhân do đó, thơ truyền thống ít để lại các dấu ấn cá tính. Cũng vậy, cấu trúc thơ truyền thống đặc biệt là thơ luật Đường do sự khống chế của luật thơ nghiêm ngặt thường theo mô hình song hành, đối ngẫu. Các yếu tố còn lại như thi ảnh thường mang tính ước lệ, tượng trưng, nhịp điệu thường cổ kính, mang tính ấn định, ngôn ngữ thường trang nhã, hoa lệ.
Với các đặc điểm trên, thơ truyền thống, thơ theo luật Đường và kể cả thơ Mới giai đoạn đầu thường mang tính khả đoán, khiến nó tự hạn chế thi tính của chính nó. Chẳng phải ngẫu nhiên, Lê Đạt lại nhận xét: “Trong một bài thơ cổ điển, nghĩa thường đến đúng hẹn, trong một bài thơ hiện đại nghĩa thường đến trễ giờ”.
Như đã nói, thơ có vần khi bước vào nhịp sống hiện đại mà cụ thể ở đây là đời sống kháng chiến ở Việt Bắc bộc lộ những hạn chế của nó. Chính Nguyễn Đình Thi trong khi bị phê phán vì làm thơ tự do không vần đã nhận xét rất chính xác về thơ truyền thống theo luật vần.
Ông nói:
“Có vần là một lợi khí rất đắc lực cho sự truyền cảm. Nhưng không phải hết vần là hết thơ… Những bài thơ cũ, cùng một nhịp đều đều, tôi không chịu được”.
Đây là lý do chính khiến Nguyễn Đình Thi quyết định viết thơ theo cách thức mới.
II.1 Cái Tôi (le moi) trong thơ tự do không vần
Một hình thức thơ mới trước hết cần có một cái Tôi mới.
Cuộc kháng chiến gian khổ, cam go không ngăn cản thế hệ Nguyễn Đình Thi đề xuất một thế cách nhìn cuộc đời không theo những kinh nghiệm cũ. Với tinh thần phóng túng của những người sở hữu tự do, các nhà thơ sau 1945 muốn giải thể các lối viết trước đó bằng việc tạo ra những hình ảnh độc đáo, đôi khi khá xa lạ với hiện thực, sắp đặt những thực thể dường như không có bất cứ một mối liên hệ nào cạnh nhau tạo nên tính phi lí cao độ gây ngạc nhiên đối với công chúng. Tuy vậy, nếu đọc một cách chủ động và cởi mở cũng như suy ngẫm kĩ người ta sẽ thấy tính phi lí lui dần, nhường chỗ cho những gì có thể chấp nhận được. Và thực ra, những hành động sáng tạo có vẻ “ngược đời” ấy, suy cho cùng lại chứa đựng một nỗ lực đáng trọng bởi họ muốn phản ánh thực tại ở chiều sâu. Nghệ thuật mới chứa đựng niềm mong mỏi của con người hiện đại, khao khát được thâm nhập sâu vào nội giới của vật thể, do đó, nó tích cực khai thác các tiềm năng của vật liệu nhằm đề xuất một hướng tiếp cận mới, hữu hiệu hơn. Nhờ chủ trương này, chủ nghĩa siêu thực đã thúc đẩy những tiến bộ khá đáng kể trong văn học nói chung và cho thơ nói riêng.
Riêng đối với thơ, có thể thấy, thơ hiện đại dòng tự do không vần tạo nên sự khác biệt với thơ cổ điển và lãng mạn ở việc thể hiện vai trò của “cái tôi”. Trong quan niệm thông thường, cái tôi (le moi) vẫn được coi như là yếu tố trung tâm, khơi nguồn sáng tạo. Nhưng đối với các nhà thơ tự do không vần, vị trí của “cái tôi” đã không còn như trước nữa: nó đã mất địa vị độc tôn, bị lu mờ và bội phân, thậm chí lũy thừa để trở thành cái tôi đa ngã (le moi multiple). Không dừng lại ở đó, kẻ sáng tạo trong thơ tự do không vần còn muốn đi xa hơn, coi cứu cánh của động tác thi ca nằm ở sự biểu lộ, phát giác cái tôi chưa biết (le moi inconnu).
Tóm lại, thi ca hiện đại, đặt lại vấn đề cái tôi, xây dựng một cái tôi mới với cấu trúc đa bội như có người đã gọi bằng thuật ngữ đa ngã (le moi multiple) và cả nỗ lực tìm kiếm và khám phá một cái tôi chưa biết (le moi inconnu) với khát vọng tạo lập mối quan hệ tương giao giữa con người nhất thời với con người muôn thuở nhằm kiếm tìm những kinh nghiệm mới trong quan sát và cảm nhận để diễn đạt những điều không thể hay rất khó diễn đạt của thế giới hiện đại.
Ở trường hợp Nguyễn Đình Thi, đó là cái tôi dấn thân phát huy năng lực trải nghiệm trực tiếp, mở rộng năng lực cảm giác để hướng tới diễn đạt một thời đại mới như nó là.
II.2 Cấu trúc thơ tự do không vần
Về cấu trúc, theo nhìn nhận của nhiều nhà nghiên cứu, thơ tự do không vần rời bỏ hình thức thẳng (forme linéaire) chuyển sang hình thức nổi (typographique), hay hình thức âm thanh, đi vào cấu trúc không gian, không vần (non vers), đảo lộn ngữ pháp cổ điển: cắt chữ, phân câu theo một trật tự mới, sáng lập ra ngôn ngữ cách tân, dựa trên ngữ căn học. Phong cách này bắt nguồn từ quan niệm thẩm mỹ và triết lý gián đoạn, đối lập với quan niệm thẩm mỹ đối ngẫu, song song hay tuyến tính, liên tục hiện diện trong thơ truyền thống và cả thơ Mới trước đó.
Với Nguyễn Đình Thi ông nói giản dị:
“Tôi mong đi tới những câu thơ như lời nói thường mà đạt tới độ cảm xúc mãnh liệt, nếu cần nói hơi dài, dùng những câu dài. Nếu hơi ngắn, nói ngắn. Những hình ảnh thơ mới bây giờ tôi tưởng nó cần phải khoẻ, gần gụi, xù xì, chất phác, chung đúc tự nhiên”.
Đây chính là quan niệm niệm sáng tạo gần với bản chất đích thực của thơ. Nó là một mong mỏi mỗi hành ngôn thơ thật sát với một hành ngôn đời thường nhưng phải mang trong nó một cảm xúc thật mãnh liệt.
Chiều nhạt nhạt về nơi nào xa lắm
Ngây ngất sương mây
Lối mòn không dấu chân
Gió nổi
Ta nghe ta hát một mình
Ôi cánh đồng
Chiều nay rung rinh lúa ngả
Giải lụa đào bay múa
Tiếng hát ai lênh đênh
Bờ tre xôn xao ánh lửa
Bếp hồng trang giấy trắng khuya
Mịt mùng súng vẳng
Một mảnh trăng
dốc ngả chập chùng
Bước chân bóng động nghiêng bờ núi
II.3 Thi ảnh thơ tự do không vần
Trong tiểu luận Mấy ý nghĩ về thơ, Nguyễn Đình Thi quan niệm:
“Hình ảnh của thơ trái lại, phải là hình ảnh thực nẩy lên trong tâm hồn khi ta sống trong một cảnh huống hay trạng thái nào đấy. Đụng chạm với hành động hằng ngày, tâm hồn tự nẩy lên bao nhiêu hình ảnh như những tia lửa tóe lên khi búa đập vào sắt trên đe. Người làm thơ lượm những tia lửa ấy, kết nên một bó sáng”.
Quan niệm đó được ông thể hiện đầy đủ và đặc sắc trong thơ viết giai đoạn đầu kháng chiến.
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em
Gió thổi mùa thu vào Hà Nội
Phố dài xao xác heo may
Nắng soi ngõ vắng
Thềm cũ lối ra đi
Lá rụng đầy
(Sáng mát trong như sáng năm xưa)
Hà Nội nát người trong gai sắt
Máu chảy hồng tươi bất khuất
(Hà Nội đêm nay)
Ôi nắng dội chan hòa
nao nao trời biếc
Nắng nhuộm hương đồng ruộng, hương rừng chiến khu
Tháp rùa lim dim nhìn nắng
(Sáng mát trong như sáng năm xưa)
Chính Nguyễn Đình Thi nói rõ: “Những hình ảnh tươi nguyên mà nhà thơ tìm thấy, bao giờ cũng mới mẻ, đột ngột lạ lùng. Vì nhà thơ nhìn bằng con mắt của người đầu tiên. Đó là những hình ảnh mới tinh, chưa có vết nhòa của thói quen, không bị dập khuôn vào những ý niệm trừu tượng định trước. Mượn câu nói của một nhà văn Pháp, nhà thơ bao giờ cũng là ngôi thứ nhất. Nhưng những hình ảnh mới lạ ấy đều ở trong đời thực, chúng ta đều thấy, hình ảnh của thơ vừa làm ta ngạc nhiên, vừa đã quen với chúng ta tự bao giờ. Câu thơ đột ngột làm cho ta nhận thấy những cái gần gụi nhất với chúng ta. Trước kia, ta vẫn gặp mà không biết nhìn”.
Đúng vậy.
II.4 Nhịp điệu thơ tự do không vần
Ezra Pound cho rằng nhịp điệu cần nương theo chuỗi nhạc tiết (sequence of the musical phrase), không phải những âm tiết, thể hiện cảm xúc và trí tuệ phức tạp trong khoảnh khắc[1], tuy nhiên, T.E. Hulme lại khẳng định thơ gần với điêu khắc hơn âm nhạc, thị giác hơn thính giác, tức không cho âm thanh là yếu tố căn bản của thơ[2].
Những trao đổi trên trong thơ phương Tây diễn ra khoảng giữa thế kỷ XX và, trong hoàn cảnh kháng chiến, chắc khó mà đến được với Nguyễn Đình Thi. Tuy nhiên, những nỗ lực cách tân thơ của ông thì rất gần với những nỗ lực trong thơ phương Tây thế kỷ XX.
Đỗ Lai Thúy khi nói về nhịp điệu trong thơ Nguyễn Đình Thi cũng nhấn mạnh một đóng góp mới mẻ của riêng ông: nhịp điệu của hình ảnh. Nhịp điệu của hình ảnh, theo Nguyễn Đình Thi, không phải là nhịp điệu sinh học (hơi thở ngắn dài), cũng không phải là vần điệu (lên bổng xuống trầm), cũng không phải là nhịp điệu cú pháp, mà là thứ nhịp điệu chỉ nghe được bằng mắt. “Đó là nhịp điệu hình ảnh của những cảm xúc, hình ảnh, liên tiếp hòa hợp, mà những tiếng và chữ gọi ra những ngân vang dài, ngay giữa khoảng lung linh giữa chữ, những khoảng im lặng cũng là nơi trú ngụ kín đáo của sự xúc động”.
Hãy đọc:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em
Gió thổi mùa thu vào Hà Nội
Phố dài xao xác heo may
Nắng soi ngõ vắng
Thềm cũ lối ra đi
Lá rụng đầy
Ôi nắng dội chan hoà
Nao nao trời biếc
Gió đượm hương đồng rộng
Hương rừng chiến khu
Tháp Rùa lim dim nhìn nắng
Những cánh chim non
Trông vời nghìn nẻo
Mây trắng nổi tơi bời
Mấy đứa giết người
Hung hăng một buổi
Tháng Tám về rồi đây
Hôm nay nghìn năm gió thổi
Trời muôn xưa
Đàn con hè phố
Môi hớn hở
Ngày hẹn đến rồi
Các anh ngậm cười bãi núi ven sông
Hà Nội
Ơi núi rừng.
Cũng có thể nói, về phương diện nhịp điệu, thơ tự do không vần chủ trương tạo nhịp điệu mới với lý do nhằm diễn đạt trạng thái mới của thời đại. Dĩ nhiên nó từ chối sao chép lại nhịp điệu cũ vì cho rằng đó chỉ là lặp lại những âm vang của trạng thái cũ và, nhịp điệu mới còn có nghĩa là chuyên chở được những ý tưởng mới.
II.5 Ngôn ngữ thơ tự do không vần
Trong thơ tự do không vần, ngôn ngữ được nới lỏng do các nguyên tắc vần cuối dòng bị phá bỏ, các nguyên tắc tạo nhịp và nhấn theo luật dường như cũng bị giải thể. Thơ viết theo điệu ngâm truyền thống cũng từ đó mà nhường chỗ cho thơ điệu nói.
Ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Thi quả thật rất giản dị, ngôn từ được cất lên tự nhiên và hồn nhiên. Có thể thấy ông dường như chỉ dùng những từ thuần Việt. Hành ngôn thơ của Nguyễn Đình Thi gần một hành ngôn đời thường. Về đặc điểm này, Đỗ Lai Thúy đã nhận xét chính xác: “Tính chất trực tiếp này do nhà thơ hoàn toàn dựa vào thực tại, không tìm kiếm thi liệu ở sách vở. Nó ứ đầy chất sống, nó là sự sống, là cuộc đời”.
III. Những ảnh hưởng của thơ tự do không vần với các thế hệ tiếp nối
Cũng chính ở đặc điểm đã nói ở II.5, thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi dễ lan tỏa và tạo sức ảnh hưởng lớn đối với các văn nghệ sỹ miền núi trong các thế hệ tiếp nối do chỗ, các thế hệ văn nghệ sỹ ở các miền đất này trong quá trình sáng tạo của mình không có xu hướng xích gần tới các khuynh hướng nặng tính hàn lâm, kinh điển hoặc sính các mã nghệ thuật thời thượng và tân kỳ.
Có thể thấy điều đó qua một số gương mặt thơ xuất hiện từ sau 1975 ở Tuyên Quang qua các hình thức lập tứ phóng khoáng, tìm kiếm những hình ảnh chân mộc, nỗ lực kiến tạo những hành ngôn thơ gần với những hành ngôn ngày thường rời xa những ràng buộc về vần, luật.
Chẳng hạn với Gia Dũng:
Đêm nay ta đi, Trường Sơn lộng gió
Trời vắng trăng sao nhưng trong tim rực lửa
– Đi ta làm ngọn sóng giữa trùng dương
Quật xuống đầu thù bằng sức mạnh Trường Sơn!
Ở Mai Liễu với Ta mãi còn đi, còn đến Tân Trào:
Tôi muốn hôn lên tảng đá cạnh lều
Từ vô tri đã hoá thành huyền thoại
Ngấm vào thớ đá, chân rêu:
Đây chỗ Bác ngồi viết lời kêu gọi
Toàn dân đứng dậy cướp chính quyền.
Nơi Bác đọc công văn và tiếp các nhà cách mạng
Nơi nhận nắm xôi, gói thuốc của đồng bào
Nơi Người tựa lưng khi vừa lui cơn sốt
Cây rừng tròn bóng ô xanh…
Ở Nguyễn Đức Hạnh với Bài ca xứ sở:
Không phải nắng cuối mùa sao đã nhạt
Tuyên Quang lặng lẽ một miền đồi
Em mười tám tóc buông ngày trễ nải
Ta về thanh thản chút buồn riêng…
Ở Tạ Bá Hương:
Tôi như hạt thóc mẹ gieo ngoài đồng
Cứ hồn nhiên cứ âm thầm
Tự thân tách vỏ đội mầm lớn lên.
Và khá đặc biệt ở Đoàn Thị Ký
Một nền trời
Độ bút
Một trái tim
Trái tim đập ngoài chuẩn mức
[…]
Cung hồng thắm
Nảy nòi
Trả trắng
Một ngày chơi.
(Độ giấy)
THƯ MỤC THAM KHẢO
1. Đặng Tiến: Nguyễn Đình Thi và tiếng chim từ quy. Tạp chí Sông Hương, số 172 (tháng 6), 2003.
2. Đỗ Lai Thúy: Nguyễn Đình Thi – cánh én bay qua mùa xuân. Tạp chí Sông Hương, số 172 (tháng 6), 2003. Tạp chí Sông Hương số ra ngày 22/5/2009.
3. Hoài Anh: Nguyễn Đình Thi – Vai trò nhà văn tiên phong trong văn học cách mạng. 2010. https://trieuxuan.vn/nguyen-dinh-thi-nha-van-di-tien-phong-trong-van-hoc-cach-mang
4. Hulme, T. E. A Lecture on Modern Poetry, 1908. In lại trong Michael Roberts: T. E. Hulme. London: Faber and Faber, 1938.
5. Lê Đạt: Thơ Lê Đạt (1929 – 2008). https://tienphong.vn/tho-le-dat-1929-2008-post120815.tpo
6. Pound, Ezra. A Retrospect. Trong Pavannes and Divisions. New York : Knopf, 1918. In lại trong Literary Essays of Ezra Pound, T. S. Eliot ed., New Directions Publishing, 1968.
7. Nguyễn Đình Thi: Mấy ý nghĩ về thơ. Viết từ năm 1949, đăng lại trên Tạp chí Tác Phẩm Mới, số đặc biệt về thơ, số 3-1992.
PHỤ LỤC:
Các bài thơ không vần của Nguyễn Đình Thi viết ở Việt Bắc thời kỳ đầu kháng chiến
Không nói
Dừng chân trong mưa bay
Ướt đầm mái tóc
Em em nhìn đi đâu
Môi em đôi mắt
Còn ốm đây (*)
Nhìn em nữa
Phút giây
Chiều mờ gió hút
Bắt tay
Đồng chí
Em
Bóng nhỏ
Đường lầy
Sáng mát trong như sáng năm xưa…
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em
Gió thổi mùa thu vào Hà Nội
Phố dài xao xác heo may
Nắng soi ngõ vắng
Thềm cũ lối ra đi
Lá rụng đầy
Ôi nắng dội chan hoà
Nao nao trời biếc
Gió đượm hương đồng rộng
Hương rừng chiến khu
Tháp Rùa lim dim nhìn nắng
Những cánh chim non
Trông vời nghìn nẻo
Mây trắng nổi tơi bời
Mấy đứa giết người
Hung hăng một buổi
Tháng Tám về rồi đây
Hôm nay nghìn năm gió thổi
Trời muôn xưa
Đàn con hè phố
Môi hớn hở
Ngày hẹn đến rồi
Các anh ngậm cười bãi núi ven sông
Hà Nội
Ơi núi rừng
Đường núi
Chiều nhạt nhạt về nơi nào xa lắm
Ngây ngất sương mây
Lối mòn không dấu chân
Gió nổi
Ta nghe ta hát một mình
Ôi cánh đồng
Chiều nay rung rinh lúa ngả
Giải lụa đào bay múa
Tiếng hát ai lênh đênh
Bờ tre xôn xao ánh lửa
Bếp hồng trang giấy trắng khuya
Mịt mùng súng vẳng
Một mảnh trăng
dốc ngả chập chùng
Bước chân bóng động nghiêng bờ núi
Đêm mít-tinh
Muôn ngàn đêm hẹn nhau họp đêm nay
Yên lặng nép ngồi
Tia vàng vút bay
Tung lên hoa lửa
Lên lên mãi
Một vầng sao ngời muôn vầng sao
Bụi ngọc ngập trời
Rơi rơi trên đầu trên cổ
Trên ngón tay
Triệu triệu sao
Rừng Việt Bắc
Trời sao đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những xóm đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
Ngàn sao phơi phới đang bay
Dạt dào mắt không thấy nữa
Dưới kia Hà Nội nhìn lên
Phố phường nín thở
Những lề đường mòn cũ
Lành lạnh mưa phùn
Hà Nội
Một mình buồn xé ruột
Ngày ngày thức dậy
Quay mặt đi đâu ngày hôm nay
Gió mùa đông trong lá chưa đi
Còn đến bao giờ bao giờ
Đêm nay trời sao trắng bạch
Cháy trùm đất nước
Đêm loè sáng
Đi lên đi lên
Ta lớn ta khoẻ
Súng ta rợp đồng
Ngàn sao chào múa
Trời nắng bỏng
Bao nhiêu tường chói loá
Những lùm cây cháy cả lên
Rừng Phan Lương dữ dội reo hò
Đỏ đỏ trôi đường phố
Hà Nội phố hè ngực đập thình thình
Tiếng hát reo cười cuốn trào nước mắt
Sao ơi núi rừng ơi nức nở.
[1] “As regarding rhythm: to compose in the sequence of the musical phrase, not in sequence of a metronome.” (Về nhịp điệu: hãy sáng tác theo chuỗi nhạc tiết, chứ không phải theo chuỗi âm của một máy gõ nhịp.). Literary Essays of Ezra Pound, tr. 5.
[2] “This new verse resembles sculpture rather than music; it appeals to the eye rather than to the ear. It has to mould images, a kind of spiritual clay, into definite shapes.” (Câu thơ mới này giống như tác phẩm điêu khắc hơn là âm nhạc; nó hướng đến thị giác hơn là thính giác. Nó phải nhào nặn những hình ảnh, một loại đất sét tinh thần, thành những hình dạng nhất định.). In lại trong A Lecture on Modern Poetry, tr. 269-270.