Nguyễn Xuân Thọ
1- Bức ảnh hai em bé Mỹ Lai
Đầu tháng Tư năm 2017 tôi có dịp đến thăm Trần Văn Đức, một nhân chứng sống của vụ thảm sát Mỹ Lai[1]. Chúng tôi quen nhau qua các bài viết trên Facebook và may mắn Đức chỉ ở cách nhà tôi vài chục cây số.
Vợ chồng Đức là những người lao động chất phác, nhờ chăm chỉ làm ăn mà có một cuộc sống hạnh phúc ở một trung tâm công nghiệp cơ khí Tây Đức. Cả hai đều xuất thân từ gia đình cách mạng, còn được gọi là “Việt cộng nòi”. Cũng chính vì lý lịch này mà cả hai được tuyển chọn đi học nghề ở Cộng hòa Dân chủ Đức trong những năm 80 thế kỷ trước, để rồi họ may mắn gặp nhau.

Tác giả đến thăm Trần Văn Đức tại Remscheid mùa hè 2017
Đức là nhân vật chính của rất nhiều phóng sự và phim tài liệu trong và ngoài nước về vụ thảm sát dã man nhất trong chiến tranh Việt nam. Mỹ Lai là một vết thương sâu thẳm trong lòng hai dân tộc Việt, Mỹ, đồng thời là vết nhơ lớn nhất trong lịch sử của quân đội Mỹ. Bộ máy chiến tranh khổng lồ đã đẩy nhiều thanh niên Mỹ đến chỗ họ có thể gây những tội ác bị cả nhân loại phỉ nhổ. Mỹ Lai đã được so sánh với các cuộc thảm sát ở Lidice và Oradour[2] do phát xít Hitler gây ra.
Sự thật đó không còn phải tranh cãi và đã được trình bày qua rất nhiều bài báo, phóng sự, phim tài liệu. Ở đây tôi chỉ muốn thông qua các nhân chứng của vụ thảm sát này để viết về lòng nhân ái, sự vị tha, về cách nhìn khác nhau về cuộc chiến và đặc biệt là về cách viết sử.
Mặc dù đã được đọc trên báo chí vài lần về Đức, nhưng tôi vẫn xúc động khi Đức đưa cho xem những bức ảnh do chính phóng viên chiến trường Ronald Haeberle tặng. Tôi có cảm giác khó tả khi nhìn thấy chiếc máy ảnh Nikon-F, kỷ vật của Ronald, nằm bên cạnh những bức ảnh trên bàn làm việc của Đức.
Hôm 16.3.1968 định mệnh đó, cậu bé 7 tuổi Trần Văn Đức đã chịu đựng sự tàn bạo của bộ máy chiến tranh đóng mác “made in USA”. Đức đã chứng kiến cái chết của má, của chị Hai và em gái Huệ. Ông Trần Quy, ba Đức, một cán bộ kháng chiến cũng hy sinh trong trận phục kích hơn một năm sau (tháng 12.1969). Cả gia đình sáu người nay chỉ còn ba chị em sống sót. Có thể nói không ai thù ghét Mỹ hơn Đức.

Chiếc máy ảnh Nikon-F mà ông Ronald Haeberle đã chụp loạt ảnh màu hôm đó. Bức ảnh chiếc máy bay trực thăng có vẽ hàm răng cá mập được chụp ngay trước bức ảnh “Anh che đạn cho em”.
Ngay khi mới quen nhau, Đức đã chinh phục tôi bởi cái nhìn độ lượng và trung thực đối với những gì đã xảy ra tại quê anh từ ngày đó đến nay.
Giờ đây, Đức kết bạn với một số binh sĩ, nhà báo Mỹ có liên quan đến vụ thảm sát ở quê anh.
Ronald Haeberle là phóng viên chiến trường của quân đội Mỹ đã có mặt tại Mỹ Lai ngày hôm đó. Bị dằn vặt bởi những gì đã chứng kiến ở Việt Nam nên sau khi về nước ông trở nên một con người bất bình thường. Ông sống hàng chục năm trời như một cái bóng của chính mình. Cuộc hôn nhân của ông cũng vì vậy mà tan vỡ. Năm 2011 Ronald (Đức gọi thân mật là Ron) trở lại thăm Mỹ Lai cùng Đức để kể lại những sự thật đã hành hạ cuộc sống của ông mấy chục năm qua. Ron tặng Đức những bức ảnh gốc, những cuộn phim âm bản và chiếc máy ảnh lịch sử Nikon-F ông đã dùng ngày đó.
Gặp Đức, ông cảm thấy có thể đây chính là cậu bé 7 tuổi năm xưa đã lấy thân che cô em gái 14 tháng trong một bức ảnh của ông. Ông hỏi: Sao lúc đó Đức lại nằm lên che cho em?
-Vì tôi thấy chiếc trực thăng có vẽ hình con cá mập bay ngay trên đầu, thấy cả phi công Mỹ đang nhìn xuống, tôi sợ họ bắn – Đức trả lời.
Đến lúc đó Ron mới xem lại phim âm bản (negativ). Ông giật mình thấy bức ảnh chụp chiếc máy bay trực thăng có vẽ hình răng cá mập nằm ngay trước bức ảnh “Anh che đạn cho em” trong thứ tự của cuộn phim. Vậy thì đúng đây là cậu bé trong ảnh, không còn nghi ngờ gì nữa. Ông thật xúc động vì hai em bé đó nay vẫn sống.
Lòng vị tha và tình cảm của Đức dành cho Ron đã hồi sinh tâm hồn của ông. Ông không ngờ là có người Việt Nam lại kết bạn với ông. Bà Eva, vợ cũ của Ron thổ lộ với Đức: “Giá như chú gặp Ron sớm hơn vài năm, chắc chúng tôi đã không bất hạnh như hiện nay”. Ông bà tuy không sống với nhau nữa nhưng mỗi lần “chú Đức” sang thăm, lại là dịp họ sum họp với nhau. Bà từng coi chú Đức là ân nhân của gia đình bà.

Trần Văn Đức sang thăm gia đình ông Ronald Haeberle năm 2011
Ngược lại Đức lại coi ba binh sĩ: chuẩn úy phi công Hugh Thompson và hai xạ thủ súng máy Glenn Andreotta và Larry Colburn trên chiếc trực thăng Hiller OH-23 Raven là những ân nhân của bà con Sơn Mỹ. Họ đã đáp xuống tìm cách ngăn chặn vụ thảm sát, cứu thoát 42 người dân và đưa 12 người bị thương vào bệnh viện.
Hôm đó Hugh Thompson lái chiếc Hiller OH-23 bay đi quan sát trận địa và ông nhìn thấy lính Mỹ đang tàn sát dân thường dưới đất. Khi thấy một đám lính đang xả súng ông đáp máy bay xuống sát bờ mương và cứu sống 11 người trong căn hầm bên cạnh. Hugh cho Larry và Glenn chĩa súng máy vào đám lính, lấy tư cách sĩ quan, bắt chúng phải ngừng bắn. Sau khi chặn được toán lính đang say máu, Hugh điện cho phi công Dan Millians. Dan Millians và Brian Livingston lái trực thăng UH-1A đến và chở 11 người ra khỏi vùng thảm sát. Máy bay của Hugh đã cất cánh rời con mương, bỗng nhiên phải hạ cánh trở lại vì Glenn chợt nhìn thấy vật gì động đậy trong đống xác người. Chính Glenn đi xuống mương và ẳm cậu bé Đỗ Ba ra khỏi xác bà mẹ và chở thẳng đến Nhà thương Quảng Ngãi.
Bên phía thôn Bình Tây, lính Mỹ vừa hạ sát tập thể 15 người dân. Bên cạnh đống xác này gần chục mét, chúng tập trung 30 người dân còn lại để định hành quyết. Số người này bỗng nhiên được thả trước những nòng súng còn bốc khói. Trong cuộc điều tra sau này, lính Mỹ kể lại là đã nhận được lệnh ngừng bắn đúng lúc do sự can thiệp mãnh liệt từ đội bay Hugh, Larry và Glenn.
Glenn Andreotta tử trận tại chiến trường Việt Nam tháng 4.1968. Hugh Thompson tiếp tục lái máy bay do thám và bị bắn rơi 5 lần ở chiến trường. Lần thứ năm ông bị thương nặng ở cột sống nên phải xuất ngũ.
Năm 1998 Hugh và Larry quay trở lại Việt Nam để tưởng niệm những nạn nhân cũ. Ở Sơn Mỹ hai ông gặp lại một số người được họ cứu ngày đó, trong đó có cậu bé Đỗ Ba.
Cùng năm đó Hugh Thompson, Glenn Andreotta, và Larry Colburn được tặng thưởng huân chương “Soldier’s Medal” (Andreotta được truy tặng). Đây là danh hiệu cao nhất của quân đội Mỹ dành cho lòng dũng cảm khi không phải đối mặt với đối phương.
Hugh Thompson qua đời năm 2006 tại Mỹ.

Larry Colburn thăm Trần Văn Đức năm 2014 tại Remscheid (CHLB Đức)
Đức gắn bó với cả hai vợ chồng Lysa và Larry Colburn. Những lần anh sang nhà họ hay họ sang Đức thăm anh luôn là những cuộc hội ngộ đầy nước mắt. Tháng 12.2016 Larry Colburn đã qua đời, nhưng trang sử của ba người lính Mỹ có lương tri đó đã không khép lại.
Để tìm hiểu sự thật về hành động của ba binh sĩ Mỹ trên chiếc may bay trực thăng Hiller OH-23 Raven trong vụ thảm sát ngày 16.3.1968 đó, tôi đã gia nhập nhóm Facebook “Captain Hugh Thompson Jr.”. Đây là diễn đàn để các cựu chiến binh từ Việt Nam về tưởng nhớ đến ba người lính được gọi là “Anh hùng nước Mỹ” (American Heroes). Những chi tiết kể trên về hành động của họ đã được các đồng đội khẳng định.
Một người bạn khác của Đức là nhà báo Seymour Hersh, người đã đánh thức lương tâm nước Mỹ qua loạt phóng sự điều tra vụ Sơn Mỹ sau đó không lâu. Ông đã tìm gặp rất nhiều lính Mỹ tham gia vụ thảm sát để lấy thông tin từ chính họ. Ngày 5.12.1969 qua tạp chí LIFE ông đã đưa sự việc ra ánh sáng và cuối cùng, chính quyền Mỹ đã phải lập một phiên tòa đưa các sĩ quan và binh sĩ có liên quan ra xét xử.
Vụ án Mỹ Lai đã đánh vào lương tâm nước Mỹ. Người Mỹ chợt nhận ra rằng chiến tranh có thể đưa họ trở về thời kỳ man rợ. Chiến tranh luôn luôn là mảnh đất gieo mầm cho sự tàn bạo và tội ác, dù của bên này hay bên kia. Quân đội Mỹ coi Mỹ Lai là câu trả lời cho Mậu Thân 68. Là người Việt, ai không đau lòng?
Cái chính là cách con người nhìn lại những gì đã xảy ra để đánh giá những việc mình đã gây ra như thế nào. Người Mỹ có cách nhìn về cuộc chiến khác chúng ta. Họ đã rút ra được những bài học quý báu từ cuộc nội chiến Nam-Bắc (1861-1866) nên cách họ hành xử với nhau sau các cuộc chiến tranh khiến chúng ta phải học tập khá nhiều. Trở lại với hòa bình, họ không cố tìm cách bôi nhọ kẻ thù cũ, không ngăn cản những người lính từ hai chiến tuyến đến với nhau. Những nghiên cứu, hội thảo về chiến tranh Việt Nam do Trung Tâm William Joiner (William Joiner Institute for the Study of War and Social Consequences) tổ chức, thường mang tính học thuật và lịch sử. Nhiều nhà văn Việt Nam, nhất là những người từng là bộ đội “Việt Cộng” được phía Mỹ trân trọng đón sang dự các hội thảo. Người Mỹ muốn nghe người lính bên kia nói gì về cuộc chiến. Tất cả các cuộc gặp gỡ giữa phi công chiến đấu, giữa các tướng tá hai bên để trao đổi các kỷ niệm đều xuất phát từ sáng kiến của các cựu binh Mỹ.
Cho đến hôm nay rất nhiều binh sĩ Mỹ ngày đó vẫn bị tổn thương vì vụ thảm sát Mỹ Lai. Trong dòng khách hàng năm về Sơn Mỹ để tưởng niệm vết thương khi xưa, có rất nhiều cựu binh Mỹ. Họ lặng lẽ đến và đi như những người lính vô danh.
Đức không thể biết, trong số đó, ai là binh sĩ trong đại đội Charly, ai là binh sĩ của sư đoàn bộ binh 23 đóng ở căn cứ Chu Lai, nơi xuất phát của lệnh tấn công thôn Mỹ Lai 4. Cũng có thể họ chỉ là một trong số hàng triệu thanh niên Mỹ đã sang Việt Nam hồi đó. Họ mang về đây sự ân hận, sự đau xót về những gì họ đã gây ra trên mảnh đất này, dù họ biết, số vật chất, tiền bạc mà họ quyên góp không thể thay thế cho lời sám hối.
Trường hợp những cuốn nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm, của các liệt sĩ Nguyễn Văn Nam, Vũ Đình Đoàn hay tập nhật ký bằng tranh của họa sĩ Lê Đức Tuấn được các cựu binh sĩ Mỹ trân trọng lưu giữ và tìm mọi cách đưa chúng trở về với cội nguồn, cũng như trường hợp của các nhân chứng Mỹ về thăm lại Sơn Mỹ, quan tâm đến số phận của những nạn nhân xưa là những biểu hiện của tình người, của một lối tư duy lành mạnh.
Sau một trận đánh năm 1968 ở Kontum, ông Robert B. Simpson, cựu sĩ quan thuộc sư đoàn 4 bộ binh Mỹ đã nhặt được chiếc ba-lô của họa sĩ Lê Đức Tuấn với tập tranh vẽ. Simpson thật sự ngỡ ngàng và rung cảm bởi những bức tranh quá đẹp. Ông lấy ba bức tranh đẹp nhất gửi về Mỹ, còn lại 109 bức ông đem tặng tướng Wiliam R. Peers như một chiến lợi phẩm chiến tranh. Năm 2009, cuốn ký họa được bà Hicks – con gái của tướng Wiliam R. Peers trao trả quyển nhật ký cho Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Đại sứ Mỹ Michael Michalak trao tập tranh cho họa sĩ Lê Đức Tuấn (nguồn: Bảo tàng chứng tích chiến tranh Việt Nam)
Lòng nhân ái đã biến các vết thương thành tình bạn vĩnh cửu.
Không rõ người lính già Nguyễn Phú Đạt có may mắn kết nối được với bà Lois, mẹ của binh nhì Steve Flaherty hay không? Chàng trai Mỹ 22 tuổi ngã xuống trong trận đánh ở thung lũng A Sầu năm 1969. Ông Đạt đã gìn giữ bốn bức thư mà Steve chưa kịp gửi cho mẹ và bạn gái suốt 40 năm. Lúc cuối đời ông vẫn luôn hy vọng sẽ giao được chúng cho nguời nhận. Tháng 6.2012, ông Panetta, Bộ truởng Quốc phòng Mỹ đã mang bốn bức thư về cho gia đình Flaherty sau chuyến đi thăm Việt Nam. Dù sao bà mẹ Mỹ ở bên kia trái đất cũng nhận được cử chỉ nhân từ của một nguời Việt, mỗi khi nhớ đến con trai.

Những bức thư anh lính Steve Flaherty chưa kịp gửi cho mẹ từ Tây Nguyên năm 1968, đượctrả về cho gia đình sau 43 năm lưu giữ ở Việt Nam (nguồn: NBCnews.com)
2- Những huyền thoại giả tạo
“Kẻ không biết sự thật có thể chỉ là kẻ ngốc nghếch.
Nhưng ai biết sự thật mà vẫn tìm cách che dấu thì là một tên tội phạm”
“Wer die Wahrheit nicht weiß, der ist bloß ein Dummkopf.
Aber wer sie weiß und sie eine Lüge nennt, der ist ein Verbrecher.”
(Bertold Brecht)[3]
Sau ngày nước Đức thống nhất, nền công nghiệp của CHDC Đức tan rã nhanh chóng trước các thách thức của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa từ Tây Đức tràn sang. Thành phố Karl-Marx, nơi Đức học và hành nghề cơ khí máy dệt trở nên tiêu điều. Đức may mắn kiếm được việc làm ổn định tại Remscheid, một trung tâm cơ khí chính xác ở vùng Rhein-Ruhr tận phía Tây nước Đức.
Cuộc sống ấm no ở xứ người đã không làm nguôi nỗi nhớ quê hương và Đức đã tranh thủ mọi thời gian rảnh rỗi để về thăm, giúp đỡ chị Mỹ và em Hà vẫn sống ở quê nhà.
Lần đầu tiên bước chân đến Khu chứng tích Sơn Mỹ (KCTSM) tại thôn Mỹ Lai 4, Đức sững sờ khi thấy bức ảnh mình đang nằm che đạn cho bé Hà được chú thích là: “Anh Truơng Bốn đang che đạn cho em là Trương Năm nhưng cả hai đều bị lính Mỹ bắn chết”.
Thực tế là bức ảnh được Ronald Haeberle chụp vào lúc cậu bé Đức nhìn thấy chiếc trực thăng Mỹ nên vội lấy thân mình che cho bé Hà. Những gì Đức kể cho Ron khớp đến mức Ron phải công nhận 100% là hai anh em Đức trong bức ảnh đó (VTV có đưa tin về tuyên bố này của Ron). Chính nhà báo Seymour Hersh cũng khẳng định điều này hôm 20.12.2014 tại Sơn Mỹ.
Anh Trương Hoài Nam, anh trai của Truơng Bốn, Truơng Năm, chỉ vì dám xác định là hai em bé trong ảnh không phải các em mình, đã bị trấn áp và sau này mất việc làm.
Trước sức ép của những bằng chứng không thể chối cãi được, KCTSM đã chữa lại lời thuyết minh bức ảnh thành: “Nguời anh đang che đạn cho người em, nhưng cả hai đều bị lính Mỹ bắn chết”. Nếu họ kiên quyết không chấp nhận Đức và Hà là hai đứa nhỏ trong hình thì “cả hai” là những ai trong danh sách các trẻ em chết hôm đó mà họ không nêu được tên?

Chú thích bức ảnh ban đầu: “Anh Trương Bốn che đạn cho em Trương Năm nhưng cả hai đều bị lính Mỹ bắn chết”. Sau khi Đức phản đối thì chú thích được đổi thành “Người em che đạn cho em nhưng cả hai đều bị lính Mỹ bắn chết”.
Bị xúc phạm bởi sự xuyên tạc này, Đức đã kiểm lại các tư liệu khác trong khu chứng tích và anh đã giật mình khi tìm ra vô số dối trá có hệ thống cũng như những cẩu thả trong đó.
Đã tưởng rằng thời gian sẽ hàn gắn những vết thương của chàng công nhân cơ khí gốc Quảng này. Nhưng không ngờ, gần 50 năm sau, Đức vẫn tiếp tục là nạn nhân của chính đồng bào mình, của những đồng chí đã được cha mẹ anh che chở khi xưa. Mọi cố gắng bảo vệ sự thật của Đức về vụ Mỹ Lai đều đang bị những kẻ nhân danh “xây dựng lịch sử” coi là “chống phá”. Họ tiếp tục bóp méo sự thật, tiếp tục biến KCTSM thành một công cụ tuyên truyền cho mục đích của họ, tiếp tục làm tiền trên lưng của những nạn nhân thực thụ.
Không phải là phóng viên điều tra nên tôi không hy vọng sẽ có thể phơi bày hết nhưng điều tồi tệ đang xảy ra xung quanh KCTSM. Nhưng câu chuyện của gia đình Đức đã nói lên sự bất hạnh của dân tộc này, khi sự hy sinh của hàng triệu người Việt đã bị phản bội, bị lấy cắp. Cuộc đấu tranh đòi lại sự thật của Đức đã cho thấy cái thiện, cái ác trong con người ta bị tác động bởi cách mà dân tộc đó, hay cộng đồng đó nhìn về quá khứ.
Hiện nay mọi ghi chép về Mỹ Lai do phía Việt Nam nêu ra thường đưa con số 504 nguời bị giết. Con số khác là 374 người do Wikipedia Anh ngữ nêu thì không có nguồn gốc.
Trần Văn Đức coi con số 504 đưa ra từ năm 1976 là khá vội vàng. Hơn 20 năm sau, các nhà báo Mỹ đem về cho bảo tàng 49 bức ảnh, trong đó có rất nhiều người liệt kê trong danh sách 504 kia lại được chứng minh là vẫn sống sau vụ thảm sát đó. Nhiều người chết vì các lý do khác nhau sau 1968.
Khi thấy trên tấm bia đá khắc tên 504 nạn nhân không có tên mẹ mình là bà Nguyễn Thị Tẩu, Đức đã đề nghị nhà bảo tàng bổ sung. Ông Công, giám đốc KCTSM cho đục tên bà Nguyễn Thị Bộ và khắc đè tên bà Tẩu vào đó. Trong khi bà Nguyễn Thị Bộ, hàng xóm của Đức, rõ ràng bị giết cùng cả gia đình, nay bị xóa tên không thương tiếc khỏi bia đá. Như vậy kể cả bà Bộ nay thêm bà Tẩu lẽ ra phải có 505 nạn nhân. Nhưng con số 504 vẫn không suy suyển!

Cô bé Đỗ Thị Nhựt, 7 tuổi, được khắc tên hai lần trên bảng đá có phải là hai cô bé khác nhau trong cùng thôn? Cũng bé Nhựt đó lại được khai là 10 tuổi trên tấm bảng treo trước của nhà cô và 6 tuổi ở một bảng khác! Chị Đỗ Thị Ánh Tuyết, chị gái của Nhựt hiện đang sống cũng đã từng bị khai tử vì có tên trên bia kỷ niệm. Trong khi đó bà Nguyễn Thị Chấn, là thím của ông giám đốc bảo tàng, tuy đã chết từ ngày 12.10.1967, nhưng vẫn được khắc tên trong danh sách 504 người, v.v. và v.v.

Những sai lệch trên có thể chỉ xuất phát từ sự cẩu thả của vài cán bộ văn hóa thấp, hoặc cũng có thể xuất phát từ những suy tính nhỏ nhen trong việc sử dụng con số khống, danh sách giả để biển thủ tiền cứu trợ. Đối với những nạn nhân như Đức, những dối trá đó xúc phạm nghiêm trọng đến vong linh những người đã mất và anh không chấp nhận mọi sửa chữa lấp liếm.
Một sự thật khác bị KCTSM tìm mọi cách bóp méo đã làm cho Đức bức xúc cao độ. Là con một gia đình kháng chiến có truyền thống, anh không thể chấp nhận chuyện luận điệu: Lính Mỹ đã triệt hạ làng Mỹ Lai 4 mặc dù trong làng không có ai là “Việt Cộng”.
Sơn Mỹ là một vùng quê có truyền thống yêu nước từ ngày các chúa Nguyễn mở mang bờ cõi đến vùng đất này. Người dân địa phương đã khai phá đảo Lý Sơn và từ Lý Sơn lập ra Hải đội Hoàng Sa cách đây hơn 200 năm. Trải qua mọi thời đại, Sơn Mỹ, Tịnh Khê luôn là một căn cứ địa, hết chống Pháp rồi chống Mỹ. Chỉ riêng việc nghĩa trang liệt sĩ với hàng trăm ngôi mộ ngay trước mặt khu lưu niệm Sơn Mỹ đã là một bằng chứng về căn cứ địa này.
Thôn Mỹ Lai có bốn xóm, rất nhiều lần quân Mỹ tấn công vào nhưng đều thất bại và tổn thương lớn. Trên bản đồ tác chiến, quân đội Mỹ đánh dấu màu hồng cả làng để biết đây là khu vực Việt Cộng. Do đó Mỹ Lai còn có tên là Pinkville (Làng Hồng). Năm 2007, đạo diễn Oliver Stone của Hollywood đã lên kịch bản bộ phim Pinkville về vụ thảm sát này. Nhưng vì có nhiều sự cố nên sau nhiều lần khởi động, bộ phim này vẫn không thực hiện được. Năm 1970, một thành viên phong trào phản chiến là Thom Parrott đã phổ nhạc bài thơ Pinkville Helicopter kể lại câu chuyện về ba phi công đã cứu dân thường.

Nghĩa trang Liệt sĩ xã Tịnh Khê ngay trước mặt Khu chứng tích Sơn Mỹ
Cha Đức, ông Trần Quy là một cán bộ kháng chiến có uy tín trong cả vùng. Nhiều cán bộ hiện hành đã từng được ông Quy giúp đỡ và cưu mang. Đức tâm sự: Tuy bữa đó, do tin thám báo sai nên đáng lẽ phải đánh vào xóm Mỹ Lai 1, tụi Mỹ lại tràn vào xóm em (Mỹ Lai 4), nhưng dù sao xóm em cũng là ổ Việt Cộng nòi!
Phải chăng chỉ vì muốn khắc sâu thêm tội ác của lính Mỹ mà hệ thống tuyên truyền Quảng Ngãi đã cố thêu dệt nên huyền thoại: Mỹ giết dân xóm Mỹ Lai 4 mặc dù không hề dính đến Việt Cộng? Đó là cách suy diễn thiếu hẳn tính nhân văn cơ bản. Yếu tố có hay không có Việt Cộng không thể thay đổi bản chất của tội ác giết dân thường.
Vậy mà Đức đã nhận được lời đe dọa: Không được lộ ra thôn mình từng là nơi Việt Cộng hoạt động!
Một huyền thoại thêu dệt nữa mà KCTSM kiên quyết không sửa, bất chấp mọi đề nghị của Đức và các nhà báo. Đó là bài viết về người lính da đen Herbert L. Carter. Carter được KCTSM ca ngợi là một binh sĩ da đen phản chiến, là người lính duy nhất trong đại đội Charly tự bắn vào chân mình ngay lúc bắt đầu cuộc tấn công để khỏi phải tham gia vụ thảm sát.
Nhưng trong vụ án Mỹ Lai sau này, Carter khai trước tòa là hôm đó anh ta cũng tham gia vào cuộc hành quân cho đến lúc một binh sĩ khác là Widmer mượn súng của Carter để giết người. Widmer trả lại súng cho Carter đúng lúc súng bị hóc. Carter tìm cách bẻ gập nòng súng xuống để chữa hóc, nhưng súng cướp cò và đạn xuyên qua chân.

Carter được đồng đội đưa lên máy bay trực thăng sau khi bị súng cướp cò bắn vào chân (ảnh doTrần Văn Đức cung cấp)
Hồi chiến tranh, tôi từng được đọc nhiều bài viết nói là người Mỹ da đen thuộc tầng lớp bị áp bức ở Mỹ nên khi sang Việt Nam, họ thường có tình cảm với dân tộc bị áp bức. Vì vậy lính Mỹ da đen tốt hơn lính da trắng!
Thật không ngờ 50 năm sau, sự ấu trĩ đó vẫn ngự trị trong đầu những người làm tuyên truyền ở Việt Nam.
Có lẽ mọi nguời Việt Nam trên 50 tuổi đều biết bức ảnh Nỗi sợ (Fear). Bức ảnh họng súng dí vào thái dương người vụ nữ vô danh mà Keyston và Getty Images khẳng định chụp vào tháng 1.1969 tại Tam Kỳ, Quảng Ngãi. Bức ảnh đã lan truyền khắp thế giới và góp phần ảnh hưởng đến cục diện chiến tranh Việt Nam.

Bức ảnh Nỗi sợ được chụp tại Việt Nam tháng 1.1969, nguồn Getty Image
Nhưng KCTSM lại khẳng định nguời trong ảnh là bà Phạm Thị Phán do Ronald Haeberle chụp ngày 16.3.1968. Ông Ron nhiều lần phủ nhận không chụp bức ảnh đó.

Ảnh chụp từ trang 56, sách Chứng nhân còn lại từ Làng Hồng, của ông Phạm Thành Công, giám đốc KCTSM – NXB Tổng hợp TPHCM 2016
Thực tế hôm đó, có một phụ nữ tên là Phạm Thị Phán bị bắn chết. Để có chứng tích, bảo tàng đã lấy đại bức tranh khác để tạo ra huyền thoại về sự tàn bạo của lính Mỹ.
Vì ngụy tạo nên lần kể trước hay mâu thuẫn với lần kể sau! Trong một video clip, nhân viên bảo tàng Vân Kiều thuyết minh rằng ngưòi đàn bà này là Phạm Thị Phán và bốn đứa bé là con đẻ của bà. Hôm đó, bà đi gặt lúa sớm cho nên thoát chết. Cũng trong video khác, chính Vân Kiều lại thuyết minh là bà Phán bị bắn chết.
Bà Phạm Thị Phán xấu số đó được bảo tàng chứng minh bằng một bức ảnh lạ chụp sau đó một năm. Có lúc họ nói bà bị bắn chết, rồi lại nói là bà thoát chết. Một dân tộc văn minh không thể chấp nhận lối viết sử như vậy!
Đức còn kể cho tôi nghe rất nhiều chi tiết gian dối khác do KCTSM thêu dệt ra mà trong khuôn khổ bài viết, tôi không thể kể hết.
Nhìn đống hồ sơ, tài liệu, hình ảnh, băng video, DVD mà Đức thu thập được qua 10 năm, kể từ khi anh bước vào cuộc đấu tranh chống lại cả một hệ thống giả dối ở quê nhà, tôi sực nghĩ đến cuộc chiến của chàng David chống lại kẻ khổng lồ Goliath.
3- Kẻ thù từ trong ta
“Kẻ thù nguy hiểm nhất của con người là chính mình” (Kinh Phật)
Câu nói trên cũng nên hiểu là: Kẻ thù lớn nhất của một dân tộc, chính là dân tộc đó.
Quả vậy, gã Goliath trong câu chuyện này không những khổng lồ, mà còn đến từ sau lưng. Đó là điều làm cho chàng David Đức bất ngờ.
Lúc đầu, Đức chỉ muốn KCTSM đưa đúng những sự thật về gia đình mình, từ bức ảnh hai anh em, đến cái tên của má bị thiếu. Những sự thật tưởng như hiển nhiên như vậy cũng làm anh mất khá nhiều thời gian và tâm lực. Dần dần Đức phát hiện ra rất nhiều sai sót trong quá trình liệt kê và thuyết minh các sự kiện. Là người tôn trọng sự thật, anh lần lượt vạch ra và chứng minh các điều sai trái, trong đó có những điều hoàn toàn không liên quan đến gia đình anh, ví dụ như truờng hợp của cô bé Đỗ Thị Nhựt, của anh lính da đen Carter, của bà Phạm Thị Phán, v.v.
Càng dấn sâu vào công việc anh càng bị các cơ quan chức năng, từ giám đốc KCTSM, Phòng Văn hóa huyện, đến Công an tỉnh gây sức ép, đe dọa và tạo dư luận vu khống. Ngay cả việc vợ chồng anh ở lại định cư tại Đức đã bị thêu dệt thành hành động “Tỵ nạn chính trị”. Mọi lý lẽ và bằng chứng anh mang về đều bị coi là “âm mưu phá hoại”. Ngày 3.8.2010, Đức đã bị côn đồ hành hung ngay trên mảnh đất quê huơng, trước sự chứng kiến của công an.

Đức và Ron luôn bị những người che mặt theo dõi từng bước
Đức vô cùng chua xót khi biết trong số công an theo dõi anh mỗi khi về nước, có những nguời từng là bạn, là đồng chí của anh.
Giả thiết những sai sót trong xử lý tư liệu của KCTSM chỉ xuất phát từ những tắc trách, cẩu thả, thiếu hiểu biết, hoặc thậm chí các danh sách khống chỉ là các tính toán cá nhân trục lợi tiền cứu trợ của các tổ chức cưu binh Mỹ, thì đó chỉ là những biểu hiện tiêu cực, thậm chí hèn hạ của một số cán bộ thừa hành thoái hóa. Như vậy khi có những nhân chứng sống từ cả hai bên, khi có các tư liệu lịch sử chỉ rõ các sai sót đó thì việc sửa đổi chúng cho đúng với sự thật đâu có thể khó khăn đến như vậy? Việc gì phải sử dụng bộ máy chuyên chính để trấn áp một người chỉ muốn đòi lại các sự thật đơn giản như Đức?
Là nguời sinh ra trong gia đình cán bộ cách mạng nên Đức tin là hệ thống chính trị hiện hành sẽ giúp anh đòi lại sự thật. Anh đã gửi hàng chục tập tài liệu xác minh đến các cấp tỉnh, Trung ương. Cục Di sản Văn hóa, Bộ Văn hóa, Sở Văn hóa Quảng Ngãi, một đại biểu Quốc hội phụ trách Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã có trong tay các tài liệu đó. Thậm chí cả hai cựu Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Võ Văn Thưởng (khi còn là Bí thư tỉnh uỷ Quảng Ngãi) đã từng cầm tập hồ sơ đó trên tay.
Tất cả các nơi Đức đến gặp đều rất thông cảm, động viên anh kiên trì. Đức luôn hy vọng vào những lời khuyên đó.
Tôi nói với Đức rằng: Họ tỏ ra thông cảm với em vì biết em nắm sự thật. Họ có đủ kiến thức để hiểu điều đó, nhưng họ sẽ nhắm mắt để cỗ máy tội lỗi kia tiếp tục nghiền nát mọi hy vọng của em.
Đức chợt nhớ lại rằng, mỗi khi anh bị hành hung, bị gây khó khăn, mọi nơi anh gọi đến đều bận họp! Vị sử gia kiêm đại biểu Quốc hội, tuy rất “tâm đắc” về các chứng cứ Đức nêu ra, hứa sẽ về Quảng Ngãi điều tra việc này. Mười mấy năm qua đã không hề ra tay.
David và Goliath trong Kinh Thánh đánh nhau một chọi một. Goliath Việt Nam có vô số đồng minh. Chúng che đỡ gã, kẻ thì bằng những chỉ giáo ngầm, kẻ bằng sự câm lặng đồng lõa. Cuối cùng thanh gươm mà David định dùng là luật pháp cũng đã nằm trong tay Goliath!
Chính quần thể Goliath này đã biến câu chuyện nhỏ, từ những tắc trách, từ những ấu trĩ, từ sự tham vặt của một vài cán bộ KCTSM, thành nỗi hổ thẹn của dân tộc, khi các bạn Mỹ và báo chí quốc tế biết đến sự thật bị bóp méo và cuộc đấu tranh đòi sự thật của Đức.
Thậm chí ông Ron cũng bị KCTSM gây khó khăn, khi ông yêu cầu họ sửa lại các nội dung sai trái. Mâu thuẫn về bản quyền lên đến đỉnh điểm khi ông Ron kiện KCTSM ra tòa và cấm không được sử dụng mọi bức ảnh của ông tại đó. Việc này gây ra dư luận xấu cho nhà nước Việt Nam khiến Trung ương phải vào cuộc.
Ngày 10.04.2019 Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh (TP.HCM) đã thông báo kết luận cuộc họp hội đồng khoa học về việc chỉnh sửa nội dung chú thích trưng bày thảm sát Sơn Mỹ thuộc chuyên đề “Tội ác chiến tranh xâm lược”. Bà Trần Xuân Thảo – giám đốc Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, chủ tịch hội đồng khoa học – kết luận: “Điều chỉnh nội dung chú thích cũ thành “Anh che đạn cho em. Anh Trần Văn Đức, 7 tuổi. Em Trần Thị Hà, 14 tháng tuổi. Hai anh em hiện còn sống”. Bảo tàng TPHCM cũng có công văn gửi KCTSM đề nghị sửa lại ghi chú bức ảnh cho đúng với lịch sử. Cho đến hôm nay ban lãnh đạo KCTSM chỉ sửa lại lời chú thích là: “Đứa em trai che đạn cho em gái”. Một giải pháp nhờ nhờ, che không kín cả trên lẫn dưới, không nói lên một sự thật nào cả.
Kẻ thù từ trong ta là vậy.
Từ lâu người dân Việt Nam và Mỹ đã không còn coi nhau là kẻ thù. Hai nhà nước Việt Nam và Mỹ đã bắt tay nhau từ 1995. Việt Nam luôn mong muốn trở thành đối tác chiến lược của Mỹ. Mâu thuẫn cơ bản gây ra cuộc chiến tranh giữa ý thức hệ cộng sản và tư bản là quan hệ sản xuất đã không còn nữa. Việt Nam luôn đề nghị Mỹ nhìn nhận mình là nền kinh tế thị truờng. Tuy còn những khác biệt, nhưng Việt Nam sẵn sàng trải thảm đỏ đón người Mỹ vào để cam kết với họ rằng sẽ tôn trọng quyền tự quyết của công nhân, quyền lập công đoàn độc lập.
Việt Nam sẵn sàng ký mọi công ước quốc tế về bảo vệ môi truờng, về bảo vệ trẻ em… Nhưng mọi nỗ lực của người dân, từ bảo vệ cây xanh Hà Nội, đến bảo vệ biển Miền Trung hoặc chống lại nạn ấu dâm, đều bị coi là “chống phá”. Nguời Việt thích chụp mũ nhau là “phản động”, là “nằm vùng”, thích dùng tội lỗi của người khác để biện hộ cho cái ác của mình. Tuy thích dùng mỹ từ “hòa giải”, nhưng nhiều người hay đem chuyện “nợ máu” ra để tính sổ với nhau.
Bảo tàng Sơn Mỹ sẵn sàng thỏa thuận, nhân nhượng với nhà báo Mỹ Ronald Heaberle để ghi rõ những bức tranh thuộc bản quyền của ông. Nhưng họ chống lại bằng mọi cách, không chịu công nhận những sự thật về gia đình Trần Văn Đức, những đồng bào của họ.
Đó chính là những kẻ thù từ trong ta.
Người lính Mỹ cuối cùng rời Việt Nam đã 52 năm, trong khi tiếng súng của Trung Quốc mới ngừng cách đây 35 năm. Vậy mà từ 35 năm qua Trung Quốc trở thành đồng minh tốt nhất của đất nước này. Từ một “kẻ thù truyền kiếp” trong Hiến pháp 1982, nay Trung Quôc đã trở thành nhà thầu lớn nhất, nhà cung cấp tín dụng lớn nhất, nhà cung cấp hàng tiêu dùng lớn nhất cho Việt Nam. Rõ ràng những chính sách sai lầm khiến kinh tế, văn hóa, xã hội Việt phụ thuộc vào Trung Quốc là trách nhiệm của nhà nước. Nhưng việc hàng nhái, văn hóa phẩm rẻ tiền Trung Quốc tràn ngập các quầy hàng, việc hóa chất Trung Quốc phối hợp với thực phẩm độc nội địa chi phối mọi mâm cơm gia đình là hậu quả của lòng tham, của sự ti tiện trong mỗi con người chúng ta.
Người Việt khinh người Hoa như rác. Đâu đâu cũng thấy các bài viết đả kích các thói xấu của nguời Hoa: nói to, chen lấn, ở bẩn, ăn trộm, vô cảm, vũ phu, v.v. cứ như chúng ta đã văn minh hơn họ.
Người Việt luôn tự hào là thông minh, thông minh đến mức hễ thấy bất công, bạo ngược là tránh, để cho kẻ khác làm hoặc xúi họ đấu tranh hộ mình. Những kẻ thông minh hơn thì luôn tìm ra lý do để biện bạch cho cái hèn, cái đểu của mình.
Tất cả đó đều là kẻ thù từ trong ta.
[1] Mỹ Lai còn được gọi là Sơn Mỹ trước 1975, sau 1975 đổi tên thành xã Tịnh Khê huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Vụ thảm sát Mỹ Lai xảy ra hôm 16.03.19968.
[2] Lidice là một làng nhỏ ở Tiệp Khắc, còn Oradour thì ở nước Pháp. Hai làng này đều bị lính Đức hủy diệt, dân chúng bị tàn sát. Hai làng này được coi là biểu tượng của tội ác diệt chủng.
[3] Bertolt Brecht (1898-1956) nhà soạn kịch có ảnh hưởng lớn ở Đức.