Tino Cao

Một cuốn tiểu thuyết viết giữa thập niên 1960, phải ẩn mình gần nửa thế kỉ để tránh tai vạ, mãi đầu năm 2011 mới tới tay công chúng, tôi đồ rằng, cái sự trầm luân ấy đã chứa cả một số phận văn chương khác thường. Nhưng sự lưu lạc của bản thảo chỉ giải thích vì sao cuốn sách đến với công chúng quá muộn; giá trị văn chương vẫn phải được xác lập từ chính tác phẩm. Cứ quanh quẩn với chuyện bản thảo bị giữ lại và Trần Dần bị gạt khỏi sinh hoạt văn nghệ chính thống, người ta có thể lấy nỗi oan khuất của tác giả bù vào phần thẩm định nghệ thuật. Một đời cầm bút chịu nhiều tai vạ không đương nhiên bảo chứng cho tầm vóc của một cuốn tiểu thuyết. Những ngã tư và những cột đèn luôn được xem xét bằng giá trị chữ nghĩa và tư tưởng của nó khi đề cập vấn đề con người trước lịch sử.
Chiến tranh chấm dứt, Hà Nội được Việt Minh tiếp quản, song hòa bình của Dưỡng khởi đầu bằng một cuộc xét hỏi. Mười bốn tháng trong quân đội Quốc gia Việt Nam bám theo anh giữa thành phố vừa được tiếp quản; cái danh “ngụy binh” gần như viết sẵn ý nghĩa cho mọi hành vi hiện tại. Trần Dần chọn một vụ phản gián, thứ chất liệu rất hợp với lối văn nghệ phân tuyến địch-ta, thiện-ác, rồi đặt bên trong cuộc phá án một vấn đề gay gắt về cách con người bị phán xét. Phá được một đường dây gián điệp thuộc về nghiệp vụ; hiểu đúng Dưỡng đòi hỏi phải nhìn thấy phần đời mà hồ sơ bỏ sót. Qua báo cáo khu phố, tài liệu công an, kí ức của người thân và cuốn nhật kí, anh mang nhiều bản tiểu sử cùng tồn tại, mỗi bản giữ một phần sự thật và mang theo thiên kiến của người viết. Về sau, một nhà văn vô danh đối chiếu những lời kể xung khắc ấy để viết thành sách. Ai có tư cách đưa ra phán quyết sau cùng về một cuộc đời? Thứ giấy tờ nào đáng tin đến mức có thể đại diện hoàn toàn cho số phận ấy? Qua ngòi bút Trần Dần, đề tài được chế độ đặt hàng quay lại thẩm vấn lối tư duy muốn dùng lí lịch thay cho con người. Lời hứa giải phóng của cách mạng rốt cuộc được kiểm chứng qua sự đối đãi của chế độ với từng số phận cụ thể.
Sinh năm 1926 tại Nam Định, Trần Dần tiếp xúc với văn chương Pháp từ tuổi trẻ, đặc biệt say mê Baudelaire, Verlaine và thi phái tượng trưng. Ảnh hưởng ấy trước hết nằm ở quan niệm về thơ. Một bài thơ phải có đời sống riêng, được tạo nên bằng nhạc điệu, hình ảnh, cách tổ chức câu chữ và sức gợi; nội dung tư tưởng chỉ có giá trị lúc tìm được hình thức nghệ thuật tương xứng. Năm 1946, ở tuổi hai mươi, Trần Dần cùng Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch và một số thi sĩ lập nhóm Dạ Đài, công bố Bản tuyên ngôn tượng trưng trên số báo ra ngày 16 tháng Mười Một. Dạ Đài muốn đoạn tuyệt với những cảm xúc và hình ảnh từng bị lặp tới mòn trong Thơ Mới, từ chuyện ái tình, công danh tới mây chiều, nắng sớm. Tạp chí chỉ ra được một số trước lúc chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ, nhưng quãng đời ngắn ngủi ấy cho thấy rất sớm khí chất Trần Dần. Ông xem sáng tác là công việc khám phá, mỗi tác phẩm phải tự tìm lấy nhịp điệu và hình thức của mình. Nhà văn, theo quan niệm ấy, chịu trách nhiệm trước sự thật của kinh nghiệm sống và từng con chữ mình đặt xuống trang giấy. Chính niềm xác tín này giải thích vì sao Trần Dần có thể tận tâm với cách mạng, rồi va chạm quyết liệt với lối văn nghệ buộc tác phẩm phải minh họa cho kết luận chính trị soạn sẵn. Năm 1948, ông vào quân đội, phụ trách tuyên truyền, tham gia gây dựng sinh hoạt văn nghệ trong quân ngũ, sau đó có mặt tại chiến dịch Điện Biên Phủ cùng nhạc sĩ Đỗ Nhuận và họa sĩ Tô Ngọc Vân. Người người lớp lớp, xuất bản năm 1955, ra đời từ vốn sống ấy. Giữa âm hưởng sử thi của một thời đại tin tưởng vào sức mạnh tập thể, Trần Dần vẫn trung thành với cảm nhận riêng, giữ lại trên trang sách những cảm thức về sự kiệt sức, nỗi hoang mang, phút nao núng cùng những ý nghĩ thầm kín của người lính. Cách mạng đối với ông là một lựa chọn có căn nguyên trong niềm tin; nghệ thuật lại buộc ông phải thành thật trước con người bằng xương thịt. Chính từ hai mối ràng buộc sâu nặng ấy, cuộc va chạm với đường lối văn nghệ giáo điều phát sinh. Xếp ông vào chân dung một kẻ chống đối từ đầu là xuyên tạc lịch sử; xem ông như nghệ sĩ nhất nhất thuận phục cũng trái với khí chất sáng tạo của ông. Bi kịch Trần Dần nằm ở ý muốn gánh vác trách nhiệm công dân trong lúc vẫn bảo toàn lương tri nghề nghiệp, giữa một thời mà hai đòi hỏi ấy ngày càng ít khả năng chung sống.
Những cuộc tranh luận quanh tập Việt Bắc của Tố Hữu, bản kiến nghị sửa đổi chính sách văn nghệ, bài thơ Nhất định thắng và phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm đưa bất đồng văn chương sang một kết cục dữ dội. Đầu năm 1956, Trần Dần bị bắt giam; trong tù, ông cứa cổ tự sát và được cứu sống. Những cuộc kiểm điểm, kỉ luật, lao động cải tạo nối tiếp nhau; tác phẩm mới của ông bị chặn khỏi xuất bản chính thức suốt gần ba mươi năm. Công chúng ít nghe tiếng Trần Dần, song ngòi bút của ông chưa từng chấp nhận câm lặng. Giữa cảnh nghèo túng và sống trong sự giám sát dai dẳng ngặt nghèo, ông vẫn làm thơ, viết tiểu thuyết, ghi nhật kí, vẽ, tạo hình chữ, bẻ câu, ngắt nhịp, thử nghiệm một bút pháp mới. Người từng phải cân nhắc mỗi lời trước khả năng bị theo dõi ghi chép, từng thấy câu nói của mình biến nghĩa qua tai kẻ báo cáo, ắt hiểu hồ sơ và biên bản có thể can thiệp thô bạo vào một đời người ra sao. Nỗi ám ảnh ấy đi vào Những ngã tư và những cột đèn, ở đó con người bị theo dõi, bị thẩm vấn, bị phết phẩy vào tiểu sử ngay lúc còn sống. Dẫu vậy, lấy tiểu sử Trần Dần ướm khít vào nhân vật Dưỡng chỉ cho một lối hiểu đơn giản. Dưỡng từng là lính phía bên kia, vướng vào một quá khứ tình ái rối ren, mang tâm tính khác xa người sáng tạo ra mình. Đời Trần Dần cung cấp cho cuốn sách kinh nghiệm của kẻ từng bị xét hỏi và ghi hồ sơ; tài năng tiểu thuyết giúp ông tách bạch kinh nghiệm ấy khỏi câu chuyện riêng để khảo sát một tai họa chung, ấy là phẩm giá của con người sẽ còn lại bao nhiêu phần trăm trước một bản tiểu sử do thiên hạ soạn hộ?
Lai lịch bản thảo cho thấy thêm một sự thật cay nghiệt. Suốt hai thập niên, Trần Dần không giữ được bản thảo duy nhất của chính mình. Mùa thu năm 1964, Trần Dần khởi thảo cuốn sách theo đề nghị viết về một vụ phản gián của ngành công an. Một số tài liệu xác định bản viết tay hoàn tất năm 1965, trong lúc bản in và nhiều nguồn trong nước ghi năm 1966. Sai biệt một năm ấy cứ nên để nguyên như một khoản tư liệu chưa thể quyết đoán. Bản thảo duy nhất được nộp cho Sở Công an Hà Nội, tới năm 1988 mới quay về tay tác giả. Khoảng 1989 – 1990, ông chép lại và sửa thêm một lượt. Trần Dần mất năm 1997; cuốn tiểu thuyết vẫn bị ém trong bóng tối. Đầu năm 2011, Nhã Nam cùng Nhà xuất bản Hội Nhà văn mới đưa tác phẩm tới công chúng, cách ngày hoàn tất khoảng bốn mươi lăm năm. Suốt hai thập niên, người viết chẳng giữ nổi bản thảo duy nhất của chính mình. Chi tiết ấy liên hệ trực tiếp với tư tưởng của cuốn sách. Trong thế giới Trần Dần, giấy tờ chẳng bao giờ chỉ là giấy tờ. Một cuốn nhật kí có thể cứu một lời khai, một bản cung có thể chôn một đời người, một tập hồ sơ có thể thay thế con người bằng mấy dòng nhận xét. Trần Dần đem lịch sử lưu lạc của chữ viết nhập vào phép dựng truyện: hồ sơ phản gián được bày ra như chứng cứ, rồi từng trang tiểu thuyết phá vỡ uy tín của chính thứ chứng cứ ấy. Sau cùng, câu hỏi còn lại vừa lạnh lùng vừa nhức nhối: Ai có tư cách đặt dấu chấm hết dưới bản án về một con người?
Phần chính của câu chuyện diễn ra tại Hà Nội từ cuối năm 1954 sang năm 1955. Dưỡng từng phục vụ mười bốn tháng trong Quân đội Quốc gia Việt Nam của chính phủ Bảo Đại, được vận động bỏ ngũ rồi quyết định ở lại thành phố sau tiếp quản. Chính thể thay đổi chỉ trong vài ngày, còn nếp sống, quan hệ, thành kiến và nỗi sợ vẫn đeo theo mỗi người từ thời cũ. Tiếng súng tại thủ đô vừa ngưng, một cuộc xếp hạng khác về thân phận liền bắt đầu. Người thắng và kẻ thua, người được tin cậy và kẻ thuộc diện cải tạo, công dân lương thiện và phần tử phá hoại được định dạng qua lí lịch, nghề nghiệp, bạn bè cùng những lời khai mơ hồ. Trong nhật kí tháng 9 năm 1954, Trần Dần bộc lộ băn khoăn về số phận và trách nhiệm con người vào buổi giao thời khi chiến tranh chuyển sang hòa bình. Mười năm sau, băn khoăn ấy được trao lại cho số phận nhân vật Dưỡng theo cách “giữa hai cuộc chiến tranh, là nhật kí”. Sử biên niên ghi ngày đình chiến, ngày tiếp quản, ngày một cuộc chiến khác khởi đầu; đời Dưỡng lại tính bằng những buổi thất nghiệp, cuộc cãi vã với Cốm, lần bị thẩm vấn, chiếc lá lìa cành, cuộc chạm mặt bạn cũ. Nhật kí giữ lại phần thời gian mà lịch sử bỏ quên, thời gian của thân thể, tủi nhục, ham muốn và lương tâm. Đất nước bước vào hòa bình, riêng trong đầu mỗi người, chiến tranh vẫn tiếp diễn.
Một phát súng nổ trong vườn nhà Dưỡng dẫn câu chuyện tới cái chết của Tình Bốp, nhân vật Nhọn-cằm bí hiểm, Lily và đường dây do ông Phúc che giấu. Chất liệu trinh thám đem lại cho cuốn sách bóng dáng của một cuộc phá án, nhưng vụ án rắc rối nhất vẫn là chính Dưỡng. Anh cộc cằn, tự ái, mê truyện hình sự, uống rượu, ham đàn bà và nhiều phen làm Cốm khổ sở. Mười bốn tháng quân ngũ phía bên kia vốn ngắn ngủi; cái danh “ngụy binh” lại ám vào toàn bộ đời sống hiện tại của anh. Một cơn giận bị hiểu là thái độ chống đối; một người bạn cũ biến thành mối quan hệ khả nghi; một vật cất trong nhà cũng có thể làm chứng cho quá khứ chính trị thù địch. Dưỡng khao khát sống bằng lao động, được đối đãi như một công dân và tự sửa chữa những phần hư hỏng của mình. Anh biết xấu hổ, nhận ra sự sa sút của bản thân, lại có trí quan sát cùng khả năng góp sức cho cuộc điều tra. Trần Dần chẳng hề tẩy trắng Dưỡng. Những vụ phản bội tình cảm, tính hung hăng và thói ích kỉ gia trưởng đều được ông ghi rành rọt. Lòng thương ở đây phải chịu sự thử thách của phán xét. Nhà văn bênh vực tư cách làm người của Dưỡng, đồng thời buộc nhân vật nhận phần trách nhiệm thuộc về anh. Bộ máy phân loại dựa vào quá khứ chính trị để phán quyết toàn bộ con người; tiểu thuyết xét từng hành vi, từng lỗi lầm và cả khả năng tự sửa mình. Sự nghiêm khắc ấy làm nên phẩm chất nhân đạo của Trần Dần.
Mối nghi ngờ quanh Dưỡng bắt đầu ngay từ khu phố. Sau phát súng, Trung trố, ông Mẫn và chị Hòa thuộc ban bảo vệ khu phố tới lục soát vườn, khám nhà, thu sách ảnh, dò hỏi các mối quan hệ rồi báo cho cán bộ Thái. Hòa ngồi nghe Cốm than thở bằng vẻ thân tình của một người hàng xóm, sau đó ghi báo cáo về những cựu binh thuộc chế độ cũ. Trung trố nhân danh hàng nghìn cư dân để ép Dưỡng viết tờ thú. Điều đáng sợ là họ đều mang gương mặt bình thường. Ông Mẫn chất phác; Hòa còn lòng trắc ẩn; Thái có nghiệp vụ và nhiều phen xử sự tỉnh táo. Thiện ý, nghèo khó, sự sốt sắng và thành kiến chen lẫn trong từng người. Trần Dần nhờ đó diễn tả sự giám sát với vẻ chân thực lạnh người. Tình láng giềng dẫn sự dò xét vào nhà riêng; lời người vợ tâm sự được ghi thành tài liệu; một ánh mắt ngoài vỉa hè tiếp tục sống trên trang báo cáo. Nghề cũ, sách cất trong tủ, cuộc gặp một người bạn xưa đều có thể bị dùng làm chứng cớ. Mỗi cư dân quan sát người bên cạnh và cũng chịu ánh mắt của kẻ khác. Hà Nội sau chiến tranh trong tiểu thuyết Trần Dần mang vẻ bình yên của phố xá vừa hết tiếng súng, bên dưới là một xã hội đang rà soát từng con người để tìm dấu hiệu trung thành hay phản trắc.
Sự dò xét bên ngoài rồi nhập vào ý thức Dưỡng, chia cái tôi của anh thành nhiều tiếng nói cãi vã triền miên. Anh tự phân mình thành “thằng-Tôi”, “cái-Sọ” và “cái Bóng-thằng-Tôi”, những danh xưng vừa khôi hài vừa cay độc. “Cái-Sọ” phân tích, luận tội, dựng giả thuyết; “cái Bóng” bám riết và nhại lại lời thiên hạ; “thằng-Tôi” chịu nhục, nổi giận, cuống cuồng tìm lối thoát. Dưỡng còn vẽ “bản đồ tội lỗi”, xếp từng hành vi và quan hệ thành một địa thế vây bủa chính mình. Cán bộ chưa đặt câu hỏi, anh đã soạn lời cung trong óc. Anh vừa là bị can, vừa làm điều tra viên, vừa tự kết án. Trước cùng một sự việc, “cái-Sọ” đưa chứng cứ, “cái Bóng” chế giễu, “thằng-Tôi” chỉ muốn quên phắt. Cuối cùng, Dưỡng chẳng còn tin chắc vào cảm giác và động cơ của bản thân. Tài nghệ Trần Dần biểu lộ rõ ở phép tổ chức cái tôi phân thân ấy. Một thủ pháp quen thuộc của văn chương hiện sinh, qua tay ông, mang hộ khẩu Hà Nội, kèm lí lịch, tờ khai thú nhận, báo cáo khu phố và tiếng giày người khám nhà. Sự nghi ngờ không còn đứng bên ngoài cánh cửa nhà. Nó len vào cưỡng chiếm lương tâm, buộc con người tự tiếp tục cuộc thẩm vấn ngay cả lúc chung quanh chẳng còn ai.
Nhật kí là phương thế tự vệ cuối cùng của Dưỡng trước hồ sơ. Cả hai cùng ghi sự việc, song mỗi loại giấy tờ mang theo một quan niệm riêng về sự thật. Hồ sơ đòi một con người nhất quán để nhận diện, phân loại và quản lí. Nhật kí giữ cả tâm trạng bất thường, lời hôm nay cãi lời hôm qua, điều vừa quả quyết đã bị chính người viết ngờ vực. Dưỡng xé trang cũ rồi lại cầm bút. Anh muốn vứt bỏ quá khứ, đồng thời lo sợ đời mình cuối cùng chỉ còn bản lí lịch do người khác lập ra. Mười một năm sau, ba cuốn sổ được trao cho một nhà văn vô danh. Người ấy gặp Cốm, Hòa, Thái, Dưỡng và tham khảo cả lời cung của Phúc để viết thành sách. Cuốn tiểu thuyết mang hình thức một bộ hồ sơ thứ hai, nhưng các lời kể vẫn được sắp xếp cạnh nhau với mọi chỗ sai biệt, chẳng có tiếng nói nào được quyền quyết định sau cùng. Thái còn muốn đặt bản sách tương lai vào hồ sơ Dưỡng, bởi vụ án vẫn còn chi tiết chưa xác minh. Hồ sơ cung cấp chất liệu cho văn chương; văn chương quay lại xét hỏi độ khả tín của hồ sơ. Dưỡng chẳng độc chiếm câu chuyện đời mình. Ba cuốn nhật kí chỉ giúp cho lời anh được tồn tại bên cạnh lời của những người khác. Tự do mà tác phẩm bảo vệ được bắt đầu từ thứ quyền rất sơ đẳng ấy: một con người được để lại lời chứng của mình, trước lúc cả cuộc đời bị bóp nát lại thành vài dòng lí lịch.
Cái khung trinh thám cho Trần Dần cơ hội thử độ bền của chứng cứ. Cục phản gián quả thực phát giác một đường dây bí mật; chiếc khăn Lily bỏ lại giúp lần ra hộp thư; ông Phúc bị nhận diện là Nhọn-cằm; Dưỡng cũng được giúp tìm việc. Những dữ kiện ấy giữ cuốn sách ở khoảng cách cần thiết với một bản cáo trạng nhằm kết tội cơ quan công an. Song bản án vừa khép lại thì chính lời Phúc lại khiến mọi sự lung lay. Trước lúc bị dẫn đi, ông nói với Dưỡng rằng một phần lời nhận tội được khai dưới sức ép và ông chẳng giết Tình Bốp. Dưỡng cũng nhận thấy một điểm đáng ngờ. Nhọn-cằm phủ sáp cùng phấn hóa trang trên mặt, vậy vẻ tái xanh mà Thái mô tả liệu có còn nhận thấy? Lời Phúc chưa thể dùng để minh oan; một bị can sắp bị giải đi hoàn toàn có thể tung ra mánh khóe cuối cùng, còn suy đoán của Dưỡng cũng có khả năng sai. Giá trị của hai chi tiết nằm ở chỗ chúng neo lại vụ án trong tình trạng chưa ngã ngũ. Trần Dần tách thành quả phản gián khỏi vấn đề công lí dành cho từng cá nhân. Một đường dây gián điệp bị phá đúng, còn cái chết của Tình Bốp vẫn chứa đựng sự đáng ngờ. Cuốn sách khước từ niềm thỏa mãn thường thấy ở đoạn kết truyện hình sự, buộc độc giả sống cùng phần sự thật chưa thể xác quyết.
Tinh thần hoài nghi ấy chi phối toàn bộ cách kể chuyện trong tác phẩm. Sáu người xưng “tôi” gồm nhà văn, Dưỡng, Cốm, Hòa, Thái và Phúc; mỗi người biết một phần sự việc, kể lại từ một thời điểm và theo mối bận tâm riêng. Chuyện năm 1954-1955 nằm trong nhật kí Dưỡng; cuộc tìm kiếm của nhà văn diễn ra vào năm 1965-1966. Quá khứ tới tay độc giả qua ít nhất hai lần chọn lọc. Dưỡng quyết định chuyện gì đáng ghi vào sổ; người soạn sách lại chọn những trang sẽ đưa vào bản thảo. Các cuộc phỏng vấn sau mười một năm còn chịu ảnh hưởng của trí nhớ, bản năng tự vệ và nhu cầu biện minh. Nhà văn vô danh cũng chỉ là một người dò tìm giữa đống chứng từ. Anh suy đoán, sửa nhận định, chăm chú vào lọ mực tím cùng những trang chép lem nhem trên bàn. Trong Vụ án của Kafka, Joseph K. bị cuốn vào một cuộc xét xử với lời buộc tội luôn mù mịt. Dưỡng biết mình bị nghi điều gì và sau cùng thoát khỏi vị trí nghi can, nhưng cuộc tự vấn của anh lại có nét gần Raskolnikov trong Tội ác và hình phạt. Sáng tạo riêng của Trần Dần nằm ở cách ông chia sự thật vào nhật kí, lời cung, báo cáo khu phố và hồi ức được kể lại sau mười một năm. Mỗi văn bản giữ một phần sự thật, đồng thời mang theo thành kiến hoặc nhu cầu tự bào chữa của người viết. Độc giả phải làm công việc thẩm tra, song chính cuốn sách cũng cảnh giác họ trước thói ham phán quyết. Muốn hiểu Dưỡng, người ta phải đặt lời anh bên cạnh lời Cốm, Hòa, Thái và Phúc; sự thật chỉ sáng rõ qua những điểm họ xác nhận, bác bỏ hoặc sửa lại nhau.
Cách tân táo bạo nhất của Những ngã tư và những cột đèn nằm ở câu văn; đây cũng là phần đòi hỏi sức chịu đựng lớn nhất ở độc giả. Trần Dần đặt dấu phẩy vào giữa các thành phần vốn thường đi liền, bẻ nhịp cú pháp, viết “iêu”, “í kiến”, “iên tĩnh”, xen chữ hoa, gạch nối và những lối ghép từ riêng. Dấu câu dưới tay ông gần với kí hiệu nhạc. Mỗi dấu phẩy bắt mắt phải dừng tại chỗ thói quen vẫn muốn lướt qua, khiến câu chữ hụt hơi, đề phòng, vừa nghĩ vừa tự ngắt. Nhiều câu trở lại theo chu kì, nối bàn viết năm 1966 với nhật kí năm 1954 như một âm chủ liên tiếp đổi dạng. Trong các đoạn Dưỡng lang thang ngoài phố, nhịp văn lúc gấp, lúc khựng; cảnh vật vỡ thành lá, khói, ngọn đèn, bước chân và tiếng hỏi. Tâm trạng truyền sang độc giả qua nhịp câu trước lúc được cắt nghĩa. Hoài Nam nhận xét những dấu phẩy tưởng thừa ấy tạo ra nhịp bất an, và nhận xét đó chạm đúng thủ pháp viết của Trần Dần. Dấu phẩy còn làm lộ các động tác chọn lựa, lược bỏ, do dự vốn thường bị che giấu dưới vẻ trôi chảy của lời khai. Mỗi câu văn giống một lời cung bị bẻ vụn ngay trên mặt giấy. Làm thơ trong văn xuôi, với Trần Dần, chẳng nằm ở sự trau chuốt du dương; ông đưa sức nặng của âm thanh, hơi thở và hình thể con chữ vào từng câu chữ.
Hà Nội trong Những ngã tư và những cột đèn là một mê lộ chập chờn ánh sáng. Ngã tư đặt con người trước nhiều hướng đi trong lúc mọi chỉ dẫn tinh thần đều mang dấu vết của thành kiến, sợ hãi và ngờ vực. Với Dưỡng, quá khứ luôn đứng chặn trước mỗi quyết định hiện tại. Tin bạn hay báo công an, giữ nhật kí hay xé bỏ, quay về với Cốm hay chạy theo Lily, lựa chọn nào cũng có thể bị diễn giải thành chứng cớ bất lợi cho anh. Cột đèn soi rõ khuôn mặt người qua phố, đồng thời phơi họ dưới ánh mắt xoi mói của thiên hạ. Ánh sáng chỉ khoanh được một khoảng nhỏ giữa khói, sương, mưa và bóng cây; phần còn lại vẫn chìm trong bóng tối. Cũng như vụ án và kí ức của các nhân vật, thành phố chỉ được nhìn thấy từng mảng. Từ cái nhìn chắp vá ấy, con người thường vội lấy phần mình biết làm toàn bộ sự thật. Bi kịch nảy sinh chính từ sự hấp tấp đó. Những khuôn hình đứt đoạn trong tiểu thuyết còn gợi đến con mắt hội họa của Trần Dần, người từng vẽ người lính Việt Minh theo lối lập thể và chịu phê phán vì khác chuẩn thẩm mĩ đương thời. Cách nhìn của họa sĩ in dấu trên việc nhà văn tách cảnh vật thành ngọn đèn, chiếc lá, làn khói, bước chân và gương mặt. Ở Trần Dần, thị giác luôn đi cùng sự ngờ vực đối với chính điều mắt vừa thu nhận. Sự thật vẫn tồn tại, nhưng mỗi người chỉ nắm được một mảnh nhỏ. Công lí, theo tinh thần cuốn sách, bắt đầu từ sự dè dặt trước phần mình chưa thấy.
Kết cấu chắp ghép, nhiều người xưng “tôi”, ý thức thường trực về hành vi viết cùng đoạn kết để ngỏ từng khiến Những ngã tư và những cột đèn được xếp vào dòng văn chương hậu hiện đại. Khái niệm ấy giúp tri nhận vài đặc điểm hình thức, song cũng có thể làm sai lệch niên đại tinh thần của tác phẩm. Cuốn sách được viết vào năm 1965-1966, từ kinh nghiệm của một nhà thơ từng hấp thu trường phái tượng trưng Pháp, nghệ thuật tiền phong Nga, đời sống kháng chiến và bầu không khí chính trị miền Bắc “xã hội chủ nghĩa”. Xem đây là một thành tựu hiện đại chủ nghĩa nảy sinh trong lịch sử Việt Nam có lẽ là gần hơn với căn cước tác phẩm. Trần Dần tiếp nhận ảnh hưởng ngoại quốc bằng ý thức của người đang vật lộn với tiếng Việt và số phận Việt Nam. Cái khung đặt hàng của chế độ đối với văn nghệ vẫn in dấu rất rõ. Một cựu binh phía cũ hợp tác với lực lượng phản gián, góp công phá án rồi tìm được việc làm trong xã hội mới. Ngay bên trong cái khung hiện thực xã hội chủ nghĩa tưởng như rất hợp thời ấy, Trần Dần lặng lẽ phá vỡ phép tắc của văn nghệ minh họa. Nhân vật tích cực chẳng nắm độc quyền chân lí; cơ quan an ninh lập công mà vụ án vẫn còn điểm đáng ngờ; người mang lí lịch xấu lại sở hữu lời chứng cần được tôn trọng. Niềm lạc quan lịch sử phải nhường bước trước bổn phận xem xét chứng cứ. Chỗ táo bạo về chính trị của cuốn sách nằm ngay ở đấy. Trần Dần vẫn đứng về phía cách mạng, đồng thời đòi hỏi cách mạng phải trung thành với lời hứa giải phóng con người của nó. Thái độ này sâu sắc và hiểm nguy hơn sự chống đối thông thường, bởi người nghệ sĩ dùng lí tưởng để chất vấn những giáo điều đang nhân danh chính cái lí tưởng ấy.
Một tác phẩm lớn vẫn mang theo phần bất toàn của cuộc thử nghiệm. Sáu người kể chuyện có vị thế xã hội và kinh nghiệm riêng, nhưng nhiều lúc cùng nói bằng lối nói của Trần Dần. Dấu ấn tác giả giữ cho cuốn sách một âm hưởng thống nhất, đổi lại Cốm, Hòa và Thái đôi chỗ thiếu giọng điệu riêng. Mật độ dấu phẩy, lối chính tả khác thường cùng những câu hồi ứng liên tiếp đôi phen gây mệt, thậm chí làm phong cách viết lấn át tâm lí nhân vật. Các nhân vật nữ cũng chưa có cơ hội bộc lộ phần đời tương xứng. Cốm có lời kể và nỗi đau riêng; Hòa giữ vị trí quan trọng giữa tình láng giềng với trách nhiệm báo cáo; Lily chủ yếu sống qua ham muốn, ghen tuông và hồi ức đàn ông. Tuyến phản gián nhiều chỗ lệ thuộc vào ước lệ truyện li kì, nhất là các tình tiết hóa trang, mật thư và truy đuổi; sức thuyết phục kém xa những trang khảo sát ý thức Dưỡng. Đấy là những chỗ, theo tôi, chưa đạt tới độ chín của toàn bộ cuốn sách. Chúng cũng cho thấy bản lĩnh và cả sự liều lĩnh của một người khai phá. Trần Dần đẩy câu văn tới giới hạn, có lúc đi quá tay, song chính sự quá tay ấy buộc văn xuôi Việt Nam lại có thể nhận ra nhiều mảnh đất màu mỡ cho sáng tác mà trước đó chưa được khai phá.
Sau Đổi mới, sáng tác của Trần Dần lần lượt được công bố. Ông mất năm 1997, được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007. Tập Trần Dần – Thơ nhận giải thành tựu trọn đời của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2008; Những ngã tư và những cột đèn nhận giải của hội này năm 2011 với 9/10 phiếu bầu. Sự ghi nhận muộn màng trả lại cho ông một phần danh dự từng bị chế độ tước đoạt, song tầm vóc Trần Dần chẳng bao giờ lệ thuộc vào tấm huy chương của cơ chế từng loại ông ra ngoài lề. Tầm vóc lớn của ông trước hết là ở sức lao động chữ nghĩa gần như khổ hạnh, ở khả năng buộc tiếng Việt sống bằng một cách tư duy khác, và ở sự cương quyết giữ lương tâm nghề nghiệp giữa một thời đại đòi văn chương phải minh họa chính trị. Bi kịch Nhân Văn – Giai Phẩm đâu chỉ là tai họa của vài cá nhân; đó là tổn thất của cả nền văn hóa, bởi xã hội từng phí phạm ba thập niên sáng tạo của một tài năng lớn. Về phương diện chính trị, quy giản Trần Dần vào hình ảnh một người chống đối chế độ hoặc một nạn nhân đáng thương đều làm sai lệch chân dung của ông. Ông từng lựa chọn cách mạng, sống với lựa chọn ấy và dùng chính yêu cầu về phẩm giá con người để chất vấn những giáo điều nhân danh cách mạng. Về phương diện văn chương, ông từ chối giao phó sự thật cho lời kể chính thống do Đảng Cộng sản quy định. Những ngã tư và những cột đèn kết hợp hai phẩm chất ấy trong cùng một cuốn sách. Tác phẩm trả con người từ ô lí lịch về với toàn bộ lỗi lầm, ham muốn, khả năng tự sửa và phẩm giá riêng; đồng thời nhắc nhở rằng mọi bản án về một đời người đều phải dè chừng trước phần sự thật còn bị che khuất. Trần Dần mất đi sau nhiều năm bị buộc im tiếng, nhưng chữ nghĩa của ông thì vẫn còn đó để tiếp tục xét hỏi những kẻ từng nhân danh lịch sử viết hộ số phận người khác.

“Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ” – Trần Dần