Tác giả: Frank Dikötter
Người dịch: Nguyễn Quang A
NXB: Bloomsbury Publishing, 2026

6. Tái thống nhất
(1936–1941)
Tưởng Giới Thạch đến Tây An vào ngày 4 tháng 12 năm 1936, và cư ngụ tại một suối nước nóng nằm ẩn mình trên một ngọn đồi phong cảnh hữu tình, cách thành phố khoảng hai mươi kilômét. Tây An, giống như nhiều thủ phủ tỉnh khác, đã thay đổi đáng kể qua nhiều năm, được thắp sáng bằng điện với những cửa hàng rực rỡ ánh đèn vào buổi tối. Những con đường rộng rãi, được lát đá cẩn thận đã được mở ra khắp các khu vực trong thành phố, khiến xe ngựa và xe đẩy tay phải thay bánh xe vành sắt bằng lốp cao su. Tuyết rơi dày đặc trên thành phố trong những ngày tiếp theo, cứu vãn vụ mùa đông vốn đã héo úa do hạn hán kéo dài. Nông dân vui mừng, nhưng sinh viên thì nổi dậy. Một tháng trước đó, lính Mông Cổ được Nhật Bản hậu thuẫn đã xâm lược những đồng bằng hoang vu của Suiyuan (Tuy Viễn綏遠), một tỉnh nằm giữa Sơn Tây và Mãn Châu. Lực lượng của chính phủ trung ương đã bảo vệ thành công lãnh thổ của mình, gây tổn thất nặng nề cho kẻ thù. Chiến thắng này đã làm gia tăng sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân đối với Nhật Bản. Làn sóng đình công lan rộng từ Thượng Hải đến Thanh Đảo (Qingdao), nhắm vào các doanh nghiệp Nhật Bản. Ngày 3 tháng 12, một nghìn lính thủy đánh bộ Nhật Bản trong trang bị chiến đấu đầy đủ đã đổ bộ lên Thanh Đảo, chiếm giữ các vị trí chiến lược khắp cảng thành phố. Nhiệm vụ của họ là bảo vệ tính mạng và tài sản của người Nhật sau khi 36.000 công nhân đình công tại các nhà máy dệt may. 1
Ban đầu bị sốc trước cuộc xâm lược Thanh Đảo, Tưởng Giới Thạch càng quyết tâm hơn trong việc đạt được sự thống nhất quốc gia và loại bỏ mối đe dọa của phe Cộng sản ở vùng tây bắc. Ông hoàn toàn nhận thức được nguy cơ từ lực lượng của “Thống chế Trẻ”, những người được báo cáo rộng rãi là đã thông đồng với kẻ thù. Ngày 5 tháng 12, ông đã phát biểu về tầm quan trọng của chiến dịch trấn áp trước các sĩ quan của Trương Học Lương và Dương Hổ Thành, nhưng lập trường cứng rắn của ông lại càng khiến họ xa lánh hơn. Hai ngày sau, những mâu thuẫn mới với “Thống chế Trẻ” lại nổ ra. Ngày 9 tháng 12, Tưởng Giới Thạch triệu tập Tướng Jiang Dingwen (Tương Đỉnh Văn蔣鼎文), một trong những thuộc hạ tin cậy nhất của ông, và ra lệnh cho ông này tiếp quản chỉ huy chiến dịch thay thế. Thực tế, “Thống chế Trẻ” đã mất quyền kiểm soát lực lượng của mình, khi các đơn vị bất mãn hơn bị điều chuyển và thay thế. Sự bất mãn lan rộng trong hàng ngũ. Cùng ngày, hàng nghìn sinh viên tổ chức cuộc diễu hành “Cứu quốc”, quyết tâm trình lên Tưởng một bản kiến nghị đòi kháng chiến chống Nhật. “Thống chế Trẻ” đã đích thân can thiệp để giúp giải tán đám đông và tránh đổ máu, mặc dù một số người biểu tình bị thương trong cuộc ẩu đả sau đó. 2
Trương, vốn không phải là người có tính cách mạnh mẽ, dường như bị cuốn theo không khí đang lan tràn tại Tây An, khi thành phố này vào ngày hôm sau bị bao trùm bởi những tin đồn lan truyền rằng Nam Kinh đã ký hiệp ước với Nhật Bản để chống lại Hồng Quân. Thêm dầu vào lửa, vào ngày 10 tháng 12, Mao đã tuyên bố trong một bức điện gửi Trương rằng ông từ chối giải tán dù chỉ một binh sĩ Hồng Quân nào trong các cuộc đàm phán về Mặt trận Thống nhất. Vào tối ngày 11 tháng 12, “Thống chế Trẻ” đã tập hợp các sĩ quan trung thành nhất của mình và ra lệnh bắt giữ Tưởng Giới Thạch. Sáng hôm sau, khi Tưởng nghe thấy tiếng súng nổ từ phía những kẻ nổi loạn, ông đã trèo qua tường và cố gắng trốn thoát khỏi khuôn viên của mình. Ông được phát hiện đang đi chân trần trong một con hào dưới chân đồi, chỉ mặc một chiếc áo choàng mỏng che bộ đồ ngủ, lưng bị thương nặng. Ngay trước khi Tưởng Giới Thạch bị áp giải đến dinh thự của Dương Hổ Thành và bị bắt giữ, Mao đã nhận được một bức điện tín từ bộ chỉ huy của “Thống chế Trẻ”, thông báo rằng “hoàng đế đang bị bắt làm con tin.” 3
Cùng sáng hôm đó, Yang Hucheng (Dương Hổ Thành) điều động quân đội đến các ngã tư quan trọng ở Tây An, bắt giữ thống đốc tỉnh và vợ ông cùng một loạt quan chức cấp cao khác, bao gồm các tướng Jiang Wending và Chen Cheng. Vào cuối ngày hôm đó, những kẻ nổi loạn đã gửi một điện tín thông báo với tám yêu sách, bao gồm một hình thức chính phủ dân chủ hơn, chấm dứt nội chiến, thả tất cả tù nhân chính trị và triệu tập một hội nghị cứu quốc. 4
Cuộc đảo chính diễn ra hoàn toàn bất ngờ tại Bao’an và gây ra sự xôn xao lớn. Mao cười vui sướng, ca ngợi việc bắt giữ Tưởng Giới Thạch là “cách mạng”. Ông gửi một bức điện tín cho Vương Minh tại Moscow đề xuất một “phiên tòa công khai do nhân dân tiến hành”, hy vọng sẽ chứng kiến Tổng Thống Lĩnh bị xử tử. Chu Đức phản đối, cho rằng ngay cả trước khi thông báo cho Moscow, “việc đầu tiên cần làm là giết Tưởng Giới Thạch”. Trong điện văn trả lời Trương, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai khuyến nghị ông nên sử dụng những vệ sĩ đáng tin cậy nhất để tránh tham nhũng, đồng thời đề xuất rằng “trong trường hợp khẩn cấp, việc xử tử ông ta sẽ là lựa chọn tốt nhất”. Mao ra lệnh cho quân đội của mình chiếm giữ các vị trí xung quanh Tây An, đặt quân đội của mình dưới sự chỉ huy của “Thống chế Trẻ”. Tongguan (Đồng Quan潼关), nằm đối diện với một ngọn đồi nơi sông Hoàng Hà uốn cong mạnh về phía đông, có tầm quan trọng quân sự rõ rệt, vì nơi đây kiểm soát lối vào Tây An từ cả Nam Kinh và Bắc Bình. 5
Dù bị ép buộc, Tưởng Giới Thạch vẫn có tầm nhìn xa hơn bất kỳ nhà lãnh đạo Cộng sản nào ở Bao’an. Ông biết rằng Moscow sẽ không bao giờ chấp nhận cuộc đảo chính này, vì Nhật Bản có thể lấy đó làm cớ để phát động một cuộc chiến tranh toàn diện. Ngày 14 tháng 12, tờ Pravda lên án các diễn biến tại Tây An là một âm mưu do các phần tử thân Nhật xúi giục, tiếp theo là lời lên án tương tự từ tờ Izvestia vào ngày 15 tháng 12. Các bài xã luận này phản ánh lập trường của Stalin. Khoảng nửa đêm ngày 14, vị lãnh đạo đang tức giận đã gọi điện cho Georgi Dimitrov để hỏi thẳng liệu ông có cho phép các sự kiện đang diễn ra tại Trung Quốc hay không. “Đây là món quà lớn nhất mà người ta có thể dành cho Nhật Bản,” ông lên tiếng phản đối. Sau đó, ông hỏi liệu Vương Minh, người muốn gửi điện tín chỉ thị cho các đảng viên Cộng sản giết Tưởng Giới Thạch, có phải là một “kẻ khiêu khích” hay không. 6
Một trong những “phần tử thân Nhật” mà các bài xã luận của Liên Xô đã nêu bật là Uông Tinh Vệ, người kế nhiệm có khả năng cao nhất của Tưởng Giới Thạch, người đã có chuyến thăm Nhật Bản vào đầu năm đó và lúc đó đang ở Đức, dưỡng bệnh tại một khu nghỉ dưỡng sau một vụ ám sát hụt, và dường như đang xây dựng mối quan hệ với Herr Hitler. Wang vội vã trở về Trung Quốc một tuần sau đó. 7
Ngày 16 tháng 12, Quốc tế Cộng sản đã gửi một chỉ thị tới Đảng Cộng sản Trung Quốc, lên án hành động của “Thống chế Trẻ” và ra lệnh cho họ phải “tìm kiếm một giải pháp hòa bình”. Bức điện tín giống như một gáo nước lạnh dội xuống đầu. Mao và các đồng minh của ông đã hành động quá vội vàng khi vào ngày 14 tháng 12, họ đề nghị Trương Học Lương tiến hành thanh trừng tất cả các phần tử ủng hộ Tưởng Giới Thạch trong quân đội và “tạo ra tinh thần chiến đấu đến chết”, cùng với Hồng quân chống lại tất cả các lực lượng địch. Một ngày sau đó, ngay cả khi các đơn vị của chính quyền trung ương đang tiến về phía Tây An, Mao đề xuất tấn công “đầu não của kẻ thù” bằng cách dẫn dắt lực lượng liên hợp của họ thực hiện một cuộc vòng vây chiến lược quy mô lớn để tấn công thẳng vào thủ đô Nam Kinh. Đó lại là một kế hoạch viển vông nữa, nhằm lôi kéo “Thống chế Trẻ” vào cuộc xung đột sâu hơn và kích động chiến tranh giữa Tây An và Nam Kinh. Chu Ân Lai đến Tây An vào ngày 17 tháng 12, đảm bảo có một kênh liên lạc trực tiếp giữa “Thống chế Trẻ” và Mao. 8
Mao đã giấu thông tin về điện tín từ Moscow khỏi cả Chu Ân Lai và Trương cho đến tối ngày 20 tháng 12. Vì không thể che giấu các chỉ thị từ Quốc tế Cộng sản lâu hơn nữa, ông đã thay đổi chiến thuật. Luôn là bậc thầy trong việc khuấy động tình hình, ông đã chỉ thị cho Chu Ân Lai vào ngày 21 tháng 12 lan truyền tin đồn rằng Hà Ứng Khâm, vị tướng phụ trách toàn bộ các hoạt động quân sự tại Nam Kinh, đang thông đồng với Nhật Bản, âm mưu ám sát Tổng Thống Lĩnh bằng cách thúc đẩy một chiến dịch quân sự chống lại Tây An. Lời buộc tội này không có căn cứ, nhưng đã lan rộng và sau này trở thành cách giải thích chính thức tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nhưng không có âm mưu nào như vậy tồn tại. Hà Ứng Khâm, tin rằng cần kết hợp áp lực quân sự và ngoại giao để đảm bảo việc thả Tổng Thống Lĩnh, đã nhận ra rằng ông phải triển khai các đơn vị trung thành gần Xi’an (Tây An) để có thể mở các cuộc đàm phán từ vị thế mạnh. 9
Chính vị Nguyên soái Trẻ cũng bắt đầu nghi ngờ về kế hoạch của mình và lo lắng chờ đợi chỉ thị từ Comintern. Các bài xã luận ở Moscow lên án ông là tay sai được Tokyo trả lương không mang lại điềm lành. Khi Trương nhận ra rằng những người Cộng sản đã phản bội ông, Tưởng Giới Thạch trở thành hy vọng duy nhất của ông. Hai ngày sau cuộc đảo chính, nhà báo người Úc William Henry Donald, cố vấn đáng tin cậy của Tưởng Giới Thạch, người nhờ một sự trùng hợp may mắn từng là người hướng dẫn cho vị Nguyên soái trẻ nhiều năm trước, đã đến Tây An. Tưởng Giới Thạch, lúc đó trông tiều tụy và ốm yếu, được chuyển đến nơi ở thoải mái hơn, nhưng vẫn mang trong lòng sự cay đắng. Như Donald nhận xét, Tưởng Giới Thạch là “một pháo đài Gibraltar của sự bướng bỉnh”, và chính sự bướng bỉnh đó đã “củng cố nền móng mà ông đứng vững”, ngăn chặn sự sụp đổ trong nhân cách của ông. Ông từ chối nhượng bộ. Đánh giá của Tưởng về cán cân quyền lực tổng thể là chính xác: Stalin đã từ chối ủng hộ Trương Học Lương, và Mao Trạch Đông đang lợi dụng Trương Học Lương trong khi Dương và Trương đang ngày càng xa cách. Các bài xã luận đăng tải trên khắp cả nước đều kêu gọi thả Tưởng Giới Thạch. Hu Shi (Hồ Thích胡適), một nhà dân chủ vốn chỉ trích gay gắt những hạn chế nghiêm ngặt đối với các quyền tự do cơ bản do chính quyền trung ương áp đặt, đã phản ánh tâm trạng của công chúng khi ông đăng tải một bài viết mang tiêu đề “Sự phản bội của Trương Học Lương”, lên án Đảng Cộng sản Trung Quốc: “Năm ngoái, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thúc đẩy cái gọi là ‘Mặt trận Thống nhất’, nhưng sự phản bội tại Tây An đã cho chúng ta thấy rất rõ rằng một ‘Mặt trận Thống nhất’ như vậy là hoàn toàn không thể.” 10
Trương Học Lương có vẻ hối hận, nhận thức được sai lầm của mình. Donald đã mang theo nhật ký của Tưởng Giới Thạch và trao nó cho “Thống chế trẻ”. Ông đọc vài trang rồi nói chậm rãi: “Tôi hiểu rồi. Tưởng Giới Thạch từ lâu đã chuẩn bị cho cuộc chiến chống Nhật. Tôi bắt đầu nhìn ông ấy dưới một góc độ mới.” Nhưng Trương Học Lương hầu như không có đường lui. Thành phố do Dương Hổ Thành kiểm soát, vùng ngoại ô do Đảng Cộng sản nắm giữ, quân đội của họ im lặng nhưng đầy đe dọa. Tưởng Giới Thạch biết rằng Đảng Cộng sản là mấu chốt của vấn đề, nhưng từ chối gặp Chu Ân Lai, người mà được giao nhiệm vụ giải quyết cuộc khủng hoảng cho Moscow. Vào ngày 20 tháng 12, cựu Bộ trưởng Tài chính T. V. Soong (Tống Tử Văn 宋子文còn được gọi là T.V.), người nhiều năm trước từng giữ chức Ủy viên Tài chính của Quảng Châu, cũng đã đến Tây An. Chị gái ông, Soong Mei-ling (Tống Mĩ Linh宋美齡), hay còn gọi là Bà Tưởng, đã cử ông đến để đảm bảo việc thả chồng mình. Tưởng giao cho T.V. nhiệm vụ nói chuyện với Chu (Ân Lai) ba ngày sau đó, cùng với Bà Tưởng, người lúc đó cũng đã đến gặp chồng mình. Tưởng lặp lại các yêu cầu mà ông đã đưa ra trong các cuộc đàm phán trước đó với Pan Hannian, bao gồm việc bãi bỏ Chính phủ Soviet Trung Quốc. Tuy nhiên, ông đồng ý rằng sẽ không có lực lượng quân đội trung ương nào được đồn trú tại Thiểm Tây hay Cam Túc, trong khi “Thống chế Trẻ” sẽ giữ quyền chỉ huy tổng thể trong khu vực. Điều này dường như làm hài lòng những người nổi loạn, mặc dù các điều khoản này đã gây phẫn nộ trong hàng ngũ sĩ quan của họ. Vào ngày 24 tháng 12, ngay khi các công tác chuẩn bị cho việc Tưởng Giới Thạch trở về Nam Kinh vào ngày Giáng sinh đang được tiến hành, Dương Hổ Thành đã có một cuộc cãi vã gay gắt với “Thống chế Trẻ”: “Chính ông đã khởi xướng cuộc đảo chính và giờ đây, mà không đạt được gì, ông lại để Tổng Thống Lĩnh ra đi,” ông nói, đồng thời khẳng định rằng Tưởng Giới Thạch “chắc chắn sẽ chém đầu họ”. 11
Theo truyền thuyết của phe Cộng sản – vốn phổ biến và tồn tại lâu dài – Chu Ân Lai được miêu tả là một nhân vật khéo léo, người đã dùng trí tuệ và tài hùng biện trong cuộc gặp tối ngày 24 tháng 12 với vị cựu hiệu trưởng Học viện Hoàng Phố của mình để chấm dứt sự việc. Nhưng thực tế không có cuộc gặp nào như vậy. Khi Chu Ân Lai được đưa đến nơi ở của Tưởng Giới Thạch vào tối hôm đó, Tổng Thống Lĩnh đã phớt lờ ông, nói rằng: “Nếu ông có điều gì muốn nói, hãy nói với Học Lương.” Vào ngày Giáng sinh, khi các cuộc đàm phán hòa bình vẫn tiếp diễn, một Chu Ân Lai tuyệt vọng đã tiếp cận T.V., nói rằng “Đảng Cộng sản Trung Quốc không có yêu cầu nào đối với Tưởng Giới Thạch, nhưng tôi hy vọng Tưởng Giới Thạch có thể nói thẳng với tôi rằng ông sẽ không còn đàn áp những người Cộng sản nữa, như vậy là đủ rồi.” Tưởng Giới Thạch từ chối, giải thích rằng mục tiêu thống nhất quốc gia và chỉ huy quân đội thống nhất là tối cao. “Nhưng nếu trong tương lai các ông không còn phá hoại sự thống nhất quốc gia của chúng ta, tuân theo mệnh lệnh của chúng ta và chấp nhận sự chỉ huy thống nhất, thì không chỉ tôi sẽ không còn đàn áp các ông nữa, mà tôi sẽ đối xử với quân đội của các ông một cách công bằng.” Chu đồng ý với những điều kiện này, nhưng vẫn cố gắng đòi hỏi một nhượng bộ vào phút chót từ T.V. Soong, cụ thể là “quyền tự do bày tỏ ý kiến của nhân dân” và “việc thả dần các tù nhân chính trị.” T.V. nói ông sẽ cố gắng hết sức, đồng thời thúc giục Chu nói chuyện với Dương. Sau khi Tưởng Giới Thạch gọi điện cho cả Trương và Dương, nói với họ rằng mặc dù phương pháp của họ là phản loạn nhưng ông tha thứ cho hành động của họ, ông được tự do ra về. Chiều hôm đó, Chiang, Donald, T.V. và Bà Tưởng, cùng đoàn tùy tùng, chen chúc vào ba chiếc xe và lên đường đến sân bay, cùng với “Thống chế Trẻ”, người đã tự nguyện đặt mình dưới sự quản thúc tại gia. 12
***
Một làn sóng hân hoan tràn ngập cả nước. Tại Nam Kinh, Tổng Thống Lĩnh được “đưa đi khắp các đường phố trong tiếng hoan hô nồng nhiệt”. Các cuộc diễu hành được tổ chức tại Thượng Hải, với tiếng pháo nổ vang dội cho đến tận khuya. Sinh viên biểu tình liên tục tại Bắc Kinh, nhất trí lên án cuộc đảo chính và đòi thả Tưởng Giới Thạch. “Kể từ khi ký Hiệp định Đình chiến chấm dứt Chiến tranh Thế giới thứ nhất, tôi chưa từng chứng kiến sự hân hoan đến vậy từ một quần chúng đông đảo”, một nhà báo viết. Uy tín cá nhân của Tổng Thống Lĩnh được nâng cao đáng kể, đất nước đoàn kết hơn bao giờ hết. Nhưng cơ hội tiêu diệt phe Cộng sản đã trôi qua. Như Tưởng Giới Thạch đã ghi trong nhật ký của mình: “Những thành quả đạt được trong mười năm đã bị phá hủy chỉ trong một ngày.” Nếu không có cuộc đảo chính của “Thống chế Trẻ”, các Tướng Jiang Dingwen (Tương Đỉnh Văn) và Hu Zongnan (Hồ Tôn Nam) đã có thể tiêu diệt hoàn toàn phe Cộng sản, hoặc dồn họ vào đường cùng, hoặc đẩy họ qua biên giới sang Mông Cổ. Điều này có nghĩa là Trung Quốc sẽ tiếp tục nhận được sự hỗ trợ quân sự từ Đức mà không phải hứng chịu cơn thịnh nộ của Nhật Bản. Như một nhà sử học quân sự đã nhận định: “Nếu ảnh hưởng của Đức được dành thêm thời gian để phát huy và lan rộng tại Trung Quốc, người Nhật có thể đã phải đối mặt với một kẻ thù hoàn toàn khác.” 13
Tại Tây An, liên minh ba bên giữa “Thống chế Trẻ”, Dương Hổ Thành và phe Cộng sản đã tan rã ngay khi máy bay cất cánh. Một số sĩ quan trẻ đổ lỗi cho Đảng Cộng sản vì đã phản bội Trương Học Lương và đẩy lãnh đạo của họ vào thế bí. Họ quay sang chỉ trích Chu Ân Lai, người chỉ vừa kịp thoát khỏi tình huống nguy hiểm nhờ tài hùng biện. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản cuối cùng cũng có được khoảng thời gian thở phào, đánh dấu sự kiện này bằng việc chuyển thủ đô đến Diên An – một huyện lỵ nằm gần Tây An, được trang bị cơ sở hạ tầng đầy đủ để đáp ứng nhu cầu của tất cả các cơ quan Đảng. 14
“Thống chế trẻ” bị kết án 10 năm tù vào ngày 31 tháng 12, mặc dù Tưởng Giới Thạch sẽ tiếp tục giam lỏng ông cho đến hết đời (ông qua đời năm 2001, thọ 100 tuổi). Dương Hổ Thành bị cách chức vào ngày 5 tháng 1 năm 1937, và Tây An (Xi’an) được giao cho Gu Zhutong (Cố Chúc Đồng 顧祝同), một vị tướng đáng tin cậy và nổi tiếng từng chỉ huy Quân đoàn 1 tinh nhuệ. 15
Các cuộc thương lượng gay gắt đã diễn ra giữa Nam Kinh và Diên An, dưới sự giám sát chặt chẽ của Moscow. Vào ngày 19 tháng 1, Quốc tế Cộng sản đã cảnh báo ban lãnh đạo Đảng Cộng sản rằng việc “giải quyết hòa bình” cái gọi là “Sự kiện Tây An” có thể bị phá hoại không chỉ bởi “những mưu đồ của bọn đế quốc Nhật Bản và tay sai của chúng”, những kẻ háo hức châm ngòi cho một cuộc nội chiến, mà còn bởi “những bước đi sai lầm từ phía các đồng chí”. Các chỉ thị rất rõ ràng: “Không được tiến hành bất kỳ hoạt động công khai nào của Đảng Cộng sản tại Tây An; không được đề cập đến những lời hứa mà Tưởng Giới Thạch đã đưa ra tại Tây An; không được yêu cầu tuyên chiến ngay lập tức với Nhật Bản.” Bốn ngày sau, một nhượng bộ lớn hơn nữa được đưa ra, khi Moscow khuyến nghị chấm dứt việc phân phối đất đai và bãi bỏ các Soviet với tư cách là cơ quan quyền lực nhằm “tạo điều kiện thuận lợi cho việc thống nhất tất cả các lực lượng của nhân dân Trung Quốc trong việc bảo vệ tổ quốc”. Cùng với “cây gậy” là “củ cà rốt”, khi Stalin phê duyệt việc chuyển giao 800.000 USD cho Đảng Cộng sản chỉ riêng trong tháng Giêng. Ngày 10 tháng 2, Mao cam kết chấm dứt mọi nỗ lực lật đổ chính phủ, đồng thời công nhận Nam Kinh là chính phủ hợp pháp, đổi tên Soviet thành Chính quyền Khu vực Đặc biệt và đặt Hồng Quân dưới sự chỉ huy danh nghĩa của Hội đồng Quân sự tại Nam Kinh. Tuy nhiên, Nam Kinh coi sự tồn tại của hai chính quyền là hoàn toàn không thể chấp nhận được, và yêu cầu thêm rằng khái niệm đấu tranh giai cấp theo chủ nghĩa Marx phải bị bác bỏ. 16
Vào ngày 11 tháng 2, Bogomolov, Đại sứ Liên Xô tại Nam Kinh, đề xuất đưa con trai của Tưởng Giới Thạch, Tưởng Kinh Quốc, trở về từ Nga để hỗ trợ việc ký kết hiệp ước giữa Nam Kinh và Moscow. Vì Tưởng Kinh Quốc là một đảng viên Cộng sản, người ta hy vọng rằng ông có thể thuyết phục cha mình. Một ưu đãi khác xuất hiện vào đầu tháng 3, khi Stalin đồng ý trao đổi trang thiết bị quân sự trị giá 50 triệu đô la Mexico, tương đương hơn 13 triệu USD, để đổi lấy nguyên liệu thô. Ngày 17 tháng 3, Tổng Thống Lĩnh được thông báo rằng con trai ông đang trên đường trở về nhà. Tuy nhiên, Tưởng vẫn chần chừ. Thỏa thuận này không thể sánh được với các lô hàng từ Đức Quốc xã. Nhưng trên hết, Tưởng cực kỳ ghê tởm những người Cộng sản và vẫn còn nghi ngờ về hiệp định ngừng bắn. Vào ngày 30 tháng 1, ông đã tự hỏi liệu có khôn ngoan không khi đồng ý với các điều khoản “khi mà họ đã kiệt quệ và không còn nơi nào để nương tựa”. Ông viết trong nhật ký vài tuần sau đó rằng những người Cộng sản là “không có quốc gia, vô nhân đạo, thiếu đạo đức”. Họ cũng không đáng tin cậy, như một báo cáo từ Cục Điều tra ngày 24 tháng 2 đã xác nhận, giải thích rằng họ đang lên kế hoạch mở rộng về phía đông sông Hoàng Hà ngay cả khi họ chỉ tuân thủ các điều khoản đã thỏa thuận trên danh nghĩa. 17
Những cuộc thương lượng tiếp tục diễn ra trong những tháng tiếp theo. Tuy nhiên, ngay cả khi các điều khoản cụ thể của thỏa thuận đang được đàm phán, phe Cộng sản lại là bên hưởng lợi nhiều nhất. Vì Nam Kinh muốn coi các khu vực Soviet là một phần của khu vực phòng thủ quốc gia, với Hồng Quân nằm dưới sự chỉ huy trung ương, nên vào tháng 1, họ bắt đầu chi trả từ 200.000 đến 300.000 nhân dân tệ mỗi tháng để duy trì hoạt động của phe Cộng sản. Mức trợ cấp hàng tháng cụ thể vẫn đang được tranh luận, nhưng điều này đã mang lại sự nhẹ nhõm lớn cho Yan’an (Diên An), khi tiền đổ về từ cả Moscow lẫn Nam Kinh. Trong thời gian xảy ra Sự kiện Tây An, lực lượng của họ đã chiếm đóng nhiều khu vực mới rộng lớn ở Thiểm Tây, đặc biệt là thành phố Tongguan (Đông Quan) có vị trí chiến lược quan trọng, nơi những ngôi nhà tường đất nay được sử dụng làm văn phòng địa phương của Hồng Quân. 18
Lệnh phong tỏa kinh tế xung quanh khu vực Soviet dần được dỡ bỏ, và quan hệ thương mại được khôi phục. Với nguồn tiền dồi dào, Đảng Cộng sản đã mua một đội xe tải Mỹ để vận hành dịch vụ xe buýt giữa Tây An và Diên An. Hàng trăm thanh niên cách mạng nhiệt huyết đã đổ về thủ đô đỏ để theo học tại Đại học Đỏ (được đổi tên thành “Đại học Chống Nhật”), cũng như tại các viện đào tạo kỹ thuật hoặc trường đào tạo của Đảng Cộng sản. Mặc dù Đảng Cộng sản về mặt danh nghĩa vẫn bị coi là bất hợp pháp ở phần còn lại của đất nước, nhưng tình hình đã dịu bớt và các vụ bắt bớ chấm dứt, cho phép các điệp viên ngầm mở rộng phạm vi hoạt động và tuyển mộ thêm thành viên. Cuối cùng, Đảng Cộng sản đã có một căn cứ nơi họ có thể huấn luyện tân binh mà không lo bị can thiệp. 19
Nam Kinh không công khai những thay đổi này, nhất là việc tiếp tục đàm phán với Moscow. Nhưng những thay đổi đó đã trở thành mối đe dọa đối với Tokyo, nơi các nhà lãnh đạo Nhật Bản lo ngại về một liên minh giữa Nam Kinh, Moscow và Diên An. Ngay từ thời điểm xảy ra Sự kiện Tây An, khi quân Cộng sản tiến vào chiếm giữ các cao điểm xung quanh Tongguan, Tokyo đã nhận ra nguy cơ này. Vào tháng 2, Nhật Bản bắt đầu gửi quân tiếp viện đến Quân đoàn Quan Đông ở Mãn Châu, với các kho hàng và trạm tiếp tế chật cứng những vật tư tích trữ nhằm chuẩn bị cho một cuộc chiến chống lại Nam Kinh trong tương lai. Đến tháng 6, lưu lượng quân sự gia tăng dọc theo các tuyến đường sắt đã trở nên rõ rệt khắp Mãn Châu, với các đơn vị quân đội tập trung về phía Shanhaiguan (Sơn Hải Quan), nơi Vạn Lý Trường Thành gặp Biển Bột Hải. 20
***
Vào ngày 7 tháng 7 năm 1937, người Nhật đã dàn dựng một cuộc đụng độ trên Cầu Marco Polo, một công trình bằng đá granit bắc qua sông Yongding (Vĩnh Định永定), cách tây nam Beiping (Bắc Bình- Bắc Kinh) 12 km. Chỉ trong vòng sáu giờ sau vụ việc, tuyến đường sắt chạy từ Sơn Hải Quan về phía nam đến Thiên Tân đã bị chiếm đóng, với 160.000 binh lính ồ ạt tràn qua Vạn Lý Trường Thành trên những đoàn tàu quân sự hạng nặng. Khi các cuộc đàm phán bế tắc vài ngày sau đó, các đợt oanh tạc liên tiếp đã biến một số khu vực của Thiên Tân thành đống đổ nát. Những trận chiến khốc liệt tiếp diễn. Bắc Bình được tha, vì chỉ huy của thành phố này đã bỏ rơi thủ đô cũ mà không chống cự. 21
Tưởng Giới Thạch, người đã dành tám năm để củng cố lực lượng, nay đã nắm bắt thế chủ động và triển khai một số sư đoàn tinh nhuệ nhất xung quanh Thượng Hải. Vào ngày 17 tháng 7, ông kêu gọi tiến hành cuộc chiến kháng chiến. Kế hoạch của Nhật Bản là chiếm đóng năm tỉnh phía bắc gồm Hà Bắc, Suiyuan (Tuy Viễn 綏遠), Sơn Đông, Sơn Tây và Chahar, nhưng Tổng Thống Lĩnh Tưởng Giới Thạch tìm cách lôi kéo lực lượng của họ vào một cuộc chiến tiêu hao ở thung lũng sông Dương Tử, nơi họ chưa sẵn sàng chiến đấu. Trong nhiều tuần, các hoạt động điều động quân đội diễn ra liên tục quanh thành phố, với 5 triệu gallon xăng được phân phối đến 62 điểm ở các tỉnh trung tâm phía bắc sông Dương Tử. 22
Mao, mong muốn được Nam Kinh công nhận chính thức, đã gửi điện tín cho Tưởng Giới Thạch vào ngày 8 tháng 7 để tuyên bố rằng “các sĩ quan và binh lính của Hồng Quân chân thành mong muốn cống hiến hết mình vì đất nước dưới sự lãnh đạo của ngài.” Trong những tuần tiếp theo, ông đã huy động quân đội và cử 3.000 người đến Jehol, Chahar và Hà Bắc. Nhưng vào ngày 31 tháng 7, trước sự tấn công dữ dội của quân Nhật, ông đã ra lệnh cho quân đội giảm tốc độ và di chuyển với tốc độ không quá 25 km mỗi ngày, đồng thời dừng lại nghỉ ngơi mỗi ba ngày một lần. “Phải có sự khác biệt giữa những gì chúng ta nói là sẽ làm và những gì chúng ta thực sự làm,” bức điện của ông viết. Ngày hôm sau, ông giải thích rằng “chúng ta không thể để bản thân bị hạn chế trong các chiến dịch và chiến thuật,” và ủng hộ “chiến tranh du kích phân tán,” với lực lượng chính được giữ an toàn phía sau tiền tuyến. 23
Nhật Bản đã hy vọng giành chiến thắng bằng cách chiếm đóng Bắc Kinh và Thiên Tân ở phía bắc. Họ không chuẩn bị chiến đấu tại Thượng Hải, nơi lực lượng của họ quá nhỏ nên dễ dàng bị đối phương áp đảo và rơi vào thế phòng thủ vào ngày 13 tháng 8. Sau khi các tàu chiến Nhật Bản neo đậu dọc sông Hoàng Phố khai hỏa vào các vị trí của địch, Tưởng Giới Thạch đã điều máy bay ném bom Martin để cố gắng đánh chìm chúng. Ông cũng tung ra số lượng áp đảo binh lính tấn công các vị trí của Nhật Bản. Cả hai cuộc tấn công đều thất bại, nhưng vẫn được lặp lại nhiều lần trong những ngày tiếp theo, ngay cả khi kẻ thù liên tục pháo kích từ biển và trên không. Những mảnh thi thể vương vãi khắp nơi, văng lên các tòa nhà và hàng rào, rải rác trên vỉa hè, một số rất khó dọn dẹp. “Đầu, tay, chân nằm cách xa thân thể đã bị xé nát,” một nhà báo ghi nhận. Ngay cả sau khi cát và chất khử trùng đã được rải xuống, các con phố vẫn bốc mùi như một nhà xác trong cái nóng mùa hè. Khi Nhật Bản thành công trong việc đổ bộ quân đội cách thành phố 50 km về phía bắc, cuộc chiến chuyển từ trung tâm ra các vùng ngoại ô. Trong ba tháng dài đằng đẵng, các sư đoàn Trung Quốc vẫn giữ vững được thành phố, dù Thượng Hải rộng lớn đã bị biến thành một đống đổ nát, với những dãy nhà vô tận có mái bị thiêu rụi và tường nứt nẻ nhô lên trời. Các binh sĩ chiến đấu vô cùng quyết liệt, và “theo các nguyên tắc chiến thuật và kỹ thuật được công nhận,” theo Evans Carlson, một quan sát viên quân sự từ Hoa Kỳ. Nhưng “tinh thần, thể xác và máu thịt,” ông bổ sung, “không thể chiến thắng mãi mãi trước hỏa lực vượt trội trong một trận chiến quyết liệt.” Sự kiên cường của lực lượng kháng cự khiến các quan sát viên nước ngoài ngạc nhiên, những người vốn quen với các cuộc nội chiến mà các bên đối địch thường đạt được thỏa thuận mà không cần nổ súng. Ngược lại, cỗ máy quân sự hùng mạnh do Tokyo triển khai tuy đáng sợ trong khả năng gieo rắc cái chết, nhưng lại thiếu sót về mặt chiến thuật và chiến lược. Cuộc xung đột gây ra khoảng 250.000 thương vong. Một phần ba các sư đoàn của chính phủ trung ương đã bị tiêu diệt, cùng với thiệt hại nặng nề đối với không quân và hải quân của họ. 24
Nhật Bản đã tính toán sẽ giành chiến thắng nhanh chóng ở miền Bắc, hy vọng đất nước này sẽ tan rã khi hàng chục lãnh chúa tranh giành quyền lực với nhau. Thay vào đó, cuộc xâm lược của họ lại khiến đất nước đoàn kết lại. Tuy nhiên, chính phủ trung ương lại thiếu thốn trầm trọng trang thiết bị quân sự. Vào tháng 7, Tưởng Giới Thạch đã nhiều lần khẩn cầu Litvinov giúp đỡ. Vào ngày 21 tháng 8 năm 1937, Trung Quốc và Liên Xô đã ký một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau. Vì Moscow muốn cuộc chiến giữa Trung Quốc và Nhật Bản kéo dài, nên họ bắt đầu cung cấp máy bay, xe tăng và pháo phòng không cho đồng minh của mình qua tỉnh Tân Cương. 25
Bốn ngày sau, Hồng Quân được tái tổ chức theo đề xuất của chính phủ trung ương và được đổi tên thành Quân đội Tuyến số 8, với tổng số 45.000 quân do Chu Đức làm chỉ huy và Bành Đức Hoài làm phó chỉ huy. Quân đội Mới số 4 cũng ra đời, được thành lập từ 10.000 binh sĩ từng bị bỏ lại ở miền Trung Trung Quốc trong cuộc Vạn Lý Trường Chinh. Mặt trận Thống nhất được chính thức công nhận vào ngày 22 tháng 9. Hàng nghìn tù nhân chính trị được thả, trong đó có Hilaire Noulens và vợ ông. Các ấn phẩm ca ngợi công khai Quân đội Tuyến đường Thứ tám bắt đầu xuất hiện. “Khoảng 200 tờ báo trên khắp Trung Quốc đang vận động miễn phí cho chúng ta,” một cố vấn Liên Xô bình luận mỉa mai, đồng thời thêm rằng “hầu như không có sự kiểm duyệt báo chí nào chống lại chúng ta.” Các trụ sở của Đảng Cộng sản được mở tại nhiều thành phố. Tại Tây An, Lâm Tổ Hàm (Lin Zuhan林祖涵), người bị nghi là chủ mưu đằng sau Sự kiện Nam Kinh vào tháng 3 năm 1927, đã trở thành đại diện của khu căn cứ Thiểm Tây. Những bức phác họa bằng bút mực lớn của Karl Marx, Mao Trạch Đông và Chu Đức trang trí trên tường văn phòng của ông, bên cạnh Tôn Trung Sơn và Tưởng Giới Thạch như một cử chỉ bắt buộc nhằm thể hiện tinh thần Mặt trận Thống nhất. Dường như Trung Quốc lúc này có hai chính phủ: một quản lý cả nước, còn một phụ trách mười tám huyện rải rác dọc biên giới các tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc và Ninh Hạ. 26
Ngay cả trước khi được công nhận chính thức, Mao đã kiên quyết đòi hỏi sự độc lập tuyệt đối của Quân đội Đường số 8 (Bát Lộ Quân). Một hội nghị được triệu tập tại Luochuan (Lạc Xương洛川), vị trí chiến lược nằm giữa Diên An và Tây An. Trương Quốc Đào, Chu Ân Lai, Chu Đức, Bành Đức Hoài và những người khác đều háo hức muốn chiến đấu và mong muốn được tham gia vào chiến lược tổng thể của chính phủ trung ương. Nhưng Mao đã thắng thế, gạt bỏ ý tưởng rằng quân đội của họ có thể đạt được thành công quân sự trên mặt trận. Mục tiêu, như ông chỉ ra, là “bảo toàn và mở rộng Hồng Quân” bằng cách giữ thế phòng ngự và khai thác những tổn thất của quân chính phủ. Mao đề xuất mở rộng lãnh thổ của Đảng Cộng sản bằng cách cử các đơn vị nhỏ thâm nhập sau tuyến phòng thủ của địch và giành quyền kiểm soát ngay khi Quốc dân đảng bị đánh bại. 27
Cuộc đấu tranh giai cấp, vốn bị bác bỏ chính thức trong Mặt trận Thống nhất, đã trở thành tâm điểm. Theo Mao, đối thủ trong nước nguy hiểm hơn kẻ thù nước ngoài. “Liệu giai cấp tư sản có nên theo giai cấp vô sản, hay giai cấp vô sản có nên theo giai cấp tư sản?” trở thành câu hỏi chính, có nghĩa là trong thời chiến, Đảng Cộng sản phải chiếm ưu thế so với Quốc Dân Đảng. 28
Vào tháng 9, các đơn vị của Bát Lộ Quân bắt đầu thực hiện chiến lược mà họ đã thành thạo trong suốt thập kỷ trước Cuộc Vạn Lý Trường Chinh: tiến vào các vùng đất khó khăn, “hấp thu những người tụt hậu cùng súng ống của họ vào lực lượng của chúng ta, và tổ chức các đơn vị du kích”, đồng thời thiết lập các cơ quan Đảng, chính quyền và quân đội dưới sự lãnh đạo của các cán bộ cấp cao. Mao ra lệnh cho quân đội của mình “tịch thu tài sản của các địa chủ lớn và huy động quần chúng trên diện rộng” khi tiến vào các vùng lãnh thổ mới. Đến tháng 11, một số sư đoàn đã di chuyển vào phía sau phòng tuyến địch tại Sơn Tây, Hà Bắc, Hà Nam và thậm chí cả Sơn Đông. 29
Trong một lần, quân Cộng sản đã tấn công Quân đội Đế quốc Nhật Bản. Ngày 25 tháng 9, khi quân Nhật tiến về phía nam vào Sơn Tây hướng tới Thái Nguyên, Lâm Bưu đã phục kích họ tại một eo núi hẹp tên là Pingxingguan (Bình Hình Quan平型關). Cuộc giao tranh sau đó khiến cả hai bên đều mất hàng trăm binh sĩ, và được ca ngợi là “Chiến thắng vĩ đại tại Bình Hình Quan”. Đây là trận đánh duy nhất trong suốt cuộc chiến mà phe Cộng sản tham gia với quy mô một sư đoàn đầy đủ. Đại tá Joseph Stilwell, tùy viên quân sự sau này trở thành người ủng hộ phe Cộng sản, lại không mấy ấn tượng: “Quân Cộng sản cuối cùng cũng được toại nguyện khi có cơ hội chiến đấu với quân Nhật, nhưng kết quả thật đáng thất vọng; nỗ lực của họ chẳng mang lại hiệu quả gì hơn so với bất kỳ đơn vị Trung Quốc khác nào.” Cuộc phục kích này không có tác động gì đến trận Thái Nguyên, một cuộc tấn công kéo dài hai tháng với những cuộc đụng độ quy mô lớn giữa sáu nhóm quân, năm sư đoàn và gần nửa triệu binh sĩ, trong đó Nhật Bản cuối cùng đã bao vây quân chính phủ trung ương và chiếm được thủ phủ tỉnh vào đầu tháng 11. 30
Vào ngày 9 tháng 11, hai ngày sau khi Thái Nguyên thất thủ, quân chính phủ đã sơ tán khỏi Thượng Hải. Quân Nhật tận dụng lợi thế, theo con đường chiến tranh cũ dọc thung lũng sông Dương Tử, vượt qua Tô Châu để tiến thẳng đến thủ đô Nam Kinh. Máy bay của họ san phẳng vùng nông thôn, khi khu vực giữa Thượng Hải và Nam Kinh – một trong những khu vực đông dân nhất thế giới – trở thành “nấm mồ của gần một triệu binh sĩ và dân thường Trung Quốc”, theo lời nhà báo Úc Rhodes Farmer. Tô Châu, một thành phố hoàng gia cổ kính được mệnh danh là “Venice của Trung Quốc”, đã bị san phẳng một cách có hệ thống dưới hàng tấn chất nổ, khi “cái chết trút xuống thành phố từ những chiếc máy bay Nhật Bản đang lượn vòng và gầm rú”. Ngày 13 tháng 12, đúng bốn tháng sau khi chiến tranh bùng nổ tại Thượng Hải, quân Nhật tiến vào Nam Kinh. Tại đây, họ đã gây ra một trong những tội ác chiến tranh tồi tệ nhất trong lịch sử hiện đại, dù binh lính địch đã rút lui và sự kháng cự đã chấm dứt. Trong ba tuần, chúng đã thảm sát lên đến 200.000 dân thường không vũ trang. Harold Timperley, phóng viên của tờ Manchester Guardian, đã ghi chép lại vụ thảm sát trong các bản tin của mình, mô tả cảnh lính Nhật điên cuồng bắn súng, xả súng máy, đâm bằng lưỡi lê hoặc chặt đầu dân thường. Hàng nghìn phụ nữ ở mọi lứa tuổi, bao gồm cả phụ nữ cao tuổi và thậm chí cả trẻ em, đã bị hiếp dâm, tàn phế và sát hại. Các lá thư gửi đến Thượng Hải mô tả cảnh dân thường bị tưới xăng và thiêu sống. Xác chết bị vứt xuống ao, hào và các hố chôn tập thể hoặc trực tiếp xuống sông Dương Tử. 31
Việc oanh tạc bừa bãi vào Quảng Châu bắt đầu vào tháng 11. Các nguồn cung cấp quân sự từ Liên Xô không chỉ được vận chuyển bằng đường hàng không đến Tân Cương, mà còn được chuyển bằng tàu chở hàng đến cảng phía nam này. Mục tiêu của Tokyo là cắt đứt các nguồn cung cấp này, vốn được vận chuyển bằng đường sắt đến Vũ Xương, nằm sát các kho vũ khí ở Hán Dương. Thành phố thứ ba trong khu vực Vũ Hán là Hán Khẩu, nơi Tưởng Giới Thạch thiết lập tổng hành dinh sau khi quân đội của ông rút lui khỏi Thượng Hải và Nam Kinh vào tháng 11. Nhân viên và hồ sơ của các bộ dân sự thuộc chính phủ trung ương được phân tán ra nhiều thành phố, với Hán Khẩu là nơi trú ẩn chính. Trùng Khánh, nằm sâu trong nội địa tại Tứ Xuyên, được chọn làm địa điểm đặt các hội đồng hành pháp, lập pháp, tư pháp và kiểm soát. Một dòng người tị nạn ồ ạt đổ về Hankou cùng chính phủ, chen chúc trên xe buýt, xe tải, thuyền buồm và tàu hơi nước. Toàn bộ các trường học và đại học từ Bắc Bình và Thiên Tân, cùng các ngân hàng, nhà máy và xưởng dệt từ Thượng Hải cũng đã đến đây. 32
Trước khi Nam Kinh thất thủ, hàng chục nghìn tấn vật tư chiến tranh và máy móc hiện đại, lẫn lộn với đồ đạc gia đình của hàng nghìn người tị nạn, đã được chuyển đến Hankou và Trùng Khánh. Những đống hàng hóa khổng lồ, đứng dọc theo bờ sông như một con đê siêu thực, được vận chuyển hoặc lên sông Dương Tử hoặc bằng tàu hỏa, trước tiên đi về phía bắc tới Xuzhou (Từ Châu徐州), một nút giao thông quan trọng gần biên giới Sơn Đông, sau đó vào nội địa tới Zhengzhou (Trịnh Châu郑州) trước khi di chuyển về phía nam đến điểm đến cuối cùng.
Vào tháng 3 năm 1938, quân Nhật chiếm đóng Jinan (Tế Nam济南) ở tỉnh Sơn Đông, phá vỡ các công sự phòng thủ được xây dựng dọc theo sông Hoàng Hà. Mục tiêu của họ là tiến quân về phía nam dọc theo tuyến đường sắt và kết nối với Nam Kinh. Tuy nhiên, họ đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt tại Tai’erzhuang (Đài Nhân Trang台儿庄), chỉ cách Từ Châu 50 km về phía bắc. Sau nhiều ngày giao tranh ác liệt, phần lớn diễn ra ở cự ly gần, các đơn vị quân đội dưới sự chỉ huy của các tướng Bai Chongxi (Bạch Sùng Hy) và Li Zongren (Lí Tông Nhân 李宗仁) đã giáng một thất bại nhục nhã lên kẻ thù, đánh dấu chiến thắng lớn đầu tiên của đất nước và là sự kiện đã khơi dậy tinh thần toàn dân. Hankou và các thành phố khác đã tổ chức ăn mừng, nhưng đến tháng 5, những người chiến thắng lại bị bao vây tại Từ Châu và buộc phải rút lui.
Trước khi các lực lượng bắt đầu trở về nơi an toàn tại Hankou, vào ngày 3 tháng 6, Tưởng Giới Thạch đã ra lệnh cho họ phá vỡ các đê chắn nước sông Hoàng Hà gần Trịnh Châu. Ông và các cố vấn hy vọng rằng dòng nước sẽ ngăn chặn sự tiến quân của quân Nhật dọc theo tuyến đường sắt đến Trịnh Châu và tiếp tục về phía tây đến Tongguan ở Thiểm Tây, mở đường tiến về Hankou và tiềm năng là toàn bộ tỉnh Tứ Xuyên. Ban đầu, một số nỗ lực phá hủy các đê ngăn nước chảy ra khỏi lòng sông đều thất bại. Đến ngày 10 tháng 6, ngay cả đại sứ Pháp tại Thượng Hải cũng nhận ra rằng mực nước lũ quá thấp để có thể chảy về phía nam. Tuy nhiên, đợt nổ mìn thứ ba cuối cùng đã khiến dòng sông tràn ra khỏi lòng sông, và một dòng nước khổng lồ bắt đầu di chuyển chậm rãi qua những đồng bằng trồng lúa mì rộng lớn của Hà Nam. Chiến lược trì hoãn này đã gây ra tổn thất khổng lồ cho người dân địa phương. Theo một số nguồn tin, có tới nửa triệu người thiệt mạng, mặc dù những con số này có phần sai lệch vì chúng được tính từ tổng số thương vong trong thời chiến tại các khu vực bị ngập lụt từ năm 1938 đến 1947. Một nhà sử học đã đưa ra con số ước tính thấp hơn nhiều, khoảng 30.000 người. 33
Nước lũ di chuyển chậm rãi nhưng không thể cản nổi, tiến lên từ 5 đến 12 kilômét mỗi ngày – một tốc độ mà ngay cả một đứa trẻ cũng có thể dễ dàng vượt qua. Người dân làng có thời gian để chạy trốn, cảnh báo lẫn nhau về trận lũ đang ập đến, và phải mất một tháng lũ mới vượt qua biên giới vào tỉnh An Huy. Các nhà báo, dù là địa phương hay nước ngoài, đều đưa tin về số lượng người tị nạn khổng lồ nhưng hiếm khi đề cập đến số người thiệt mạng, ngay cả khi các dịch bệnh như dịch tả bùng phát dữ dội sau thảm họa. Một nhóm quan sát viên bay qua các khu vực ngập lụt vào tháng 7 đã ghi nhận rằng “hiếm có thị trấn nào bị ngập hoàn toàn và dường như không có thị trấn nào bị cuốn trôi”, trong khi những gò đất nhỏ xuất hiện khắp nơi ở một số vùng nông thôn, được nối liền bởi những con đường cao. Ngay cả người phát ngôn Nhật Bản, người rất muốn đổ lỗi cho Tưởng Giới Thạch, cũng thừa nhận rằng phần lớn thiệt hại chỉ giới hạn ở tài sản và mùa màng, với những người tị nạn bị mắc kẹt trong vài ngày. Linh mục F. Clougherty, Chủ tịch Ủy ban Cứu trợ Quốc tế, báo cáo rằng trong số 9.000 người tị nạn do ông chăm sóc, có tám trường hợp mắc bệnh cần cách ly. Vào tháng 9 năm 1938, khi một số huyện ở Hà Nam công bố dữ liệu về mức độ thiệt hại, họ đề cập đến những tổn thất nông nghiệp trên diện rộng và hàng trăm nghìn nạn nhân đang chờ đợi sự cứu trợ khỏi cảnh khốn khó. 34
Toàn bộ khu vực, trải dài từ Trịnh Châu đến Tô Châu, vẫn ngập nước trong vài tháng, cản trở sự di chuyển của các lực lượng được cơ giới hóa mạnh mẽ của địch. Mặc dù vô cùng tàn nhẫn, nhưng chiến thuật đột phá này đã phát huy tác dụng. Quân Nhật không chiếm được Trịnh Châu cho đến năm 1944, trong khi Thiểm Tây vẫn giữ được độc lập, từ đó ngăn chặn được cuộc xâm lược tỉnh Tứ Xuyên.
Hankou bị oanh tạc vào tháng 2 năm 1938, và các cuộc giao tranh trong những tháng tiếp theo chỉ diễn ra trên bầu trời. Không thể tiến quân dọc theo đường sắt sau khi Xuzhou (Từ Châu) thất thủ, quân Nhật bắt đầu di chuyển dọc theo bờ sông Dương Tử, trước tiên tấn công pháo đài ven sông Madang vào ngày 24 tháng 6, sau đó tiến về cảng Jiujiang được phòng thủ kiên cố, nằm cách Hankou 250 km. Người dân Jiujiang, giống như cư dân của rất nhiều thành phố khác bị Quân đội Đế quốc Nhật Bản chiếm đóng, phải chịu đựng một chế độ khủng bố với các vụ hành quyết hàng loạt và hiếp dâm có hệ thống. Các trận chiến đẫm máu nối tiếp nhau dọc theo đường tiến quân về phía tây của quân Nhật, những người chỉ có thể tiếp cận Hankou vào cuối tháng 10. Trong suốt thời gian đó, Nhật Bản đã sử dụng vũ khí hóa học một cách rộng rãi, dùng khí độc để bù đắp cho lực lượng ngày càng suy giảm. Vào tháng 9, một lực lượng Nhật Bản thứ hai cố gắng vượt qua dãy núi Dabie phía bắc Hankou, chiếm đóng Macheng – thủ đô cũ của chính quyền Soviet do Trương Quốc Đào lãnh đạo – vào ngày 24 tháng 10. 35
Tình thế bế tắc kéo dài, buộc quân Nhật phải mở mặt trận thứ ba ở phía nam, theo kế hoạch tiến quân dọc tuyến đường sắt từ Quảng Châu về phía Hankou qua Trường Sa, tương tự như Chiến dịch Bắc tiến đã thực hiện hơn một thập kỷ trước đó. Quảng Châu thất thủ vào ngày 27 tháng 10 sau trận chiến dài nhất và đẫm máu nhất trong Chiến tranh Trung-Nhật, khiến Trung Quốc phải gánh chịu hơn một triệu thương vong cả quân sự lẫn dân sự. Nhật Bản cũng phải trả giá bằng máu và của cải, chịu tổn thất nặng nề nhất trong suốt cuộc chiến. Trong nước, nền kinh tế của họ đã lâm vào tình trạng phá sản. Mặc dù Quân đội Đế quốc đã bốn lần cố gắng chiếm Changsha, họ không còn mở rộng sâu hơn vào nội địa nữa. Trận chiến này đã cho chính phủ trung ương đủ thời gian để rút lui an toàn về Trùng Khánh, nơi sẽ tiếp tục là thủ đô của Trung Hoa Tự Do cho đến khi chiến tranh kết thúc. Chiến lược của Tưởng Giới Thạch lúc này là “dùng không gian để giành thời gian”. 36
***
Ngay cả khi các phi công Liên Xô cùng các đồng nghiệp Trung Quốc tham gia các trận không chiến khốc liệt với máy bay chiến đấu Nhật Bản trên bầu trời cao ngất ngưởng của thủ đô tạm thời, Tưởng Giới Thạch lại được bầu làm lãnh đạo Đảng vào ngày 29 tháng 3 năm 1938. Lần này, khẩu hiệu là “Một Chủ trương, Một Lãnh đạo, Một Tổ chức”. Mục tiêu là biến Tổng Thống Lĩnh thành một nhà độc tài thực sự, dựa trên lập luận rằng quyền lực tuyệt đối dường như là cần thiết trong thời chiến. Tuy nhiên, ai cũng thấy rõ rằng, khác với các đồng nghiệp ở Berlin và Rome, ông đang bị ràng buộc trong một Mặt trận Thống nhất với một học thuyết khác, một lãnh đạo khác và một tổ chức khác. Hơn nữa, một đạo luật cơ bản đã quy định thành lập Hội đồng Chính trị Nhân dân, nhằm “thống nhất sức mạnh quốc gia; huy động những trí tuệ xuất sắc nhất của dân tộc, và tạo điều kiện cho việc xây dựng và thực thi các chính sách quốc gia”. Khi hội nghị diễn ra tại Hán Khẩu vào ngày 7 tháng 7 năm 1938, khoảng 120 trong tổng số 200 ghế đã được phân bổ cho các ứng cử viên độc lập, các nhóm nhỏ cũng như Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hiệp hội Cứu quốc. Hội nghị kéo dài chín ngày và được đánh dấu bằng những cuộc tranh luận sôi nổi cũng như một vài “cuộc đụng độ giữa các nhà lãnh đạo Cộng sản và cánh hữu”. 37
Trần Độc Tú, được thả khỏi tù vì lợi ích của Mặt trận Thống nhất sau khi thụ án ba năm trong tổng số tám năm, cũng có mặt tại Hankou. Ông đã thay đổi quan điểm về chủ nghĩa cộng sản, quay trở lại với các giá trị nhân văn mà ông từng theo đuổi trong giai đoạn đầu sự nghiệp. Tại Hankou, ông chủ trương một liên minh của tất cả các lực lượng chính trị độc lập với cả Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng sản trên cơ sở một chương trình về tự do và dân chủ. Trong những năm tiếp theo, ông bị Đảng Cộng sản không ngừng lên án là người theo Trotsky, và qua đời vào năm 1942 ở tuổi 62 tại một thị trấn nhỏ ngoại ô Trùng Khánh. 38
Mao không tham dự Hội đồng Chính trị Nhân dân nhưng đã gửi lời chào nồng nhiệt nhất. Cả trong và ngoài nước, ông đã trở thành một cái tên quen thuộc. Edgar Snow, người đã giới thiệu nhà lãnh đạo này đến công chúng rộng rãi vào tháng 11 năm 1936, đã xuất bản cuốn Red Star over China vào tháng 9 năm 1937, ngay khi quân Nhật đang tàn phá Thượng Hải. Cuốn sách nhanh chóng trở thành hiện tượng, bán được 12.000 bản tại Hoa Kỳ chỉ trong tháng đầu tiên phát hành. Nó lập tức được dịch sang tiếng Trung, biến Mao thành một nhân vật quốc gia. Bức ảnh trên bìa sách, ghi lại hình ảnh Mao đội mũ quân đội có gắn một ngôi sao đỏ, sẽ trở thành hình ảnh biểu tượng trong nhiều thập kỷ sau đó. 39
Snow đã được kiểm tra kỹ lưỡng và dành vài tháng tại Bao’an, với mọi chi tiết trong chuyến thăm của ông đều được giám sát chặt chẽ: “An ninh, bí mật, sự nồng hậu và thảm đỏ”. Mao đã trình bày cho nhà báo Mỹ này một phiên bản huyền thoại về cuộc đời mình, kể về tuổi thơ, thời trẻ và sự nghiệp cách mạng của ông. Ông đã kiểm tra và chỉnh sửa từng từ mà Snow viết. 40
Cuốn “Ngôi sao đỏ trên Trung Quốc” đã miêu tả vị lãnh đạo bí ẩn của Đảng Cộng sản Trung Quốc như một “học giả uyên bác về văn học cổ điển Trung Quốc, một người đọc rộng khắp, một nhà nghiên cứu sâu sắc về triết học và lịch sử, một diễn giả tài ba, một người có trí nhớ phi thường và khả năng tập trung xuất sắc, một nhà văn tài năng, cẩu thả trong thói quen cá nhân và ngoại hình nhưng lại vô cùng tỉ mỉ trong những chi tiết liên quan đến nhiệm vụ, một người có năng lượng không ngừng nghỉ và là một nhà chiến lược quân sự và chính trị có tài năng phi thường”. Mao là đứa trẻ nghèo xuất thân từ đất đai, đã tự vươn lên nhờ ý chí sắt đá và lòng tự hào, quyết tâm chiến đấu vì những đồng bào bị sỉ nhục của mình. Ông là người có thói quen giản dị, sống trong một hang đất sét, tự trồng thuốc lá. Ông rất gần gũi với đời thường, một người nổi loạn với khiếu hài hước sôi nổi, mộc mạc. Ông làm việc không mệt mỏi. Ông là một nhà thơ. Ông là một nhà triết học. Ông là một nhà chiến lược vĩ đại. Nhưng trên hết, ông là một con người của số phận, được những lực lượng lịch sử sâu xa kêu gọi để tái sinh đất nước mình. “Ông ấy rất có thể sẽ trở thành một vĩ nhân,” Snow kết luận. 41
Ngay cả khi ngôi sao của Mao đang lên, một đối thủ đã xuất hiện từ Moscow. Stalin, người lúc này đang vận chuyển một lượng lớn vật tư chiến tranh cho Tưởng Giới Thạch, đã cử Vương Minh trở lại Trung Quốc vào tháng 11 năm 1937 để đảm bảo rằng Đảng Cộng sản thực hiện phần trách nhiệm của mình trong cuộc chiến chống Nhật Bản trong khuôn khổ Mặt trận Thống nhất. Tại Diên An, Vương Minh hành xử như một sứ giả đế quốc, truyền đạt mệnh lệnh cho cấp dưới: ông khẳng định cả Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng sản đều đại diện cho nhân dân và nên có những nhượng bộ lẫn nhau. Vương Minh chỉ trích các quyết định mà Mao đưa ra tại Hội nghị Luochuan, nhấn mạnh rằng Tưởng Giới Thạch là người đứng đầu Bộ Tổng tham mưu quân sự và có quyền chỉ huy Bất Lộ Quân. Lời nói của Vương Minh dường như là một “cú đánh trực diện vào đầu” đối với Mao, nhất là khi Chu Ân Lai và một số người khác đồng tình với Vương. Bị gạt sang một bên, Mao tỏ ra bực bội, sau này than phiền rằng quyền lực của ông “không vượt ra khỏi hang động của tôi”. 42
Vương Minh, học trò trung thành nhất của Stalin, cũng được chỉ thị phải thực hiện mọi biện pháp cần thiết để loại trừ chủ nghĩa Trotsky khỏi hàng ngũ Đảng. “Những kẻ Trotskyist phải bị truy lùng, bắn chết, tiêu diệt. Đây là những kẻ khiêu khích quốc tế, những tay sai tàn bạo nhất của chủ nghĩa phát xít,” Stalin giải thích trong một cuộc họp riêng. Trên đường trở về Trung Quốc, Vương Minh ghé qua Tân Cương, nơi ông được cho là đã ra lệnh xử bắn ngay lập tức nửa tá đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, những người đã bị lộ trong các cuộc thanh trừng ở Moscow. 43
Người bị nghi ngờ hàng đầu tại Diên An là Trương Quốc Đào. Trương, người hai năm trước đã thành lập một Ban Chấp hành Trung ương đối lập, đã bị đối thủ Mao chỉ trích gay gắt vài tháng trước đó. Trong các cuộc họp kéo dài tới một tuần, ông bị Zhang Wentian (Trương Văn Thiên) – một trong những “người Bolshevik” trước đây đang hành động thay mặt Mao Trạch Đông – tấn công. Bốn mươi thuộc hạ của Trương Quốc Đào đã bị bắt giữ. Trong một cuộc họp vạch trần công khai, một thanh niên đứng dậy và chỉ trích ông. “Không phải thứ gì lấp lánh cũng là vàng,” người phát biểu cáo buộc, “vì ruồi cũng lấp lánh: ‘Trương Quốc Đào là con ruồi trong Đảng Cộng sản Trung Quốc.’” Vương Minh lúc này chất vấn Trương, nói với ông rằng: “Chính anh không phải là người theo Trotsky, nhưng anh đã bị họ lợi dụng.” Trương vội vã chứng minh sự vô tội của mình. Vài tháng sau khi Wang Ming và Chu Ân Lai lên đường đến Hankou, Trương đã tìm cách trốn thoát, bỏ lại Diên An và Đảng Cộng sản để đào tẩu sang chính phủ trung ương. 44
Mặc dù bị gạt ra ngoài lề, Mao vẫn giữ vững quyền kiểm soát đối với Bát Lộ Quân. Các đơn vị quân Đỏ tiếp tục tiến sâu vào hậu phương địch, lấp đầy khoảng trống quyền lực, thỉnh thoảng tổ chức phục kích địch, nhưng phần lớn thời gian là củng cố quyền lực của mình ở nông thôn. Vào ngày 20 tháng 1 năm 1938, họ đã phá hủy tuyến đường sắt bên ngoài Baoding (Bảo Định), thủ phủ của tỉnh Hà Bắc, chỉ cách cả Bắc Bình và Thiên Tân 120 kilômét. Các vùng nông thôn ở miền Bắc Trung Quốc đang nhanh chóng quay trở lại những năm tháng vô luật pháp như sau sự sụp đổ của đế chế vào năm 1911, với những tàn quân của chính phủ, các lực lượng không chính quy, băng đảng cướp, du kích và các đơn vị tự vệ đều đánh nhau để tranh giành lãnh thổ, thỉnh thoảng lại liên minh chống lại quân Nhật. Phía Cộng sản đã chiếm ưu thế, đôi khi với sự hợp tác của Quốc Dân Đảng, nhưng thường là không. Họ có kinh nghiệm hơn hẳn và cũng quyết tâm hơn, bên cạnh việc được hưởng lợi từ một tổ chức tốt hơn. Vào tháng 2 năm 1938, lực lượng Cộng sản và các du kích độc lập đã được phát hiện chỉ cách Thiên Tân 20 kilômét về phía nam, đang cố gắng cắt đứt các tuyến liên lạc mà người Nhật phụ thuộc vào. Ngày 24 tháng 2, các đơn vị thuộc Quân đoàn Thứ Tám đã chiếm Bazhou (Bá Châu 霸州), cách Thiên Tân 70 kilômét về phía tây. Giữa hai tuyến đường sắt ở Hà Bắc chạy song song với nhau – một tuyến từ Bắc Bình đến Hán Khẩu, tuyến còn lại từ Thiên Tân đến Nam Kinh – đến tháng 3, Đảng Cộng sản đã kiểm soát 18 huyện – cũng như mọi khía cạnh của đời sống địa phương. 45
Tại các thị trấn huyện và làng mạc lớn, họ tổ chức bầu cử, đảm bảo rằng các ứng cử viên duy nhất được chấp nhận là những người của chính họ. Các đại biểu độc lập vẫn kiên quyết ra ứng cử đã nhanh chóng bị bắt giữ và bị tố cáo là kẻ phản bội hoặc gián điệp. Các ủy ban được bầu hợp pháp sau đó bổ nhiệm các cán bộ đáng tin cậy vào tất cả các vị trí quan trọng, yêu cầu đóng góp tự nguyện và tiếp quản kho bạc công cộng nhân danh chủ nghĩa dân tộc và kháng chiến. Những tên cướp lang thang ở vùng nông thôn bị tiêu diệt, một số bị bắn chết, trong khi các đơn vị du kích và các đơn vị vũ trang khác được sáp nhập vào hàng ngũ Cộng sản. Khi ngày càng có nhiều tân binh gia nhập các đơn vị du kích, họ được trang bị kiếm, giáo và lựu đạn. Mười hai kho vũ khí nhỏ đang hoạt động trên lãnh thổ này, sản xuất lựu đạn từ sắt vụn và thuốc súng tự chế. Một hệ thống gián điệp rộng khắp đã cảnh báo khu vực căn cứ về những thay đổi trong lực lượng đồn trú tại các thành phố do địch kiểm soát. Còn có năm khu vực tương tự khác ở ba tỉnh Hà Bắc, Chahar và Sơn Tây. 46
Khi bất tuân các chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Mao đã nhận được sự ủng hộ của Lưu Thiếu Kỳ (Liu Shaoqi刘少奇), một nhà lãnh đạo trầm lặng và chân thành trong phong trào lao động, người đã gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 1921 và từng có thời gian ở Moscow. Lưu Thiếu Kỳ đã ghi dấu ấn bằng việc tổ chức một mạng lưới ngầm tại Bắc Bình và Thiên Tân, trở thành Bí thư Đảng ủy miền Bắc Trung Quốc vào năm 1936. Vào tháng 4 năm 1938, Mao và Lưu đã thúc giục Bát Lộ Quân tiến sâu hơn nữa vào miền Bắc Trung Quốc. Vào tháng 7, Từ Hướng Tiền đã thiết lập một khu căn cứ dọc theo biên giới các tỉnh Hà Bắc, Hà Nam và Sơn Đông. Chính quyền của khu vực này, giống như các khu căn cứ khác, về mặt danh nghĩa nằm dưới sự kiểm soát của Hán Khẩu, với Tưởng Giới Thạch giám sát một lực lượng du kích hoạt động bí mật, ban ngày làm nông, ban đêm chiến đấu, và duy trì liên lạc thông qua mạng lưới 60 trạm phát thanh quân sự. Trên thực tế, khu vực này hoàn toàn tự trị. Bị ràng buộc bởi Stalin và những yêu cầu của Mặt trận Thống nhất, sự kiểm soát mà Đảng Cộng sản thực hiện tuy chặt chẽ nhưng tương đối ôn hòa: không có đấu tranh giai cấp và cũng không có cuộc phân phối đất đai quy mô lớn. Các binh sĩ cũng rất lịch sự, gọi những phụ nữ lớn tuổi là “cô” hoặc “bà”. Một số thậm chí còn đề nghị quét sàn. Các nhà truyền giáo nước ngoài có thể làm việc mà không lo bị quấy rối, trong khi các thương nhân có thể di chuyển tương đối an toàn. Tuy nhiên, công tác tuyên truyền diễn ra không ngừng, với sách và tờ rơi dành cho những người biết chữ, các bài giảng dành cho những người khác, tất cả đều nhấn mạnh một thông điệp đơn giản: Đảng Cộng sản sẽ bảo vệ người dân làng khỏi kẻ thù chung, Nhật Bản. Việc giám sát rất chặt chẽ, khi một danh sách dân số đầy đủ được lập ra để cấp giấy thông hành. Ngay cả việc đi dạo sang làng lân cận cũng phải đi qua nhiều trạm kiểm soát. Không lâu sau, thông tin chi tiết hơn về từng người được bổ sung vào hồ sơ, bao gồm ghi chú về lý lịch chính trị của họ. Điều này dễ dàng thực hiện, vì trong bất kỳ làng nào, mọi người đều biết rõ mọi chuyện về nhau. Hệ thống này dựa trên cái mà một nhà quan sát gọi là “phương pháp nghi ngờ”: những người Cộng sản nghi ngờ tất cả mọi người, kể cả chính họ, coi bất kỳ sự quan tâm nào đến những điều nằm ngoài hệ tư tưởng của họ đều là mối đe dọa tiềm tàng. “Họ được huấn luyện về sự giả dối đến mức sự giả dối trở thành bản năng thứ hai, và sau một thời gian, họ không còn tin tưởng ai cả.” 47
Chẳng bao lâu sau, các biện pháp siết chặt được áp dụng. Các đền thờ, tu viện và nhà thờ bị chiếm đoạt, Nho giáo bị lên án trong các cuộc họp làng bắt buộc vì những mối quan hệ phong kiến đã gắn kết cấu trúc đời sống xã hội lại với nhau. “Giải phóng” là từ khóa, khi người dân bị xúi giục chống lại nhau trong những cuộc họp được gọi là “cuộc đấu tranh”, lên án mọi quyền lực, dù là các bậc trưởng lão làng, thủ lĩnh dòng họ hay đơn giản là cha mẹ và anh chị em. Sự thay đổi này đã được chấp nhận rộng rãi từ Phong trào Ngũ Tứ hai thập kỷ trước. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản muốn tiêu diệt trật tự cũ chỉ trong một đêm, thay thế mọi quyền lực bằng chính quyền lực của họ. 48
Điều này càng được củng cố khi ngay từ tháng 3 năm 1938, người Nhật đã bắt đầu trả đũa các cuộc tấn công dọc theo các tuyến đường sắt bằng cách phá hủy hoàn toàn các làng bị nghi ngờ che giấu các chiến binh du kích. Hơn 200 làng ở Hà Bắc đã bị thiêu rụi, gây ra tổn thất lớn về nhân mạng. Sau một trận chiến ngắn ngủi với lực lượng Cộng sản đã chiếm giữ trung tâm huyện trong nhiều tháng, một đoàn quân gồm 500 lính Nhật đã tiến vào thành phố có tường bao Anguo (An Quốc安国). Họ cướp bóc nơi đây trước khi thiêu rụi thành phố đến tận nền. Hàng trăm thi thể chất đống cao ngất trên các con phố, bị đâm bằng lưỡi lê thay vì bị bắn. Càng nhiều hành động tàn bạo, sự kiểm soát của Đảng Cộng sản sau đó càng trở nên vững chắc hơn. 49
Vài tháng sau, lực lượng Cộng sản tái chiếm Anguo và mời Haldore Hanson, một nhà báo tự do người Mỹ, đến thăm thành phố để chứng kiến cách họ chiến đấu chống lại quân Nhật. Một màn trình diễn hoành tráng đã được dàn dựng dành riêng cho ông, với các áp phích chống Mỹ và chống Anh bị xóa khỏi tường, thay thế bằng những tấm áp phích ca ngợi các cường quốc. Bất cứ nơi nào ông đi, đều có vài người giám sát đi cùng Hanson. Những người ông phỏng vấn dường như hoàn toàn tự do, khẳng định rằng họ hoàn toàn tự do, và biết chính xác phải nói gì và khi nào nên nói. Giống như rất nhiều người khác, Hanson đã bị đánh lừa bởi sự ngoan ngoãn bề ngoài của người dân và kỷ luật của quân đội. Tại Anguo, các đơn vị quân đội được duyệt binh dành riêng cho ông, khi khoảng 20.000 du kích mặc quân phục hô vang các khẩu hiệu chống Nhật bằng tiếng Anh dưới lá cờ Mỹ. “Dấu hiệu duy nhất của sự lãnh đạo cộng sản là việc treo lá cờ búa liềm tại tất cả các cuộc mít tinh đông người,” Hanson nhận định, miêu tả các chiến sĩ du kích là những “người cộng sản” chỉ trên danh nghĩa, những người du kích chân chính gần gũi với nhân dân, những người có thể sẽ đánh bại người Nhật vào một ngày nào đó, nếu được trang bị vũ khí thích hợp. Các nhà báo nước ngoài khác cũng tham gia vào cuộc tranh luận, đến thăm các khu vực khác nhau dưới sự kiểm soát của cộng sản. Chu Đức đã cố gắng hết sức để tự giới thiệu bản thân và Đảng của mình như những người dân chủ chân chính. Mặc dù chịu trách nhiệm về việc bắt cóc và thỉnh thoảng sát hại hàng chục nhà truyền giáo nước ngoài, ông thậm chí còn tham dự một thánh lễ Công giáo trước sự chứng kiến của các nhà báo nước ngoài. Ông nói với ba người Mỹ đến thăm ông tại tỉnh Sơn Tây theo lời mời cá nhân rằng, Kitô giáo và chủ nghĩa Cộng sản có “những động cơ tương tự”, đều hướng tới hòa bình và công lý. 50
Đến tháng 9 năm 1938, quân số của Bát Lộ Quân đã tăng gấp ba lần, từ 30.000 lên ít nhất 100.000 binh sĩ. Cùng tháng đó, sau gần mười tháng bế tắc do ban lãnh đạo bị chia rẽ thành hai phe phái, tin tức từ Georgi Dimitrov đã xác nhận Mao Trạch Đông chứ không phải Vương Minh là người đứng đầu Đảng không thể tranh cãi. Không có chỉ thị nào từ Quốc tế Cộng sản, thậm chí không có khuyến nghị bằng văn bản, chỉ là một bản tường thuật bằng miệng về cuộc trò chuyện mà Wang Jiaxiang (Vương Gia Tương) – nhà lý luận được đào tạo tại Liên Xô do Mao Trạch Đông cử đến Điện Kremlin để củng cố quyền kiểm soát Đảng – mang về từ Moscow. 51
Mao coi thông điệp miệng từ Moscow này như lời thánh, dùng nó để triệu tập toàn bộ ban lãnh đạo trở lại Diên An. Wang Jiaxiang khai mạc phiên họp toàn thể, trích dẫn nhận xét của Dimitrov. Wang Ming hầu như không chống cự, và ngay lập tức bị thay thế bởi Lưu Thiếu Kỳ. Giờ đây khi Wang không còn là mối đe dọa, Mao đã sử dụng ngôn ngữ gần như y hệt đối thủ của mình để kêu gọi “sự đoàn kết chưa từng có chống lại Nhật Bản” dưới “sự lãnh đạo thống nhất của nhà lãnh đạo quốc gia và Tổng Thống Lĩnh tối cao”, tức là Tưởng Giới Thạch. Ông thậm chí còn gửi cho Tưởng Giới Thạch một lá thư, do Chu Ân Lai đích thân chuyển giao, bày tỏ “sự ngưỡng mộ vô bờ bến” dành cho ông ta. Đây là cách Mao vô hiệu hóa kẻ thù trong khi khuất phục trước Stalin. Tưởng Giới Thạch đã nhìn thấu mưu đồ này, nghi ngờ rằng sẽ còn nhiều yêu cầu khác theo sau lá thư. Những yêu cầu này xuất hiện dưới hình thức đề nghị, trong số đó có việc cho phép các đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc gia nhập Quốc Dân Đảng. Tưởng Giới Thạch kết luận rằng những người Cộng sản, giống như “con ngựa thành Trojan” trong truyền thuyết, một lần nữa đang cố gắng thâm nhập vào hàng ngũ, và ông đã từ chối đề xuất này ngay lập tức. Một tháng sau, trong một cuộc họp kín, Mao từ chối chấp nhận nguyên tắc chỉ huy thống nhất dưới Mặt trận Thống nhất hoặc tuân theo mệnh lệnh từ chính phủ trung ương, thay vào đó kiên quyết đòi hỏi quyền tự chủ hoàn toàn cho Bát Lộ Quân để mở rộng lãnh thổ và xây dựng nền tảng cho chiến thắng trong tương lai. Mỗi đảng viên Cộng sản phải nắm vững một nguyên tắc đơn giản, đó là “quyền lực chính trị nảy sinh từ nòng súng.” 52
***
Tưởng không bị lừa, nhưng việc ông phụ thuộc vào viện trợ từ Moscow buộc ông phải làm theo. Sau khi Quảng Châu bị cô lập và Hán Khẩu bị bỏ lại để chuyển sang Trùng Khánh, các nguồn cung cấp được vận chuyển bằng đường bộ từ Chita, trước tiên băng qua những thảo nguyên mênh mông của Mông Cổ đến Lan Châu, rồi tiếp tục đi về phía nam đến Thành Đô. Các kho xăng dầu và xưởng sửa chữa được xây dựng dọc theo tuyến đường dài 2.500 km này, với hơn 200 xe tải đến hàng ngày vào cuối năm 1939, chở theo 30.000 tấn hàng tiếp tế. Các đoàn lạc đà và đoàn xe ngựa cũng đến hàng ngày, không bị gián đoạn bởi mưa, thứ khiến việc băng qua vùng tundra (lãnh/đài nguyên) trở nên khó khăn đối với các phương tiện nặng. Dầu mỏ, lông lợn, trà, cây gai dầu và vàng được vận chuyển trở về. Moscow tìm cách kéo dài chiến tranh và không tiếc công sức để đạt được mục tiêu đó, cử các huấn luyện viên quân sự, máy bay, vật tư chiến tranh và khoản tín dụng trị giá 250 triệu USD. Chỉ riêng tại Thành Đô, phái đoàn Nga đã có 1.000 thành viên, một nửa là phi công, nửa còn lại phụ trách công tác tuyên truyền. 53
Khi các xe tải đến Lan Châu, một số đã rẽ về phía đông và lái thẳng đến Diên An. Việc cung cấp cho Diên An tăng lên sau tháng 9 năm 1938, khi Moscow nhận ra rằng lực lượng chính phủ trung ương sẽ không thể giữ được Hankou. Cùng tháng đó, một phái đoàn Diên An đã bay từ Lan Châu đến Spassk, cách Vladivostok 220 km về phía đông bắc, và đàm phán thành công để nhận được vũ khí pháo binh, súng cối cũng như dầu động cơ. 54
Tuy nhiên, Stalin không mạo hiểm, ông tăng cường lực lượng dọc biên giới với Mãn Châu cho đến khi quân số của ông vượt trội so với Quân đoàn Quan Đông. Để đề phòng, Stalin còn ra lệnh thanh trừng ở Siberia sau khi một tướng cấp cao đào tẩu sang Tokyo. Một trong những nạn nhân là Vasily Blyukher, người sau đó bị đánh chết, cùng với 4.000 sĩ quan và ủy viên quân sự. Từ tháng 8 năm 1937 đến tháng 5 năm 1938, khoảng 11.000 người Trung Quốc sống ở Siberia trong phạm vi 100 km tính từ biên giới đã bị bắt giữ và trục xuất, trong khi 160.000 người Triều Tiên bị di dời một cách tàn bạo, với hàng trăm người bị bắn hoặc chết trên đường đi. 55
Cho rằng các cuộc thanh trừng của Stalin đã làm suy yếu lực lượng chiến đấu của mình, Quân đoàn Quan Đông đã nhìn thấy cơ hội. Họ nhắm vào điểm yếu, cụ thể là những đồng cát hoang vắng bị cắt ngang bởi những khe núi sâu dọc theo một con sông nhỏ gần Nomonhan, trên biên giới với Ngoại Mông Cổ. Vào tháng 5 năm 1939, người Nhật đã cử một đơn vị kỵ binh, nhưng bị đánh tan tác. Họ kiên trì, tập trung một lực lượng thiết giáp lớn và tấn công lại một tháng sau đó. Stalin, người lo ngại rằng quân Nhật có thể xông qua Mông Cổ và cắt đứt tuyến đường sắt xuyên Siberia, đã cử Georgy Zhukov đến giải cứu. Trong những tuần tiếp theo, Zhukov – người không bao giờ làm việc nửa vời – đã tập hợp một lực lượng khổng lồ kết hợp pháo binh cơ động, các lữ đoàn cơ giới, máy bay và 500 xe tăng. Vào ngày 20 tháng 8, ông phản công, xé toang hàng ngũ địch và nghiền nát hoàn toàn lực lượng của chúng. Tokyo bàng hoàng, sự hoảng loạn càng gia tăng khi vào ngày 23 tháng 8, Liên Xô ký hiệp ước với Đức – đồng minh của Nhật Bản. Tokyo chấp nhận ngừng bắn vào ngày 16 tháng 9, các tướng lĩnh của họ quyết tâm không bao giờ phải đối mặt với xe tăng Liên Xô một lần nữa. Trận Nomonhan ít được nhắc đến và hiếm khi được đề cập, nhưng nó đã có tác động quyết định đến diễn biến của Chiến tranh Thế giới Thứ Hai. Masanobu Tsuji, một lãnh đạo trong Quân đoàn Quan Đông, sau này trở thành người ủng hộ mạnh mẽ việc tấn công Trân Châu Cảng, khi Tokyo bắt đầu thèm muốn nguồn dầu mỏ ở Đông Ấn Hà Lan (Dutch Indies) thay vì các mỏ dầu ở Đông Siberia. Vào ngày 17 tháng 9, một ngày sau khi ngừng bắn, Liên Xô xâm lược Ba Lan, chia cắt đất nước này với Đức. 56
Hiệp ước không xâm lược Molotov–Ribbentrop đã gây phẫn nộ tại Trùng Khánh. Hai tháng sau, khi Moscow và Tokyo ký kết một hiệp ước thương mại, hy vọng của Tưởng Giới Thạch rằng Liên Xô có thể tham chiến chống Nhật Bản đã tan tành. Ngược lại, Diên An hoan nghênh hiệp ước này, ca ngợi nó như một chiến thắng vĩ đại. Trong nhiều năm, Quốc tế Cộng sản đã thúc đẩy Mặt trận Thống nhất chống phát xít, nhưng giờ đây Moscow đã ký hiệp ước với phát xít Đức. Mọi Đảng Cộng sản đều phải thay đổi đường lối và tuân theo đường lối mới, tức là phản đối “giai cấp tư bản phản động quốc tế” đã cố gắng kích động chiến tranh giữa Liên Xô và Đức. Tại Diên An, Mao lên án cuộc chiến ở châu Âu là một “cuộc chiến đế quốc”: “Dù là Đức, Ý hay Nhật Bản, hay là Anh, Mỹ hay Pháp, tất cả các quốc gia đế quốc tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào cuộc chiến đều chỉ có mục tiêu phản cách mạng, mục tiêu cướp bóc nhân dân, mục tiêu đế quốc.” Mao kết luận: “Phản đối chiến tranh đế quốc và tổ chức chiến tranh cách mạng.” 57
Ngay từ đầu đã xảy ra các cuộc đụng độ giữa các đơn vị chính phủ và các chiến binh du kích. Khi Bát Lộ Quân tràn vào các đồng bằng miền bắc Trung Quốc, binh lính của họ đã tấn công và sáp nhập các đơn vị du kích hoặc lực lượng vũ trang địa phương dưới sự chỉ huy của chính phủ ở khắp mọi nơi. Như Jacques Guillermaz, một tùy viên quân sự Pháp tại Trung Quốc và sau này là nhà Hán học nổi tiếng, đã chỉ ra, Đảng Cộng sản luôn tuân theo cùng một kế hoạch, tức là kích động hoặc khai thác tình trạng hỗn loạn, tiêu diệt hoặc sáp nhập tất cả các lực lượng tự trị và thiết lập một chính quyền mới. Tại Hà Bắc, thay vì chiến đấu với quân Nhật, họ liên tục đối đầu với quân chính phủ, thành công trong việc lật đổ người đứng đầu Bộ Chỉ huy Chiến trường Baoding. Tại Sơn Tây, kể từ tháng 12 năm 1939 trở đi, các trận chiến liên tục xảy ra giữa Bát Lộ Quân và binh lính của Diêm Tích Sơn. Tại Sơn Đông, hơn một nửa số thương vong của phe Cộng sản là do các cuộc đụng độ với lực lượng chính phủ. Bị ràng buộc bởi Moscow, Tưởng Giới Thạch miễn cưỡng phản ứng. Tuy nhiên, sự bất mãn ngày càng gia tăng trong hàng ngũ các tướng lĩnh và binh lính trước những hành động cướp bóc không ngừng của các chiến binh du kích. Tháng 6 năm 1939, Tổng Thống Lĩnh đã ra lệnh cứng rắn, chính thức cảnh cáo Chu Ân Lai, đại diện Đảng Cộng sản tại Trùng Khánh. Khi Liên Xô xâm lược Phần Lan vào ngày 30 tháng 11 cùng năm, Tưởng Giới Thạch – trong tình thế tiến thoái lưỡng nan – đã từ chối phủ quyết việc trục xuất Liên Xô khỏi Hội Quốc Liên. Việc cung cấp vũ khí bị đình chỉ ngay lập tức, ngay cả khi các lực lượng chính phủ trung ương bắt đầu tiêu diệt nửa tá đồn trú của phe Cộng sản tại Cam Túc và Ninh Hạ, đảm bảo rằng cả hai tỉnh – cùng tuyến đường từ Chita đến Diên An qua Lan Châu – vẫn nằm trong tay chính phủ. 58
Khi giao tranh bùng phát trở lại, các bên không còn kiềm chế và bạo lực leo thang. Có nhiều báo cáo về việc người dân bị chôn sống. Guillermaz lưu ý rằng đây là một trong những hình thức tử hình phổ biến nhất mà phe Cộng sản áp dụng, nhận định này phần lớn được xác nhận bởi các báo cáo đương thời gửi về Trùng Khánh, mặc dù thực tế này dường như đã biến mất vào năm 1941. Vào tháng 4 năm 1940, Diêm Tích Sơn báo cáo rằng 200 binh sĩ đã bị chôn sống sau khi một sư đoàn cố gắng vượt qua một con sông do phe Cộng sản canh gác. Cùng tháng đó, Xu Ming (Từ Minh徐明), người đứng đầu huyện Tunliu (Truân Lưu屯留) thuộc phe Cộng sản, đã áp dụng hình phạt tương tự đối với mười bốn người. Vào tháng 5 năm 1940, sau khi Quân đội Mới Thứ Tư chiếm được huyện Sixian (Tứ Huyện) ở An Huy, quan huyện Zhu Tianxiu đã bị chôn sống. Tại An Quốc, nhà truyền giáo người Bỉ Raymond de Jaegher đã chứng kiến vụ thảm sát hàng loạt những người được biết là chống Cộng vào đầu năm 1940. Một thuộc hạ của Hạ Long giải thích rằng cách tốt nhất là chôn một người trong hố đến thắt lưng với hai tay bị trói ra sau lưng, đồng thời có lính gác canh chừng để đảm bảo không ai có thể giúp đỡ anh ta. Tại Weixian (Uy Huyện威县), phía nam tỉnh Hà Bắc, 45 lãnh đạo làng đã bị chôn sống. Tướng Shi Yousan (Thạch Hữu Tam石友三), chỉ huy của chính quyền trung ương tại phía nam Hà Bắc, đã ban hành một tuyên bố chỉ định Bát Lộ Quân là “kẻ thù của nhân dân”. 59
Một bầu không khí khủng bố được áp đặt lên dân chúng địa phương, ngay cả những người sống sâu trong hậu phương địch. Tại Hà Bắc, sau khi sự kiểm soát của Đảng Cộng sản đã thay thế một cách có hệ thống chính quyền trung ương, với một số quan chức địa phương bị xử tử ngay lập tức, việc gia nhập các tổ chức Đảng trở thành bắt buộc. Mọi liên lạc với thế giới bên ngoài đều bị cắt đứt. Tiền tệ hợp pháp bị cấm lưu hành, thay vào đó là các tờ tiền giấy do từng khu căn cứ phát hành. Những người giàu có bị tước đoạt tài sản hoặc bị đánh thuế đến mức phá sản. Người dân sống trong cảnh nghèo đói khủng khiếp, đặc biệt là những người bị kẹt giữa các cuộc trả thù của Nhật Bản và của Đảng Cộng sản. Tình hình trở nên tồi tệ hơn sau những cơn mưa xối xả gây ra lũ lụt trên diện rộng vào mùa thu năm 1939. Các chiến sĩ du kích đã tận dụng cơ hội này để tấn công quân Nhật với sức mạnh mới, khiến kẻ thù phải đáp trả bằng những cuộc trừng phạt dữ dội hơn. Khi mùa màng thất bát ở một số khu vực của tỉnh, vẫn còn ngập lụt vào tháng 3 năm 1940, không còn dự trữ lương thực nào, vì chúng đã bị các chiến sĩ du kích hoặc quân Nhật thu giữ. Hàng triệu người rơi vào cảnh đói khát, một số phải ăn vỏ cây hoặc thậm chí là đất. Tại Gaoyang (Cao Dương高陽), theo các nhà truyền giáo địa phương, không ngày nào trôi qua mà không có cuộc đụng độ với các chiến sĩ du kích, những người đã thiêu rụi cả những ngôi làng và ép buộc người dân nộp lương thực, đẩy rất nhiều người phải ra đường xin ăn, nhiều người chết tại những vùng còn khốn khó hơn. Ngược lại, quân Nhật trả đũa một cách không phân biệt, đốt phá và giết chóc bừa bãi. Dù bị kẹt giữa lực lượng Cộng sản hay quân Nhật, những người dân làng khốn khổ vẫn là những người phải gánh chịu hậu quả. 60
Bạo lực không chỉ giới hạn ở Hà Bắc. Tại Sơn Tây vào tháng 3 năm 1940, khi chiếm đóng các vùng lãnh thổ mới sâu trong hậu phương địch, phe Cộng sản đã xử tử hàng trăm người bị coi là không đáng tin cậy về mặt chính trị, phần lớn trong số đó là các nhân vật có thế lực địa phương đã đứng về phía Diêm Tích Sơn. Ở mọi cấp độ, họ thay thế các quan chức chính quyền bằng những người được gọi là “nông dân nghèo và công nhân” nằm dưới sự kiểm soát của họ. Các chủ đất khá giả không tuân theo đường lối của Đảng bị tố cáo là “phản bội” và “kẻ đầu hàng”, tài sản của họ bị tịch thu và phân phối lại. Trên khắp tỉnh, một chương trình cách mạng cực đoan đã dẫn đến cái chết của nhiều dân làng bị coi là “giàu có”. 61
Các nhà truyền giáo cũng không phải là ngoại lệ. Đất đai của họ cũng bị tập thể hóa, các nhà thờ bị đóng cửa nếu như người Nhật chưa đốt phá chúng. Tại Yanjiaping (Giang Gia Bình杨家坪), phía nam Chahar, các tu sĩ dòng Trappist bị buộc phải tham gia lao động công ích hoặc gia nhập quân đội. Họ may mắn: tại Bảo Định, một lần nữa, các nhà truyền giáo đã được chuộc lại. 62
Các cuộc trả đũa bạo lực của phe Cộng sản cũng diễn ra tại Mãn Châu. Sau khi Quân đoàn Quan Đông chinh phục khu vực này vào tháng 9 năm 1931, họ đã đàn áp tàn bạo mọi lực lượng đối lập, bao gồm cả người Nga bị nghi ngờ tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản. Cuộc đàn áp diễn ra dữ dội đến mức vào năm 1935, Moscow đã từ bỏ đoạn đường sắt thuộc tuyến Đường sắt Đông Trung Quốc của mình, bán quyền sở hữu cho Tokyo với giá chỉ bằng một phần tư giá trị thực. Trong những năm này, nhiều lực lượng du kích, tình nguyện viên, những người theo chủ nghĩa dân tộc Triều Tiên và chiến binh du kích, chưa kể đến bọn cướp địa phương, đã xuất hiện, trong đó có Zhao Shangzhi (Triệu Thượng Chí趙尚志), một trong những thành viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Mãn Châu và là cựu học viên Học viện Hoàng Phố. Năm 1934, ông trở thành lãnh đạo của Quân đội Liên hiệp Chống Nhật Đông Bắc, một tổ chức liên minh của phe Cộng sản chào đón tất cả những ai đang chiến đấu chống Nhật. Trong cuộc Vạn Lý Trường Chinh, các chiến sĩ du kích mất liên lạc với Ban Chấp hành Trung ương và dần tách rời nhau. Đến năm 1935, một số căn cứ địa đã xuất hiện, chủ yếu nằm trong dãy núi trải dài dọc biên giới Triều Tiên từ Dandong về phía bắc đến Siberia, với các chiến sĩ du kích sinh sống trong các hang động sâu trong rừng. Họ được trang bị vũ khí Nga hạng nhất và thậm chí còn có máy may sản xuất tại Liên Xô. Quân đoàn Quan Đông, cũng giống như Tưởng Giới Thạch ở phía nam Vạn Lý Trường Thành, đã phải vật lộn để đánh bật họ, bất chấp các chiến dịch quân sự lặp đi lặp lại được gọi là “tiêu diệt tại chỗ”. Người Nhật bắt đầu thực thi một cách tàn nhẫn chương trình “làng được bảo vệ”, tập trung dân làng vào các khu định cư kín, nơi mọi người đều có thể bị giám sát chặt chẽ. Nhà cửa cũ của họ bị đốt cháy, mùa màng bị phá hủy và cả các huyện bị thiêu rụi. 63
Tuy nhiên, cuộc sống của người dân làng cũng chẳng khá hơn là bao dưới sự cai trị của phe Cộng sản, những người không chỉ cướp bóc, tàn phá và đòi tiền chuộc, mà còn đốt phá, treo cổ và giết hại những người dân làng bị nghi ngờ hợp tác với người Nhật. Ban đầu, các cá nhân là mục tiêu. Một đội tuyên truyền sẽ đến vào giữa đêm với danh sách đen, tập hợp dân làng, phát biểu, đọc bản án tử hình và đóng một chiếc đinh lớn vào gáy những người bị cáo buộc là cộng tác viên. Sau đó, cả những ngôi làng bị san phẳng. Quân đoàn Thứ ba dưới sự chỉ huy của Triệu Thượng Chí bắt đầu “đốt phá và đánh đập dân địa phương, khiến họ căm ghét nó”, theo một báo cáo gửi Ban Chấp hành Trung ương ngày 19 tháng 5 năm 1938. “Quân đội Liên hiệp Chống Nhật còn tồi tệ hơn cả bọn cướp!” người dân địa phương thốt lên. Dưới danh nghĩa “tiêu diệt chủng tộc”, những người thuộc dân tộc thiểu số được gọi là Suoli đã bị bắn bằng súng máy tại một thôn nhỏ, bao gồm ba mươi phụ nữ và trẻ em: “Họ hành động như những kẻ phát xít đang cố gắng tiêu diệt một chủng tộc,” theo chính báo cáo của Đảng Cộng sản. Khi một lần các lâm nghiệp viên từ chối tuân lệnh của Triệu Thượng Chí, 60 người trong số họ đã bị thảm sát, thi thể chất thành đống cao như một màn phô trương sức mạnh tàn bạo. Cách tiếp cận của ông không phải là hiếm, và dựa trên một nguyên tắc đơn giản, đó là phải gây ra mức độ bạo lực lớn hơn so với kẻ thù. Như Triệu đã nói: “Người dân sợ người Nhật nên họ theo chúng. Nếu người dân sợ chúng ta hơn là sợ người Nhật, họ sẽ theo chúng ta!” Cuối cùng, do tình trạng đào ngũ ồ ạt, xung đột giữa các phe phái vũ trang, việc phản bội sang phía địch, nỗi sợ hãi lan rộng trong dân chúng và sự đàn áp tàn bạo của người Nhật, Đảng Cộng sản buộc phải tháo chạy, vượt biên sang Siberia vào năm 1942. Triệu Thượng Chí ở lại và bị người Nhật giết chết. Thành phố Zhuhe (Chu Hà 珠河) được đổi tên thành Shangzhi (Thượng Chí尚志)để vinh danh ông vào năm 1946. 64
***
Vào ngày 8 tháng 12 năm 1940, Tham mưu trưởng Hà Ứng Khâm và Phó Tham mưu trưởng Bai Chongxi (Bạch Sùng Hy) đã gửi một lá thư cảnh báo đến Hồng Quân. Hai vị tướng này giải thích rằng đối tác Cộng sản của họ trong Mặt trận Thống nhất đã được đưa vào sơ đồ tác chiến và được phân bổ khu vực hoạt động, nhưng lại không tuân theo mệnh lệnh của Tổng Thống Lĩnh, thay vào đó tiến hành các hoạt động phá hoại, tiến quân vào Hà Bắc và Chahar và tấn công các đơn vị của chính quyền trung ương. ‘Mục tiêu của các lực lượng của các vị là ở tất cả các vùng hậu phương của kẻ thù, các cơ cấu chính trị và các tổ chức công cộng không phù hợp với các cơ cấu của chính các vị phải bị loại bỏ. Quý vị thực chất đang tiếp tay cho kẻ thù và trên thực tế đang đóng vai trò tiên phong cho bọn xâm lược.” Các tướng lĩnh có thể đã thiên vị, nhưng phía Liên Xô cũng đồng tình. Nguyên soái Semyon Timoshenko, Ủy viên Nhân dân phụ trách Quốc phòng, đã chỉ ra rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc đang háo hức hướng lực lượng quân sự của mình chống lại chính phủ trung ương và “bỏ qua mối đe dọa từ Nhật Bản”. 65
Bức thư được gửi đến Chu Đức, Tư lệnh Bát Lộ Quân, nhưng cũng đặc biệt gửi đến Ye Ting (Diệp Đĩnh 葉挺), người đứng đầu Quân đội Mới Thứ Tư. Lực lượng chính của Quân đội Mới Thứ Tư, được thành lập vào tháng 12 năm 1937 với sự đồng ý của Tưởng Giới Thạch, đã di chuyển vào tháng 1 năm 1938 về phía Nam Xương – chính là thành phố mà Diệp Đĩnh từng bao vây hơn mười năm trước sau khi đào ngũ sang phe Cộng sản. Các tàn quân của Quân đội Mới Thứ Tư cũng rải rác khắp thung lũng sông Dương Tử, từ Giang Tây cho đến phía bắc Hán Khẩu, nơi mà Trương Quốc Đào từng thống trị. Về mặt lý thuyết, Quân đội Thứ Tư Mới do Gu Zhutong (Cố Chúc Đồng顧祝同), vị tướng Quốc dân đảng phụ trách tỉnh Giang Tô và miền nam An Huy, chỉ huy. Tuy nhiên, giống như Bát Lộ Quân, Diệp Đĩnh và các chiến sĩ du kích của ông đã phớt lờ mệnh lệnh và tận dụng cơ hội để thiết lập các căn cứ địa và tuyển mộ thêm tân binh. Trong mùa hè năm 1940, họ cố gắng vượt sông và mở rộng vào phía bắc Giang Tô, va chạm với các lực lượng du kích đã tuyên thệ trung thành với chính phủ trung ương. Vào đầu tháng 10, họ bao vây và tiêu diệt một đồn binh địa phương với hơn 20.000 binh sĩ dưới sự chỉ huy của Han Deqin (Hàn Đức Cần 韓德勤) tại Huangqiao (Hoàng Cao 黃橋), một làng nhỏ ở Giang Tô ngay bên kia sông Dương Tử. Quân Đội Mới Thứ Tư đã thu giữ một lượng lớn đạn dược, súng trường, súng lục, súng máy và một số khẩu súng cối, dùng chúng để tiến sâu hơn vào phía bắc Giang Tô và phía nam Sơn Đông, tấn công quân chính phủ bất cứ khi nào và ở đâu có thể. Caodian (Tào Điền曹甸), một pháo đài của chính phủ nơi Hàn Đức Cần đang chờ viện binh từ Sơn Đông, đã bị bao vây vào tháng 11, mặc dù phe Cộng sản phải chịu tổn thất nặng nề. 66
Trong suốt Chiến tranh Trung-Nhật, Pháp, Anh và Hoa Kỳ đã thận trọng không làm phật lòng Nhật Bản, tránh can thiệp công khai để giúp Trung Quốc. Ngay cả khi lá cờ phát xít được kéo lên tại Versailles vào tháng 6 năm 1940, Nhật Bản vẫn gây áp lực buộc Đông Dương thuộc Pháp phải đóng cửa tuyến đường sắt nối cảng Hải Phòng ở Việt Nam với Côn Minh – nơi đã trở thành trung tâm trung chuyển quan trọng dẫn đến Trùng Khánh. Ngay sau đó, khi Anh tạm thời đóng cửa Con đường Miến Điện nối Lashio với Côn Minh, Trung Quốc trở nên bị cô lập hơn bao giờ hết. Nhật Bản tăng cường các đợt oanh tạc thảm khốc vào Trùng Khánh, thành phố sau này trở thành nơi bị ném bom nhiều nhất trong lịch sử với khoảng 3.000 tấn chất nổ được thả xuống từ năm 1939 đến 1942. Mao đã nắm bắt cơ hội và tăng cường các cuộc tấn công vào quân chính phủ, hy vọng chiếm được một số khu vực ở miền trung Trung Quốc. Vào ngày 12 tháng 7 năm 1940, ông ra lệnh cho Quân đội Mới Thứ Tư tập trung toàn bộ lực lượng vào miền bắc Giang Tô, với mũi tấn công chính là lực lượng đồn trú tại Hoàng Cao: “Tất cả lực lượng của chúng ta,” ông viết, “phải đối phó với Hàn Đức Cần và các đơn vị quân đội cứng đầu khác ở miền bắc Giang Tô.” Tuy nhiên, vào ngày 27 tháng 9, Nhật Bản đã ký Hiệp ước Ba bên với Đức và Ý. Điều này đã giải phóng cả Anh và Hoa Kỳ khỏi mọi ràng buộc trong quan hệ với Trung Quốc, và Roosevelt nhanh chóng đồng ý hỗ trợ Tổng Thống Lĩnh. Con đường Miến Điện được mở lại. Vào tháng 12, các vật tư y tế và quân sự từ Hoa Kỳ được vận chuyển đến Vladivostok, sau đó bằng đường sắt đến Chita, nơi chúng tiếp tục theo con đường quen thuộc về phía nam đến Lan Châu và Thành Đô. Vào tháng 11, Moscow cũng đã nối lại viện trợ quân sự, với một hợp đồng hàng đổi hàng mới trị giá 170 triệu USD được ký kết vào tháng sau. Tưởng Giới Thạch tính toán rằng chiến tranh giữa Nga và Đức là điều không thể tránh khỏi, và rằng Moscow đang trông cậy vào ông để ngăn Nhật Bản tấn công Siberia. Cuối cùng, việc trả đũa cũng trở nên khả thi. 67
Ngày 9 tháng 12, Tổng Thống Lĩnh ra lệnh cho tất cả các lực lượng Cộng sản, bao gồm Quân đội Thứ Tư Mới, phải di chuyển lên phía bắc sông Dương Tử trước cuối năm. Diên An đồng ý, chỉ thị cho Diệp Đĩnh trước tiên trì hoãn, sau đó tiến quân về phía bắc qua thị trấn Maolin (Mậu Lâm茂林) thuộc tỉnh An Huy. Các đơn vị đã sa vào bẫy, phải trả giá cho những gì họ đã làm tại Huàng Cao. Vào ngày 6 tháng 1 năm 1941, khoảng 80.000 binh lính chính phủ đã bao vây và tấn công 9.000 chiến sĩ du kích, bắt giữ hoặc tiêu diệt họ trong vòng mười ngày tiếp theo. Chỉ có 2.000 người thoát được. Diệp Đĩnh bị bắt giữ và sau đó bị đưa ra tòa án quân sự. Ngày 17 tháng 1, Tổng Thống Lĩnh ra lệnh giải tán Quân đội Mới Thứ Tư. Diên An không tuân lệnh, mà tái tổ chức lực lượng này dưới sự chỉ huy của Chen Yi (Trần Nghị 陈毅). 68
Cả hai bên đều muốn giữ kín trận chiến Mậu Lâm, sau này được gọi là “Sự kiện Quân đội Thứ Tư Mới”. Nhưng kết cục đã được định sẵn: mặc dù vỏ bọc của “Mặt trận Thống nhất” sẽ còn tồn tại thêm bốn đến năm năm nữa, nhưng một cuộc đụng độ toàn diện giữa hai đối thủ là không thể tránh khỏi.
Chú Thích:
1
‘Sian the Progressive City’, North-China Herald, 15 July 1936; Mục ghi ngày 4 Dec. 1936, Jiang Zhongzheng nianpu changbian, vol. 5, p. 194; ‘Tsingtao Tension’, South China Morning Post, 4 Dec. 1936.
2
PRO, FO 371/20970, Hughe Knatchbull-Hugessen, Ambassador, ‘Political Situation in China’, 2 March 1937, pp. 40–4; Mục ghi ngày 9–12 Dec. 1936, Jiang Zhongzheng nianpu changbian, vol. 5, pp. 195–8.
3
Itoh Mayumi, The Making of China’s War with Japan: Zhou Enlai and Zhang Xueliang, London: Palgrave Macmillan, 2016, pp. 134–7; điện tín từ Mao trong Zhongyang dang’anguan (eds), Zhongguo gongchandang guanyu Xi’an shibian dang’an shiliao xuanbian (Tuyển tập tài liệu lưu trữ về Sự kiện Tây An của Đảng Cộng sản Trung Quốc), Beijing: Zhongguo dang’an chubanshe, 1997, p. 174; điện tín gửi Mao: Ye Zilong, Ye Zilong huiyilu (Hồi ký của Ye Zilong), Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 2000, p. 39, được trích trong Chang and Halliday, Mao, p. 183.
4
Mục ghi đề ngày 12 Dec. 1936, Jiang Zhongzheng nianpu changbian, vol. 5, p. 198.
5
Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, pp. 480–1; các điện tín và phát biểu của Mao, cũng như điện tín cho Trương Học Lương, 13 và 14/12/1936, trong Zhongguo gongchandang guanyu Xi’an shibian dang’an shiliao xuanbian, pp. 178–81; hành quyết Tưởng: Zhang Youkun et al. (eds), Zhang Xueliang nianpu (Niên biểu Trương Học Lương), Beijing: Shehui kexue wenxian chubanshe, 1996, vol. 2, p. 1,124; điện tín gửi Moscow, được đề cập trong phần bình luận về điện tín của Comintern 16 Dec. 1936, trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai, vol. 4, part 2, p. 1,086, note 2.
6
Tưởng biết: GSG, 002-060100-00120-016, 16 Dec. 1936; Trích từ Nhật ký của Dimitrov, 14 Dec. 1936, doc. 364, trong Ledovskii, Russko-kitaiskie otnosheniia v XX veke, vol. 3, p. 610.
7
Itoh, The Making of China’s War with Japan, p. 154.
8
Điện tín của Comintern ngày 16 Dec. 1936, trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai, vol. 4, part 2, pp. 1,085–6; Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol 2, p. 484; các điện tín gửi Trương Học Lương, 14 và 15/12/1936, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 5, pp. 544–6, 550 and 561.
9
Điện tín gửi Chu Ân Lai, 21 Dec. 1936, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 5, p. 561; Worthing, General He Yingqin, pp. 169–70.
10
Điện tín của Mao thông báo cho Chu Ân Lai về điện tín từ Moscow được ghi ngày 20/12/1936, trong Mao Zedong quanji, vol. 9, p. 460; Seele, Donald of China, p. 316; bài báo của Hu Shi được đăng lại nhiều lần, chẳng hạn trong Dongnan ribao, 21 Dec. 1936; Tôi dùng phiên bản được sao ngày 18/12/1936 trong GSG, 002-060100-00120-018; nhiều lời kêu gọi thả Tưởng Giới Thạch đã xuất hiện trên các tờ báo ngày 15/12/ 1936 và có thể tìm thấy trong GSG, 002-060100-00120-015.
11
Seele, Donald of China, p. 327; HIA, Soong, T. V. (Tzu-wen) Papers 1920-1999, box 59, ‘TVS Diary of Xian Incident – 1936’, pp. 1–15.
12
GSG, 002-060100-00120-024 and 002-060100-00120-025, Nhật ký sự kiện, ngày 24 và 25 tháng 12 năm 1936, và “Nhật ký TVS về Sự kiện Tây An – 1936”, tr. 14–15; đoạn đối thoại hư cấu vào tối ngày 24 tháng 12, được trích dẫn nguyên văn trong một cuốn tiểu sử gần đây về Tưởng Giới Thạch, dựa trên tiểu sử chính thức của Chu Ân Lai, cụ thể là Jin Chongji et al. (eds), Zhou Enlai zhuan (1898–1976) (Tiểu sử Chu Ân Lai, 1898–1976), Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 2009, vol. 1, p. 375, mà dựa vào Shen Bochun, Xi’an shibian jishi (Bản ghi chép chân thực về Sự kiện Tây An), Beijing: Renmin chubanshe, 1979, p. 157, mà, đến lượt, lại không cung cấp bất kỳ bằng chứng nào; không có bất kỳ thông tin nào về cuộc đối thoại như vậy trong nhật ký của Tưởng Giới Thạch cũng như trong bản ghi chép sơ bộ về các sự kiện của thư ký ông, vốn dành hơn một trăm trang để ghi lại mười hai ngày ở Tây An; đó là một thực tế kỳ lạ trong lịch sử học rằng các nhà viết tiểu sử của Tưởng Giới Thạch, những người tự xưng đã đọc nhật ký của ông, lại dựa vào những lời được cho là của đối thủ của ông, Chu Ân Lai – một nhân vật được Laszlo Ladany mô tả là “một trong những người không bao giờ nói sự thật và cũng không bao giờ nói dối”, bởi vì đối với họ, không có sự phân biệt nào giữa hai điều đó; xem Laszlo Ladany, The Communist Party of China and Marxism, 1921–1985: A Self-Portrait, Stanford, CA: Hoover Institution Press, 1988, p. 209; một huyền thoại khác là trong quá trình đàm phán, Stalin, hoặc Chu Ân Lai, hoặc cả hai, đã đồng ý thả con trai của Tưởng Giới Thạch, người đang bị bắt làm con tin tại Moscow, nhưng việc này chỉ được thực hiện vài tháng sau đó (xem p. 180).
13
‘Gen. Chiang Freed’, New York Times, 26 Dec. 1936; ‘Chiang Freed after Ransom’, Washington Post, 26 Dec. 1936; nhà báo là Abend, My Life in China, p. 231; Chiang: GSG, 002-060100-00120-029, Diary of Events, 29 Dec. 1936; Liu, A Military History of Modern China, p. 102.
14
Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, pp. 489–90.
15
Jiang Zhongzheng nianpu changbian, vol. 5, pp. 216–18.
16
Điện tín từ Comintern, 19 Jan. 1937, trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai, vol. 4, part 2, pp. 1,089 và 1,092; việc chuyển tiền được nhắc tới trong Yang Kuisong, Mao Zedong yu Mosike de enen yuanyuan (Mao và Moscow), Nanchang: Jiangxi renmin chubanshe, 1999, p. 163; điện tín ngày 10 tháng Hai trong Mao Zedong nianpu, vol. 1, p. 652; Chiang, Soviet Russia in China, pp. 79–81.
17
Ghi chú từ Bogomolov gửi Litvinov, 11 Feb. 1937, doc. 377, trong Ledovskii, Russko-kitaiskie otnosheniia v XX veke, vol. 3, pp. 626–7; Trích đoạn Nghị quyết của Bộ Chính trị, 8 March 1937, doc. 3, in ibid., vol. 4, part 1, p. 40; nhật ký của Tưởng, ngày 30/1 và 18/2/1937, được nhắc tới trong GSG, 002-060100-00121-030 và 002-060100-00121-045; GSG, 002-080200-00276-081, Cục Điều tra, Báo cáo, ngày 24/2/1937; cuộc họp ngày 8 và 9 tháng 6: Jiang Zhongzheng nianpu changbian, vol. 5, pp. 312–13.
18
Chỉ thị gửi Gu Zhutong, 31 Jan. 1937, trong Jiang Zhongzheng nianpu changbian, vol. 5, p. 235.
19
Snow, Red Star over China, pp. 396–9.
20
FO 371/20991, Tùy viên Quân sự, Tokyo, ‘Quân đội Nhật Bản ở Mãn Châu’, 14 April 1937, p. 147; Abend, My Life in China, p. 232.
21
Abend, My Life in China, pp. 246–8.
22
FO 371/20952, Knatchbull-Hugessen, Report, 3 Aug. 1937, pp. 150–1.
23
Điện tín ngày 16/7/ 1937, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 5, p. 699; điện tín ngày 1/8/1937, trong ibid., vol. 6, p. 7; điện tín ngày 28/7/1937 được trích trong Yang Kuisong, ‘Kangri zhanzheng baofa hou Zhongguo gongchandang duiri junshi zhanlüe fangzhen de yanbian’ (Sự phát triển của chiến lược quân sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc sau khi chiến tranh chống Nhật bùng nổ), Jindaishi yanjiu, no. 2 (1988), p. 108, mặc dù tác giả không cung cấp bất kỳ dữ liệu vị trí nào.
24
PRO, FO 371/20970, Berkeley Gage, Báo cáo gửi Anthony Eden, 8/9/1937, pp. 296–319; Booker, News is my Job, p. 293; Rhodes Farmer, Shanghai Harvest: A Diary of Three Years in the China War, London: Museum Press, 1945, p. 46; Abend, My Life in China, pp. 253–5; Evans F. Carlson, Twin Stars of China, New York: Dodd, Mead, 1940, p. 27; các ước tính đã được đưa ra bởi nhà sử học hàng đầu về trận chiến này, Peter Harmsen, Shanghai 1937: Stalingrad on the Yangtze, Oxford: Casemate, 2013, p. 247.
25
PRO, FO 371/20952, Lord Chilston, Embassy in Moscow, 7 Aug. 1937, p. 269; Ch’en, The Storm Clouds Clear over China, p. 124.
26
‘China Frees Communists under Pact with Russia’, New York Herald Tribune, 5 Sept. 1937; Cố vấn Soviet: Bản ghi chú ngắn về cuộc trò chuyện với Andrianov, 2 Feb. 1938, trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai, vol. 5, p. 81.
27
Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, pp. 213–14; Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, pp. 530–40.
28
Mao Zedong, ‘Tình hình và nhiệm vụ của chúng ta’, 1 Sept. 1937, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 6, p. 36.
29
Các điện tín ngày 25/9/1937, trong ibid., pp. 57 và 60; Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, p. 558.
30
NARA, RG 165, MID 2657-1-276/516, Joseph Stilwell, G-2 Report No. 9599, 18 Oct. 1937, p. 3.
31
Booker, News is my Job, p. 354; Harold J. Timperley, What War Means: Japanese Terror in China, London: Victor Gollancz, 1938.
32
‘China’s Leaders Flee Nanking’, Chicago Daily Tribune, 17 Nov. 1937; Booker, News is my Job, p. 338.
33
Con số ước tính nửa triệu người – thường được trích dẫn nhưng hiếm khi được thảo luận – là một phép ngoại suy lỏng lẻo từ một con số khác, cụ thể là 890.000, được tổng hợp vào năm 1947 bởi hai nhà nghiên cứu đã thống kê mọi trường hợp tử vong trong mọi thảm họa, bao gồm hạn hán, dịch bệnh và nạn đói trong khu vực suốt thời gian chiến tranh từ tháng 6 năm 1938 đến tháng 3 năm 1947, ngụ ý rằng dân số đã sống sót tốt hơn nhiều trong bảy năm dưới sự cai trị của Nhật Bản so với năm 1938 1938 (Han Qitong and Nan Zhongwan, Huangfanqu de sunhai yu shanhou jiuji [Thiệt hại, phục hồi và cứu trợ tại các khu vực bị lũ lụt của sông Hoàng Hà], Shanghai: Xingzhengyuan shanhou jiuji zongshu, 1948); hầu hết các nhà sử học khi trích dẫn những con số này chỉ dành chưa đầy một đoạn văn để đề cập đến trận lũ lụt thực tế và thảm kịch đã diễn ra; MAE, 513PO/A/78, Frédéric Knobel, Điện tín từ Đại sứ quán Pháp gửi Lãnh sự quán tại Hong Kong, 10 June 1938; ước tính gần đây là 30.000: Jia Zhongwei, ‘Kangzhan shiqi: Huayuankou juedi zhanlüe zhi yunyong, xiaoguo yu lishi fansi’, Fengchuanmei, 20 Aug. 2021.
34
‘Yellow River Flood Still Spreading’, North-China Herald, 13 July 1938; ‘Flood Havoc’, South China Morning Post, 5 July 1938; ‘Yellow River Flood Flows into Anhwei’, South China Morning Post, 2 Aug. 1938; ‘Ravages by Floods’, South China Morning Post, 2 Sept. 1938; đường bộ được đề cập trong bài ‘Nhật Bản làm suy yếu quân đội Bắc Trung Quốc (Japanese Weaken North China Army)’, New York Times, 6 Aug. 1938.
35
Peter Harmsen, Storm Clouds over the Pacific, 1931–1941, Oxford: Casemate, 2018, pp. 146–8.
36
Ước lượng một triệu người trong Stephen R. MacKinnon, Wuhan, 1938: War, Refugees, and the Making of Modern China, Berkeley, CA: University of California Press, 2008.
37
Ch’en, The Storm Clouds Clear over China, p. 136; ‘New Political Council Ends Nine-Day Hankow Session’, New York Times, 17 July 1938.
38
Wang, Memoirs of a Chinese Revolutionary, 1919–1949, p. 205.
39
Lee Feigon, Mao: A Reinterpretation, Chicago, IL: Ivan R. Dee, 2002, p. 67; Robert M. Farnsworth, From Vagabond to Journalist: Edgar Snow in Asia, 1928–1941, Columbia, MO: University of Missouri Press, 1996, p. 222.
40
Chang and Halliday, Mao, p. 192.
41
Snow, Red Star over China, p. 92; Feigon, Mao, pp. 67–9.
42
Gao Hua, How the Red Sun Rose: The Origins and Development of the Rectification Movement, Hong Kong: Chinese University Press, 2000, pp. 150–1; Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, pp. 565–72; bình luận của Mao: Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 6, p. xl.
43
Ghi chú ngắn về cuộc trò chuyện giữa Vương Minh, Khang Sinh và Stalin, 11 Nov. 1937, trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai, vol. 5, pp. 74–5, được dịch trong Ivo Banac (ed.), The Diary of Georgi Dimitrov, 1933–1949, New Haven, CT: Yale University Press, 2003, p. 67; Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, pp. 574–5.
44
Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, pp. 573–9.
45
MAE, 513PO/A/78, Henry Jacomy, ‘Le banditisme et les guérillas chinoises’, 20 May 1938; ‘New China State’, New York Times, 23 March 1938.
46
Ibid.
47
‘Chinese Still Rule Big Area in the North’, New York Times, 3 July 1938; ‘Radio Stations behind Lines of Foe Aid China’, Washington Post, 29 Aug. 1938; Raymond J. de Jaegher, The Enemy Within: An Eyewitness Account of the Communist Conquest of China, Garden City, NY: Doubleday, 1952, pp. 46–8 and 200–1.
48
de Jaegher, The Enemy Within, pp. 50–79.
49
‘Chinese Increase Thrusts at Enemy’, New York Times, 27 March 1938; ‘Japanese Troops Loot and Destroy Walled City of Ankwo’, Daily Boston Globe, 29 June 1938; de Jaegher, The Enemy Within, p. 88.
50
de Jaegher, The Enemy Within, pp. 197–9; Haldore Hanson, ‘Inside the Japanese Lines’, China Press, 22 Aug. 1938; ‘Reds Attend Mass in Northern China’, New York Times, 20 Feb. 1938.
51
Ước lượng trong Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, p. 231; ‘Chinese Still Rule Big Area in the North’, New York Times, 3 July 1938; ‘Radio Stations Behind Lines of Foe Aid China’, Washington Post, 29 Aug. 1938.
52
Gao, How the Red Sun Rose, pp. 179–89; Chiang, Soviet Russia in China, pp. 87–8; Mao Trạch Đông, ‘Vấn đề độc lập và tự trị trong Mặt trận Thống nhất’ và ‘Các vấn đề về chiến tranh và chiến lược’, 5 và 6 Nov. 1938, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 6, pp. 546 and 552.
53
MAE, 513PO/A/322, Chongqing, 16 Oct. 1939, 11 Nov. 1939 and 25 Nov. 1940.
54
MAE, 513PO/A/322, ‘Soviet Assistance to the 8th Army and Others’ (in English), 30 Sept. 1938.
55
Alvin D. Coox, ‘L’Affaire Lyushkov: Anatomy of a Defector’, Soviet Studies, 19, no. 3 (Jan. 1968), pp. 405–20; John J. Stephan, ‘ “Cleansing” the Soviet Far East, 1937–1938’, Acta Slavica Iaponica, 10 (1992), pp. 47–8.
56
Nhà sử học chính về Trận Nomonhan là Coox, Nomonhan.
57
Mao Trạch Đông, ‘Phác thảo bài phát biểu’, 14 Sept. 1939, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 7, pp. 190–200.
58
Jacques Guillermaz, Histoire du Parti Communiste Chinois, Paris: Payot, 1975, pp. 353–4; việc giao vũ khí bị đình chỉ: John W. Garver, Chinese-Soviet Relations, 1937–1945: The Diplomacy of Chinese Nationalism, Oxford: Oxford University Press, 1988, pp. 100–5.
59
Guillermaz, Histoire du Parti Communiste Chinois, p. 353; Yan Xishan: GSG, 002-090300-00212-212, 23 April 1940, Điện tín của Yan Xishan; Xu Ming: GSG, 002-090300-00212-173, 25 April 1940, Điện tín của Yan Xishan; Sixian: GSG, 002-090300-00212-189, 6 May 1940, Điện tín gửi Tưởng Giới Thạch; Anguo: de Jaegher, The Enemy Within, pp. 191–2; Weixian: GSG, 002-090300-00218-119, 16 Jan. 1940, Điện tín gửi Tưởng Giới Thạch; Shi Yousan: ‘Communist Troops’, South China Morning Post, 24 Jan.1940.
60
MAE, 513PO/A/78, ‘Développement du communisme au Hopei’, 15 July 1940; ‘Communisme en Chine du Nord’, 23 July 1940; lụt và nạn đói: ‘Flood in Hopei’, South China Morning Post, 29 July 1939; ‘Famine in China: Four Million Face Starvation’, South China Morning Post, 14 March 1940; ‘Famine in Hopei’, South China Morning Post, 3 June 1940; MAE, 513PO/A/63, ‘Lettre du R. P. Pégourié’, 28 Dec. 1939.
61
Xem Liu Qingjun, ‘Reinterpreting the Chinese Revolution: The Balance between Radical and Moderate Approaches, 1937–1945’, Modern China, 48, no. 2 (March 2022), pp. 1–35.
62
MAE, 513PO/A/78, Reports dated 5 Aug. and 2 Sept. 1940.
63
Powell, My Twenty-Five Years in China, p. 176 nhắc đến một phần tư giá trị; các hang động cũng như các chiến dịch “xử lý tại chỗ” được đề cập trong PRO, FO 371/18091, Báo cáo của Tổng Lãnh sự quán Mukden, ngày 11 tháng 8 năm 1934, tr. 231; Vũ khí Nga và chương trình “làng được bảo vệ” trong NARA, 893.00 P.R. MUKDEN/109, William R. Langdon, Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ tại Mukden, “Báo cáo Chính trị tháng 11 năm 1936”, 9 Dec. 1936.
64
Đinh dài 12 cm trong PRO, FO 371/18091, Báo cáo của Tổng Lãnh sự quán Mukden, ngày 11 tháng 8 năm 1934, tr. 232; báo cáo tháng 5 năm 1938, cũng như “phát xít”, trong CA, Dongbei diqu geming lishi wenjian huiji: 1938.1–1938.5, Zhang Lansheng, Báo cáo, ngày 1 tháng 5 năm 1938, tr. 306; việc đốt phá và cướp bóc các làng mạc, các nhân viên lâm nghiệp cũng như việc giết hại ba chục phụ nữ và trẻ em Suoli được đề cập trong CA, Dongbei diqu geming lishi wenjian huiji: 1939.5–1939.12 (Tập tài liệu lịch sử cách mạng khu vực Đông Bắc: 1939.5–1939.12), Ma Zhongyun, Báo cáo gửi Ban Chấp hành Trung ương, ngày 12 tháng 6 năm 1939, tr. 107–8; trích dẫn của Zhao trong CA, Dongbei diqu geming lishi wenjian huiji: 1929–1944 (Tập hợp tài liệu lịch sử cách mạng khu vực Đông Bắc: 1929–1944), Zhou Baozhong, Thư gửi Comintern, ngày 20 tháng 2 năm 1938, tr. 232.
65
NARA, RG 59, CA, ‘Chinese Communists, Jan.–July 1944’ and ‘Text of the Joint Telegram Sent on December 8, 1940’; Vasili Chuikov, Mission to China: Memoirs of a Soviet Military Adviser to Chiang Kaishek, Norwalk, CT: EastBridge Books, 2003, p. 14.
66
Gregor Benton, New Fourth Army: Communist Resistance along the Yangtze and the Huai, 1938–1941, Berkeley, CA: California University Press, 1999, p. 480; cũng như Gregor Benton, ‘The South Anhui Incident’, Journal of Asian Studies, 45, no. 4 (Aug. 1986), pp. 681–720; về Caodian, xem Sherman Xiaogang Lai, ‘A War within a War: The Road to the New Fourth Army Incident in January 1941’, Journal of Chinese Military History, 2, no. 1 (Jan. 2013), pp. 20–1.
67
3.000 tấn được nhắc tới trong Don Moser, China, Burma, India, Alexandria, VA: Time-Life Books, 1978, p. 8; Mao Trạch Đông, Điện tín về miền Trung Trung Quốc, 12 July 1940, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 7, pp. 496–7; Douglas Robertson, ‘Vladivostok Road Sends Aid to China’, New York Times, 22 Dec. 1940; Hợp đồng Soviet được nhắc tới trong MAE, 513PO/A/322, ‘Accord de Troc’, 8 Feb. 1941; về việc nối lại viện trợ Soviet, và bối cảnh tổng thể, xem Lai, ‘A War within a War’, pp. 1–27.
68
Lai, ‘A War within a War’.