Truyện ngắn của Đa Mi
đâu thể đi xa hơn điều tôi muốn
con đường chỉ tới dưới chân ngọn đồi
nàng ở trên đó
tóc đã thành mây
_________________________
Ở một góc chợ Thành, giờ đây chiếc xe bán mì ramen đã tróc từng mảng, cổ lỗ và buồn bã. Nếu có đi ngang đó, thấy nó, hãy nhìn nó và nghe tôi. Đó là chỗ mà anh Lương đã sống. Sống thiệt vui và cũng thiệt buồn, những năm tháng còn lại. Thỉnh thoảng tôi ghé, anh hỏi mày làm một tô chớ? Dĩ nhiên. Tôi không phải là đứa ham ăn và biết ăn. Nhưng ramen của anh Lương là một gì đó rất khác. Nó đựng trong nó những bí ẩn không thể bày tỏ. Nếu đã ăn nhiều loại mì sợi, từ mì Tàu, bún Huế, phở Bắc, hủ tiếu Miên… bạn sẽ thấy cái tô nước nâu nâu, một nửa cái trứng lòng đào, mấy miếng rong biển vuông vức, một khoanh thịt heo đó là cả một rừng hương và vị không chồng lấn lên bất kỳ món mì sợi nào vừa kể.
Anh Lương thích nhìn tôi ăn!
Nếu vắng khách, anh sẽ gõ một ngón tay lên quầy, dõi theo cái chuyện ăn của tôi, không bỏ sót. Một cuộc dò tìm sự hoàn hảo của món ăn. Dù giả bộ tập trung hết mức vào tô mì, đầy say mê, nhưng tôi biết hết. Đó là niềm vui tột cùng của ông chủ chiếc xe mì này. Mà tôi, dĩ nhiên chỉ được anh đãi một tô mì khi vắng khách. Khi đó, vài câu chuyện cũ, kiểu độc thoại cho chính anh nhiều hơn là đối thoại với tôi. Tỷ như “Mẹ bà nó chớ, nấu cái tô mì này, mới hiểu: càng ít thứ phải che giấu, càng đòi hỏi tỷ tỷ công phu!”.
Phải mà. Tôi vừa húp giọt nước cuối cùng trong tô mì, vừa quẹt mỏ vừa trả lời anh. Rồi tôi sẽ ngẩng mặt nhìn vào mắt anh Lương, chốt hạ một chữ: Đã! Anh Lương sẽ sung sướng, với một câu trả lời cũng chỉ nhiều hơn một chữ: Đương nhiên!
Trong các anh chị con bác Duyệt của tôi, anh Lương là một khác biệt, từ ngoại hình, tính cách, hành vi, cử chỉ. Anh không có điểm gì chung hết. Chị Phấn lớn nhất, là một nhà khoa học hạt nhân và chơi piano. Chị Phấn xuất ngoại từ sớm. Đức, Mỹ, Nhật… đủ hết. Sau rốt, chị định cư ở Pháp, và dường như không có ý định về Việt Nam, dù chỉ là một chuyến du lịch. Anh Phan là họa sĩ. Một họa sĩ sắp đặt gì đó, đa phần các triển lãm và xưởng vẽ của anh cũng ở nước ngoài. Tôi không biết anh đang có quốc tịch ở đâu. Nhưng Việt Nam thì chắc chắn không phải. Cũng rất ít ỏi cho mỗi chuyến về.
Chị Lam, con út, là người tôi gần gũi nhất vì có những kỷ niệm vừa diệu kỳ vừa hôn ám cùng nhau. Chị chơi đàn Hạc, loại nhạc cụ không mấy phổ biến ở xứ nhiệt đới gió mùa này. Nên dĩ nhiên cũng vậy, chị xuất ngoại, lấy chồng mắt xanh tóc vàng, và cũng chỉ thỉnh thoảng mới về nước, như một cơn gió. Cái cơn gió mang mang phảng phất nụ hôn đầu đời của tôi!
Anh Lương không có gì hết. Thứ công việc anh giỏi nhất là ăn và nấu ăn. Nghệ thuật anh có là nghệ thuật ẩm thực. Một thứ ám ảnh, da diết, tối thượng. Một năm xưa khi ghé lên cao nguyên thăm anh, anh hỏi mày đói không, tao không có gì để đãi cả. Tôi nói không sao, tôi biết, nên có mang theo mấy gói mì và mấy cây xúc xích Vissan. Mắt anh sáng lên: Đưa đây, rồi đi tắm đi.
Tôi ra sau dội nước ào ào. Bụi đường rũ hết xong là đã thấy một dĩa mì cuộn trứng đẹp không thể tả. Một chai rượu sóng sánh nâu và bộ ly pha lê sang cả. Rượu? Ừ, tau chiết xuất từ trái điều. Hơi gắt. Nhưng ngon!
Nghèo cháy túi, anh Lương vẫn nghiêm ngặt giữ tinh thần tối thượng của chuyện ẩm thực. Một thứ tính cách cổ quái và trật nhịp khá nhiều với bản đồ gene anh mang từ bác Duyệt. Hay có thể anh không thuộc về bộ gene đó?
Anh Lương cũng xuất ngoại. Thật ra chỉ là đi làm mướn, với cái danh xưng mỹ miều xuất khẩu lao động. Anh qua Nhật, chắc là để cho gần nhà, cho có cảm giác Á Đông, hay vì ở đó chuyện ăn uống nó cũng là tối thượng như anh? Không biết. Đại khái anh Lương chỉ loanh quanh ở đó rồi về. Rồi lại đi qua đó. Rồi về. Dăm bận. Không hết mười năm trước khi về hẳn. Anh bỏ lên cao nguyên. Rồi lại quay về với cái xe mì ramen khi bác Duyệt chết!
Nhưng với riêng tôi, anh Lương lại là người đi xa nhất, đi tới nhất trong các anh chị con bác Duyệt!
Anh Lương có vợ Nhật. Đó là anh nói, hoặc là thứ tôi nhặt được đâu đó trong từng câu chuyện chắp vá. Kaori là tên của cô gái Nhật đó. Tôi không có ảnh của Kaori. Cũng chưa từng thấy một mảnh hôn thú, khế ước gì về cuộc hôn nhân này. Kaori là người giúp anh Lương đứng bếp ở Nhật. Có lẽ món ramen đặc biệt của anh nhiều phần là từ Kaori mà ra!
“Tao thích kêu ả là Minori. Là mùa. Là gặt. Nhưng ả không chịu. Ả nói ả là mùi! Kaori. Cũng được. Tao không chắc đó là tình yêu. Hay đó là tình yêu kiểu Nhựt Bổn? Không biết được. Ả thương nhiều hơn là yêu. Chẳng có một cuồng nhiệt nào ở đó hết. Chầm chậm. Thong thả. Nhưng tận hưởng!”.
Này là một phần trong những lắt nhắt anh Lương nói khi đã lơ mơ say! Ồ, Kaori mắt một mí, chắc vậy. Mặc kimono quỳ gối dâng rượu cho anh Lương. Chắc vậy. Dăm thứ tưởng tượng chỉ để tôi cố định hình một đoạn đường anh Lương đã qua!
***
Ba tôi chỉ là họ hàng xa nhưng bác Duyệt lại cho nhiều tình cảm. Ông ít chữ. Giỏi làm, kém suy nghĩ. Có lẽ vậy nên hợp với tinh thần của bác, một người làm khoa học không giỏi giao tiếp. Tôi sinh ra trong cái sinh cảnh đó. Một biệt thự vườn kiểu tứ hợp viện. Má tôi nấu bếp. Ba tôi làm vườn, coi nhà, chở hàng… một kiểu quản gia. Chả hiểu sao rồi má tôi bỏ đi. Tôi lớn lên với gia đình bác Duyệt như vậy. Hình như không có sự phân biệt nào. Chỉ là tự tôi khoanh cho mình một biên giới, không chạm vô những nơi, những thứ thuộc về cái khối gene nhà bác. Nhưng anh Lương thì khác. Suồng sã, gần gũi, gắn kết. Tôi hút điếu thuốc đầu tiên, uống ly rượu đầu tiên, va chạm nhục thể trọn vẹn đầu tiên đều từ anh Lương mà ra!
Tôi giống cái bóng mà anh muốn có bên mình hơn là một đứa em, một thằng bạn!
“Mày với con Lam làm gì sau bếp đêm qua?”.
Tôi đang lớn. Chị Lam hơn tôi một tuổi. Đêm qua là một giấc mơ. Quá nhiều mê đắm nhưng cũng đầy bất an. Ồ, cũng chỉ là môi chạm vào môi cháy lửa. Đâu có gì xa hơn. Mà sao lại hôn ám, bất an?
“Dừng lại đi nghe. Nghe tao. Không ổn đâu. Mày đang lớn. Để tao giải bài toán đó cho!”.
Cách giải bài toán của anh Lương là đưa tôi qua một khu đèn đỏ. Nhầy nhụa, thỏa mãn nhưng nhờm gớm. Chỉ một lần rồi thôi. Nhưng chị Lam biết, ném vào tôi một câu rủa: Đồ tồi!
Vậy. Nhưng rồi đêm, đêm, đêm, tôi và chị vẫn lẩn quẩn những cơn mê nửa vời. Khao khát. Lửa cháy. Rình rập. Nơm nớp. Và cứ mãi nửa vời. Cho tới khi chị Lam dọn vô nội trú ở trường chị học. Tôi chơi vơi, bước hụt. Cuối tuần chị về, lạnh băng, dửng dưng như chưa từng có chuyện gì.
Anh Lương cười kha kha, nói: “Tao kể cho con Lam nghe là dẫn mày qua bên khu đèn đỏ đó! Nó hận lắm. Tốt mà”. Tôi chết điếng. Cơn giận tràn lên vô bờ. Nhưng cũng chỉ chửi thề một câu, rồi hết. Tận trong sâu thẳm, anh Lương luôn là một cái gì đó quá gần, gần nhất có thể trong thế giới tôi có. Tôi không thể gỡ anh ra khỏi tôi được. Anh Lương biết, chắc vậy. Và tự tin với cái biết đó, vì có vẻ như anh cũng coi tôi là thứ gì đó gần nhất có thể trong thế giới của anh lúc đó.
Trở lại với anh Lương và xe mì ramen!
Ờ, ả Kaori đó có mùi rong biển, mày biết không?
Tôi biết mùi rong biển. Những miếng vuông giòn màu đen mỏng dính tôi thường mua ở mấy cửa hàng tiện lợi. Nhưng để hiểu một người nữ có mùi như thế, khó quá. Tôi chỉ cố đính chính: Là hương, không phải mùi ông ơi! Nàng thơ thì phải là làn hương, nhé!
Ờ, là hương hay mùi chi cũng được. Đại khái đó là thứ tao nhớ nhất về ả. Mắt mũi môi miệng má mông, tất cả chỉ là ảo giác. Chỉ cái mùi là rất thật. Mà lạ là, khi tao nói với ả về điều đó, ả rất vui!
Nhưng Kaori đâu rồi?
Rất nhiều lần tôi hỏi, thật tâm, thiệt bụng. Ồ, nếu đúng như những gì anh Lương cho tôi biết, thì tôi phải có một bà chị dâu người Nhật chứ. Nhưng tôi cũng luôn biết câu trả lời của anh Lương. Như lần này sẽ là ngón tay chỉ vô nồi nước dùng: Kaori hả? Ở đâu hả? Trong đó đó!
Đêm tôi lên cao nguyên ngủ lại với anh, hai thằng uống tì tì thứ rượu trái cây vẫn còn vị gắt, nhưng tôi nói tôi có nghe mùi nắng trong đó, anh Lương đã rất thành thật: Lẽ ra không nên có mùi nắng mùi mưa chi cả trong một chai rượu. Thứ mùi nên có là mùi của rượu. Nguyên bản!
Hỏi linh tinh về đời, anh Lương đột nhiên phán: Thật ra, tao thích đổi thành mày hơn. Tao thích đi, thích chụp, thích nhìn. Cái nghề chụp ảnh của mày là cách chiết xuất đời sống, cô đặc nó thành một thứ chuyện kể chỉ trong một cú bấm máy. Nhưng tao lại là nô lệ của nồi nước dùng rồi.
Đó là những năm tháng khánh kiệt của tôi và của anh. Tôi không bán được ảnh. Anh Lương vừa mất một nhà hàng. Anh đau. Cơn đau không phải là mớ vốn liếng bay sạch, mà là việc phải nhìn đứa con máu thịt thuộc về kẻ khác. Bỏ phố mà đi là để trốn cơn đau.
Say là đà, tôi nói, dĩ nhiên cái công việc chụp ảnh của tôi là thứ rất hay ho, hay ho hơn nhiều lần cái nồi nước dùng của anh. Anh Lương cáu, chửi: Khi đói, mày lấy ảnh mày ra mà nhai đi ha!
Ồ, quá đúng. Tôi nhìn tôi qua cái phản chiếu mập mờ từ tấm kiếng cửa. Nó là thứ gì đó dặt dẹo, méo mó và lươn lẹo. Rượu nguyên bản đâu cần mùi nắng mùi mưa. Thứ tỏa ra để ngửi được là mùi, đâu cần phải là hương. Cái ảnh làm tôi sướng mười ngày vì một vệt nắng không thể đem ra làm mồi nhậu đêm nay được. Sự cố chấp mỹ miều không làm tôi khác tôi, không làm tôi gỡ anh Lương ra được. Nó chỉ đang dẫn tôi tới một chỗ điệu đàng nào đó, đầy son phấn giả, bự lên, dày lên, dởm đời và ngụy tạo.
Nó quá khác với sự trong trẻo nguyên bản!
Ả nói, anh đừng cố thắng nó? Tao hỏi: Thắng ai? Ả tỉnh rụi: Nồi nước dùng! Nhưng cái câu ả đúc kết lại là thứ tao thương quý vô cùng: “Thứ gì càng bày ra hết thì càng đòi hỏi tỷ tỷ công phu”! Mày đâu thể nói đây là cái nồi nước mì ramen. Nó là những thứ đã chịu biến mất để lại cho mày cái còn mãi trong vòm miệng.
Tao không cố để xúi bẩy loài người này nên thử ramen một lần trong đời. Nhưng thật bất hạnh nếu cho tới ngày xuống lỗ, một con người chưa từng nếm nó. Mày cũng có thể nói, nếu chưa từng nhặt được cơn khoái cảm của một cú bấm máy hoàn hảo, thì đời con người cũng đầy bất hạnh. Mày là thằng chụp. Tao là thằng nấu. Mỗi loại việc là một nguyên bản. Cái may của tao và mày là thấy vui vì thứ mình làm. Đây là cách tao nhìn thấy bất hạnh của ba tao, bác Duyệt của mày. Ông nghiên cứu, viết lách… như một công việc, như một cỗ máy có giờ có giấc, có niên hạn hao mòn. Tao chưa bao giờ đọc được sự khoái cảm nào từ ông với mớ giấy má, công việc đó.
Tôi ôm đầu. Mọi thứ thật rõ. Vấn đề là tôi đâu có được nguồn vui của người nấu mì ramen. Tôi chụp. Và cố hình dung bức ảnh sẽ bán được ở đâu, cho ai, tờ báo nào sẽ mua, nhà sưu tầm nào sẽ muốn có nó. Tôi chưa từng nghĩ niềm vui hay sự mãn nguyện của người mua ảnh. Ồ, xét cho cùng đó không phải là bản vị đích thực của đời sống. Tôi mờ đục nhiều quá mà.
– Anh nên về lại phố?
– Để làm chi? Tao thật sự không muốn ở đây. Nó mù mờ sương giá. Nó lệt bệt ì ạch. Nhưng tao muốn chìm trong đó. Tao nên là một thứ gì đó không quá rõ ràng, sắc nét.
– Nhưng ở đây, ông đâu có nấu mì ramen được? Ông phải về phố. Kiếm một cái xe, một góc chợ Thành. Đó mới là chỗ để ông chiêu tuyết cái đời sống này chứ!
– Chiêu cái con c.! Tao đang đọc một bản cáo phó à? Nhưng mày đúng. Vấn đề là tao hết tiền. Tao không muốn đụng tới cái nhà, cái vườn, cái khoảnh đất ông già tao để lại. À, không phải là di vật hay kỷ niệm gì đâu. Bà Phấn, ông Phan hay con Lam có về thì cũng loanh quanh mấy khách sạn đế vương thôi. Tao không muốn đụng tới, mày biết đó, nó là mồ hôi, là từng sợi thần kinh của ông già tao. Nó là thứ có được không phải từ niềm vui làm việc. Nó là thứ cố mà có. Đụng tới sẽ rất đau, cả tao lẫn ổng.
– Chuyện đó tôi lo. Miễn anh về. Tôi không có nhiều để đòi lại cái nhà hàng cho anh. Nhưng một cái xe, một góc ở chợ Thành, tôi lo được!
– Câu này hay! Vậy tao về!
Tôi lại ôm đầu. Người ta nấu mì ramen bằng niềm vui khi nhìn người khác ăn nó. Tôi chụp ảnh như là cố chứng minh tôi cũng là một điều gì đó đặc biệt. Khác nhau quá!
Tôi đã mang cái máy ảnh quá lâu, như một thứ biện hộ không cần thiết. Có thể tôi đã có những ngày đầu vui vẻ, đầy tự do với nó. Nhưng giờ, nó là cái cần câu cơm, đầy tha hóa. Tôi nhận ra điều đó khi chụp một đám hỏa hoạn cho tòa soạn báo quen. Cái khi mà đang cố chỉnh sáng cho bức ảnh đủ ấn tượng u ám nhất, là lúc tôi nhận ra mình đã nhìn bà già đang ngồi bệt trong đám cháy như một chủ thể của tấm ảnh thay vì là con người. Không có một phản xạ trắc ẩn nào trong cái thằng chụp ảnh là tôi lúc đó.
Bỏ nó đi. Bán nó đi. Có lẽ là cách tốt nhất để tôi còn cứu lấy tôi. Anh Lương đâu cần tôi cứu. Đổi nó lấy cái xe mì ramen, lý do đẹp đẽ chỉ là thứ nên có trong tiểu thuyết. Tôi đang ở đây, với đời, trần trụi đời, hiển hiện đời. Và tôi cần cứu lấy tôi, nếu còn có thể!
Những thứ chạy qua trong óc tôi, anh Lương đâu biết. Anh đã say, lè nhè, đi xiêu vẹo ra khép lại cái cửa, chửi đổng: Đù mẹ mày sương, hé ra là lọt vô à!
Tôi hớp thêm giọt rượu cuối trong ly, cười: Đời người được chút sương giá ghé chơi, là cũng tới một cảnh giới khác rồi cha ơi!
Anh Lương lầm bầm: Lạnh bỏ mẹ! Mày biết không, cuối cùng Kaori cũng bỏ tao mà đi. Ả không chịu được tao, hay ả đã làm xong việc của ả, tao không biết. Ờ, tao khóc mấy trận chớ. Nó đau như ai đó kéo thụt trái tim tao xuống. Lúc đó lạnh lắm. Tao ớn cái sự lạnh vầy từ đó. Nhưng cũng ưng có nó. Điên thiệt chớ!
Tôi ngủ chung với anh Lương trong đêm cao nguyên quá lạnh. Rồi như mớ ngủ, anh dậy bật đèn, lấy ra một cuốn sổ chi chít chữ, cả latin lẫn tượng hình, là các công thức nấu mì. Ở trong đó, có một miếng rong biển đã tơi mủn được ép nhựa trong suốt. Lương đưa cho tôi coi rồi cười khùng khục: Kaori đó, biết không!
Thiệt là lẩn thẩn!
***
Nhưng xe mì ramen không phải cứ có cái xe là xong. Tôi phụ Lương đâu đó một tuần, hai tuần hay ba tuần, chẳng nhớ. Một triệu thứ linh tinh. Phải có nồi. Phải có chỗ treo đèn. Phải có cái quầy vừa đủ hẹp để khách ngồi sát vô cái mùi. Ramen mà khách ngồi xa quá là hư. Nó phải bốc lên ngay trước mặt, đánh vô mũi trước khi chạm vô lưỡi.
Phải có bột cá. Mày biết bột cá không? Mấy ông Nhật gọi đủ thứ tên, tao nghe cũng nhức đầu. Cá bào, cá khô, cá con phơi khô, rong biển, nấm khô… Đại khái là những thứ từng sống dưới nước, từng chết khô, rồi chịu tan ra để làm cho cái nước dùng có chiều sâu. Nhưng bỏ quá tay là tanh. Đời cũng vậy à, đù mẹ. Cái gì sâu quá, không biết tiết chế, là thành tanh.
Rồi sợi mì. Sợi mì không được mềm oặt. Mềm oặt là thua. Nó phải có cái ý chí của nó. Cắn vô phải biết nó còn chống lại mày một chút. Mấy ông Nhật nói, mì ngon là mì được ăn lúc nó còn muốn sống. Tao nghe câu đó, khoái. Mì mà chết trong tô rồi thì có chan nước dùng của Phật cũng bỏ, hiểu không!
Tôi hiểu để làm gì. Tôi chỉ cần ngày khai trương, là thực khách đầu tiên quất một tô ngon điếng hồn và buông một chữ “Đã!” thay cho bó hoa là đủ. Một triệu thứ lẩn thẩn đủ dày vò tôi trong một sự mệt mỏi dài hơi cả hồn lẫn xác. Có lúc đâm bực, tôi gắt: Ông làm như sợi mì có linh hồn!
– Có chớ sao không. Cái gì bị bỏ vô nước sôi mà vẫn giữ được mình, cái đó có linh hồn!
Đêm thứ ba, thứ tư gì đó sau ngày mở bán, có mấy tay Nhật Bản chính hiệu ghé ăn. Tôi ngồi vắt vẻo trên cái lan can bờ kè cách xe mì dăm mét hút thuốc và ngó. Chao ôi, đã tới lúc anh Lương bước ra ánh sáng. Chị Phấn đã bước ra với cây đàn piano. Anh Phan đã bước ra với cuộc triển lãm đấu giá báo chí viết không đủ chữ. Chị Lam cũng bước ra trên sân khấu Nhà hát Lớn với mái tóc dài, cái đầm trắng và cây đàn Hạc. Giờ là anh Lương.
Khi chỉ còn hai thằng ngồi lại, Lương nói: Mai tụi nó sẽ ghé tiếp, mày mang cái máy ảnh qua chụp vài tấm chớ.
Tôi tỉnh rụi: Bán rồi ông!
Ngộ. Tôi như trút đi được một gánh nặng sau câu trả lời đó. Cái gánh nặng chả biết từ đâu tôi buộc phải mang vác. Vai tôi nhẹ. Hồn tôi cũng nhẹ. Có lẽ vì vậy, nên anh Lương dòm tôi rất lâu, rồi chốt: Sao mày đẹp vậy thằng kia. Giờ tao biết vì sao con Lam nó khùng vì mày rồi.
Tự nhiên trong tôi bừng lên cái lửa đốt trên môi. Ồ, Lam. Trò chơi hoa mộng. Nhục cảm đầu đời. Giờ rớt về. Như một tia chớp nhì nhằng giáng lên rồi lặng lẽ biến mất. Nhoi nhói!
Tôi nói: Tôi tìm được một việc mà tôi nghĩ là tôi vui. Mai tôi bắt đầu!
– Nghĩa là mày phải đi?
– Ừ. Quan trọng gì. Ý là tôi không ghé anh một thời gian, ổn chớ?
– Ổn. Đù mẹ. Mày làm như mày là thứ gì quan trọng với tao lắm. Không, với tao chẳng có cái đếch gì quan trọng hết. Kể cả con mẹ Kaori.
Im một chặp, anh Lương thêm: Dù là tao rất nhớ ả!
Tôi đi đúng con đường anh Lương đi. Làm mướn xứ người. Trăm nghìn cuộc va đập hóa ra lại nhỏ như cái kẹo. Sự lớn nhất tôi có được là bình lặng, hoặc là một thứ giả lập bình lặng. Bởi một ngày không can cớ, tôi gửi cho chị Lam một email. Tôi nói tôi nhớ chị. Và tôi thèm một lần gặp lại, không phải chỉ là tôi và chị, mà là bên cái xe mì ramen của anh Lương.
Tôi không chắc đó là một địa chỉ email đúng. Cũng không bao giờ nghĩ sẽ có hồi âm. Mà rồi tôi nhận lại, chỉ dăm con chữ không dấu: “con chup anh khong?” – còn chụp ảnh không – và tôi trả lời cũng không dấu: khong!
Cuộc kết nối online tới đó thì chấm dứt!
Tôi chỉ còn duy nhất một sợi dây để thỉnh thoảng nắm níu, là chị chủ đất cho anh Lương mướn để cái xe mì. Tôi nắm tin tức anh Lương ở đó. Ổn. Rồi dần bất ổn. Rồi lại ổn. Ừ, đời mà. Nó đâu bao giờ là một hằng số! Nhưng có một lời nhắn khiến tôi mất ngủ: “Hổm rồi ông Lương nghỉ bán. Ổng đi ăn. Giờ ở đây tiệm ramen nhiều lắm”!
***
Ở những khu loanh quanh chợ Thành, giờ, người Nhật về ở khá nhiều. Những apartment, motel, mini hotel mọc như nấm. Và tiệm ăn Nhật cũng dày đặc. Có lẽ ít ai biết cái khu Japan Town bắt đầu từ cuộc bước ra ánh sáng của anh Lương. Thỉnh thoảng, tôi ghé tiệm Tomidaya ở đây, một tiệm có mì ramen gần với mùi vị tô mì của anh Lương nhất.
Irasshaimaseeee!
Tôi đưa Lam tới đây. Chỉ cho chị cái xe mì ramen của anh Lương buồn bã, tàn tạ, phế tích ở bên kia, gần mép sông. Lam nói chị không hiểu hết về anh Lương. “Anh chị em tôi rời rạc và thiếu gắn kết nhiều. Bọn tôi không giống một gia đình. Đôi khi tôi ghen tỵ với anh và anh Lương. Hai người có một đời sống rất đời, rất người”, Lam nói, như một cách thanh minh.
Tôi im lặng nhìn bàn tay Lam. Không đọc ra một chút gì quen thuộc hết.
Lam lại nói: “Kể tôi nghe những gì anh biết về anh Lương đi!”.
À, làm sao chị có thể hiểu được nhỉ. Nhưng đây là anh Lương, người nấu mì ramen kiệt xuất nhất thế giới mà tôi biết. Tôi nói nhỏ: “Anh Lương không thay đổi. Vì vậy ảnh không cạnh tranh được. Món này bán ở xứ này, không chỉ cho người Nhật. Vì tỷ lệ đó ít lắm. Mà muốn bán cho người Việt thì phải thêm bột ngọt, thêm thịt mỡ… đại khái vậy đó. Thứ tôi biết chỉ là sự thua cuộc của anh Lương. Và anh chết chỉ vì vậy! Muốn sống thì phải thay đổi, hình như vậy đó!”.
Lam thêm: “Ảnh vậy mà. Ảnh không tha thiết sống đâu!”. “Đúng. Anh Lương là vậy!”. “Nhưng ảnh chết thế nào?”, Lam hỏi thêm!
Tôi nói tôi không biết. Thực ra, thông tin tôi có được nhiều hơn thứ mà tôi chia sẻ với Lam. Anh Lương chỉ là nhịn ăn cho tới chết. Hoặc anh đã không muốn ăn để đừng sống nữa.
Tôi ăn hết phần mì của mình và hỏi Lam: “Chị không hạp khẩu vị Nhật sao?”. Lam không trả lời câu tôi hỏi, mà như đang ở một chỗ khác: “Hồi nhỏ đẹp quá!”. Rồi quay sang tôi, chị hỏi, nghe rõ ràng và khúc chiết hơn: “Rồi sắp tới anh tính làm gì?”.
Ký ức, kỷ niệm, thương nhớ tự nhiên rời đi hết. Tôi cười: “Chắc tôi sửa lại cái xe mì của Lương và tiếp tục bán nó!”.
Arigato gozaimashita!
Nhân viên của tiệm đồng loạt hô lớn khi tôi mở cửa cho Lam bước ra. Ồ, đúng rồi. Bữa ăn của tôi đã xong, dù gì cũng xin cảm ơn!
Đón taxi cho Lam xong, tôi bước qua chỗ chiếc xe mì phế tích, và vô thức, tay tôi viết lên lớp bụi chữ Kaori.
Một mùi rong biển mơ hồ lẩn khuất!
Tháng 7/2026