Văn chương là sự đồng cảm với thân phận con người.

Xin đừng chính trị hoá, hình sự hoá văn chương viết về thân phận con người.

Phạm Đình Trọng

Dù là người sáng lập ra Đảng Cộng sản đang ngạo nghễ cầm quyền ở nước ta, dù đã đưa đất nước Việt Nam từ không có tên trên bản đồ thế giới đến danh xưng vang dội như ngày nay thì Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh cũng là con người có thực trong cuộc đời. Không phải người Trời ở cõi linh thiêng trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh với các Vua Hùng huyền thoại. Cũng không phải thần thánh ở trong mây trắng trên đỉnh Ba Vì với thần Tản Viên hư ảo.

Đã là con người thực thì vừa có nét đẹp lung linh của con người có lí tưởng cao cả, vừa có nét đời thường của con người phàm tục, có ăn, có ngủ, có yêu, có ghét. Đã là con người thực thì có hay có dở, có đúng có sai, có tốt, có xấu, có quá trình hình thành nhân cách từ số không vô danh đến tên tuổi được nhiều người biết đến và có thân phận, có nỗi niềm cần được nhìn nhận và đồng cảm.

Có nhà triết học chia cuộc đời con người thành ba giai đoạn, thành ba độ tuổi.

Tuổi lạc đà, chia động từ MÀY PHẢI. Mày phải làm xong bài toán mới được đi đá bóng. Mày phải lau nhà cho sạch. Mày phải tránh xa cái đám máu me đỏ đen đó ra. Tuổi còn ngơ ngác, khờ dại, phải được dạy bảo, áp đặt, phải học hỏi, cóp nhặt, tich luỹ hiểu biết, phải tìm kiếm lí tưởng xã hội cho cuộc đời.

Tuổi sư tử, chia động từ TÔI LÀ. Tôi là người lính. Tôi là giáo viên. Tôi là CEO công nghệ tin học. Tôi là Bill Gates. Tôi là Leonel Messi. Tuổi khẳng định sự có mặt trong cuộc đời, để lại dấu ấn trong tình cảm, trong trí nhớ người khác và trong thời gian.

Tuổi hài nhi. Về già, con người lại trở về tuổi thơ ngây. Tuổi thơ từ khi ra đời đến khi đi học, được nạp hiểu biết, ý thức được sự có mặt của mình trong cuộc đời chỉ kéo dài vài năm thì tuổi thơ ngây cuối đời kéo dài vài chục năm. Do đó tuổi thơ ngây cuối đời mới được coi là một giai đoạn cuộc đời. Về già lại chơi với bạn đồng giới. Lại hay hờn dỗi như trẻ con. Lại sợ bị lãng quên. Cứ nhìn nhiều quý ngài chức cao quyền lớn về hưu đã vài chục năm vẫn ham chường mặt ra trước thiên hạ. Mỗi dịp lễ lạt lại đóng bộ xênh xang, hớn hở lên bục cao cho công chúng thấy mặt, nhớ tên. Tuổi hài nhi đó!

Nguyễn Tất Thành dù đã ngoài hai mươi tuổi vẫn chưa biết mình là ai, vẫn đang đi khám phá thế giới, tìm lí tưởng xã hội. Sách Chuyện với Thanh gọi chuyến đi tìm kiếm lí tưởng xã hội của tuổi trẻ Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh bằng ngôn ngữ của tuổi trẻ hôm nay là đi phượt thì có gì là xúc phạm. Đi phượt là đi khám phá thế giới, có phải là đi ăn mày, ăn xin, ăn cướp đâu mà xúc phạm!

Từ thầy giáo dạy thể dục ở trường trung học Dục Thanh, Phan Thiết bên sông Cà Ty đến anh đầu bếp ở con tàu vượt biển nối các châu lục để ra thế giới, cuối năm 1911, hai mươi mốt tuổi chân ướt chân ráo đến Paris, Nguyễn Tất Thành liền tìm đến Phan Châu Trinh ba mươi chín tuổi, tìm đến Phan Văn Trường ba mươi nhăm tuổi lắng nghe lời dạy bảo, đón nhận sự giúp đỡ của hai bậc bề trên đã thành danh và có uy tín lớn ở xã hội Pháp và ở cả chính trường Việt Nam.

Khi đó Nguyễn Tất Thành vẫn là số không, vẫn đang học hỏi, tích luỹ, vẫn chưa được chia động từ “Tôi là” mà vẫn đang phải chia động từ “Mày phải”. Sách Chuyện với Thanh không dùng ngôn ngữ anh hùng ca, không thánh ca mà dùng ngôn ngữ đời thường, gọi những lần Nguyễn Tất Thành đến nghe các bậc bề trên dạy bảo và được các bậc bề trên sai vặt là điếu đóm chỉ cho thấy Chuyện với Thanh có sự đồng cảm, thân tình của tuổi trẻ hôm nay với tuổi trẻ của Nguyễn Tất Thành hơn trăm năm trước. Sự đồng cảm thân tình đó chẳng có gì xúc phạm tuổi trẻ Nguyễn Tất Thành cả.

Tôi được nghe, được đọc nhiều người khẳng định rằng tác giả Chuyện với Thanh trong những bài giảng về tư tưởng Hồ Chí Minh ở nhiều trường đại học đã bày tỏ sự ngưỡng mộ chí lớn Nguyễn Tất Thành và đánh giá cao vai trò Hồ Chí Minh trong lịch sử cận đại Việt Nam. Có phải vì vậy mà tác giả Chuyện với Thanh ráng tái hiện, khắc hoạ Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh là con người bình thường có thật trong cuộc đời để ngưỡng mộ và ghi công con người có thực mà vô cùng gần gũi chứ không phải lòng thành kính thường tình mà ai ai cũng có đối với những thần thánh huyền thoại mà vời vợi xa cách vì là sự xa cách giữa thực và ảo.

Không viết bằng ngôn ngữ anh hùng ca quen thuộc thường có ở sách vĩ nhân, bằng ngôn ngữ của tuổi trẻ hôm nay, Chuyện với Thanh là sự đồng cảm, thân thiết với thân phận Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh, là sự tìm hiểu, khám phá hành trình đưa Nguyễn Tất Thành trong đời thực đến Hồ Chí Minh trong lịch sử.

Văn chương đích thực muôn đời phải là nỗi trắc ẩn về thân phận con người trong biến động xã hội. Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Tang thương ngẫu lục,… của Việt Nam, Những người khốn khổ, Chiến tranh và hoà bình, Sông Đông êm đềm, Cuốn theo chiều gió… của thế giới hôm qua là vậy. Chuyện với ThanhNỗi buồn chiến tranh của Việt Nam hôm nay cũng là vậy.

Nỗi buồn chiến tranh là thân phận con người Việt Nam, thân phận tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc chiến tranh đẫm máu nhất trong lịch sử Việt Nam. Những Mặt trận trên cao của Nguyễn Đình Thi, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Đường trong mây của Nguyễn Khải… là sách viết về cuộc chiến tranh vừa qua với cảm hứng “đường ra trận mùa này đẹp lắm” thư viện nào trong nước cũng có mà vẫn đang chìm vào quên lãng. Nguyễn Khải là nhà văn có nhiều tác phẩm nhất viết bằng cảm hứng “đường ra trận mùa này đẹp lắm” và ông xót xa thú nhận trong bài viết Đi tìm cái tôi đả mất rằng: “Tôi là nhà văn của một thời. Thời hết thì văn phải chết. Tuyển tập, toàn tập thành giấy lộn cho con cháu bán cân”.

Viết về thân phận con người, Nỗi buồn chiến tranh sẽ còn mãi trong văn học Việt Nam cùng Truyện Kiều, cùng Chinh phụ ngâm… Các thế hệ mai sau sẽ tìm đọc Nỗi buồn chiến tranh để hiểu về một thời chiến tranh quá nhiều mất mát chứ không phải cuộc chiến tranh “đường ra trận mùa này đẹp lắm!”. Nhận ra một dân tộc dám chấp nhận mất mát khủng khiếp để đi tới mới nhận ra sự vĩ đại và trường tồn của dân tộc đó.

Văn chương đích thực muôn đời là văn chương viết về thân phận con người. Xin đừng chính trị hoá, hình sự hoá văn chương viết về thân phận con người trong Chuyện với Thanh và trong Nỗi buồn chiến tranh. Chính trị hoá, hình sự hoá văn chương, lịch sử Việt Nam đã phải mang nỗi đau muôn đời Nhân Văn – Giai Phẩm và văn học Việt Nam đã phải chịu mất mát không gì bù đắp lại được do Nhân Văn – Giai Phẩm để lại. Xin đừng lặp lại nỗi đau và mất mát đó.

Tôi rất kính trọng trí tuệ và sự trung thực của nhà khoa học giáo dục, PGS Mạc Văn Trang khi ông viết:

“Từ lâu những chuyện tranh cãi trên mạng, kiểu như về “giáo dục khai phóng”, tôi không còn chút hào hứng nào tham gia nữa. Nó còn kinh tởm hơn cả bần cố nông đấu địa chủ, hơn cả mấy anh chị công nhân học lớp 3-4 bổ túc văn hoá, chửi bới, nhiếc móc các nhà thơ, nhà văn, giáo sư trong vụ “Nhân văn – Giai phẩm”!

Dường như tất cả những cái kinh tởm từ ngày đó đều tích hợp vào “văn hóa đấu tố” trên mạng ngày nay và được nhân lên gấp triệu lần nhờ mạng xã hội.  Thật là kinh hãi! Chán nản, tôi đã tuyên bố “Buông bút”! Nhưng rồi chẳng đành lòng, nên viết bài này.

Trước đây chưa có mạng xã hội, những vấn đề học thuật chuyên sâu về mọi lĩnh vực chỉ do các chuyên gia bàn với nhau, rồi do các Hội đồng chuyên ngành quyết định. Người dân “biết thì thưa thốt, không biết, dựa cột mà nghe”; đối với các học giả, người dân kính trọng các quan điểm của họ, không biết thì “kính nhi viễn chi”, chứ đâu dám nói càn, chửi bậy như ngày nay!

Phải nói, nhiều vấn đề chuyên sâu về học thuật, có thể chỉ một triệu người, một vạn người, thậm chí một trăm người, hay chục người hiểu được mà thôi. Còn gần trăm triệu người không/chưa hiểu thì phải khiêm tốn lắng nghe, học hỏi…”.

Trong ào ạt những lớp sóng sôi sục chính trị hoá, hình sự hoá Chuyện với ThanhNỗi buồn chiến tranh bên cạnh những người chưa đủ hiểu biết thấu đáo về văn chương còn có rất nhiều, rất nhiều người hùa theo cuộc đấu tố Chuyện với Thanh, vay mượn sự phẫn nộ với Nỗi buồn chiến tranh nhằm chứng tỏ lập trường chính trị, nhằm bộc lộ sự trung thành với quyền lực đương thời để được biết đến, để được tin dùng. Một ông chủ doanh nghiệp con con ở tỉnh lẻ chẳng ai biết đến cũng đỏ mặt tía tai đòi xử lí hình sự với tác giả Chuyện với Thanh. Nhờ vậy thiên hạ mới biết đến tên ông, mới biết đến doanh nghiệp của ông và quyền lực phải ghi nhớ lập trường chính trị vững vàng của ông!

Đã là con người có thực thì không ai có thể toàn bích, thánh thiện. Thần thánh hoá con người có thực là đẩy con người có thực vào hư vô và người có tư duy thần thánh hoá người có thật trong cuộc đời cũng là người chưa trưởng thành.

Ở thời ấu thơ vừa tách ra khỏi thế giới động vật, còn run rảy, dò dẫm trước thế giới mênh mông và trước vũ trụ thăm thẳm huyền bí, loài người phải bám víu vào thần linh, sống chung với thần thánh trong tưởng tượng để đỡ lẻ loi, nhỏ bé và bơ vơ. Truyện cổ tích, chuyện huyền thoại, truyện thần thánh, những thần Zeus, thần Prometé, Mẹ Âu Cơ,  Vua Hùng, Thánh Gióng ra đời từ đó.

Thần thánh hư ảo sống lẫn lộn với xã hội loài người suốt đêm dài trung cổ của văn minh nông nghiệp. Chỉ đến văn minh công nghiệp con người mới trưởng thành, mới tự tin vào mình, mới thực sự sống trong cuộc đời thực, giữa người thường với người thường, mới nhận ra con người thực dù cao cả trong lí tưởng xã hôi vẫn không tránh khỏi những thấp hèn trong cuộc sống đời thường.

Viết về con người thực vừa cao cả thần thánh, vừa thấp hèn tội lỗi chính là tiểu thuyết hiện đại. Con người trưởng thành mới sáng tạo ra tiểu thuyết hiện đại và mới từ bỏ truyện cổ tích để đọc tiểu thuyết. Cá nhân và tổ chức có ảnh hưởng với xã hội, có vai trò dẫn dắt xã hội vẫn được tuyệt đối hoá, siêu nhân hoá, thần thánh hoá thì dù xã hội đã có cơ sở vật chất của văn minh công nghiệp nhưng con người và đời sống văn hoá tinh thần xã hội vẫn chìm đắm trong văn minh nông nghiệp! Con người vẫn chưa vươn vai đứng dậy tách ra khỏi bầy đàn thành những cá nhân trưởng thành.

This entry was posted in Vấn đề hôm nay and tagged . Bookmark the permalink.