Mai An Nguyễn Anh Tuấn
10.
Trong phòng dành riêng cho đạo diễn ở khách sạn Công đoàn tỉnh, sau khi đọc lại mấy phân cảnh cho ngày quay hôm sau, Thế tắt đèn đi ngủ. Chợt có tiếng gõ cửa nhè nhẹ, lúc đầu rụt rè, sau quả quyết.
Lại cái tay trợ lý! Chuyện gì không để tới hôm sau? Mệt bã cả ngày quay rồi! Nghĩ vậy, song anh cũng miễn cưỡng bật đèn, ra mở cửa.
Hóa ra là cô học sinh trường nghệ thuật tỉnh, bị trượt vai chính hôm qua trong đợt tuyển chọn diễn viên lần cuối tại địa phương. Hôm nay thì đoàn làm phim đã dự kiến xong xuôi về các vai mà cô chỉ là vai phụ.
“Cô ta chủ động tới gõ cửa phòng đạo diễn làm gì nhỉ?”. Thế gắng giữ phép lịch sự, mời cô ta vào phòng. Sau vài câu hỏi han xã giao, cô gái thành thực bày tỏ nguyện vọng vào vai chính, bởi cô rất thích kịch bản này, vai diễn này. “Em tin rằng em sẽ đóng tốt vai chính, bởi em tìm thấy trong đó tâm sự, và cả số phận của bản thân em…”.
Chao, một cô bé sinh ra ở quê lúa chưa học hết trung học chuyên nghiệp, lại có thể nói trơn tru như vậy về “Số phận” y như một nữ sĩ từng trải! Anh thầm nghĩ vậy, song vẫn lắng nghe cô trò chuyện, không phải để tìm ra khả năng diễn xuất mới mà lần casting diễn viên hôm trước đã bỏ qua, mà để có dịp hiểu thêm về lớp trẻ ở vùng đất nông – ngư nghiệp truyền thống này…
Nhưng sau rất nhiều tâm tình của cô, nhất là những chuyện mà cô nghe kể hay đọc sách báo về không ít diễn viên đã “cặp bồ” với đạo diễn để được vào vai chính, thì anh hiểu ra cái động cơ cô đến tìm anh đêm ấy…
Thế định “lên lớp” cô ta – nào là: em đã hiểu nhầm về giới nghệ sĩ rồi, không phải đạo diễn nào cũng chấp nhận “tình một đêm” với diễn viên để đổi lấy vai chính, nào là: nghệ thuật là nghệ thuật, không thể đưa chuyện “mua bán” tình cảm vào đây, em là sinh viên trường nghệ thuật thì cần biết điều đó đầu tiên, v.v.
Nhưng với một cô bé xinh xắn bằng tuổi con gái đầu lòng của anh, ít kinh nghiệm sống, còn nhiều sự trong sáng, đang ôm mộng đẹp về nghệ thuật, những lời lẽ như của ông “tuyên huấn” hay của một ông thầy dạy môn đạo đức liệu sẽ có tác dụng gì? Bản thân anh cũng không phải là nhà “đạo đức học”; và tuy không bị mắc bệnh “bách hại cuồng” nhìn đâu cũng thấy cạm bẫy, trước “sinh mệnh” của bộ phim sắp thực hiện và công việc chuẩn bị của hai chục thành viên đoàn làm phim trông mong vào đạo diễn, anh càng cần phải biết giữ mình cẩn thận…
Và không hiểu sao anh chợt thấy thương quý cô bé. Anh bắt đầu kể cho cô nghe về chuyện diễn viên huyền thoại Mỹ Vivien Leigh xuất hiện trước cả đoàn làm phim vào đúng ngày bấm máy Cuốn theo chiều gió và tuyên bố: “Vai Scarlett này là để dành riêng cho tôi!”. Mọi người cười ồ, nhưng đạo diễn đã mời cô thử vai luôn. Kết quả làm mọi người sửng sốt, vì họ đã tìm thấy vai diễn chính xác, quả là khó ai thay thế được cô vào vai chính!
Rồi anh còn kể cô nghe một bộ phim về Đông Đức trước khi bức tường Berlin bị dỡ bỏ (phim The Lives of Others): phim có nhân vật ông Bộ trưởng Văn hóa dốt nát và hám gái đã tìm cách chiếm đoạt cô diễn viên nổi tiếng – vợ một đạo diễn sân khấu và là nhà đấu tranh cho Dân chủ. Cô diễn viên đau khổ, đang định thực hiện giao kèo “bán mình” để mong cứu lấy tự do và sự hành nghề của chồng, thì viên sĩ quan mật vụ chuyên nghe lén đã kịp nhận ra sự độc ác của những kẻ cầm quyền, cảm động trước tình yêu của những nghệ sĩ yêu lẽ phải. Ông tới gặp cô diễn viên tại quán cà phê đúng đêm cô đi “bán mình” và bảo: “Cô là một nghệ sĩ lớn, cô không cần phải hạ mình trước bất kỳ kẻ nào – dù đó là kẻ cao nhất đang nắm vận mạng Đất nước bị tù đày này…”. Như bừng tỉnh ngộ, cô diễn viên trở về nhà ngay với người chồng đang khổ sở, nghi ngờ, dằn vặt, đem thêm sức mạnh tinh thần cho anh cùng đồng chí âm thầm chống lại chế độ độc tài.
“Diễn viên tương lai của tôi! Tài năng thật sự thì không có gì mua nổi được. Tôi tin em có năng khiếu diễn xuất đấy, chắc hôm thử vai đang giận dỗi người yêu nên bị phân tán tư tưởng? Mai lên đoàn thử lại nhé?”. Anh kết thúc câu chuyện với cô gái như vậy, với niềm hy vọng chung của cả hai người. Quả nhiên, sau đó, cô đã được anh và cả đoàn phim chấp nhận vào vai chính, cô đã thể hiện xuất sắc vai diễn. Cuộc Chạy Vai, Mua Vai đáng xấu hổ đã không diễn ra, đó là thành công của cô gái, và chính anh…
Nhưng, có một tình tiết độc đáo như xi nê mà Thế cố tình dấu mọi người, và cũng đánh lừa chính anh trong nhiều năm:
Sau khi anh kể cho cô gái nghe câu chuyện phim về nữ diễn viên Đức tỉnh ngộ trước cạm bẫy và đe dọa, anh thấy cô gái ngơ ngác không hiểu gì cả, thậm chí cô như mê dại đi trong khát vọng được vào vai chính đến độ sẵn sàng vứt bỏ hết danh dự lẫn tương lai của một người con gái trinh trắng. Chỉ thiếu nước cô quỳ lạy trước thằng đạo diễn đang tuổi tráng niên, lại xa vợ lâu ngày, dục vọng quỷ dữ vốn chìm sâu đã bắt đầu bị kích thích… Một cơn giận dữ khó hiểu bốc lên, anh định giang tay cho cô bé một cái tát cùng những lời chửi mắng đích đáng cho hả dạ. Nhưng anh chợt kìm lại được, chạy vội vào toa-let như sắp bị nôn mửa…
Mấy phút sau, quay trở ra, anh đã lấy lại được phong độ ban đầu, bình tĩnh và nghiêm nghị bảo cô gái: “Cháu về đi. Muộn lắm rồi! Mai lên đoàn thử lại vai!”
Câu chuyện trên điễn ra vào cái thời cả xã hội đang vận hành một guồng quay có tên: CHẠY – guồng quay điên cuồng trên các lĩnh vực, trong các giới xã hội – chạy Quyền, chạy Chức, chạy Dự án, chạy Danh hiệu, chạy Bằng cấp, chạy Giải thưởng, chạy Cúp vàng, chạy Thành tích, chạy Điểm, chạy Vai diễn, chạy Lớp, v.v. Đã “Chạy” thì phải bắt buộc “Mua”, mua bằng bất cứ giá nào, mua bằng cả tư cách, nhân phẩm. Guồng quay ấy khiến cả xã hội nháo nhác, mê dại, đã khiến con người tha hóa một cách nhỡn tiền, và phần nhiều những “chủ nhân” đứng ra tổ chức & điều hành các guồng quay đó thực chất là những kẻ “làm tiền” một cách thô bỉ ngày càng lộ rõ bản chất dù có khoác cái vỏ văn hóa sang trọng đến đâu!
Cô bé ôm mộng diễn viên đó gợi cho Thế nhớ đến hàng loại sự kiện của thứ guồng quay này: Bạn anh, nhà văn nhà giáo Chu trong Ban Lý luận Phê bình của Hội Nhà văn có kể lại trong một cuộc “trà dư tửu hậu”: một nhà thơ (mà Thế cũng có quen biết) đã tìm đến Chu, tận dụng sự quen biết và tính cả nể của anh, năn nỉ thuyết phục: “Mấy năm nay mình làm đơn xin vào Hội, nhưng Hội viên thơ đông quá… Còn Hội viên Lý luận Phê bình chắc ít… Mình tin là tám vị trong Ban Lý luận Phê bình, ai cũng thương quý mình và thích thơ mình… Nhưng cậu là người duy nhất mình cầu khẩn đấy…”. Thế là Chu mủi lòng đồng ý; nhưng sau đó anh ngã ngửa người: các vị trong Ban đều được nghe những lời như thế của anh ta, và đều nể nang gật đầu đồng thuận. Thế là anh ta đã lọt vào Hội Nhà văn một cách vinh quang, chỉ tốn chút nước bọt của người thuyết khách, và “vài chén rượu nhạt” – như cách nói của cố nhà thơ nhà báo Bình, bạn chung thân thiết của cả bọn nhà giáo làm thơ viết văn! Nhưng sau cuộc “Chạy” Hội ngoạn mục như thế, anh nhà thơ viết ngày một tồi đi – cả thơ lẫn lý luận phê bình mà mọi người không nỡ từ chối nhận sách nhưng không dám đọc nữa. Thì điều đó có gì là quan trọng: anh ta đã toại nguyện mơ ước, từ nay các Kỷ yếu của một Hội vào loại sang trọng nhất nước đều sẽ phải ghi tên anh ta!
Chu kể, anh đã từng ân hận khi viết một bài phê bình ưu ái cho một nữ thi sĩ trẻ, sau đó cô ta đem bài phê bình đó như cái “bùa hộ mệnh” để chạy chọt giải thưởng… Và cô ta đã thành công rực rỡ! Nhưng Chu thì mắt đỏ ngầu vì ân hận, khổ sở, anh lắc đầu thở dài: “Nể cô ta cứ nằn nì viết hộ, thấy cũng được, đã viết phê bình thiên về ưu điểm; song thực ra còn lễnh loãng chữ nghĩa lắm, nhiều triết lý gượng ép, lại làm ra vẻ đã là nhà thơ lớn; nhất là sự háo danh sẽ giết chết sự nghiệp nhiều triển vọng của cô ta… Giải thưởng Chạy ấy sẽ làm hại cô ta!”. Sau đó, Thế đã không đủ lòng “dũng cảm” để đọc bất cứ tác phẩm nào của nữ thi sĩ nổi danh nọ, và anh còn được biết mấy vị “nhà thơ Câu lạc bộ” cũng lặng lẽ hạ sách của cô ta xuống khỏi giá đem tặng người khác để được tiếng là đã quen biết một nữ thi sĩ thành danh nổi như cồn! Có một chuyện háo danh, cũng của nữ thi sĩ này gần trở thành “giai thoại”: một nhà dân tộc nhạc học lừng danh Việt Kiều ở Mỹ về nước nói chuyện; cô ta cũng đến tham dự, lúc giải lao tới lân la làm quen, xin số điện thoại rồi hỏi: “Ông có biết tôi là ai không?”. Vị dân tộc nhạc học nọ ngẩn ra lắc đầu. Cô ta nghiêm mặt: “Ông là người nổi tiếng mà không biết đến tên tuổi của tôi, đó là một thiệt thòi lớn đấy!”.
Một buổi đang ngồi chuyện phiếm với người bạn đồng nghiệp làm trưởng khoa Đạo diễn một trường Nghệ thuật, Thế được chứng kiến “màn kịch” này: một Nghệ sĩ Nhân dân bước vào văn phòng của anh, sau vài câu chào hỏi xã giao, đã đặt phịch lên bàn anh một gói lớn (chỉ có thể là tiền), vừa trịch thượng vừa bỗ bã thân mật bảo: “Tôi cần bằng đạo diễn, và thừa phẩm chất làm đạo diễn; song không có thời giờ ngồi học với lũ choai choai hay mấy vị hàm thụ hết hơi đâu, bởi tôi đang được cơ cấu để thay giám đốc Nhà hát của tôi vào năm tới…”. Không may cho anh ta, và cũng may cho Thế (cho cả khán giả nữa), là anh bạn anh cũng đã cầm gói tiền lịch sự nhét trả lại túi Nghệ sĩ Nhân dân nọ và bảo: “Cậu tới nhầm địa chỉ rồi… Hy vọng gặp cậu ở phòng thi tuyển mà tôi là thành viên Ban Giám khảo…”.
Một nữ họa sĩ lớn tuổi từng là học trò của bố anh lâu nay đi vào kinh doanh hội họa, có lần tới hỏi ý kiến anh: “Một doanh nghiệp đứng ra tổ chức trao giải Cúp vàng tôn vinh các nghệ nhân có công lao trong sự nghiệp văn hóa – nghệ thuật thời đổi mới, họ trân trọng mời chị…”. Thế hỏi lại ngay: “Thế họ trân trọng ra giá bao nhiêu cho cái Cúp vàng ấy, hở chị?”. Mới đầu, chị có vẻ tự ái, sau hiểu ra sự chân tình của anh nên thú thực số tiền mà các đối tượng được “trân trọng” đó phải đóng góp (tới vài chục triệu đồng) để được “mua” được “Danh hiệu cao quý” trên… Thế nhưng, cuối cùng chị cũng “vào tròng” của cái doanh nghiệp tạo ra danh hiệu vớ vẩn ấy một cách ngọt ngào… Trong tấm ảnh chị khoe hôm trao Cúp, có đại diện của nhiều quan chức lớn Nhà nước (sau đó có vị đã bị đưa vào “Lò Đốt”), rồi chị cũng tránh gặp mặt Thế vì có lẽ xấu hổ. Bởi sức mạnh của hư danh mà chị thấy cần thiết đã lớn hơn, lấn át cả tình bạn, tình thân và những lời khuyên gan ruột chân tình!
Có lần, khi các sinh viên đã nộp phim bài tập cuối năm cho chủ nhiệm và phụ trách bộ môn, Thế thấy còn một sinh viên không nộp bài, bèn nhắn tin. Hôm sau, phụ huynh của sinh viên đó đến nhà anh, với tư cách là “bạn đồng nghiệp” tới thăm, cùng một chai rượu Tây đắt tiền và phong bì khá nặng… Thế biết là nặng, bởi anh đã cầm cái phong bì ấy nhét lại vào túi bà ta và chân tình bảo: “Chị ạ, chị nâng đỡ con chị bằng kiểu chạy điểm này, tức là đã góp phần giết tương lai nghề nghiệp của nó đấy! Sau này, khi được giao phim, liệu nó có đủ tiền để thuê người khác làm hộ cho không? Tôi không dám và không thể cho điểm khống được, bởi không chỉ các sinh viên khác sẽ xì xào, mà đó là nguyên tắc sống của tôi. Chị đã mang rượu quý đến, tôi xin nhận, với tư cách là ông thầy xin uống mừng bài tập sẽ hoàn thành của sinh viên ấy!”.
Rất vui là mấy năm sau, chính em sinh viên muốn nhờ “Lã Bố Lã Mẹ” mua “điểm khống” đó đã gặp anh bày tỏ lòng cám ơn, không phải vì đã chiếu cố chấm điểm cho bài tập nộp quá hạn, mà vì điều này: “Em vẫn nghĩ là cái tiêu cực xã hội tràn ngập này ở thì đâu cũng có, đâu cũng vậy, nhưng hóa ra, ở trường ta thì không phải thế… Các thầy giảng viên cũng là các nghệ sĩ làm phim đã cho em một bài học để đời… Em cám ơn thầy!”. Thế nói vui: “Chỉ với riêng ý nghĩ đó của em, nếu giúp các bạn sinh viên khóa sau đưa được vào một tiểu phẩm, cũng đáng để các thầy cho điểm xuất sắc rồi đấy!”…
Dạo đó, một công ty truyền thông mời Thế làm phim, họ đòi có lý lịch nghệ thuật – gồm danh sách các phim đã thực hiện, các giải thưởng… Anh đem bản khai lên Xưởng. Anh Xưởng trưởng nháy mắt với Thế, vui vẻ: “Làm thủ tục xin Nghệ sĩ Ưu tú à? Muộn thế? Cậu đủ giải A giải B, Huy chương vàng huy chương bạc cả phim lẫn kịch bản phim truyện, phim tài liệu rồi còn gì! Từ Ưu tú lên Nhân dân cũng chẳng bao xa, cậu thừa sức ấy chứ! Nhưng này, “hậu cần” chuẩn bị tốt chưa đấy?”.
Thế hiểu ý “hậu cần” là gì, và bỗng dưng một nỗi nhục từ đâu xộc tới. Nhưng Thế vẫn cố tự chủ và trả lời anh: “Cám ơn lãnh đạo! Nhưng em cảm thấy mình chưa đủ tiêu chuẩn ạ…”. Thế rồi, anh đành khai thật lý do xin chứng nhận bản kê khai. Anh Xưởng trưởng tỏ vẻ phẫn nộ với đòi hỏi của nhà đầu tư phim, rồi ái ngại cho Thế: “Ừ, họ cũng có lý của họ… Nếu cậu đã hoàn thành định mức công việc của Xưởng rồi, làm ngoài cũng được, nhưng phải giấu tên đi, kẻo lãnh đạo Hãng lại phê bình…”.
Trước đó, qua bạn đồng nghiệp trong và ngoài Hãng, Thế đã biết rõ bao sự nhục nhằn của việc tìm kiếm & chinh phục các Danh hiệu; nhưng phải đến phát ngôn bất hủ về sự “hậu cần” nọ, anh mới chợt thấm thía hộ cho nhiều người đã và đang mê mải say sưa chạy theo cái “hào quang” của nó, cái “miếng mồi nhử” hấp dẫn về danh vọng lẫn vật chất đối với số đông nghệ sĩ xứng đáng hay chưa xứng đáng với Danh hiệu… Và Thế phải cám ơn anh Xưởng trưởng, bởi câu nửa đùa nửa thật “hậu cần” chuẩn bị tốt chưa đấy?” của anh đã tiêu diệt nốt chút “vấn vương” trong lòng Thế về các loại Danh hiệu…
Đó cũng là lúc dư luận ồn lên những chuyện “dở cười dở khóc” về các Danh hiệu Nhân dân, Ưu tú, rồi một nghệ sĩ có tên tuổi đâm đơn kiện khắp nơi sau 10 lần không được xét Danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, Thế bỗng nhớ năm trước, một nhà thơ-họa sĩ lớn tuổi có một đề nghị dậy sóng dư luận: “Đã tới lúc xóa bỏ các Danh hiệu!” – không phải vì ông không có các danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú – mặc dù hơn ai hết ông xứng với các danh hiệu này! Và Thế chợt nhớ lại một sự kiện vui vui, kể lại biết đâu có thể an ủi phần nào cho nỗi đau khôn tả của anh bạn diễn viên từng tham gia vai chính trong một phim của anh… Đó là chuyện anh đã từng “rơi” vào một cảnh ngộ đáng nhớ, trong một cuộc chấm thi văn bằng hai đạo diễn: Hôm đó, tại các bàn của Ban Giám khảo có các biển đề chức danh, danh hiệu từng giám khảo, toàn là các Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, Giám đốc, Phó Giám đốc các Hãng phim – rồi mới tới nghề nghiệp của thành viên Giám khảo là “Đạo diễn”. Riêng biển của Thế chỉ có trơn mỗi nghề nghiệp là “Đạo diễn Nguyễn Yên Thế”. Nhưng từ lúc đó cho hết cuộc chấm thi, bản thân anh không cảm thấy một chút tự ty, mặc cảm gì cả; còn các đồng nghiệp của anh cũng coi như đó là điều không đáng kể, không đáng chú ý. Và điều quan trọng nhất là toàn bộ thí sinh cũng không cảm thấy điều gì khác biệt, lạ kỳ gì hết: điều thu hút tâm trí của họ là đoán bắt và tìm cách giải đáp những lời phản biện khiến họ toát mồ hôi hột, dù của thầy Giám khảo là Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú hay chỉ là nghệ sĩ trơn. Và những biển hiệu nọ chỉ là một hình thức mang tính quy định tuy cần thiết, nhưng vô hồn, có chăng làm “nhân chứng câm lặng” cho cuộc đấu trí âm thầm căng thẳng giữa những “Thầy cả” và các “Thợ học việc” sắp “Vượt Vũ Môn”!…
Có lần, một vài sinh viên tìm đến Thế đề nghị làm giảng viên hướng dẫn làm phim Tốt nghiệp, anh nói vui: “Thầy không phải là Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, sao các em không tìm đến các thầy khác?”. Một cậu bảo: “Thầy ạ, em tìm đến thầy là qua một thầy khác trong trường giới thiệu, và cũng bởi, qua các phim và bài viết của thầy, em cảm thấy thầy sẽ cảm thông được với suy nghĩ của em…”. Thế trả lời: “Nếu em so sánh thầy với các thầy khác để đề cao thầy, thì xin lỗi nhé, thầy sẽ từ chối thẳng thừng đấy, nhưng vì em đã nghĩ như vậy, thầy vui lòng nhận hướng dẫn tốt nghiệp cho em…”.
Một sinh viên chuẩn bị ra trường hôm đó cũng chợt hé mở cho Thế hiểu thêm một điều khá quan trọng: Khán giả, trong đó có học trò của mình đã coi trọng cái giá trị thực của Suy tưởng & Sáng tạo, chứ không coi các chức danh, danh hiệu dù cao siêu lộng lẫy đến đâu làm tiêu chuẩn chân lý, đánh giá.
Sau những thành công và thất bại của bản thân và các đồng nghiệp, giờ đây anh càng thấm thía: Khán giả vào rạp xem phim, hay dừng mắt trước màn hình nhỏ gia đình, điều họ quan tâm là bộ phim đó đã giúp họ có thêm được điều gì có ý nghĩa trong cảm xúc và suy nghĩ, chứ họ không cần quan tâm là tên của các nghệ sĩ Điện ảnh trên màn chữ phim có gắn các danh hiệu gì…
11.
Đã 6 giờ chiều, Thế vẫn còn ngồi ở quán bia “cóc” tại một thị xã đông đúc. Chả là, người bạn thân ở hội văn nghệ địa phương sau khi viết xong cái truyện ngắn, biết anh đang có việc ở thị xã bèn truy tìm bằng được để khoe. Đọc xong dòng cuối bản thảo, ông bạn kéo Thế bằng được đi chiêu đãi. Biết văn nghệ sĩ tỉnh là nghèo nên anh đã chủ động “tiến cử” một quán bia bình dân mà anh từng đến, để ông bạn đỡ thâm thủng “màng túi” khi tỏ lòng hiếu khách và cũng không làm tổn thương đến sĩ diện của bạn… Nhưng thật oái oăm, ở ngay cạnh quán bia này vừa mới khai trương một cửa hàng đặc sản “Gà quê”. Bạn anh định chạy sang kiếm nửa con gà sang nhậu với bia vi sinh (mà anh phải bấm bụng nói là bia địa phương có hương vị rất đặc biệt!). Thế giữ tay bạn lại: “Thôi, uống không cho mát. Uống nhanh, tôi phải về. Ông quên đêm nay là Trung thu, còn tôi có con nhỏ à?”. Ông bạn nhăn mặt: “Ông buồn cười nhỉ. Lâu ngày mới gặp nhau. Xe ông về chỉ hơn tiếng đồng hồ! Mà uống thì phải có đồ nhậu. Gà quê đây ngon lắm, lại an toàn!” Thế lắc đầu quầy quậy: “Nhưng tôi không biết ăn thịt gà!” Không hiểu sao anh bịa ứng phó nhanh thế! Ông bạn tròn xoe mắt sau cặp kính cận dày cộp: “Thế à? Nhưng hình như, lần trước trong cuộc chiêu đãi của tỉnh… Vậy thịt chó nhé? Hôm nay không phải đầu tháng, cũng chưa phải cuối tháng. Trẻ con không được ăn thịt chó73, nhưng chúng ta thì ăn được”. Đúng là lý luận cù nhầy cốt là để cuối cùng được bày tỏ lòng quý bạn. Thế nhún vai. “Tôi càng không biết ăn. Ông biết đấy, tôi tiêu hoá kém, mà thịt chó quá nhiều đạm.” Điều này thì Thế nói đúng trăm phần trăm, và bạn anh thì “tâm phục khẩu phục” hoàn toàn.
Lẽ ra những câu chuỵên văn chương lẫn đời thường của hai “vĩ nhân tỉnh lẻ” sẽ rất trọn vẹn, lý thú, nếu như không có cái mùi cánh gà nướng, chân gà nướng bay sang ngào ngạt, cái mùi “hoa tiêu” đặc trưng của dân nhậu chuyên nghiệp. Thế chỉ là dân nhậu nghiệp dư, nhưng cái mùi “đưa đẩy” bia rượu kia quả là hấp dẫn! Nếu ông bạn anh là dân doanh nghiệp “máu mê” văn nghệ, anh chẳng nề hà gì để xơi gọn cả hai đùi gà quê bạn chiêu đãi, và thêm vài cái cẳng gà nướng cũng chẳng sao – mặc dù anh không phải là kẻ có “tâm hồn ăn uống” gì! Thế bỗng nhớ lại một lần cũng lâu rồi, ở một ngôi nhà sàn miền núi, vào bữa cơm rượu đãi khách, anh đã gắp ngay hai cái đùi gà cho hai đứa trẻ con, trước những ánh mắt thán phục và lời trầm trồ khe khẽ: “Cán bộ hiểu phong tục đồng bào quá!” Và rồi anh chỉ chọn toàn xương xẩu để gặm. Lúc đó, anh chỉ hành động theo thói quen hình thành ở gia đình; và mới ra trường, anh đâu đã biết gì về phong tục đồng bào! Anh chỉ biết một điều: vì quý khách mà gia chủ chọn con gà béo nhất trong đàn gà thường chỉ để đem ra chợ bán chứ ít khi được thịt trong bữa ăn hàng ngày…
Câu chuyện giữa Thế và ông bạn bên cốc bia địa phương, đĩa lạc luộc chẳng mấy chốc lại xoay sang chủ đề “cái ăn” trong nghệ thuật chữ nghĩa. Bạn anh bảo: “Ông thấy không, văn chương nước mình viết về miếng ăn, cái đói sao mà thấm thía! Chắc nhà văn thế giới không ai vượt qua được ông Nam Cao trong “lãnh địa” này!” Thế gật đầu đồng tình, lặng lẽ uống, và mặc dầu bia rất khó uống anh cũng làm ra vẻ “bia rất lạ” như anh tuyên bố lúc đầu, lại còn đòi thêm cốc nữa!
Lúc chia tay, bạn Thế về trước, còn anh chạy vào toa let nồng nặc của quán để nôn ra bằng hết thứ bia cỏ rẻ tiền. Khi ra, anh đang lục túi quần tìm chìa khoá xe máy chẩn bị cho cuộc hành trình gần 60 cây số về Thủ đô thì có một người đàn bà quang gánh toòng teng đến gần anh năn nỉ: “Anh ơi, mua nốt giúp em đi…” Thế nhìn người đàn bà. Gọi là chị cũng được mà gọi là bà cũng không quá. Người ấy thuộc type không thể đoán được tuổi vì sự lam lũ, khổ sở, nhẫn nhịn và có lẽ cả sự tự tôn nữa. Anh nhìn vào đôi sọt. Vài quả na thâm xì, mấy quả hồng rụng cuống lấm tấm đen, đôi ba quả xoài nẫu. Thế bật cười vô thức, vẻ giễu cợt: “Mấy thứ này còn ăn làm sao được nữa hở bà trẻ! Với lại, tôi phải đi xa, không mua hoa quả làm gì!” Anh tra chìa khoá vào cổ xe, rồi bất giác ngước nhìn lên. Đôi mắt người đàn bà ẫng nước. “Bác mua hộ cho các con em đi…”. Lời người đàn bà nhẹ như hơi thở, nhưng hình như có một sức mạnh kỳ lạ nào ẩn phía sau, và chị ta nói thật nhanh, thật khẽ khàng dường bằng cách đó mới có thể duy trì được lòng dũng cảm “…Em bán rẻ cho bác… Em chỉ cần đủ tiền mua một chiếc đèn ông sao… và mấy cái chân gà bị loại cho các cháu đêm nay…” Một lời lẽ thông thường sắp bật khỏi cổ họng anh, như phản ứng của hầu hết mọi người lúc đó: “Việc ấy thì liên quan gì đến tôi! Để tôi đi, cái bà này lôi thôi quá!” Nhưng lời lẽ đó bỗng tắc lại giữa chừng. Thế chợt “ngộ” ra cái hoàn cảnh của người đàn bà xa lạ… Người ấy đang cầu xin anh, với tất cả tính chất cấp bách và cả lòng tự trọng cần phải có… Anh có thể gạt đi, phóng vù xe, và con đường đêm đầy gió lộng trong lành sẽ giúp anh quên đi tất cả sự trớ trêu của nhân thế lẫn cảnh ngộ đau lòng này… Nhưng đó có phải là một giải pháp tối ưu? Còn nếu không, anh sẽ phải làm gì với cái đống hoa quả nát này? Liệu vợ anh, mẹ anh, các em, các cháu anh có cười vào mũi anh là kẻ dở hơi?… Thế cứ nghĩ ngợi bao đồng trong lúc lục túi để trả tiền và nhét các thứ quả vào túi nylon, rồi lại phải làm ra vẻ hí hửng vì đã mua rẻ được của hời! Thế biết trước là mẹ anh sẽ lôi đống hoa quả đó ra từ tủ lạnh rồi kêu trời kêu đất đến hàng xóm cũng phải nghe thấy và phì cười!
Nhưng đó là chuyện của ngày hôm sau. Còn đêm đó, Thế về đến Hà Nội lúc hơn 8 giờ rưỡi. Bụng đói mềm, anh mở lồng bàn đậy mâm cơm để phần (anh đã gọi điện về là sẽ ăn cơm ở nhà). Mẹ anh vì đợi lâu quá nên đã ăn trước rồi lên phòng riêng xem tivi. Sáng nay, vợ anh thuê taxi đưa đứa con gái đầy tháng tuổi về quê ngoại. Theo tục lệ ở quê vợ anh, bà mẹ vợ sẽ ra chăm sóc con gái một tháng sau khi sinh nở tại nhà chồng, rồi sau đó lại đón hai mẹ con để chăm sóc một tháng nữa ngay tại quê. Trước khi vợ con anh đi, mẹ anh đã thịt một con gà to để làm cơm thắp hương, và ở nhà chỉ còn hai mẹ con ăn cơm cúng tối nay. Lúc chiều tối, Thế ngăn bạn không mua gà để nhậu, phần lớn vì ái ngại cho túi tiền của bạn, nhưng cũng một phần vì anh biết chắc lát nữa về cũng được ăn gà quê (bố vợ anh đã gửi ra cho gia đình nhỏ của anh một đôi gà bự nhân dịp đầy tháng con bé).
Nhưng mở lồng bàn, món quan trọng nhất trong một mâm cơm cúng thì anh chẳng thấy! Thế mở chạn. Rồi mở tủ lạnh. Đều không thấy. Anh chạy lên gác. Mẹ anh không rời mắt khỏi tivi. “Mẹ ăn cơm chưa?” – “Rồi! tao đợi mãi…” – “Thế… sáng mẹ không mổ gà à?” – “Sao lại không! Gà hơn cân, béo lắm!” – “Thế có còn không, mẹ?”. Lúc ấy mẹ anh mới rời màn hình tivi, cười hể hả: “Cả nhà Nhíp đến ăn mà chỉ hết có nửa con! À, Nhíp nó vừa đem cho con mày cái đèn ông sao đấy!” (Bà hay gọi gia đình cô em thứ tư của anh bằng biệt danh đứa cháu gái mà bà yêu quý và nuôi dạy từ bé). Thế sốt ruột: “Thế bà để chỗ còn thừa ở đâu?” – “Cái gì còn thừa?” – “Thịt gà ấy!” Mẹ anh ngẩn ra một giây rồi gật gù nhẹ: “Thế mày có bạn đến ăn à?” – “Không ạ, chỉ mình con ăn thôi!”. Bà ngạc nhiên thực sự: “Ơ kìa, tao nghĩ là mày không biết ăn thịt gà, nên tao đã cho mẹ con nó mang về hết rồi! Để mai thì chẳng ai ăn, tao đã chán thịt gà…”.
Nói xong, bà quay lại với tivi… Còn Thế thì sững người. Một nỗi xót xa xộc lên mũi anh. Thì ra, bao nhiêu năm nay, mẹ anh vẫn giữ nguyên cái ấn tượng: thằng con trai trưởng không biết ăn thịt gà!… Suốt những năm dài chiến tranh, sơ tán, rồi đận Giá-Lương-Tiền, một cô giáo dạy nhạc phải tần tảo nuôi dạy 5 đứa con, trông vào đồng lương còm giáo chức và số tiền khiêm tốn của bố anh nhờ vẽ tranh truyền thần, tranh quảng cáo, cổ động, minh họa sách báo… Ở tuổi niên thiếu, rồi đến khi đi học chuyên nghiệp, hễ cứ ở nhà là anh lặp lại thói quen nhường cho các em từ bát cơm độn mỳ độn ngô đến miếng thịt, gắp cá! Đôi lần bố anh đi thực tế sáng tác kết hợp vẽ truyền thần ở tỉnh xa về, hý hửng đưa tiền cho mẹ anh mua con gà nhép cải thiện, tới bữa ăn, lần nào anh cũng phải giả bộ: “Con không thích ăn thịt gà đâu!” Có thế, bố mẹ anh mới yên tâm rằng: không phải thằng lớn nhường nhịn cho cả nhà… Những ngày tháng ấy đã in đậm trong tâm trí anh em Thế. Và trong ký ức của của mẹ anh, khổ thay, đã hằn vết một điều: “Thằng lớn không biết ăn thịt gà!”… Ngồi trước mâm cơm, Thế đã chảy nước mắt, vì thương thân thì ít mà thương bố mẹ thì nhiều… Mẹ anh lúc này đã tắt tivi, đi lại trong phòng, chắc là đang nhớ đứa cháu gái bé bỏng… Bao ngày tháng qua, dường như bà đã động viên con cháu chịu đựng thử thách bằng cái vẻ ngoài hồn nhiên vô tư lự của bà – kể cả khi chạy vạy lo toan từng cân gạo, từng chai nước mắm, từng lít dầu hoả, từng lạng thịt đậu tem phiếu, rồi lo chạy chương trình ở nhà trường, rồi lọ mọ đạp xe đêm hôm đi thăm các con nơi sơ tán; lúc rảnh rỗi lại ngồi son phe những bài hát mới hoặc vùi đầu vào một cuốn truyện dày cộp giấy đen xì do thằng con trưởng vác về… Giờ đây, đã qua tuổi “cổ lai hy”, bà lại vất vả và vui đùa với đứa cháu nội muộn mằn… Còn bố anh, một họa sĩ bất đắc chí thì đã nằm yên nghỉ dưới mộ sâu gần 10 năm nay, người chưa kịp được hưởng chút sung sướng gì của thời kinh tế mở cửa, người mà lúc sinh thời “chỉ bát mì tôm cũng ngon lành tựa bữa ăn đặc sản” – như anh đã viết trong một bài văn tế bố.
Đêm ấy, nhớ con gái, anh đã nhớ thương cho cả một thời đói khổ của gia đình anh. Anh chợt nghĩ đến người đàn bà với cái đèn ông sao chị ta phải mua bằng được cho con trước lúc Trung thu. Chị ta chắc cũng đông con, và chắc cũng phải có một đứa con lớn hay nhường nhịn những đứa bé mấy chiếc chân gà loại rẻ tiền, với lý do đầy sức thuyết phục: “Con không thích ăn thịt gà…”. Còn anh thì bắt đầu ngẫm nghĩ về một Âm bản mang tên: “Mẩu Lịch sử trong đêm Trung thu”.
12.
Đoàn làm phim đã quay ở bối cảnh ấy được ba ngày.
Đó là một khu du lịch sinh thái bề thế, sang trọng, có bể bơi, vườn cây, nhà nghỉ, các restaurant nổi trên mặt hồ nhân tạo được dẫn tới bởi những cây cầu diễm lệ… Cả đoàn phim tuy vất vả bởi nắng hè và tiến độ sản xuất thúc ép, nhưng bù lại, được khích lệ bởi không gian thi vị và thoáng mát rợp bóng cây đủ loại. Chỉ còn một ngày nữa là có thể giải phóng bối cảnh.
Thế đang dán mắt vào monitor kiểm tra hình ảnh thì nghe tiếng cậu trợ lý đột ngột hô cắt máy. Anh khó chịu nhìn lên.
Mấy chiếc xe Commăngca đít vuông, xe Sítđờca của cảnh sát đã xộc đến. Cả đoàn phim ngơ ngác. Các chiến sĩ công an nhất tề nhảy ra khỏi xe, nhanh chóng tiếp cận một ngôi biệt thự lộng lẫy cách hiện trường quay không xa…
Đoàn làm phim liền tụ tập thành các nhóm nhỏ thì thầm bí mật, đoán già đoán non… Có lẽ chỉ Thế và anh chủ nhiệm phim thấy sốt ruột vì công việc gián đoạn. Cả hai vợ chồng ông chủ khu du lịch sinh thái đều bị còng tay số 8 dẫn độ ra. Người vợ rên la kêu oan luôn mồm, trong khi người chồng thì tỉnh khô, lì lợm, không có biểu lộ cảm xúc gì, có chăng chỉ là một thoáng thách thức. Chị ôsin bế một cô bé con trạc 4 tuổi hớt hải chạy theo. Thế được gặp vợ chồng ông chủ này một lần, khi hai người đi đâu về bằng xe du lịch 4 chỗ bóng lộn và tiện thể rẽ qua thăm đoàn làm phim, sau đó chiêu đãi cả đoàn một bữa ăn đặc sản ngập mồm ngập miệng ngay tại nơi quay phim. Anh họa sĩ thiết kế bảo nhỏ Thế: “Họ muốn ta quay cả cái biển hiệu của họ đấy!” Thế làm bộ căng: “Thế nhỡ ra, họ làm ăn phi pháp, quay cả biển hiệu để phim chúng ta đổ bể à” – “Thì cứ quay, mất gì của bọ! Lúc dựng, nếu có chuyện gì hoặc không cho duyệt thì thay bối cảnh khác” – anh họa sĩ làu bàu. Trực giác không đánh lừa Thế. Mặc dù đã trực tiếp chỉ tay đặt chỗ máy quay để lấy được toàn cảnh bên ngoài khu sinh thái cùng biển hiệu, anh vẫn thầm nghĩ bụng: “Ừ thì quay, ai đánh thuế cái đoạn phim nằm chết trong hộp”…
Trong đám đông – khách của nhà hàng, diễn viên, các bộ phận đoàn làm phim, người ngoài đường xô vào đang xúm xít nhìn cảnh hai vợ chồng được đưa tới một chiếc xe, Thế được nghe loáng thoáng rằng: không phải gần đây mới có dư luận xôn xao và báo chí phanh phui về tư cách xã hội đen có dù lớn đảm bảo của ông chủ… Còn bà chủ, vốn xuất thân là một gái làng chơi cao cấp, lên làm “má mì” và bây giờ đang thay mặt chồng làm “ngoại giao” – tức là thao túng một cơ quan béo bở nào đó của Nhà nước… Có tiếng gào khóc của con bé khi đoàn công vụ hú còi chuyển bánh. Thế bước đến đứa bé đang khóc gằn gặt trên tay chị ôsin. Không hiểu sao, một niềm thương cảm oái oăm xọc lên mũi anh. Đứa bé giống mẹ nó như lột, đặc biệt là cái tràng hoa nhỏ xinh xắn cuốn cổ. Chị ôsin ngơ ngác thất thần trao đứa bé cho một người đàn bà khác trạc ngoài 40 tuổi đang nước mắt ngắn dài. Sau khi được dỗ dành, đứa bé nín dần. Thế nhìn nó một lần nữa. Chợt một ánh chớp chói lòe trong tâm tưởng anh.
Trời ơi! Khuôn mặt đứa bé, anh đã từng gặp ở đâu đó rồi… Ở một dĩ vãng xa lắc xa lơ. Nhất là gương mặt thiên thần với cái tràng nhạc nhỏ như cành hoa cuốn cổ.
Kí ức bất thần chiếm đoạt trí nhớ, anh ngây người choáng váng….
Đó là một chuyến tàu đi qua vùng Trung du, cách đây gần 40 năm…
Hôm đó Thế ngồi cùng với một gia đình. Ở ghế bên này là một cô bé gái khoảng bốn tuổi, một người đàn ông trung niên, ngoài cùng là anh. Ghế đối diện là một cô gái mảnh dẻ và một người đàn bà thấp, to béo. Thế lên trước nên ngồi sát cửa sổ. Nhưng đến ga thứ hai, thấy em bé cứ ngong ngóng ra ngoài, anh biết ý. Thế là một cuộc đổi chỗ diễn ra nhanh chóng, vui vẻ. Người đàn ông (chắc là bố của em) thì gật gù, nửa ngủ nửa thức. Cô bé nhảy như con choi choi, miệng nói tíu tít, lúc lay anh, lúc gọi mẹ, gọi chị. Có lẽ em mới đi tàu hỏa lần đầu, cái gì ngoài khung cửa cũng làm em tròn xoe mắt. Thỉnh thoảng em hỏi trống không, tay chỉ líu ríu ra bên ngoài. Không có ai đáp lại, em quay mặt về phía anh.
– Chú ơi chú! Cái gì ở trên núi xa kia hở chú…
– Chú kìa, con chim gì đang bay kia kìa! Đấy! Đấy!
Những lúc đó, Thế mỉm cười với em và trả lời ngắn gọn, đơn giản. Người đàn bà to béo vẫn mải quạt phành phạch. Cô gái lườm em, ra ý bảo: sao mà ngốc thế, xưng hô không biết đường! Tôi cứ tỉnh bơ! (đúng là Thế cũng chỉ đáng tuổi anh cô gái). Có người để hỏi, cô bé luôn mồm. Trong lúc anh và cô bé chuyện trò, hai mẹ con bà to béo cũng đủ chuyện…
Bỗng Thế nghe thấy tiếng bà rõ to, làm đứt quãng chuyện của hai chú cháu.
– Mày ra đây mà ngồi này! – Nhấc nhỏm cái mông to bè, bà ta định đổi chỗ cho con gái.
– Ứ ừ.
– Bướng bỉnh. Đấy anh xem! – Bà ta nói một cách tự nhiên với anh – Lớn kều rồi mà vẫn như trẻ con!
Cô gái ngầm bấu mẹ một cái, bà ta giãy nảy lên như ngồi trên một chiếc lò so, nhưng vẫn thản nhiên nói về cô con gái “rượu”. Giọng bà ta ngọt như đường, nhưng lời lẽ lại phốp pháp và thô kệch như con người bà ta. Thế không hiểu vì sao bà mẹ cứ đòi đổi chỗ cho con gái. Nhưng anh vỡ lẽ ngay. Cô gái thò đầu ra cửa, cặp lông mi thanh thoát, dài và cong. Bỗng cô ta rúm người lại, lấy tay rụi rụi mắt liên hồi. Bà mẹ vội xốc cả thân hình đồ sộ như một trái núi lên, xuýt xoa.
– Trời ơi! Đã bảo mà, còn gì là mắt nữa! Tao đã bảo mà, đừng rụi! Đưa xem nào! Đã thấy chưa hả con! – Trong những lời xuýt xoa ấy có cả giọng chì chiết, cứ xoắn cả lại xung quanh đứa con gái khổ sở. Quay ngang thấy anh gượng nhếch mép vẻ khó hiểu lẫn thông cảm, bà ta phân bua: “Đấy anh xem, con gái chỉ được cái đôi mắt mà không biết giữ gìn thì thôi chứ còn gì! Tôi ở nhà cứ bắt em nó phải ngày rửa nước muối ba lần cơ đấy, anh ạ!… Sớm này, trưa này, tối trước khi đi ngủ này. Hôm nào dậy muộn thế là nháo nhào sách cặp đi học, lấy khăn quệt quệt mấy cái vào mặt thế là thôi đấy! Còn đêm nào đi chơi về khuya là leo ngay vào gường ngủ không có thèm rửa mặt đâu!”.
Cô gái vừa ôm mặt vừa lắc lắc đôi vai ngượng nghịu: “Mẹ!”.
Vừa lúc ấy, tàu dừng lại ở một ga xép. Có một chị bộ đội lên toa. Chị chưa kịp cởi ba lô và tìm chỗ ngồi, tàu lại chuyển bánh. Chị hơi loạng choạng một lát. Hầu hết các ghế đều đã đủ ba người ngồi. Chị đến bên ghế đối diện Thế và khẩn khoản nói với bà to béo.
– Bác, bác làm ơn cho tui ngồi nhờ với.
Giọng chị lơ lớ, người miền Trung Trung bộ. Anh đang thầm đoán chị người tỉnh nào thì nghe tiếng oang oang.
– Thế chị không thấy hai mẹ con tôi ngồi còn chật hay sao!
Chị bộ đội đỏ mặt lên và ấp úng xin lỗi. Một bà ngồi ở ghế đằng sau nói: “Đây này! Ở đây mới có hai người. Chị vào đây mà ngồi!” – Bà chỉ sang dãy ghế ở ngang dãy ghế của anh. Quả thực ở đấy mới có hai người, phía sát trong gốc dựng một chiếc đàn ghi-ta nên trông có vẻ đã chật chỗ. Mấy quả cam và nải chuối bày trên chiếc bàn vuông con.
Thấy có người chỉ đến chỗ của mình, họ im lặng nhìn người mới đến. Rồi họ đổi chỗ cho nhau. Chị bộ đội ghé mình ngồi xuống nhẹ nhàng, sau khi đã cất gọn chiếc ba-lô mỏng trên giá. Bây giờ anh đã nhìn rõ chị hơn, trong nhịp lắc đều đều của con tàu. Người chị mảnh khảnh nhưng chắc gọn trong bộ quân phục đã bạc màu vá khéo đôi chỗ. Vài sợi tóc lòa xòa trên trán, cái nước da ngăm đen không giấu được vẻ xanh xao. Thế cố đoán chị bao tuổi, nhưng thật khó.
Rồi cảnh vật bên ngoài đã thu hút anh. Bấy giờ là cuối thu, đoàn tàu băng qua những cánh đồng đang mùa gặt, nhiều khoảnh ruộng chỉ còn trơ gốc rạ. Không gian như tỏa ra, vươn cao, theo những cánh cò vừa bay vụt lên từ một dãy tre um tùm. Những đốm sáng li ti của một đàn vịt trên ruộng nước làm sinh động hẳn bức tranh được giới hạn bằng bốn khung cửa.
Em bé lại bắt đầu chuyện trò với anh. Bà mẹ vẫn tiếp tục rủ rỉ với cô con gái (nói là rủ rỉ nhưng Thế nghe rõ mồn một) – từ chuyện phải rửa mặt nước muối thường xuyên tới cái thằng hôm qua đến nhà là ai và làm nghề gì… Cô gái nhấm nhẳng, hai mẹ con cứ hết dỗi nhau lại làm lành. Thế cũng thấy vui vui trước những câu chuyện không đâu vào đâu nhưng lại rất quan trọng đối với hai mẹ con. Thế quay ra chơi đùa với em bé. Và anh phát hiện ra rằng những câu chuyện của anh với em bé đã hấp dẫn chị bộ đội một cách đặc biệt. Chị ngắm em như một bà mẹ phải đi xa rất lâu bây giờ về ngắm con. Trên khuôn mặt chị, Thế bắt đầu nhận thấy nét đôn hậu của một thiếu phụ. Anh đã có thể đoán được tuổi của chị chưa quá ba mươi. Ánh mắt chị ngời lên theo lời nói và ngữ điệu của em gái. Chị vui lắm và nhìn em không rời mắt. Chị muốn bế em trên lòng đấy thôi! Hình như bản năng dễ thương của trẻ thơ cũng thấy như vậy. Khi chị rụt rè vẫy mấy ngón tay về phía em bé, em liền bò qua lòng ông bố. Ông ta dường đã quen như thế. Bà mẹ liền nạt:
– Đi đâu hả con ranh?! Ngồi yên đấy, ngã chổng vó bây giờ!
Thế nói ngay:
– Bác cứ để cháu sang với chị ấy! Nào, đưa chú! – Chẳng đợi bà ta đồng ý, anh xốc nách em đưa sang cho chị bộ đội.
Chỉ đợi có thế, chị đưa vội hai cánh tay đón lấy em. Cô bé liền sà ngay vào lòng chị như một người quen thuộc, ép sát đầu vào ngực chị. Cả khuôn mặt chị áp trên mái tóc em. Hai cánh tay ôm chặt lấy em, bất động. Một lúc lâu sau, chị mới rời em ra, hai bàn tay gầy nâng nhẹ đầu em như để nhìn rõ từng sợi tóc, từng nét miệng, từng khóe mắt. Chị bỗng vụt nhìn bà to béo, thử dò xét thái độ của bà ta. Nhưng hai mẹ con vẫn tiếp tục những câu chuyện tưởng chừng không bao giờ dứt. Chị yên tâm và bắt đầu chăm chút em bé. Chị lấy một chiếc lược dura chải lại tóc và tết cho em hai cái đuôi sam con con (trước đấy em để tóc xõa). Chi vuốt ve cái tràng nhạc xinh xắn trên cổ em. Khác hẳn mọi lúc, bây giờ em ngồi im, đôi mắt mở to nhìn người đang âu yếm mình.
Thế chợt phì cười nhẹ và chú ý quan sát hai cô cháu. Anh không thể bỏ qua được đôi nam nữ ngồi ghế bên cạnh. Họ thật vui nhộn, hết đua nhau ném vỏ cam xem ai ném được xa ra bên ngoài đang trôi đi vùn vụt, họ lại bóc chuối đưa cho nhau cắn. Chàng thanh niên có bộ tóc xoăn tự nhiên càng tăng thêm vẻ điển trai. Cô gái mặc áo cánh mỏng, tóc tết thanh bím như hai chiếc quẩy lớn. Túi lưới của họ treo móc thành toa đựng mấy cuốn sách bìa cứng. Trên đùi người con trai là cuốn tạp chí hàng tháng tiếng nước ngoài đang mở, thỉnh thoảng họ lại chỉ cho nhau xem một hình ảnh hay một dòng chú thích nào đó. Đôi lúc người con gái che miệng cười, hay cả hai người cùng cúi xuống cười rũ rượi. Loáng thoáng qua cách nói và những lời tản mạn của họ, tôi được biết họ là một đôi bạn cùng học kỹ thuật, họ đang trên đường đi thăm họ hàng sau ngày cưới. Từ lúc đó chị bộ đội đến ngồi cùng, họ ít nói chuyện hơn. Cô gái ngồi cạnh chị vài lần quay sang đùa với em bé, rồi đôi nam nữ lại thầm thì với nhau. Cô gái nói nhiều hơn, còn người con trai tì tay lên cằm lắng nghe vẻ tư lự. Thế không nhìn họ nữa để quay vào những tâm tư của mình và chợt nhận ra là mình không còn ai để trò chuyện. Em bé vẫn ngoan ngoãn ngồi trong lòng chị bộ đội, như đấy mới chính là mẹ của em.
Bà to béo bỗng “e hèm” và lấy giọng quý phái:
– Con Vân đâu rồi, hử?
Em bé ngắc cái đầu lên một cái rồi vẫn ngồi yên như cũ. Không thấy trả lời, bà mẹ đưa tay lên vấn lại tóc, rồi hỏi to hơn, vẫn không thèm nhìn sang ghế bên kia.
– Con Vân đâu?
Nhìn dáng phụng phịu của em bé, Thế biết là em muốn nói: Em không muốn rời chỗ này một tý nào.
– Về đây, mày có về ngay không thì bảo?
Bà ta chẳng còn chút vẻ quý phái gì nữa, mặt đỏ tía lên, chòng chọc nhìn vào hai cô cháu. Hai chiếc hoa tai vàng lúc lắc mạnh. Em bé vội choàng hai tay lên cổ người nữ quân nhân. Chị nhìn người đẻ ra em bé một cách cầu khẩn. Lần thứ hai cầu khẩn trong vòng một tiếng đồng hồ. Nhưng không còn cái vẻ bẽn lẽn tội nghiệp như lúc đầu. Mắt chị ươn ướt. Chị ngơ ngác như sắp bị mất đi một cái gì thật quý giá. Chị im lặng, cái im lặng nghẹn ngào. Bất giác chị xoa đầu em bé. Chị không thể nói được một lời. Dù là lời cầu khẩn cần thiết.
Thế vội nói:
– Bác này, cứ để em ở bên đó với chị ấy.
Dường như sợ câu chuyện bình thường trở lên to tát làm mọi người phải chú ý, chị vội gượng cười như mếu và bế em bé đưa sang. Đôi chân đi tất đỏ giãy giãy liên hồi. Bà mẹ lại ngọt ngào nựng: “Về đây với mẹ rồi ăn cơm chả, thế con không đói à?”
Chắc cô bé đói rồi nên ngoan ngoãn ngồi trong lòng mẹ, mắt hau háu nhìn theo lưỡi dao cắt từng lát cơm trắng tinh, từng khoanh giò ngon lành.
Con tàu đang cắt xén những đường nét mềm mại của cảnh vật. Những nương chè, và rừng cọ nối tiếp những ngọn đồi trơ trụi. Những vạt cỏ non tươi từng lúc sáng lên trong cái màu xanh tĩnh mịch và thâm trầm bao phủ núi đồi… Khi đoàn tàu vừa rời khỏi một ga chính đông đúc, còi tàu đang rú lên một hồi dài, chị bộ đội bỗng ngã xỉu sang phía ghế Thế. Anh vội vàng vươn qua người đàn ông đang ngủ bên cạnh để đỡ lấy chị, làm ông ta chợt tỉnh kêu ôi ối. Qua khoảng cách giữa hai ghế của sàn tàu, trong giây lát anh thấy mặt chị tái mét, gân trên hai thái dương giật mạnh. Thế chưa biết xử trí gì hơn, một hàng khách hét vội vào tai anh: “Đặt chị ý nằm lên ghế kia!” Hai vợ chồng trẻ vội đứng ngay dậy như một cái máy. Thế lựa chiều ngả đầu chị nằm vào phía trong thành toa. Sự việc xảy ra quá đột ngột, đến nỗi anh không thể nghĩ được là mình phải làm gì lúc bấy giờ. Thế đứng trân trân nhìn chị. Đôi dép cao su mòn gót đủ cả bốn quai mỗi chiếc doãi ra ngoài ghế. Mọi người bắt đầu vây đông xung quanh bàn tán. Thế hạ khung cửa sắt xuống. Ông hành khách lúc nãy giơ tay sụyt mọi người yên lặng. Mấy bà ồn lên tất tưởi ai có dầu và gừng thì đưa ngay để các bà đánh gió.
Thế đã bình tĩnh lại, nhìn chị rõ hơn. Mồ hôi toát ra lấm tấm trên vầng trán nhợt nhạt. Những sợi tóc bết lại, nhịp thở đều đều. Bỗng chị vung hai cánh tay lên chân đạp lia lịa, khuôn mặt đang thanh thản lộ vẻ đau đớn. Mấy bà vừa lau nước mắt vừa giữ cho chị. Hơi thở dồn dập và khó khăn, chị bỗng rít lên qua kẽ răng giọng khản đặc…
– Giết… tao… đi!… Chúng mày…. đừng hòng!…
Rồi chị la lên, giọng thất thanh:
– A, con tao, con của tao, chúng mày định giết con tao phải không, trời đất ơi! cô bác ơi! Chúng nó định giết con tui, con tui có tội tình chi! Đồ… khốn nạn… bọn đao phủ!
Chị mệt lắm, đôi môi mấp máy khô bỏng. Một lát sau trong hơi thở đứt quãng chị thều thào:
– Lý ơi! Ở nhà cho má đi, nghen con, mai má về má mua quà cho con… Chúng nó chẳng cho má con mình sum vầy đâu hè… Ừ đó, con ngoan lạ, má đi rồi má lại về với con mà…
Bỗng chị khóc tức tưởi:
– Lý con, chúng nó hại con rồi, con có tội tình chi… hở con mai ba con về có bao giờ được thấy con… Cho má khóc, nghen con… con bé bỏng quá chưa hề biết mặt ba con… Cho má khóc nghen trước mặt lũ nó, má đâu có khóc con à…
Chị cứ khóc thế mãi, thành những lời nghẹn ngào, rồi cuối cùng lịm đi trong tiếng nấc. Ngực chị thỉnh thoảng giật lên như bị kim châm đau nhói. Nước mắt chan hòa trên đôi gò má xương xương. Mấy bà ngồi xổm quanh chăm chắm lau cho khuôn mặt đã trở lên khắc khổ kỳ lạ của chị. Rồi từ lúc đó chị bất tỉnh. Toàn thân chị rung lên trong tấm võng bạt bộ đội không hiểu ai đã đắp cho chị… Chị là thương binh, chị là một người vợ, một người mẹ. Tại sao điều đơn giản đó anh không hiểu được ngay. Một hạt bụi bay vào mắt anh không buồn dụi. Anh quay lại thấy một anh bộ đội trung niên bần thần đứng sau lưng anh, cặp mắt anh ngầu đỏ, anh khẽ nói với Thế:
– Cách đây mấy năm, ở một vùng hậu cứ B hai cũ, tôi cũng đã gặp một trường hợp tương tự thế này… – Rồi anh nặng nề quay người lại và ngồi vào ghế.
Đoàn tàu băng qua một dòng sông. Những thành cầu đen trùi trũi loang loáng vụt qua. Đằng sau những thành cầu còn vài cụm mây lớn bồng bềnh che khuất ranh giới giữa bầu trời và dòng sông. Tiếng rầm rầm của đoàn tàu như ở một nơi nào xa lắm dội lại…
Tàu dừng ở một ga xép, chị bộ đội được những khách xuống tàu thay nhau khiêng vào trạm xá gần đó. Thế nhìn theo cho đến khi chiếc võng bạt thay băng ca khuất hẳn. Chỉ còn những ngọn núi đá sừng sững trước mặt. Đoàn tàu nhận thêm vài hành khách rồi lại từ từ chuyển bánh. Vài hố bom tấn chứa nước bẩn loáng những vệt xăng dầu, Có một hố bom đựng vôi tôi được xắn sửa gọn gàng phía cuối ga. Mấy chiếc toa tàu hỏng xếp vào một góc, chúng xiêu vẹo, rỉ nát và có cái lỗ chỗ vết bom bi, mảnh rốc-két, ở cạnh còn có những đống than lớn, những khối gạch ngói gỗ nát ngổn ngang.
Lúc này, đôi vợ chồng trẻ lại trở về ngồi chỗ cũ. Cửa sổ đã được nâng lên, gió tạt vào làm những lọn tóc trên trán cô gái bay phất phơ. Em bé víu hai cánh tay bé xíu lên thành cửa sổ, hai chân khoanh tròn lại trên ghế. Cô chị vẫn giữ nguyên phong thái lạnh lùng, nghiêm nghị, cặp lông mi dài và cong càng trở lên mơ màng. Bà mẹ đã bắt đầu thiu thiu, đầu bà ta ngã chênh chếch vào vai con gái, trông hiền lành và chất phác. Còn người đàn ông thì đang ngấu nghiến ăn cơm nắm giò chả. Bây giờ ông ta mới tỉnh hẳn giấc ngủ trong nhịp ru đoàn tàu. Bỗng em bé gái quay lại, nhìn anh ngơ ngác. Rồi lại nhìn chỗ chị bộ đội vừa ngồi. Lại đến lượt anh đắm đuối nhìn vào mắt con bé… Anh hiểu em muốn gì, em định nói gì mà chưa biết cách bộc lộ. Lúc đó tự dưng Thế chợt nảy ra một ý nghĩ bâng quơ: nhiều năm tháng về sau, nếu vô tình gặp lại được cô bé này, khi anh kể lại cho em nghe câu chuyện vừa xảy ra, em có lạnh nhạt quay mặt đi, hay cười vào mũi anh? Anh phải làm gì để ánh mắt em bé vừa xuyên suốt hồn anh kia không thể mất đi trong cuộc đời em?…
Chợt có bàn tay đập mạnh vào vai Thế, khiến anh choàng tỉnh, cậu trợ lý nói như mếu:
– Anh làm gì thế? Bây giờ thế nào? Vỡ bối cảnh rồi!
Thế hoảng hồn:
– Cậu nói cái gì?
– Chúng ta không được quay ở đây nữa! Công an đang cho niêm phong toàn bộ khu vực này!
Tới lúc đó Thế mới hiểu ra toàn bộ tính chất nghiêm trọng của sự việc. Nhưng không hiểu sao, anh nổi đóa lên.
– Các cậu đi mà hỏi họa sĩ thiết kế ấy, ai bảo ông ta dính vào cái tổ quỷ này!
Thế lầm lũi bước đi, ra lấy xe máy rồi bỏ mặc cả đoàn phim đang như ong vỡ tổ, phóng vụt ra khỏi cái nơi vừa làm tình làm tội trí nhớ của anh… Những làn gió mạnh trên đường cao tốc không làm dịu nổi cái đầu nóng hầm hập, anh phóng ngược thật xa Hà Nội, phóng với tốc độ 70, 80 rồi 90km/giờ… Trời ạ! Ta đã gặp điều gì vậy? Ảo tưởng ngây ngô đáng thương của ta đã bị giáng một đòn chí mạng… Không còn hồ nghi gì nữa, cái cô bé dễ thương ta tình cờ gặp trên chuyến tàu xa xưa ấy giờ đã biến thành một người đàn bà đáng ghê sợ có gương mặt đức Mẹ…
Nhưng biết đâu, anh đã nhầm lẫn, hy vọng thế! Hoặc cô ta chỉ là nạn nhân của một trò đùa số phận, còn những gì anh đã nhìn thấy, đã nghe thấy không có liên quan gì đến phẩm cách làm người của cô ta, cũng như không có liên quan gì đến cô bé có tràng hoa quấn cổ năm nào đã từng nhìn anh bằng đôi mắt của một thiên thần bé nhỏ…
73 Tên một truyện ngắn của Nam Cao.