Những kẻ không còn nơi nào để thuộc về – Đọc Có những kẻ đi mãi không về của Nguyễn Viện

Bảo Chân

Cái gì còn lại khi nhiều thứ đã mất, sau những cuộc chiến? Có phải đây là câu hỏi Nguyễn Viện muốn đặt ra? Tôi đọc Có những kẻ đi mãi không về không phải như đọc một tiểu thuyết chiến tranh. Tôi đọc nó giống như đọc câu chuyện của những con người bị lịch sử đẩy ra ngoài mọi biên giới – biên giới quốc gia, biên giới đạo đức, biên giới ký ức, và cuối cùng là biên giới của chính bản thân.

Nếu như tựa đề Có những kẻ đi mãi không về gợi ra một ý niệm về lưu vong địa lý, thì câu chuyện lại kể về những người không bao giờ có nơi nào để thuộc về:

– Ông Thày không thuộc về Giáo hội.

– Thạch Xung không thuộc về quân đội, không thuộc giới giang hồ, cũng không phải thành phần thuộc Phật giáo.

– Thị không thuộc về Việt Nam, sang đến Mỹ, cô cũng không thuộc về nước Mỹ.

– Mimi Đen không thuộc về đạo đức truyền thống.

– James không thuộc về cuộc chiến mặc dù anh ta là lính tham chiến.

Tất cả những nhân vật ấy ở trong tiểu thuyết của Nguyễn Viện đều là những người đứng bên lề của những cộng đồng. Vì vậy mà lời văn của tác giả hiện lên như một tự sự của sự không thuộc về. Những kẻ đi mãi không về ấy là bởi nơi họ muốn trở về đã không còn hay chưa từng tồn tại, hay là bởi những người ấy đã mất chính khả năng thuộc về một nơi nào đó.

Người ta thường nghĩ điều đau đớn nhất là rời bỏ quê hương. Nhưng, đọc tác phẩm này của Nguyễn Viện lại gợi cho tôi một suy ngẫm khác: có lẽ, một điều đau hơn là một ngày ta nhận ra quê hương ở đó mà ta không còn có thể trở về hay thuộc về. Không phải vì biên giới, mà vì thời gian, ký ức và những đổ vỡ đã âm thầm biến đổi cả con người lẫn nơi chốn. Khi ấy, “đi mãi không về” không còn là một chuyển động địa lý hay không gian nữa. Đó là bi kịch của những con người không thể quay về thời gian đã mất, không thể quay về con người mình từng là, và đôi khi không thể quay về một nơi chốn chỉ còn tồn tại trong ký ức.

Nếu cho rằng Có những kẻ đi mãi không về là một tiểu thuyết về ký ức, thì ký ức ấy không phải là hồi tưởng mà là một phương thức tồn tại. Vì rằng Nguyễn Viện rất ít khi để nhân vật kể lại quá khứ theo lối tự sự hồi tưởng thông thường. Ngược lại, quá khứ luôn sống trong hiện tại. Đó là một điểm khác biệt rất lớn với những tác phẩm ký ức:

– Khi bà Xanh quay lại lô cốt sau cái chết của ông Thày: “Ở đó, bà sống lại thời thanh xuân của mình. Những nụ hôn ngọt ngào. Những đắm chìm tận tuyệt. Và sự giải thoát khỏi mọi gánh nặng”. Đây không phải là một ký ức được kể lại, mà là ký ức được tái sinh. Khi đó không gian lô cốt không còn là một địa điểm vật lý. Nó trở thành một không gian ký ức.

– Điều tương tự xảy ra với bà Mắm. Hai người đàn bà từng yêu cùng một người đàn ông không đối đầu nhau. Họ gặp nhau trong lô cốt và cùng khóc. Điều gắn kết họ không còn là ông Thày nữa, mà là một ký ức chung.

Phải chăng ký ức ở Nguyễn Viện không nhằm gìn giữ quá khứ, mà để tạo nên một không gian vô hình giữa những người đã mất mát? Nếu như trong tự sự tiểu thuyết, ký ức luôn được kể lại hoặc miêu tả gắn với những hình ảnh, ở Nguyễn Viện thì khác, ký ức gắn được gợi nhớ qua những mùi: Thị hiện diện trước hết bằng mùi; Bà Mắm cũng được nhận diện bằng mùi; Rume cũng có mùi. Ngay cả chiến tranh cũng có mùi.

Qua ngòi bút Nguyễn Viện, mùi biến thành biểu tượng của ký ức. khi mùi biến mất nghĩa là một thế giới cũng biến mất.

Đọc Có những kẻ đi mãi không về gợi cho tôi suy nghĩ: Quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra, cũng không phải là nơi ta mong trở về. Quê hương còn là một miền trong tâm tưởng của chính ta, được dệt nên từ những con người, những mùi hương, những ký ức và một trật tự xúc cảm. Khi thế giới ấy tan vỡ, con người vẫn có thể sống, vẫn có thể đi rất xa, thậm chí có thể trở về đúng nơi mình đã rời đi. Nhưng điều họ không bao giờ tìm lại được là chính con người đã từng thuộc về nơi ấy.

“Tôi như kẻ bị thất lạc giữa quê mình… Rume mỗi ngày mỗi khác bởi một tốc độ đô thị hoá đến kinh ngạc.”

Phải chăng, vì thế mà tôi đọc nhan đề của Nguyễn Viện không như một lời than về những người ra đi, mà như một suy tư về bản chất của sự trở về. Có những cuộc trở về địa lý, nhưng không có sự trở về nào nguyên vẹn với bản thể, với chính mình.

“Tôi phải kể như thế nào để diễn tả hết nỗi chua xót không chỉ vì mất hết tài sản mà còn là mất tất cả mọi lưu dấu yêu thương và những nắm xương mục dưới đất của ông bà, cha mẹ mình?”

Và như thế tôi chợt nhận ra, chính khoảng trống không thể lấp đầy giữa ký ức và hiện tại mới là tiếng thở dài âm thầm và sâu xa được kể lại trong tiểu thuyết này.

Thế nhưng, tại sao Nguyễn Viện không kể câu chuyện đó theo một tuyến tính mà lại đan xen những mảnh ký ức, những hồi cố, những mùi hương, những cuộc gặp gỡ? Phải chăng, chính hình thức tự sự này là cách biểu đạt sự đứt gãy của kinh nghiệm sống. Khi người kể tự vấn “Tôi phải kể như thế nào…”, câu hỏi ấy không chỉ hướng đến nội dung truyện kể, mà còn hướng đến chính hình thức của việc kể. Và có lẽ đây chính là một đặc điểm làm nên cái lạ trong văn Nguyễn Viện. Bi kịch cuối cùng trong tiểu thuyết này không phải là mất quê hương, mà là nhận ra rằng không còn câu chuyện nào có thể kể trọn vẹn về quê hương nữa. Câu hỏi tự vấn tôi vừa trích dẫn trên không còn là câu hỏi của một nhân vật, mà là câu hỏi của mọi ký ức sau thảm họa. Có những kinh nghiệm sống mà ngôn ngữ chỉ có thể đến gần chứ không bao trùm được: cuốn sách, vì vậy, là một nỗ lực kể về cái không còn kể được: một quê hương đã tan vỡ; những ký ức đã lộn xộn; con người đã thay đổi. Vì thế câu chuyện kể cũng không thể còn liền mạch mà đứt đoạn và phân tán đa tầng.

Nguyễn Viện không viết để tái dựng một quá khứ nguyên vẹn; ông viết từ chính những khoảng trống mà ký ức và ngôn ngữ không thể lấp đầy.

Sài Gòn 23-07-2026

(Viết xong ngày 23 tháng bảy, chỉnh sửa ngày 14 tháng 8.)

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.