Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (16)

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Phần ba

HÀNH TRÌNH TÌM ÂM BẢN II

1.

Thế đang làm phim trên Tây Bắc được một tháng thì có điện của Ban Giám đốc VFC (Hãng phim Đài Truyền hình) gọi về giao nhiệm vụ: anh phải thực hiện gấp một phim truyện về Tỉnh Bình Phước, trên cơ sở kịch bản tự lo liệu lấy, nhằm kịp thời “ủng hộ” một nhân vật VIP của Đài ứng cử Đại biểu Quốc hội tại tỉnh này.

Thế là, anh đã có dịp lang thang mấy tuần liền ở những vùng sâu vùng xa gian khổ nhất của tỉnh Bình Phước để lấy cảm xúc và thu thập tư liệu viết kịch bản phim… Những nơi đó, đồng ruộng chủ yếu sản xuất được mỗi năm một vụ; mùa khô ruộng nứt nẻ đến cỏ cũng không sống nổi. Bình Phước cũng có xây dựng một số hệ thống thủy lợi giải hạn mùa khô nhưng cũng chỉ đáp ứng được khoảng 30% diện tích đất nông nghiệp trồng cây ngắn ngày… Ở những vùng trồng cao su bạt ngàn, nhiều cán bộ huyện – xã đã trở thành những “lãnh chúa” mới, chiếm dụng những diện tích đất lớn cho bản thân, còn người công nhân cao-su đang dần trở lại thân phận chẳng kém thời mộ phu thực dân… Và ở những vùng của người dân tộc S’tiêng nơi cực Nam dãy Trường Sơn này, cuộc sống của đồng bào thực xơ xác, nghèo đến độ không thể tưởng tượng nổi…

Có một bài vè Thế được biết qua sách Văn thơ yêu nước và cách mạng[88], nhưng lần đầu tiên anh được nghe trọn bài qua giọng đọc buồn thảm của một người đàn bà tại một nông trường cao-su, và bài vè có vần điệu lủng củng ấy đã cho anh một ấn tượng rất mạnh, một nguồn cảm xúc kỳ lạ: Hải Dương có phố Đồng Vàng/ Có nhà chủ mộ ta sang Nam Kỳ… Bà đã kể anh nghe: “Hồi đó bà chứng kiến nhiều người chống lại bọn cai, bị nhốt vào lò xông mủ, mắt sưng húp lên như là hai quả ổi chín. Khi cho ra, chúng lại nhấn vào bể nước, dùng roi cặc bò đánh cho toé máu mới thôi… Có một cô gái trẻ lắm, đi làm ngủ gật ngã vào máy cán mủ, nát nhừ người…”.

Cái nghèo và nỗi khổ đó đã khiến Thế xót xa tới nhiều năm sau, từ những ngày “ba cùng” với những gia đình nông dân, công nhân lâm nghiệp cả Kinh lẫn S’tiêng. Nhưng anh cũng được sống với rừng cao su miền Đông vào mùa thay lá, những cánh rừng cao su buổi chuyển mùa độc đáo nhất trong năm. Mới có vài ngày, từ những chấm đỏ lác đác, rừng cao su đã nhanh chóng chuyển sang màu đỏ ối, màu vàng rực. Những đợt lá thi nhau trút xuống mặt đường nhựa, đường đất đỏ, tựa hàng đàn bướm đỏ – vàng tung cánh lượn lờ khiến bầu trời và mặt đất như chìm trong một khung cảnh thần tiên hiếm có… Trong những ngày thành lập đoàn làm phim, tổ chức quay phim, qua sự giới thiệu của đồng nghiệp trong Sài Gòn, anh mời được nghệ sĩ Thương Tín và một người mẫu vào hai vai phụ của phim.

Trong giai đoạn làm hậu kỳ phim tại Sài Gòn, Thế có gửi diễn viên Thương Tín mấy tấm hình cảnh quay tại một làng người S’tiêng với lời đề: “Gửi Thương Tín chút bụi đỏ cao nguyên”. Thương Tín hào hứng lắm, gọi điện ngay cho anh: “Cám ơn đạo diễn vì mấy tấm hình, và vì cái nhân vật Đại gia mà đạo diễn tạo nên. Lúc đầu tôi nghĩ: Ôi dào, lại là kiểu mà người ta vẫn đổ lên đầu các đại gia: ác độc, thủ đoạn, bóc lột, tham lam… Nhưng đạo diễn đã cho “đại gia Thương Tín” tôi nói những điều mà tôi “tâm phục khẩu phục”. Đó là lời thoại của Thực đại gia nói với ông bố vợ hụt:

– Lý lẽ bác hay thiệt đó! Thế bác tưởng rằng tôi là kẻ ăn trắng mặc trơn, là công tử Bạc Liêu, hay một kẻ lọc lừa cướp giật tiền bạc của người khác ư? Không đâu! Tôi làm giàu bằng mồ hôi trí óc của tôi. Đồng tiền trong tay tôi cũng đổ mồ hôi, sinh sôi nảy nở một cách chính đáng. Tôi cũng phải lăn lộn từ nông trường này sang lâm trường khác, hứng mưa chịu nắng, hít đầy bụi đỏ bụi đen. Tôi biết quyết đoán trong mọi trường hợp, dám được ăn cả ngã về không. Và tôi đã có lúc trắng tay. Trên thương trường, tôi trọng chữ tín, trong lúc kẻ khác quay quắt lọc lừa, vì vậy mà tôi còn tồn tại đến giờ. Tôi biết tránh xa thứ quyền lợi ngon ăn nhưng không chắc chắn và không thật chính đáng, vì vậy mà tôi không sa vào vòng tù tội. Và tôi cũng phải học ra trò đấy chớ! Học cách quản lý kinh doanh, học cách xem xét hàng thật hàng giả. Nhìn lá cây điều, tôi đoán nó sẽ ra hạt thế nào. Nhìn nhựa cao su lúc khai thác, tôi biết nó sẽ cho chất lượng mủ ra sao… Một kẻ lao đầu vào làm ăn như tôi, lúc tỉnh ngộ ra là cần một người vợ hiền thục, ít tham vọng, tôi đã chọn được cô Hiêng… Chắc chắn là cô ấy đã hiểu: tôi là người có thể đem lại hạnh phúc toàn vẹn lâu dài cho cô ấy. Tôi chờ cô Hiêng trả lời tôi…

Và lời của Thực đại gia với cô vợ hụt người S’tiêng cùng chàng người yêu của cô:

– Tôi đã nói đến thế mà em còn chưa hiểu sao? Em và ba em thật là những người đáng thương, trong sạch đến khờ dại… Có lẽ, cũng chính vì vậy mà tôi yêu em hơn ai hết trên đời này… Thôi, số tiền đó coi như tôi góp vào đền bù cho sự rủi ro của gia đình em trong vụ điều vừa qua. Vì sự rủi ro đó mà suýt nữa tôi lấy được em làm vợ – Cười như điên dại một hồi – Này cậu Thanh, hôm qua gặp cậu ngồi với các cao thủ võ lâm trong nghề đục khoét của nhà nước, tôi đã chạnh lòng thương hại cho cậu – một con cừu non giữa bầy chó sói. Còn hôm nay, tôi không ngờ rằng, tôi đã phải thua cậu, thua một kẻ tay trắng chỉ ôm một mớ lý thuyết suông…

Sau giai đoạn quay, Thương Tín bảo anh, chắc không phải là xã giao: “Trong các nhân vật đã đóng, có thể nói ‘Thực đại gia’ là một trong những nhân vật tôi thích nhất, và tôi phải suy ngẫm nhiều về tâm lý khi đóng”. Thế biết ơn diễn viên Thương Tín, bởi qua một vai tuy là phụ, anh được học thêm về cách xử lý nhân vật – đặc biệt là “nhân vật” thuộc về “phe phản diện” mà lâu nay phim ảnh ta đã “đóng đinh” trong người làm phim lẫn khán giả! Nhân vật Thực đại gia đã được “đối thủ” của anh ta nhắc đến cuối phim như sau:

Thác Đắc Rin đổ ào ạt, tung bọt trắng xóa. Thanh và Hiêng đứng nhìn thác. Thanh bất giác thở dài kín đáo. Hiêng ngước nhìn sang người yêu, hỏi thảng thốt:

– Anh nghĩ gì thế?

Thanh sau một lúc mới nói khẽ:

– Anh nghĩ đến một người… – Hiêng chờ đợi – Anh nghĩ đến anh Thực… Nghĩ đến bài học về kinh doanh của anh ấy!

– Hay là… anh thương hại anh ta?

– Không đâu! Người như anh Thực không cần ai thương hại! Thực ra, anh ấy là người tốt, dám nghĩ dám làm, và gắn bó với sinh mệnh cây cao su…

Kịch bản có tên Nỗi buồn cao nguyên, nhưng để thành “Dương bản” để phát sóng, anh phải đổi tên là Thì thầm cao nguyên; và dĩ nhiên, nội dung phải phù hợp với tuyên truyền chính trị; nói đến cái nghèo của đồng bào dân tộc thì phải cho thấy hướng đi lên, sự phát triển, sự ưu việt của chế độ, v.v. Và Thế cùng ê-kíp đoàn phim cũng đã phần nào làm được điều này. Nhưng, điều lớn hơn anh muốn nói qua bộ phim là những giải pháp lâu dài, cốt tủy và thực sự để người dân thoát nghèo, thì vẫn còn nằm trong mơ ước thầm kín của những nhân vật chính cũng như của người làm phim…

Nhưng cái mơ ước thầm kín này, ngờ đâu mấy chục năm sau sẽ bị “tàn phá khủng khiếp” bởi ý định: “Tỉnh nghèo nhất nước bỏ ra (và đòi kinh phí Nhà nước) tới 300 tỷ đồng để xây tượng đài”!

2.

Tại Khách sạn Công đoàn ghi dấu mối tình của Thế với cô giáo người Thái, anh vô tình được gặp một người mẹ Mường mà cứ chiều tối, mẹ thường ra đứng ở ban công tầng hai, mắt nhìn về phía xa xa, vẻ mong đợi bồn chồn…

Trong một cuộc liên hoan văn nghệ do đội văn công của khách sạn trình diễn, anh gặp mẹ ngồi ở hàng đầu, giữa các quan khách… Chẳng hiểu những lời ca tiếng hát trẻ trung đã gợi cho mẹ những cảm nghĩ gì. Nhưng anh chợt cảm thấy: lọt thỏm giữa âm thanh, sắc màu và hoạt động sôi nổi, mẹ như để tâm tư lắng vào một nơi nào đó thật xa xôi…

Dần dà, anh cũng được biết ít nhiều về thân thế của mẹ.

Mẹ là người Mường thuộc vùng sâu vùng xa của một huyện miền núi chủ yếu là cao nguyên. Làng quê của mẹ sát bên sông Đà, xa đường cái, xa thị trấn thị tứ, vào được tới đó phải vượt qua nhiều chặng sông hồ đường đất gian khổ – nhất là vào mùa mưa, mọi người kể vậy… Thế vào thăm Bảo tàng tỉnh, thấy có ảnh mẹ. Hóa ra, mẹ là một trong bốn bà Mẹ Việt Nam Anh hùng của tỉnh này từng được Nhà nước phong tặng…

Mẹ có một người con trai duy nhất đã hy sinh trên chiến trường chống Mỹ tại Lào năm 1970. Chồng mẹ đã qua đời mười năm nay. Khi ngôi nhà tình nghĩa của mẹ tại quê bị gió mưa làm sụt nóc, mẹ tới ở nhà vợ chồng người con gái nuôi một thời gian… Nhiều đơn vị ở tỉnh xin nhận phụng dưỡng mẹ suốt đời, và Khách sạn Công đoàn tỉnh cuối cùng đã nhận được vinh dự đó. Tại đây, mẹ được chăm sóc như người mẹ, người bà chung của cả đơn vị. Nhưng, nỗi nhớ quê hương vẫn thường giày vò tâm tư mẹ. Mọi người đều hiểu điều ấy. Vì vậy, thi thoảng Khách sạn Công đoàn lại tổ chức một chuyến lặn lội đưa mẹ về thăm nhà độ dăm bữa nửa tháng, rồi lại về quê đón mẹ lên Thành phố.

Vào dịp Khách sạn Công đoàn đưa mẹ về thăm quê, ông Giám đốc gọi điện mời anh lên di cùng để làm một phim chân dung về mẹ.

Từ Thành phố về quê mẹ gần hai trăm cây số đường trường, qua đèo dốc, sương mù, sông suối, qua nhiều thị trấn, làng bản…

Lúc này hoa ban đang nở trắng núi rừng. Vẻ đẹp của cảnh vật như làm vợi bớt sự gian khổ, nhưng phải chăng lại làm tăng thêm sự bồn chồn của mẹ khi sắp về đến quê hương?

Con sông Đà mùa này êm ả. Trên thuyền, Thế trò chuyện cùng mẹ để hiểu thêm về dòng sông chính của vùng Tây Bắc – dòng sông từng chứng kiến tuổi thơ của mẹ, rồi của con trai mẹ…

Ngược phía thượng nguồn khoảng trên trăm cây số là công trình thủy điện thế kỷ đang vận hành những tổ máy đầu tiên. Và dọc hai bên bờ là biết bao khu tái định cư phục vụ giải phóng lòng hồ cho cả thủy điện trước đây lẫn thủy điện hiện tại.

Người thân của mẹ đã đón đợi hàng tiếng đồng hồ trên bến để đưa mẹ và cả đoàn về bản, về ngôi nhà sàn của vợ chồng con nuôi của mẹ (theo một phong tục người Mường: khi con trai lên 8 tuổi, mẹ không sinh nở thêm được nữa thì có quyền xin con nuôi ngay tại bản). Các con cháu, họ hàng, dân bản tới chào và thăm hỏi mẹ.

Mẹ trở về giữa lòng quê hương, bề ngoài vẫn dáng vẻ bình lặng như mọi khi. Song, trong ánh mắt khi ngồi bên các cháu, khi ngồi bên bếp lửa nghe kể chuyện làng bản lại đong đầy niềm thương nhớ, tự hào, và cả sự lo lắng…

Ngôi nhà của cô con gái nuôi có hai nơi thờ, ở hai góc nhà: nơi thờ chồng mẹ và con trai mẹ, và góc kia là nơi thờ chồng của cô con gái nuôi mới qua đời vì bạo bệnh… Anh trai của con nuôi mẹ, một cựu chiến binh sống ở Sao Tua đã kể cho tôi nghe về người con trai liệt sĩ của mẹ, và về những gì liên quan đến gia thế của mẹ. Rồi ông hai lần đọc lời cúng trước cả hai ban thờ.

Trong lúc trò chuyện bên ấm nước lá rừng, Thế càng hiểu thêm về sự gắn bó hòa quyện của của cộng đồng làng bản ở một vùng đất nghèo nhưng chưa bao giờ thiếu thốn tình thương, sự quan tâm lẫn nhau giữa những con người dù là máu mủ ruột rà hay chẳng có họ hàng thân thích gì. Các con mẹ – con đẻ hay con nuôi đã sinh ra và lớn lên trong một môi trường trong lành như thế của tình người…

Ngồi chưa kịp nóng sàn, chưa kịp để nhiều người trong bản tới thăm hỏi, mẹ đã nôn nóng nhờ người dìu đi đến một vài nhà thân quen để thăm hỏi trước.

Đêm dần buông. Bóng tối quen thuộc lại đến với người bản có tên đẹp: Sao Tua – cái bản dường như bị bỏ quên trong các quy hoạch đường điện lưới của xã của huyện. Cũng may là mấy gia đình đã chung nhau sắm máy nổ để thỉnh thoảng phát điện – nhất là trong một ngày nhiều ý nghĩa: mẹ về thăm quê, cùng các khách quý đến từ Thành phố!

Rồi bữa cơm tối đạm bạc mời mẹ và đãi khách cũng đã diễn ra trong ánh đèn điện mà độ sáng cũng không hơn ánh trăng rằm là bao! Bữa cơm diễn ra rất lâu, cách quãng lại có người mới đến thăm mẹ rồi ngồi luôn vào mâm, vừa ăn uống vừa trò chuyện – chủ yếu là uống rượu, chúc nhau bằng rượu, bộc lộ sự trân trọng, lòng tri ân và cả nỗi niềm riêng qua chén rượu men lá của đồng bào Mường… Người nói, rượu nói chưa hết thì lại để dành chỗ cho tiếng pí thiu – cây sáo đặc biệt của người Mường trong đêm khuya.

Mẹ đâu ngủ được trong đêm đầu tiên của đợt về nhà lần này! Tấm lưng còng trằn trọc… Tuổi thơ và thời con gái, rồi cả thời làm dâu của mẹ gắn bó với bản nghèo này, với mảnh đất thương khó này… Lúc chiều, mẹ loay hoay trong kho đồ cũ, để rồi sau đó chăm chú với đường sa quay, sống lại chặng đời lầm lụi của người phụ nữ Mường trong cái công việc đơn điệu và thân quen từ lúc còn là một cô bé thò lò mũi xanh tới khi có đủ chăn gối đệm để mang theo về nhà chồng…

Vùng đất cao nguyên khi rét thì lạnh thấu xương, còn khi nóng thì đổ lửa, gió Lào réo cuồn cuộn khắp thung lũng, đồi đất vốn cằn cứ cong mãi lên vì khô hạn… Đúng buổi chiều mẹ về, may sao một cơn mưa nhẹ chợt đến, nhưng chưa đủ thấm mái gianh và càng không thể làm háo cơn khát của ruộng vườn cây cỏ suốt mấy tháng ròng. Mọi người đều không giấu nổi mừng vui, xôn xao bàn bạc. Rồi câu chuyện về người liệt sĩ trẻ tuổi lại tiếp tục bên những hạt mưa xuân muộn mằn… Khi khách đã có đủ những thông tin cần thiết về con trai mẹ, thì câu chuyện lại chuyển sang cái làm, cái ăn, cái ở – theo cách nói của người Mường. Nhưng cũng từ lúc đó, kỷ niệm về anh như tràn ngập ngôi nhà và xao động kín đáo trong ánh mắt mờ đục của mẹ…

Mỗi buổi chiều tà, mẹ và những phụ nữ bản Sao Tua thường ra bến sông để đón chồng, đón anh, đón con trở về cùng tôm cá, vật dụng sinh hoạt trên những con thuyền hay bè mảng tự tạo quen vượt thác dữ sông Đà… Mẹ chắc từng nhiều lần cười vui một mình khi ngắm tấm lưng trần vạm vỡ rám nắng của người con trai bước vào tuổi tráng niên, thầm mong một cô con dâu xinh xắn chăm chỉ…

Nhưng mong ước đó đã vụt bay vĩnh viễn khỏi đời mẹ, lúc anh bước vào tuổi hai mươi!

Thế chưa có dịp may mắn được thấy mẹ ngồi trang trọng nơi dành riêng cho các bà Mẹ Việt Nam Anh hùng trong các ngày đại lễ của tỉnh, của huyện mà bao giờ mẹ cũng được mời. Nhưng anh hiểu, trong những giây phút huy hoàng của đám đông đó, mẹ sẽ quay về nơi sâu thẳm nhất của lòng mình để thì thầm với người con trai vắn số, an ủi cho linh hồn anh, lời an ủi tựa tiếng sáo Mường đang thổn thức trong đêm vắng bản xa…

3.

Giữa thị trấn Sông Mã đầy bụi, Thế nóng lòng chờ đợi gặp Hờ Di – người mà anh mới chỉ biết đến qua vài bài thơ, truyện ngắn, cùng những truyền khẩu ly kỳ về anh… Mãi lâu sau mới thấy một bóng người thấp bé ngồi vất vưởng trên xe máy hớt hải phóng tới. Hoá ra, anh vừa đèo vợ về cơ sở hai cách thị trấn 7 cây số, nghe điện lại vội vàng ra ngay. Bắt tay anh, không hiểu sao Thế chợt có một ấn tượng rất đặc biệt… Anh mời Thế về thăm nhà anh – ngôi nhà vách đất sơ sài lợp phibrô, nằm trên một ngọn đồi cao nhất trong cái thị trấn miền núi đang phát triển như vũ bão thời thị trường… Vừa bước chân vào nhà, Hờ Di nói vui: “Vợ ông Tú Xương nuôi đủ năm con với một chồng, còn tôi, nuôi đủ năm con với một vợ, lại là một vợ đau ốm quanh năm”. Sáng hôm sau, tại cơ sở hai của Hờ Di, Thế đã được gặp vợ anh, một người đàn bà Mông truyền thống. Chị không biết cả chữ dân tộc lẫn chữ phổ thông, chỉ được nghe thơ và truyện của chồng qua giọng đọc của các con gái. “Chỉ biết anh ấy làm văn hoá thôi… Mà chẳng đưa tiền đâu, chỉ mua gạo, mì chính về… Nhưng tôi có nương ngô nương lúa”. Cái nương ngô lúa ấy của gia đình anh, hàng năm chỉ thu hoạch được mỗi thứ 1 tấn – tương đương gần 10 triệu đồng…

Hờ Di vào đời với công việc làm bốc vác ở cơ quan thương nghiệp huyện và tập tọng viết báo cho chương trình tiếng Mông của các đài PT huyện, tỉnh. Năm 73-75, anh được cử đi học Trường đào tạo cán bộ dân tộc Mèo khu Tây Bắc. Sau đó, anh được phân công làm đủ thứ: đội phó đội thông tin lưu động kiêm biên tập, lên tỉnh làm phóng viên đài Phát thanh, lại về huyện làm Định canh định cư, dịch tài liệu tuyên truyền, chiếu phim lưu động…Rồi đưa đẩy thế nào, anh sang làm tuyên giáo huyện. Chính trong thời kỳ này, anh đã gặp không ít chuyện “dở cười dở khóc”, luôn luôn bị dòm ngó, bị phê bình: “Cậu làm việc riêng, không phải việc cơ quan!” Anh có thiên hướng nhìn thấy trong văn bản chính sách khô khan những yếu tố hình tượng, cảm xúc – con đường đến với đồng bào anh một cách ngắn nhất, trực tiếp và hiệu quả nhất; nhưng chính điều đó lại khiến anh không ít bận phải lao đao… Năm 2001, anh được dự trại sáng tác ở Tam Đảo. Chính qua trại này, anh được kết nạp vào Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số. Nhưng anh lại tiếp tục bị xăm soi, bị phê bình, thậm chí còn bị chửi thậm tệ đến độ phải làm đơn xin thôi việc. Quyết định gửi lên, Phó Bí thư tỉnh uỷ gọi về: “Một nhà văn duy nhất người Mông của Sông Mã mà huyện không nuôi nổi thì các anh cũng không giữ nổi chức đâu!”. Năm 2005, được chính thức trở về ngành văn hoá làm việc quả là một cơ hội đáng quý đối với Hờ Di. Nhưng cũng phải qua rất nhiều gian nan, rồi Hờ Di mới được thoả chí làm cái công việc mà anh khao khát: đi thực tế và sáng tác, và chỉ sáng tác mà thôi – khi biên chế về Trung tâm văn hoá huyện…

Hình như câu “cơm áo không đùa với khách thơ” không có gì liên quan đến Di và những người cầm bút là con em đồng bào dân tộc trên vùng đất này, bởi họ đâu có thu nhập được chút “cơm áo” gì từ thơ với văn; họ đã chấm ngòi bút trong mồ hôi chính mình trộn với mồ hôi đắng đót của đồng bào – giống như bao thế hệ nghệ nhân dân gian đã làm vậy để tạo ra những “Tiếng hát làm dâu”, “Tiếng hát mồ côi” thống thiết. Nhu cầu cuộc sống cần sản sinh ra những nghệ sĩ ngôn từ kiểu Hờ Di, thì cũng tất yếu cần những “bà đỡ” tận tuỵ ngay trong hàng ngũ công quyền để tiếng nói vắt ra từ tim óc của họ đến được với đông đảo quần chúng dù có thể còn đói ăn thiếu mặc nhưng không thể thiếu được đời sống tinh thần chỉ trong giây lát!

Thế tìm đến Trung tâm văn hoá Huyện hỏi về Di, được anh Trưởng phòng kể: “Trước đây, bà con người Mông sông Mã thường nhận được những bao sách từ Philippines gửi về, gồm học chữ Mông, phong tục, thơ ca dân gian Mông, kèm theo sách truyền đạo. Lúc đó, anh Di đang ở tuyên giáo, chịu trách nhiệm phân loại, anh ấy đề nghị chỉ thu giữ sách truyền đạo trái phép, số còn lại thì để đồng bào đọc. Nhưng đề nghị không được chấp nhận. Anh Di bèn tức tốc biên soạn hai cuốn Truyện cổThơ ca dân gian Mông.

Thế hỏi để khẳng định:

– Phải chăng, đó cũng là một trong những động lực sáng tác thơ văn của anh ấy?

Trưởng phòng văn hóa gật đầu xác nhận. Thế thầm nghĩ: Những nhà phê bình văn học không thể đem các nguyên tắc lý luận để áp đặt điều gì cho sáng tác của Hờ Di. Bởi anh viết những dòng thủ thỉ sẽ thấm vào lòng những con người rời khỏi nhà từ lúc nhọ mặt để trở về trong ánh đèn mỡ lợn hoặc ánh điện lom đom lấy lên từ suối cạn. Bởi khi anh nói “Lời bộc bạch của suối”, than khóc cho rừng già bị chặt phá “tan nát, khe khô dần” để đến nỗi “cá không bơi mà chỉ ngóc đầu”; hoặc trong tâm trạng phải thốt lên “Lời than của kẻ nghèo khốn khó” đến bệnh viện cấp cứu, đưa phong bì cho y bác sĩ vài trăm, vài nghìn thì bị lắc đầu “Bệnh nặng không chữa được”, “bệnh viện hết thuốc rồi!”… thì quả thực không đang tâm để bàn về nghệ thuật câu chữ, hình tượng! Anh đang thực sự làm một “Chiến sĩ văn hoá” – hiểu theo cái nghĩa chính xác nhất của danh từ này – ở một vùng quê tự cung tự cấp chưa ổn định, sống bằng nương rẫy, trình độ dân trí quá thấp, các hủ tục và nạn mê tín còn nặng nề, và đồng bào anh thì mộc mạc, khảng khái nhưng cũng dễ bị kẻ xấu mua chuộc, lợi dụng…Chỉ cần đọc vài tên bài trong tập thơ Việt-Mông Hoa đèn nở của anh cũng đủ thấy: Răn dạy thanh niên không hút thuốc phiện, Đừng thách cưới, Người Mông ta cần bảo vệ rừng, Cho con cháu đi học, Nói với người vượt biên, Đừng đi làm vợ lẽ, v.v. Thế tin rằng hiệu quả của chúng sẽ không thua kém – nếu không muốn nói là hơn – so với pháp luật và các văn bản nghị quyết, khẩu hiệu…

Nhưng thơ văn Hờ Di không chỉ tuyên truyền – dù là tuyên truyền một cách giàu tình và giàu lý lẽ theo lối đồng bào vùng cao. Thơ văn anh có nhiều dòng tinh tế miêu tả thiên nhiên, tình yêu trai gái với tâm lý chân thực. Anh vừa hoàn thành công trình khảo cứu Ma bò bằng tài trợ ít ỏi của Hội Văn nghệ Dân gian, và đang tiếp tục tìm tòi khai thác những giá trị văn hoá dân gian cổ truyền của các dân tộc ở khắp các vùng hẻo lánh Sông Mã, Sốp Cộp… Trong đêm, khi đọc vài dòng ở bản thảo Ma bò cho Thế nghe, đôi mắt Di long lanh: Con bò sừng cao đến tận trời, đuôi quệt dưới trần gian, mang chín thang thuốc chữa cho gia đình sống cuộc đời thanh bạch, trong như nước, trắng như gạo, xanh như rừng… Trong những lời hát cúng tựa sử thi ấy, Thế chợt nhớ đến câu chuyện do chính Di kể: một ông bác, chỉ vì cần có một con bò cúng ma đã cam tâm đem cả cháu gái mình bán đi! Vẻ đẹp tâm linh và sự lạc hậu, cái cao cả và sự tối tăm… tất cả đang kết thành búi trong tâm thức ngàn đời, cần được người có hiểu biết và có tâm gỡ dần ra… Cứ thế, tên tuổi Hờ Di, một nhà báo địa phương, một thi sĩ dân gian “dấn thân” đã dần dần được đồng bào nhiều dân tộc ở khắp vùng cao biên giới Việt – Lào biết đến và yêu quý. Để có thể xoá đi hết cái hình ảnh “trần gian trải vải đen” trong thơ ca đẫm lệ xưa, để mong gỡ dần cái tấm vải đen trùm kín mặt trong tiếng cúng ma rùng rợn còn tồn tại, cuộc sống vùng cao hôm nay còn cần đến không chỉ một cây bút có tấm lòng trong sạch và dũng cảm như Hờ Di! Những tấm vải đen đã bắt đầu có người gỡ bỏ.

Trong đêm vắng, gió ù ù qua kẽ vách, Hờ Di mở mạng tiếng Mông nước ngoài và dịch cho Thế nghe. Một khuôn mặt béo phị, trọc đầu đang kênh kiệu tự nhận là “người Mông có quyền lực nhất thế giới”. Ông ta dù đã chết vẫn là bóng ma hung hăng kêu gọi thành lập Vương quốc Mông, đòi chính phủ Lào chấp nhận cho trở về xây dựng nước Lào, và tuyên bố: “Chỉ người Mông mới cứu được người Mông!”.

Anh chợt nghĩ: cái gì có thể làm đối trọng tối ưu với những lời lẽ bốc mùi sắc tộc hiếu chiến kia, nếu không phải là những lời lẽ chân chính bằng tiếng Mông do những con người đứng về phía sự thật nói ra? Từ lâu nay, Hờ Di, dù muốn hay không, cũng đã là người đại diện cho tiếng nói của hàng vạn người Mông trên vùng thượng nguồn sông Mã này. Từ chỗ hồn nhiên làm thơ viết văn vì yêu thơ văn, anh đã tới chỗ ý thức được mỗi dòng, mỗi chữ mình viết ra có ảnh hưởng thế nào đối với từng giọt mồ hôi nước mắt của đồng bào mình… Điều này không ngẫu nhiên, nó có căn nguyên sâu xa ở gia đình, dòng tộc. Di từng nói với anh: “Dòng tộc là một thứ rất quan trọng với người Mông chúng tôi, và có rất nhiều điều lý thú. Nếu cán bộ làm văn hóa, chính trị mà nắm chắc được thì vào lòng dân rất dễ dàng”.

Di đã đưa Thế về thăm jao (làng) Pú Seo quê hương anh – giống như bao làng người Mông ở khắp vùng Tây Bắc vốn thừa đất thiếu nước, nhiều dốc hiếm bãi bằng, từng trải qua bao thời loạn rừng động núi, di cư liên miên, cho đến khi bố anh – lão nông Hờ Giống Páo, người đầu tiên của vùng bám trụ để tạo ra chốn định cư định canh lâu dài cho nhiều dòng họ, nhiều gia đình trên một vùng rẻo cao khắc nghiệt… Chính tại nơi đây, ở tuổi lên ba, Di được ông bà, cha mẹ kể cho nghe truyện cổ tích Mông, dạy hát những bài dân ca Mông. Cậu bé ham hiểu biết, yêu văn nghệ đó lúc nào cũng cặp kè cuốn sách lúc đi chăn trâu, khi làm cỏ lúa… Giai đoạn có tính quyết định đối với cuộc đời Di chính là thời học tại trường sư phạm vùng cao huyện, anh được một thầy giáo miền xuôi động viên: “Người Mông chưa có nhà văn. Em có năng khiếu văn học, đừng để bỏ phí”.

Với thời gian và lao động kiên trì, Di đã dần trở thành một người viết chuyên nghiệp. Anh mới được in truyện Người tình cũ (Nxb Văn hóa Dân tộc) kể lại kỷ niệm mối tình đầu thời làm thương nghiệp; vừa viết xong truyện Trở về, nói tới cuộc di cư trái phép của đồng bào Mông sang Lào và thân phận khốn khổ của họ. Anh đang bắt tay vào viết truyện Trời cho chúng mình thương nhau đề cập tới sự cần thiết phải phát triển nghề dệt lanh, nghề rèn truyền thống của người Mông thành hàng hoá. Anh thần người vẻ đau xót khi Thế hỏi vì sao hiếm khi tìm thấy một khung cửi trong những ngôi nhà ám khói, vì sao những bếp lò rèn nguội tanh? Tất cả đều có thể mua được ở chợ Chiềng Khương, chợ bên Lao Cai. Nhưng những chiếc váy Mông lộng lẫy, những tấm thổ cẩm tuyệt đẹp – sản phẩm của nghề dệt lanh độc đáo chỉ người Mông mới có và những con dao Mông sánh ngang lưỡi dao Đamat Thổ Nhĩ Kỳ giờ có nguy cơ sẽ chỉ còn tìm thấy trong các bảo tàng dân tộc học!

Những ngày lang thang cùng Di tới các làng bản ở một số xã vùng cao giáp biên giới như Mường Hung, Mường Cai, Thế còn nhận thấy ở Di khả năng nắm bắt nhanh nhạy các vấn đề xã hội, chính trị như một cán bộ tuyên huấn chính hiệu – vốn là công việc anh đã từng đảm nhiệm. Và, kết hợp khả năng đó với một trái tim nồng nàn xúc cảm, anh đã có thể viết ra những điều gần gũi, dễ hiểu, thiết thân đối với đồng bào anh. Di kể, hồi đi chiếu phim lưu động, “phim nào bà con xem xong phải chùi nước mắt thì mới nhớ lâu”. Anh cho tôi biết có nhiều phim về người Mông do Thái Lan, Philippines làm (kể cả chương trình ca nhạc), bà con rất thích – ví như phim Sự tích con chim Pócư Úacâu. Anh băn khoăn: Vì sao ta không làm được những phim như thế cho đồng bào? Mở vô tuyến ra, phim truyện chỉ toàn thấy người đẹp bốc lửa thành thị, nhà cao phố rộng, tiện nghi loá mắt… Nếu thỉnh thoảng có phim về đồng bào dân tộc thì bà con lắc đầu ngán ngẩm, vì chúng quá ngây ngô, ngọng nghịu, lại “râu ông nọ cắm cằm bà kia”! Di bảo: “Tôi muốn viết kịch bản nói về người Mông, nhưng chẳng biết có ai dám lên vùng cao để làm phim không?”. Thế chạnh lòng thay cho cả một nền điện ảnh – truyền hình sau một thời kỳ mệt lử vì tụng ca đang bắt đầu háo hức chạy theo hình bóng của “Thần Mày trắng”…

Có đêm gần sáng chợt thức dậy, Thế vẫn thấy Di gò lưng ngồi gõ chiếc máy vi tính cũ do Trung tâm Văn hoá tặng sau một ngày đi, quan sát, hỏi han, ghi chép… Anh cần mẫn góp thêm vào cái công việc dạy “cách làm ăn làm uống”, “đường lý đường lẽ” cho đồng bào anh… Và anh còn phải lo cho cái gia đình nặng gánh của mình, lo đắp lại cái ao cá mà trận mưa lũ vừa qua cá chạy đi hết, lo tìm cách bón phân giữ nước cho những cây nhãn ít bói quả trong vườn, lo tiền mua sách vở và đóng góp trường học cho hai con gái nhỏ, lo tiền thuốc thang cho vợ… Song, có lẽ điều quan trọng nhất đối với Hờ Di là: những nguồn tài trợ in sách của trung ương, của địa phương tuy không đáng kể, nhưng cũng giúp các “đứa con tinh thần” của anh ra đời và đến được với đồng bào Mông như những “món quà của Thượng đế”…

Thế bảo Di: “Ông này, giờ đây, trên con đường đến với thơ văn, có lẽ ông chỉ còn gặp trở ngại lớn nhất là những hòn đá núi, những khúc sống trâu, những vũng lầy trên các đoạn đường bị băm nát khi ông điền dã tới những làng bản vùng cao heo hút hiểm trở… Và các cô gái trẻ mê thơ ông…”. Di cười hồn hậu. Thế hiểu: Trong con người nhỏ thó đen sắt lại vì mưa nắng kia quả được hun đúc bởi cái nghị lực sống não lòng của những con người bao đời tồn tại trên dốc cao chìm khuất giữa sương mù, và hiện đang đứng trước không ít thử thách nặng nề để sống cho ra sống. Thế nhớ lại cái ấn tượng ban đầu gặp Hờ Di… Người Mông xưa thường buồn bã ví dân tộc mình như một cánh chim: Người ta có ruộng, người ta ăn thóc mọc dưới đất… Người Mông ta không có ruộng, ta bay trên trời cao tìm quả ngọt trong rừng. Dạo ở Tây Bắc làm “giáo khổ”, anh từng được nghe kể về loài chim Chèo bẻo, loài chim nhỏ nhắn có sức sống kiên cường, dũng cảm và mưu lược, chiến thắng được cả diều hâu hung dữ… Phải, bây giờ Thế đã có thể ví nhà văn người Mông này như một con chim chèo bẻo đáng yêu giữa vùng rẻo cao biên cương đang say mê hát thêm đoạn sau cho bài hát cũ – để bài hát có thể chuyển từ buồn đau sang khát vọng tự do, cùng với ý chí vươn lên đổi đời…

4.

Mai, con gái Thế, ở tuổi 17 đã hỏi sau một giờ học môn lịch sử: “Bố ơi, thế điều gì có tính quyết định khiến ông Nguyễn Thái Học đứng ra thành lập tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng ạ? Sao còn trẻ thế mà ông ấy lôi cuốn được nhiều người vậy? Bí mật gì, hở bố?”.

Thói quen “bí mật hóa” mọi chuyện của con gái anh có từ lâu, như: “góc bí mật của con trong phòng bố”, “chuyện bí mật chỉ hai bố con biết thôi nhé”, v.v. từng làm anh vui thích, giờ lại thành ra tình huống khó xử, đánh mất sự thanh thản của anh.

Thế đã nhiệt tình giảng giải, với kiến thức lỗ mỗ của một “lều sử học” – như anh vẫn tự nhận với kẻ nửa trẻ con nửa người lớn ấy. Anh còn kể lại, đọc lại nhiều đoạn văn từ không ít tác phẩm viết về nhà Cách mạng lớn đó nhằm giải tỏa thắc mắc của con trẻ. Song mọi cố gắng của Thế không thuyết phục nổi con bé. Nó vẫn đăm chiêu như bà cụ non. Duy có chi tiết tiểu sử này khiến nó chăm chú: ông Nguyễn Thái Học thời học trò trường làng gặp mẹ ông Đội Cấn co ro rét ngoài đồng, về xin mẹ mua cho bà ấy chiếc áo bông…

Mấy tháng sau, bước vào năm cuối cấp phổ thông trung học, con bé lại hỏi điều đó, diễn đạt khác chút, nhưng vẫn là cái “bí mật chết người” kia về ông Nguyễn Thái Học… Từ bực mình vu vơ, anh đi đến chỗ thất vọng, bất lực. Thế cố quên đi câu chuyện này cùng sự bất lực vô duyên của anh. Khi nó hỏi một lần nữa, anh giả vờ không nghe thấy, im lặng dắt xe đi.

Trên đường tới chỗ hẹn làm việc, Thế vô tình đi qua phố Nguyễn Thái Học, con phố tuổi thơ của anh em Thế. Tới Bảo tàng Mỹ thuật ở quãng giữa phố Hàng Đẫy xưa, đối diện phía sau Văn Miếu – Quốc Tử Giám, không hiểu một thế lực quái quỷ nào buộc anh dừng xe rồi bước vào, quên bẵng cuộc hẹn…

Thời gian qua, đôi ba lần Thế đến Bảo tàng này vì chuyện phim ảnh liên quan tới Mỹ thuật dân gian. Nhưng hôm nay anh mới sực nhớ tới lai lịch của nó – từ cuốn sách viết về Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX đọc được đã lâu – là một cơ sở của nhà Chung làm ký túc xá cho học sinh sinh viên người Pháp không có gia đình ở Hà Nội, mang tên Jeanne d’ Arc – nhân vật lịch sử mà chiến sĩ quả cảm Nguyễn Thị Bắc (Cô Bắc) trong một Tòa Đề hình thực dân đã nhắc đến – qua miêu tả của báo chí thời ấy, trước sự chứng kiến của Nguyễn Thái Học và các đồng chí bị xử án cùng đợt: “Ta không có gì để nói, chỉ muốn bảo các người: hãy về đạp đổ tượng Jeanne d’Arc đi rồi sang đây kết án ta!”… Có một bộ phim Pháp: La Passion de Jeanne d’Arc kể về nữ anh hùng trẻ tuổi này trước tòa án Giáo hội Anh được thực hiện năm 1928 – giai đoạn cuối của thời đại phim câm; bộ phim chắc chắn đã được đem chiếu kinh doanh tại các thành phố lớn thuộc địa, và các sinh viên Cao đẳng từng đọc sử về Jeanne d’Arc bằng tiếng Pháp và thuộc lòng diễn văn của Danton[89] từ nguyên tác như Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Hồ Văn Mịch… không thể không tìm xem. Cô đào trẻ Falconetti lần đầu đóng phim vào vai Jeanne cũng bằng tuổi con gái Thế… Một tia chớp lóe trong óc anh: biết đâu, đây chính là đầu mối giúp anh khám phá ra cái “bí mật” mà con gái anh đang khao khát? Nhưng tia chớp đó lập tức bị chìm biến đi giữa những ánh chớp sáng lòe và tiếng sấm dữ dằn của một cơn bão đang ập tới bên ngoài.

Lang thang trong gian Mỹ thuật thời hiện đại, Thế bỗng chú ý đến một bức tranh lụa vẽ cảnh Đà Lạt của một danh họa Việt Nam trường phái École des Beaux-Arts[90], nơi bố anh từng học, và chợt nhớ mấy năm trước đưa con gái tới thăm một khuôn viên tuyệt đẹp từng là Dinh thự Toàn quyền ở miền Trung… Hai bố con đang ngồi trên ghế đá ngắm cảnh, có một người đàn bà lớn tuổi thọt chân bưng thúng bánh lá tới chào hàng. Anh nhìn qua vào lòng thúng, rồi lắc đầu… Con gái anh, một lúc sau lay vai bố, nước mắt lưng tròng. “Bố ơi, mua cho bà ấy đi, bố”. Nó kéo tay anh tới chỗ bà bán rong, ngồi sụp xuống chọn nhanh mấy chiếc bánh, rồi chủ động lục ví anh để trả tiền. Thì ra, trong lúc anh mải mê ngắm cảnh thơ mộng, đứa con gái mười một tuổi lại chăm chú theo dõi nỗi vất vả của bà bán rong. Một nỗi bàng hoàng chợt xông lên làm nhòa mắt anh. Lúc đó, anh lờ mờ hiểu ra cái bí mật sâu thẳm đang điều hành cơ chế tâm hồn con gái lâu nay, như muốn biến thành bí mật chung của hai bố con và làm hành trang còi cọc song chưa có gì thay thế nổi để phân biệt những giá trị Thật – Giả trong cõi đời phù du này…

Rồi, như có sự “đạo diễn” hình ảnh cố tình, giữa lúc mưa ào ạt bên ngoài, một bức tranh sơn dầu cỡ lớn vẽ phu mỏ thời thuộc địa chợt xuất hiện trước anh. Và một chiếc giày đinh lính trận to đùng thường được dân gian gọi là giày săng-đá[91] như được ống kính máy quay chơi cú close-up – cận cảnh đập vào mắt anh. Chiếc giày săng-đá có gì hao hao với khuôn mặt trơ lỳ thâm hiểm của viên pháp quan trong bộ phim câm La Passion de Jeanne d’ Arc[92] nọ, kẻ đang thi thố mọi mưu mô nhằm dồn cô Jeanne bằng được lên dàn lửa thiêu đã chuẩn bị sẵn ngoài tòa…

…Trong ngôi nhà nhỏ của Nam Đồng Thư Xã[93] gần hồ Trúc Bạch. Nguyễn Thái Học rời tờ báo Le Petit Parisien (Người Pa-ri nhỏ). Bàn tay anh nắm chặt lại đau đớn, thân người vạm vỡ run lên, khuôn mặt khắc khổ đầm đìa nước mắt. Ký giả Louis Roubaud mà tên tuổi gắn với lòng trung thực từng quen thuộc với các trí thức trẻ nhóm Nam Đồng Thư Xã, được các anh kính nể qua nhiều thiên phóng sự nóng hổi, lúc này đã khiến người thanh niên cương nghị có vẻ ngoài sắt đá ấy phải lặng khóc như chưa từng khóc thế bao giờ. Bài báo mới nhất của ông tường thuật chi tiết một vụ nghi ngờ mất cắp cuộn len nhỏ, tên cai trưởng Thérésaux to như gấu đã đạp giày săng-đá liên tục vào bụng cô thợ Thị Va bé nhỏ chỉ biết kêu oan thảm thiết, kiến cô gái 17 tuổi xinh đẹp khỏe mạnh trở thành kẻ tàn phế!

Nguyễn vùng đứng dậy và loạng choạng bước ra ngoài để tránh cho các bạn khỏi nhìn thấy nước mắt giàn rụa đã lau vội của mình.

Trời bắt đầu cơn sấm sét mưa dông. Chẳng ai có thể cản anh. Tâm hồn anh tràn ngập hình bóng quằn quại đau đớn của cô bé xa lạ giờ bỗng trở nên gần gụi, cô bé cùng lứa với hai cô em gái của anh, của các bạn trẻ Phó Đức Chính, Hồ Văn Mịch, Nguyễn Đức Sơn, bằng tuổi những thiếu nữ làng Thổ Tang mà anh thường âu yếm véo má nghịch khi chúng đến chơi với em gái thứ hai của anh, khiến chúng vờ che mặt khóc ầm ĩ chạy tới mách mẹ anh rồi cùng ré lên cười thích thú…

Bước chân gần như mộng du không phương hướng đưa Nguyễn tới trước một vườn hoa nhìn sang khu phủ Toàn quyền. Từ viên Toàn quyền đầu tiên Jean Antoine Ernest Constans đến đương kim Toàn quyền Alexandre Varenne, đã có gần ba mươi vị “thống lĩnh khai thác xứ sở toàn Đông Dương” ngự trị tại chốn này. Đó là một khu đất rộng mênh mông, mặt trước là con đường lúc đầu mang tên Avenue Thành Thái có dãy lan can hình trụ đẹp, bên ngoài có hàng rào cây xanh; ở giữa là con hào nông. Mặt sau giáp với vườn Bách Thảo, ngoài cùng có hào sâu. Khu phủ Toàn quyền có ngôi nhà chính là Dinh Toàn quyền cao to đồ sộ, cổng lớn bằng sắt hoa, hai bên xây vọng gác; qua một sân rộng rải sỏi mới tới thềm cao hơn mười bậc, dẫn tới nơi làm việc của Toàn quyền và các phòng riêng của gia đình Toàn quyền. Cạnh đó là một ngôi nhà lớn hai tầng nhiều gian là nơi làm việc của các nhân viên văn phòng phủ Toàn quyền – tất cả đều trang hoàng nội thất kiểu châu Âu cổ điển cực kỳ trang nhã, sang trọng. Chung quanh các ngôi nhà là vườn rộng, bồn hoa, ao sen, đường rải sỏi. Đằng cổng trông ra Quảng trường tròn có bồn hoa lớn, dãy tường cao uốn theo hình vòng cung có mái, có vọng gác… Một người bạn sinh viên của Nguyễn Thái Học sau khi toại nguyện mơ ước vào làm việc ở chốn “quý tộc” đó đã say sưa miêu tả lại quang cảnh nội – ngoại thất nơi đây như muốn truyền thêm cảm hứng và nguyện vọng phục vụ Chính phủ Bảo hộ cho anh, người chuẩn bị được phân nhiệm!

Nhưng tâm trí Nguyễn mau chóng rời bỏ mẩu hồi ức giống những bộ phim hài rẻ tiền hoặc yêu đương mùi mẫn mà anh không xem nổi tới một phút đang ngập ngụa ở các rạp chiếu bóng khiến người ta tạm quên đi cảnh nô lệ nhục nhã. Đè trĩu lòng anh lúc này là bóng dáng âm u nặng nề của cả khu phủ Toàn quyền trong mưa gió tựa một chiếc giày săng-đá khổng lồ đang giẫm đạp một cách ngạo mạn và thô bỉ lên cựu kinh thành Thăng Long xơ xác, rớm máu, khóc than… Tiếng khóc than ấy được phụ họa thêm bởi tiếng mưa âm thầm dội xuống mặt đất đương chìm ngập thương đau đói khổ của bao kiếp người…

Không buồn chùi nước mắt, bởi chẳng hiểu nước mưa hay nước mắt, Nguyễn bất giác quay như muốn tìm cái gì đó. Bãi đất trống rộng đằng trước mặt phủ Toàn quyền vốn là nhà kho – bệnh viện giờ thành vườn hoa. Mấy năm trước, khi mới là sinh viên trường Cao đẳng Thương Mại anh từng qua vườn hoa này, còn thấy tượng một phụ nữ Pháp to béo ngồi trên một quả cầu lớn trang trí rồng phượng và rùa đội thiên thư, có thêm tượng hai cô gái Việt gầy gò xõa tóc bơi dưới bệ gạch tượng trưng cho hai con sông: sông Hồng và sông Cửu Long. Chắc do dư luận chế nhạo là xấu xí, lố lăng, lai tạp, nên người ta đã đập bỏ nó sau gần hai chục năm bẽ bàng phơi mưa nắng…

Còn phủ Toàn quyền kia! Đầu não của một bộ máy cai trị khủng khiếp, vô luân, tàn ác! Mi cũng đã tới lúc không thể tồn tại được nữa rồi! Các người hãy đợi đấy! Chúng ta là con em của một Dân tộc bị chôn vùi trong tăm tối nhưng không thể chịu nhục, không thể chịu tăm tối thêm một ngày nào nữa!…

Trong mưa, và trong nước mắt xót xa căm giận lại một lần nữa trào ra hòa mưa, Nguyễn đã thốt lên những lời như vậy của một Nhà Tiên Tri sấm sét, tích tụ nỗi đau thương của một Dân tộc cho tới hôm đó đã trải qua ngót hai thiên niên kỷ nhuốm máu và nước mắt.

Nguyễn vội vã trở về, người ướt như chuột lột; thay áo xống song, lại cả đêm thao thức. Sớm hôm sau anh tức tốc triệu tập một cuộc họp tối quan trọng của Nam Đồng Thư Xã. Đó là cuộc họp lịch sử đi tới quyết định thành lập một tổ chức “thiết huyết cách mạng” mang tên Việt Nam Quốc dân Đảng mà Nam Đồng Thư Xã là Đệ nhất Chi bộ, bắt đầu cho một cao trào mới của Cách mạng Việt Nam dưới sự chỉ huy của Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và các thủ lĩnh kiên trung, khiến mấy vị Toàn quyền điên đầu mất ăn mất ngủ nhiều ngày tháng ròng trong Dinh Toàn quyền Hà Nội, hoặc các Dinh thự Toàn quyền ở Sài Gòn, Đà Lạt.

Có một điều Đảng trưởng Nguyễn Thái Học không ngờ được, là chỉ mấy năm sau anh đã có dịp được tiếp xúc trực tiếp ba lần với nhà báo Pháp mà anh mang ơn: lần đầu tại một Tòa Đề hình Yên Bái, lần thứ hai trên con tàu đêm của Công ty Hỏa xa Đông Dương đưa 13 chiến sĩ Việt Nam Quốc dân Đảng lên xử chém tại Yên Bái, và lần cuối tại pháp trường sáng hôm sau. Giữa lúc tàu đang lăn về chốn Âm phủ, vào 11g30 đêm 16-6-1930, sau khi nghe viên cố đạo Drouet trách các tử tù: “Nếu như nước Pháp phải cảm ơn người La Mã đã đem lại văn minh cho dân tộc Gauloir, thì các ông cũng phải thừa nhận những điều tốt đẹp mà người Pháp đã làm cho Việt Nam, phải cảm ơn người Pháp chứ!”, Nguyễn đã phẫn nộ đáp trả bằng tiếng Pháp át tiếng ầm ầm của đoàn tàu băng đêm tối: “Phải cảm ơn người Pháp xâm lược ư? Chúng tôi phải cảm ơn kẻ đã đạp giày đinh nhiều lần vào bụng cô thợ dệt còn là một đứa trẻ, chỉ vì nghi ngờ cô ăn cắp một cuốn sợi nhỏ? Đã có hàng vạn người vô tội bị giết bởi bom dội xuống làng, hoặc chết đói chết khát do Chính phủ Đông Pháp đốt mất nhà cửa, cướp bóc lương thực và phương kế sinh nhai! – Anh hạ giọng nói với nhà báo Pháp đi cùng đoàn tử tù – Chính ông đã viết những điều đó trên tờ báo của ông! Xin cám ơn ông!”.

Nhà báo L. Roubaud ngay trong năm 1931, cách cuộc hành hình tại Yên Bái khiến ông tỉnh ngộ thêm nhiều điều khoảng tám tháng sau, đã cho xuất bản cuốn sách chấn động dư luận nước Pháp và xứ Đông Dương thuộc địa: Viet-Nam La Tragédie Indo-chinoise (Việt Nam, tấn thảm kịch Đông Dương); trong đó ông dành rất nhiều trang, nhiều chương viết về cuộc Khởi nghĩa Yên Bái, về các yếu nhân của Việt Nam Quốc dân Đảng, đặc biệt là Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính mà ông trân trọng mệnh danh: LE GRAND PROFESSEUR (Đại giáo sư) và DROIT ET VERTU (Quyền hạn và Đức độ) rồi đặt làm tên cho hai chương sách. Dĩ nhiên, trong khi kể lại các thảm kịch của làng quê Việt Nam, của người nông dân và công nhân Việt Nam thời ấy, ông chẳng những không quên mà còn miêu tả kỹ hơn, buồn bã hơn câu chuyện về cô bé thợ dệt Thị Va bị tàn phế suốt đời bởi giày săng-đá của tên cai thực dân độc ác. Nhưng ông không thể hình dung nổi rằng: đó chính là một đầu mối quan trọng giải tỏa cho bí mật riêng của hai bố con nhà báo quèn nước Việt ngót một thế kỷ sau…


[88] Tác giả: GS. Huỳnh Lý

[89] G. J. Danton: một trong những nhân vật lãnh đạo của Cách mạng Pháp nhằm lật đổ chế độ quân chủ và thành lập nền Đệ Nhất Cộng hòa Pháp, sau bị đưa lên máy chém.

[90] Tức trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội.

[91] Từ chữ soldat (lính), tức loại giày dã chiến cao cổ có đóng đinh và cá sắt.

[92] Đời khổ nạn của Jan Đa.

[93] Tiệm sách (Tùng thư) do một nhóm trí thức trẻ lập ra vào cuối năm 1926, gồm các ông Phạm Tuấn Lâm (Dật Công), Phạm Tuấn Tài (Mộng Tiên), Hoàng Phạm Trân (Nhượng Tống), Nguyễn Cát Ngạc (Nam Xương), sau đó Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính… cũng tham gia làm thành viên chủ chốt; đã xuất bản nhiều sách báo yêu nước, cách mạng. Nam Đồng Thư Xã là tiền thân của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.